Benjamin Bloom (1913 — 1999) là nhà tâm lí học Mĩ chuyên nghiên cứu về lĩnh vực nhận thức gắn với giáo dục. Học thuyết về phân loại tư duy chú trọng đến lĩnh vực nhận thức nhằm mục tiêu giáo dục được ông công bố trong cuốn sách Thang phân loại tz duy vào năm 1956. Bloom cho rằng, tư duy gồm sáu mức độ
và được sắp xếp từ đơn giản nhất, tức là nhớ lại kiến thức, đến phức tạp nhất, tức
là đánh giá về giá trị và tính hữu ích của một ý tưởng. Các mức độ này chính là các kĩ năng trong lĩnh vực nhận thức xoay quanh kiến thức, hiểu, và vận dụng tư duy vào một lĩnh vực nào đó với các quá trình phân tích, tống hợp và đánh giá.
Giáo dục truyền thống có xu hướng nhắn mạnh những kĩ năng này, đặc biệt là các mức độ thấp.
Theo Bloom, lĩnh vực tri thức được chia thành sáu phạm trù chủ yếu, sắp xếp theo mức độ tăng dần gồm: Biết (Knowiledge), Hiểu (Comprehension), Ứng dụng
| (Application), Phân tich (Analysis), Tong hop (Synthesis) va D4nh gid (Evaluation).
Ứng dụng -
TH tai
Trong đó:
— Biết
Kiến thức ở mức “Biết” bao gồm những thông tin có tính chất chuyên biệt mà một người học có thế nhớ hay nhận ra sau khi tiếp nhận. Việc học thường bắt đầu
từ nhu cầu “muốn biết” nhưng để “biết được cái gì đó”, người học chỉ cần vận dụng trí nhớ, nên thành quả đạt được ở mức biết là rất thấp và thường không mang
lại giá trị tăng thêm cho người sở hữu cái biết ấy. Thường mục tiêu giáo dục không dừng ở việc dạy các tri thức thuộc mức “biết” này.
Ở tầng thấp nhất là HS biế: được kiến thức qua sự truyền đạt của GV. Làm thé
nao dé thay cô xác định được là HS biết? Cách đơn giản nhất là thử xem HS
có nhớ hay không, hay các hoạt động liên quan đến kí ức như: mô tả, kể lại, đọc
thuộc lòng... :
~ Hiểu (hay thông hiểu)
Sau khi đã biết, trình độ nhận thức phải được nâng cao lên đến tầng thứ hai.
Đó là hiểu thấu đáo, vì rất nhiều trường hợp, HS học thuộc lòng và nhớ rất giỏi, nhưng vẫn không thực sự hiểu.
Hiểu được chuyện gì đó tức là bao hàm việc đã biết nó, nhưng ở mức cao hơn trí nhớ. Ở mức này, người học có khả năng chỉ ra ý nghĩa và mối liên hệ giữa các thông tin (hay khái niệm) mà họ đã biết. Khi phát biểu một định nghĩa nào đó, tức
là người học đã biết đến khái niệm, nhưng để chứng tỏ hiểu, họ phải có khả năng
giải thích được các khái niệm trong đó, minh hoạ bằng các ví dụ hay hình ảnh, 98
phát biểu lại (rephrase) định nghĩa đó dưới đạng khác mà không mất đi đặc trưng của khái niệm.
Để kiểm tra người học có hiểu khái niệm hay không, ta có thể yêu cầu người học chọn định nghĩa sát nhất với định nghĩa đã được học.
Làm thế nào để xác định được là HS hiểu? Bloom đề nghị kiểm tra sự hiểu
thấu đáo của HS qua các hoạt động sau: tóm tắt nội đung, giải thích, trình bày lại
bằng những từ khác, thuyết trình, thảo luận, nhận biết các yếu tố...
— Ứng dụng (vận dụng)
Ở tầng thứ ba là ứng đụng. Các từ khoá chính để kiểm tra trình độ nhận thức ở
tầng thứ ba gồm có: ứng dụng (công thức hay bài học vào hoàn cảnh khác), chứng minh, giải quyết vẫn đề, minh hoạ, tính toán, sử dụng, thí nghiệm...
Tri thức thuộc loại ứng dụng liên quan tới khả năng vận dụng kiến thức, biết
sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó.
Vấn đề được giải quyết ở đây phải khác (có khi là hoàn toàn mới) vấn đề đã được
thảo luận trên lớp hay trong giáo trình.
Mục tiêu giáo dục dừng ở mức ứng dụng là những mục tiêu “thực dụng”, mang lại giá trị cộng thêm cho người học vì các kiến thức có thể được đem ra áp dụng vào các vấn đề thực tiễn của người học.
Để đo lường khá năng ứng dụng, ta có thể sử dụng các bài thực hành hoặc kiểm tra các kĩ năng trong các bài trắc nghiệm (liệt kê các thủ tục, xem xét lỗi có thể phát sinh, lựa chọn giải pháp từ dữ kiện sẵn có...).
Ba trình độ biết, hiểu và vận đụng được xếp vào hạng trình độ nhận thức và tư duy thấp, thuộc loại cơ bản.
— Phân tích: Phân tích là khả năng chia nhỏ vấn đề thành các khái niệm thành phần có quan hệ hữu cơ với nhau để tìm hiểu bản chất của vấn đề. Với khả năng
phân tích, người học đi đến bản chất của sự vật hay khái niệm, là tiền để quan trọng đề lấy chất liệu tổng hợp hoặc phê phán, từ đó đi tới sáng tạo cái mới.
- Tổng hợp: Tông hợp là khả năng thu thập, kết hợp các thành phần rời rac,
vốn không bộc lộ rõ các mối liên kết, thành một chỉnh thể. Đây là mức cao hơn
của tri thức. Hệ quả của phương pháp tổng hợp thường là các cải tiến, sản phẩm mới hoặc lí thuyết mới.
~ Đánh giá: Đánh giá là khả năng đưa ra các phán xét hay — đở, tốt — xấu, tiền bộ — lạc hậu, phù hợp — không phù hợp... về các vật liệu, kĩ thuật, khái niệm hay phương pháp. Để có được sự đánh giá, thông thường người học phải có khả năng phân tích vấn đẻ dé rõ ngọn ngành, tổng hợp và so sánh từ nhiều nguồn, từ đó đưa ra các nhận định cuối cùng. Đây là mức cao nhất của trí tuệ. Kết quả của đánh giá
thường làm phát lộ tri thức mới, phủ định trí thức đã biết, hoặc ít ra là tái khẳng định với các căn cứ xác đáng phương pháp hay vật liệu (materials) được nghiên cứu.
Ở tầng này người học phải có khả năng đưa ra những nhận xét, đánh giá, phê binh (tinh huống, tác pham...), đưa ra những đề nghị, tiên đoán, chứng minh, và lập luận dựa trên những dữ kiện cụ thể đã được phân tích và tổng hợp ở hai tang dưới.
Càng ở bậc học cao hơn thì yêu cầu về các mức tri thức cao hơn càng quan
trong. Các mục tiêu giáo dục ở bậc học phổ thông thường dừng ở hai mức Biết —
Hiểu; ở bậc học thiên về thực hành (trung cấp, cao đẳng nghề) thì mục tiêu chủ yếu là Biết — Hiểu — Ứng dụng, bậc học đại học thường có thêm các mục tiêu ở mức Phân tích và có thể có Tổng hợp và Đánh giá ở một số môn học. Các khoá học sau đại học chủ yếu đặt mục tiêu thuộc hai mức cuối cùng trong thang phân loại Bloom. Một trong những mục tiêu phố quát của giáo dục là khả năng giải quyết vẫn đề (problem- solving), vấn đề càng phức tạp thì tri thức và kĩ năng yêu cầu dé giải quyết càng cao cấp hơn. Khi đó, người học cần có khả năng phân tích sắc bén, tổng hợp tri thức một cách hệ thống, cũng như có khả năng phán biện và
đánh giá để có thê đưa ra giải pháp tốt nhất.
Đến giữa thập niên 1990, giáo sư Lorin Anderson, một học trò của Bloom, cùng một số đồng nghiệp tu chỉnh bảng phân loại của Bloom. Bảng tu chỉnh này cũng tương tự như của Bloom, chỉ thay đổi hai tầng cuối cùng là đánh giá (tầng 5) và sáng tạo (tầng 6). Một đóng góp nữa trong bảng tu chỉnh là sử dụng các động
từ thay cho các danh từ như trong bảng chính: ˆ
6 | Sáng tạo 5 | Đánh giá
4 | Phan tich/téng hop 3 | Ap dung
2 | Hiéu
1 | Nho
Một cách vắn tắt, những câu hỏi kiểm tra cho các trình độ gồm có: (1) HS có thé nhắc lại những chỉ tiết, đữ kiện đã học? (2) HS có thể giải thích những ý tưởng
hay khái niệm? (3) HS có thé sử dụng những kiến thức đã học trong tình huống mới?
(4) HS có thể phân biệt được những phần tử khác nhau? (5) HS có thể bảo vệ
một luận cứ hay phê bình? và (6) HS có thể tạo ra một sản phẩm mới hay đưa ra
một quan điểm mới?
Điều khó khăn của việc áp dụng bảng phân loại vào công tác giảng dạy, có lẽ nằm ở ngay từng môn học. Trong một số môn học như Toán và Khoa học chẳng han,
GV rất đễ dàng giảng dạy và hướng dẫn HS ở trình độ từ áp dụng lên đến phân
tích và tổng hợp. Nhưng còn những môn thuộc về khoa học nhân văn, ví đụ như
môn Lịch sử, làm thế nào đề dạy HS áp dụng hay phân tích bài học lịch sử? Đó là
những khó khăn và thách thức mà GV phải tim ra cách thức để nâng bài giảng của mình lên trình độ 3, 4 và 5; ngoài ra còn phải kể đến áp lực GV phải kết thúc cho
hết khối lượng “kiến thức” quá tải trong một niên học hay một học kì. Kết quả là,
đa số nhà giáo, vì lí do này hay lí đo khác, chọn cách giảng dạy ở bậc 1 và 2.
Bảng phân loại của Bloom (và bảng tu chỉnh của Anderson) chỉ là một công cụ giúp cho nhà giáo thực hiện đúng đắn và hữu hiệu chức năng của mình, còn dùng được nó hay không lại còn tuỳ vào mỗi người, và đó chính là thách thức lớn lao nhất trong thiên chức của nhà giáo để có thể day và nâng cao trình độ nhận thức — tuỳ theo kiến thức và trình độ — của HS ngay từ những lớp tiểu học.
— Phân loại Bloom và phong cách học tập:
Đối với người học, việc tiếp cận các mức trí năng ảnh hưởng trực tiếp tới phong cách học tập. Do vậy, GV cần định hướng phong cách học tập cho người học để họ đạt được thành quả cao hơn trong học tập.
Hình dưới đây mô tả hai phong cách học tập khác nhau khi người học tiếp nhận các loại trì thức khác nhau theo phân loại của Bloom. Theo đó, nếu chỉ quan tâm tới các tri thức thuộc loại Biết và Hiểu, người học đang tiếp cận hời hợt (surface learning), khó thành công trong phát triển năng lực bản thân; đề thành công trong học
tập, người học cần tiếp cận các mức độ tri thức cao hơn (phong cách deep-learning).
A : .Ã
-_ Thông hiều
Phong cach hoc héi hot
Biét +
101
— Một số yếu tổ tác động tới sự hình thành khái niệm:
+ Nhu cầu và mức độ hoạt động tích cực của người học.
+ Phương pháp giảng dạy của GV.
+ Nội dung chương trình học tập.
+ Năng lực nhận thức của HS.
Trước hết, có hình thành được các khái niệm cho người học hay không đòi hỏi người dạy phải tạo cho người học có nhu cầu học, mà nhu cầu học của người học một phần phụ thuộc vào chương trình đào tạo có tính ứng dụng cao, đáp ứng
với ngành nghề đào tạo. Điều này một phần sẽ tạo điều kiện cho người học có ý
thức với việc học vì nó có ý nghĩa đối với ngành nghẻ của mình trong tương lai.
Nội dung giảng đạy vô cùng quan trọng trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nội dung quy định đến phương pháp giảng dạy, nội dung nào thì phương pháp ấy. Vì thế, vấn đề chương trình và nội dung đào tạo các ngành học phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Muốn vậy, phải xây dựng chương trình đào tạo một cách khoa học để đáp ứng yêu cầu đào tạo.
Thứ hai, đề tạo ra nhu cầu học tập và tính tích cực học tập của người học thì vai trò của người dạy là vô cùng quan trọng. Người dạy phải ý thức được trách nhiệm giáo dục đào tạo là nhiệm vụ của mình, phải chủ động tích cực trong việc nâng cao trình độ và cái tiến phương pháp giảng dạy. Người dạy sẽ không thê thay đổi được phương pháp giảng dạy nếu như bản thân mình chưa phái là nhà chuyên môn giỏi. Do đó, chất lượng đội ngũ giảng dạy là điều kiện vô cùng cần thiết để đổi mới phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay.
Thứ ba, vẫn đề về phương pháp đánh giá cũng là nhân tố kích thích người học. Nếu người dạy kiểm tra, đánh giá người học một cách qua loa sẽ tạo sức ỳ lớn ở người học. Vì vậy, việc chấm bài của rigười học và đánh giá đúng trình độ
của người học là cả vấn đề lớn, đòi hỏi một sự nỗ lực, nhiệt tình hết sức của đội
ngũ giảng viên. Mặt khác, việc đánh giá người học hiện nay cũng cần phải hạn chế kiểm tra lí thuyết mà phải đi sâu vào vấn đề thực hành và ứng dụng thực tiễn
nhiều hơn nữa.