Dạy học theo quan điểm của thuyết kiến tạo nghĩa là GV hướng dẫn để HS tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập, từ đó kiên tạo trị thức |
cho bản thân. Vì vậy, các kiểu dạy học như: dạy học khám phá, dạy học hợp tác,
dạy học giải quyết vấn đề... đều được coi là các phương pháp dạy học vận dụng quan điểm của lí thuyết Kiến tạo. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng thuyết
Kiến tạo trong dạy học một số môn học ở trường phổ thông.
Trong dạy học, HS được khuyến khích sử dụng các phương pháp riêng của
mình để kiến tạo tri thức chứ không phải chấp nhận lối tư duy của người khác.
Nhu vay, tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ
không phải được tiếp nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài. Trong môi trường học tập kiến tạo, HS được học nhiều hơn khi thực sự được cuốn hút vào việc học, thay vì chỉ lắng nghe thụ động, nghĩa là thuyết kiến tạo coi trọng vai trò chủ động và tích cực của HS trong quá trình học tập để tạo nên tri thức cho ban
thân, đặc biệt tư duy của HS dần trở nên trừu tượng và phát triển hơn, HS được
thúc giục để hoạt động trong tiến trình học tập. Vai trò trung tâm của quá trình dạy học được chuyển từ GV sang HS, GV đóng vai trò là người cố vấn, dàn xếp,
nhắc nhở và giúp HS phát triển, đánh giá những hiểu biết và việc học của mình.
Cả GV và HS không chỉ xem kiến thức là một thứ để nhớ mà còn xem kiến thức
là một cấu trúc động. Quy trình dạy học theo thuyết Kiến tạo có cầu trúc như sau:
Câu hỏi của HS
Khám phá Phản ánh Kiến tạo tri thức mới
Khảo sát cụ thể
Theo quy trình này, việc dạy một kiến thức mới không phải bắt đầu từ việc
GV thông báo kiến thức đó mà phải bắt đầu từ việc khám phá của HS về kiến thức
cần lĩnh hội. HS có cơ hội bộc lộ những quan điểm của mình, lắng nghe quan điểm của bạn, được tranh luận, thống nhất ý kiến. Qua lắng nghe, theo dõi những quan điểm của HS, GV sẽ phát hiện ra nhiều yếu tố bất ngờ hoặc khác thường, GV tôn trọng những ý kiến của HS, khuyến khích HS lựa chọn con đường đi đúng để tiếp cận được tri thức. Kết quả của hoạt động đó, HS có được một hệ thống kiến thức phù hợp với yêu cầu, đồng thời các em tìm ra được con đường chiếm lĩnh tri thức.
Dạy học theo mô hình trên đã chứa đựng sự thay đổi quan diém 14 day hoc phải luôn chú ý tới những tri thức và kĩ năng đã có của HS, đó là một trong những
tiền đề để tổ chức dạy học những kiến thức mới.
3.4. Hình thành khái niệm khoa học cho học sinh 3.4.1. Bản chất khái niệm khoa học
3.4.1.1. Khái niệm là gì?
— Khái niệm là tri thức của loài người về một loại sự vật, hiện tượng, quan hệ nào đó đã được khái quát hoá từ các dấu hiệu bản chất của chúng.
Nói cách khác, khái niệm là sản phẩm của sự phản ánh tâm lí những thuộc tính bản chất chung nhất của sự vật, hiện tượng trong não người. Có thể xem sự hình thành khái niệm tạo nên nền tảng của toàn bộ tri thức của loài người. Vì vậy, sự hình khái niệm được coi là nhiệm vụ cơ bản nhất của hoạt động dạy và học.
—- Khái niệm là một năng lực thực tiễn được kết tỉnh lại và “gửi” vào đối tượng.
Khi muốn có đối tượng thì phải thâm nhập vào đối tượng (thông qua hành động với đối tượng) để tìm ra logic tồn tại của nó (khái niệm mà loài người đã gửi găm vào đối tượng), bằng cách lập lại đúng chuỗi thao tác trước đây loài người đã phát hiện ra. Và từ đó, chủ thể có thêm một năng lực mới.
Như vậy, quá trình đạy học nói chung, quá trình hình thành khái niệm nói riêng là quá trình liên tục tạo ra cho trẻ những năng lực mới.
— Vai trò của khái niệm bao gồm:
+ Khái niệm vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động, nhất là hoạt động trí tuệ. Việc sở hữu các khái niệm mới, làm tăng thêm sức mạnh tỉnh than,
béi dap thém nang luc.
+ Khái niệm là “thức ăn” của tư duy, vì nó vừa là sản phẩm của tư duy, vừa là sự vận động của tư duy. Khái niệm là “vũ khí”, sức mạnh để hoạt động sáng tạo,
cải cách và thích nghỉ với thực tiễn cuộc sống.
+ Khái miệm là “vườn ươm” của tư tưởng, niềm tin, là vật liệu để hình thành nhân cách của cá nhân.
3.4.1.2. Các hình thức biểu hiện của khái niệm
Khái niệm có hai nơi trú ngụ: một là, ở đối tượng; hai là, ở trong đầu chủ thể.
Khái niệm có trong đầu chủ thể là kết quả của sự hình thành bắt đầu từ bên ngoài chủ thể, bat đầu từ đối tượng.
Quá trình “chuyển chỗ ở” như vậy là quá trình hình thành khái niệm ở chủ thể. Muốn tạo ra quá trình “chuyển chỗ ở ° đó phải lẫy hành động của chủ thể thâm nhập vào đối tượng làm cơ sở.
— Trong dạy học, để hình thành khái niệm cho HS, người thầy phải tổ chức hành động cho HS tác động vào đối tượng theo đúng quy trình hình thành khái niệm; lấy hành động của các em làm cơ sở.
Nguồn gốc xuất phát của khái niệm là ở đồ vật, nơi con người đã “gửi” năng lực của mình vào; muốn có khái niệm thì phải lấy lại những năng lực đã được
“gửi” vào đó. Cách lấy lại đó phải có những hành động tương ứng để hình thành
khái niệm.