Lí thuyết Không gian sống và xung đột động cơ của Kurt Lewin

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 161 - 164)

A. Maslow coi những nhu cầu thể chất, cảm xúc và trí tuệ có tác động qua lại lẫn nhau và điều này có một ý nghĩa to lớn cho giáo dục. Một HS đến trường với

5.2.3. Lí thuyết Không gian sống và xung đột động cơ của Kurt Lewin

Lí thuyết về không gian sống do nhà tâm lí học Mĩ K. Lewin (1890 — 1947)

đề xuất nhằm hướng đến việc kích thích động cơ học tập cua HS trong dạy hoc.

Dựa trên thực nghiệm của nhà vật lí học Galilê về tính chất chuyển động của

vật thể, theo K. Lewin, các lực tác động tại thời điểm nhất định là yếu tố quy định hành vi con người, chứ không phải là do bản thể nội tại nào khác. Từ đó, ông phát triển khái niệm “không gian sống” của mỗi cá nhân. Theo ông, mỗi cá nhân có

một không gian sống riêng của mình. Không gian sống của mỗi cá nhân là sự phối

hợp giữa cá nhân với môi trường tâm lí của cá nhân đó và được biểu diễn bằng

phương trình đơn giản: LS = P + E (P là con người; E là môi trường tam Ii; LS (Hfe space) là không gian sống). Môi trường tâm lí được hiểu là ý thức của cá nhân về sự tác động của các yếu tố bên trong (ví dụ nhu cầu, trạng thái căng thắng, mệt mới, hưng phấn...), bên ngoài (yêu cầu của người khác...) và ý hức (nhớ lại) về những kinh nghiệm đã có của cá nhân. Không gian sống là yếu tố quy định hành vi của cá nhân tại thời điểm nhất định. Trong không gian sống, môi trường tâm lí là yếu tố quan trọng.

Điều kiện để sự tác động của các vật, hiện tượng có trong môi trường hiện tại

trở thành yếu tố của môi trường tâm lí là sự ảnh hưởng đó tôn tại trong ý thức chủ thể

(chủ thê ý thức được) ngay tại thời điểm đang diễn ra hành động (tại đây và bây giờ). Một vật thật (con hồ chẳng hạn) có thực trong không gian mà đứa trẻ đang sống, nhưng đứa trẻ đó không biết, không để ý đến sự có mặt của nó thì con hồ đó

sẽ không phải là yếu tố trong môi trường tâm lí của trẻ tại thời điểm đó. Nhưng ngược lại, một bức ảnh con hồ, kèm theo những câu chuyện về thú đữ có thể trở thành yếu tố tạo nên môi trường tâm lí của nó. Điều này rất phổ biến trong đạy

học, không phải mọi sự tác động nào và ở mọi thời điểm nào của GV cũng trở thành sự tác động tâm lí, tạo ra môi trường tâm lí của HS, mà chỉ có các tác động gây được chú ý, nằm trong vùng ý thức của HS mới thực sự trở thành tác động

tâm lí đối với các em.

5.2.3.1. Các động lực thúc đẩy và cân trở hành vi của trẻ em

trong không gian sống

Đối với K. Lewin, nhu cầu là một động lực tâm lí. Đó có thể là một nhu cầu sinh lí, cơ thể, mang tính bản năng như đói, khát, hoặc là một nhu cầu được hình

thành trong đời sống cá nhân (nhu cầu học được) như nhu cầu vẻ kiến thức, thể

thao, du lịch... Khi một nhu cầu được đánh thức, nó tạo ra lực căng của chủ thể.

Chính lực căng này tạo thành động lực, thúc đây hành động của cá nhân.

- Đề thoả mãn nhu cầu và giải phóng lực căng, cá nhân phải thường xuyên tương tác với môi trường tâm lí. Giá trị của vùng môi trường tâm lí mang lại cho nhu cầu của cá nhân được thể hiện bởi đại lượng trị số. Trị số của các lực đây

hoặc lực cản được biểu thị bằng cdc tri sé đương, âm hoặc trung tính. Một HS có nhu cầu học tập có thể kích hoạt nhu cầu vào một nội dung được HS đó ý thức, tạo ra trị số dương cho nó. Trong quá trình học tập, gặp những trở ngại từ kinh nghiệm bản thân, độ khó của tài liệu hoặc từ phương pháp dạy của thầy cô giáo...

làm xuất hiện trị số âm, cản trở việc học. Trong nhiều tình huống, các trị số có thể xung đột nhau. Hzi ứrị số đương: HS phải chọn một trong hai việc đều hấp dẫn, học môn này hay môn khác; Một rrị số âm và một trị số đương: phải đi học thêm

ngoài giờ (âm) và được cộng thêm điểm (dương); Hai trị số âm: bị kỉ luật nếu không báo cho GV biết hành vi mắc lỗi của mình...

— Hướng và khoảng cách mà hành động của cá nhân tới các vùng khác nhau của không gian sống được biểu thị bởi các vectơ. Bắt kì một vectơ nào cũng có ba đặc trưng: sức mạnh (cường độ), được biểu thị bởi độ dài của vectơ, hướng

tác động, biểu thị bởi mũi tên và điểm ứng dụng, biểu thị bởi điểm đến của

vectơ.

Bằng việc sử dụng các khái niệm trên, K. Lewin đã xác định và miêu tả các tác động của không gian sống đến hành vi của chủ thể tại thời điểm hiện tại.

Lí thuyết về không gian sống là cơ sở tâm lí học của các phương pháp dạy học nhằm tạo ra các lực tác động khác nhau và là cơ sở tâm lí học của đấu tranh

động cơ của HS trong học tập.

5.2.3.2. Một số thực nghiệm và ứng dụng theo các luận điểm của K. Lewin

vào thực tiễn và vào dạy học

Phát triển mô hình trường tâm lí và không gian sống của K. Lewin vào nghiên

cứu về hành vi và nhân cách cá nhân, nhiều nhà tâm lí học đã tiến hành các thực

nghiệm và mở ra nhiều khả năng ứng dụng vào thực tiễn, trong đó có dạy học.

Dưới đây là một số hướng chính:

— Sự gián đoạn hành vi: Sự gián đoạn hành vi học tập của HS liên quan tới việc thoả mãn nhu cầu. Các nhu cầu tạo ra lực căng cho hành động. Khi các hoạt động thoả mãn nhu cầu được thực hiện, tức lực căng được giải phóng, dẫn đến sự gián đoạn hành vi và làm giảm hiệu quả hoạt động của cá nhân (trong dân gian có

câu ngạn ngữ “ếch no khó nhử”). Các thực nghiệm cho thấy, khi một nhiệm vụ

được hoàn thành, sự nhớ lại các sự kiện diễn ra trong công việc đã làm bị suy giảm hơn nhiều so với nhớ lại các sự kiện khi một công việc bị dừng nửa chừng.

Ở đây, sức căng của nhu cầu chưa được giải quyết đã giúp cho việc hồi tưởng tốt

hơn. Đồng thời các thực nghiệm cũng cho thấy, việc triển khai phần còn lại của

việc bị gián đoạn, trong các tình huống được khuyến khích hay trách phạt, thường

đạt hiệu quả thấp hơn so với không bị gián đoạn.

— Sự thoả mãn: Theo K. Lewin, một nhiệm vụ được lặp lại nhiều lần sẽ giảm

bớt lực căng khi hoàn thành nhiệm vụ đó ở những lần tiếp sau. Hệ quả là chủ thể

không muốn làm việc đó và xuất hiện xu hướng tìm những công việc khác. Các

thực nghiệm của Karsten đã phát hiện điều khá thú vị. Bà đề nghị các nghiệm viên

làm đi làm lại một việc duy nhất (chẳng hạn, vẽ nhiều lần các đường thắng đứng hay việc gì đó tương tự) với một yêu cầu càng lâu càng tốt và có thể dừng lại bất kì lúc nào nếu muốn. Kết quả cho thấy, nhiều người cố gắng thay đổi nhiệm vụ và tính chất công việc, họ trở nên lơ đễnh, mệt mỏi, biểu lộ sự cáu giận đối với nghiệm viên và thường nghĩ đến một việc khác. Điều này rất có ý nghĩa trong dạy học. Một lĩnh vực hoạt động nhất định hoặc một phương pháp dạy học dù có hay đến mấy, nhưng nếu được lặp lại nhiều lần cũng sẽ trở nên nhàm chán và kém hiệu quả.

— Mức độ khát vọng hay kì vọng: Là yếu tố quan trọng, quy định hiệu quả thực hiện một công việc. Các nghiên cứu của K. Lewin và cộng tác viên đã phát hiện, mức độ thành công của nhiệm vụ làm tăng cường mức độ khát vọng hay kì vọng sẽ thành công hơn ở những việc tiếp theo. Ngược lại, nếu không thành công

sẽ suy giảm mức khát vọng của cá nhân. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố tác động tới khát vọng công việc như tính đều đều của những thành công của các công việc trước đó; vào sự khác biệt cá nhân về kinh nghiệm thành công hay thất bại của chuỗi công việc trong quá khứ; về tuổi, giới tính...

5.2.3.3. Sự xung đột giữa hành động và nhận thức

Thực chất đây là các xung đột về mục tiêu hành động. Thông thường, khi

có nhiều mục tiêu thì chủ thể bị đặt vào tình huống nhiều xung đột. Có ba loại

xung đột: |

— Xung đột giữa cách tiếp cận theo hướng này hoặc hướng khác.

—- Xung đột giữa cách tiếp cận với sự né tránh.

— Xung đột giữa sự né tránh này với sự né tránh khác.

Trên đây là một số luận điểm trong hệ thống tâm lí học của K. Lewin mà trung tâm là lí luận về không gian sống. Mặc dù những điều trên chỉ được đề cập

sơ lược có tính điểm báo, nhưng cũng đủ để khai thác rất nhiều vào việc tạo ra và định hướng các động lực học tập của cá nhân và nhóm HS trong dạy học.

Mục đích của K. Lewin trong việc xác định trường tâm lí hay không gian sống là hướng đến việc tiên đoán hành vi của cá nhân sẽ xảy ra trong bối cảnh

hiện tại. Điều đó, dẫn đến việc lí giải về các động lực thúc đẩy và cản trở hành vi

cá nhân. Các khái niệm được ông sử dụng để giải thích vấn đề này là nhu cẩu,

lực căng, trị 56 va vecto.

Một phần của tài liệu Giáo trình tâm lí học giáo dục (Trang 161 - 164)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)