11. Cấu trúc của luận án
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
3.4.4. Kết quả khảo nghiệm
Từ các phiếu hỏi đã thu thập được, tác giả tiến hành nhập liệu trên chương trình SPSS và thực hiện các phân tích chuyên sâu. Thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha đối với các nhân tố cho kết quả tất cả các biến đều có hệ số tương quan tổng biến phù hợp; thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy (Cronbach’s Alpha = 0.965 >
0.8: thang đo lường rất tốt).
Bên cạnh đó, tác giả thực hiện kiểm định độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi đối với mỗi nội dung với p < 0.01. Tất cả các biến đều có tương quan Pearson theo chiều thuận giữa tính cấp thiết và tính khả thi (0.392 <= r** < = 0.747) (Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
3.4.6.1 Cải tiến công tác lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
Bảng 6.1. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp cải tiến công tác lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
Nội dung khảo nghiệm
Tính cấp thiết Tính khả thi Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Nhà trường tổ chức cho GV và HS tham gia
xác định và xây dựng sứ mạng, tầm nhìn 3.32 0.61 2
3.20 0.60 2 0.727
Nội dung khảo nghiệm
Tính cấp thiết Tính khả thi Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
của nhà trường
Tầm nhìn, sứ mạng của trường thường xuyên được nhắc đến để các thành viên kiên trì thực hiện mục tiêu chung
3.24 0.58 3
3.09 0.57 3
0.657 Nhà trường tổ chức hội thảo về những tiến
bộ của KHKT, cập nhật xu hướng phát triển xã hội, chính sách phát triển đất nước.
3.22 0.60 4
2.99 0.63 4
0.594 Các bộ phận thường xuyên rà soát kết quả
thực hiện công việc đối chiếu với mục tiêu đề ra
3.55 0.54 1
3.36 0.58 1
0.676 Ở biện pháp này, các đối tượng tham gia khảo nghiệm đều nhận thấy rất cấp thiết để GV và HS tham gia xác định và xây dựng sứ mạng, tầm nhìn của nhà trường cũng như thường xuyên rà soát kết quả thực hiện công việc đối chiếu với mục tiêu. Nhà trường, TCM, GV thường xuyên nhắc đến sứ mạng, tầm nhìn của trường để mọi người kiên trì thực hiện mục tiêu chung. Việc làm này được cho là cấp thiết với GTTB=3.24 và khả thi với GTTB=3.09. Tương tự, việc tổ chức hội thảo về những tiến bộ của KHKT, cập nhật xu hướng phát triển xã hội, chính sách phát triển đất nước được đánh giá cấp thiết và khả thi ở mức thấp nhất so với vác tiêu chí còn lại (GTTB=3.22, 2.99).
3.4.6.2. Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng giáo viên
2.7 2.8 2.9 3 3.1 3.2 3.3 3.4 3.5 3.6
1.1 1.2 1.3 1.4
Biểu 1. Biểu đồ thể hiện tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp cải tiến công tác lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
cần thiết khả thi
Bảng 6.2. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng giáo viên
Nội dung khảo nghiệm Tính cấp thiết Tính khả thi
Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Nhà trường tổ chức tập huấn cho GV về khung năng lực và phẩm chất HS cần đạt sau khi học tập bộ môn
3.32 0.61 3 3.11 0.65 3
0.595 Nhà trường thành lập đội ngũ giáo
viên cốt cán để hỗ trợ giáo viên 3.26 0.56
4 3.05 0.50
4 0.689 Tổ chuyên môn thực hiện chuyên đề
đổi mới phương pháp, phân tích, nghiên cứu bài học, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
3.40 0.54 1
3.23 0.60 1
0.640 Tổ chuyên môn cập nhật phương
pháp đánh giá hiện đại, ứng dụng CNTT trong đánh giá
3.39 0.56 2 3.20 0.56 2
0.655 3.35 0.57 3.15 0.58
Nhà trường phải đẩy mạnh việc bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu giảng dạy bộ môn theo chương trình GDPT 2018, điều này được đánh giá là rất cấp thiết. Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng GV như tổ chức tập huấn chuyên môn, thành lập đội ngũ GV cốt cán để hỗ trợ đồng nghiệp, thực hiện chuyên đề đổi mới phương pháp và nghiên cứu bài học, cập nhật phương pháp đánh giá hiện đại, ứng dụng CNTT được đánh giá là rất cấp thiết (GTTB=3.35) và khả thi (GTTB=3.15)
Các biện pháp cụ thể ở TCM liên quan đến phương pháp thực hiện, tổ chức HĐDH, đặc biệt là những bài dạy khó; việc nghiên cứu và triển khai ở TCM những phương pháp đánh giá hiện đại; việc tổ chức tập huấn cho GV về khung năng lực, phẩm chất HS cần
2.8 2.9 3 3.1 3.2 3.3 3.4 3.5
2.1 2.2 2.3 2.4
Biểu2. Biểu đồ thể hiện tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng giáo viên
cần thiết khả thi
đạt sau khi học tập các bộ môn được cho là rất cấp thiết trong hoạt động bồi dưỡng GV (GTTB=3.40, 3.39, 3.32). Các biện pháp này cũng có thể thực hiện được trong nhà trường (GTTB=3.23, 3.20, 3.11). Tuy nhiên việc thành lập đội ngũ cốt cán để giúp đỡ đồng nghiệp được đánh giá ở mức thấp hơn so với các biện pháp còn lại với mức cấp thiết.
3.4.6.3 Đẩy mạnh chất lượng quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
Bảng 6.3. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đẩy mạnh chất lượng quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
Nội dung khảo nghiệm Tính cấp thiết Tính khả thi
Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Tổ chuyên môn xây dựng hoạt động trải nghiệm, thực hành, NCKH cho HS phối hợp với trường cao đẳng, đại học
3.39 0.52 4
3.17 0.52
4 0.552
Nhà trường tổ chức tham quan thực tế các
cơ sở sản xuất, kinh doanh 3.40 0.55 3
3.23 0.54
2 0.553 Nhà trường tổ chức thi KHKT, thi lập trình,
sinh hoạt câu lạc bộ học tập để phát triển phẩm chất, năng lực cho HS
3.41 0.58 2
3.22 0.57 3
0.650 GV tổ chức DH theo hướng vận dụng kiến
thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, DH tích cực, lấy HS làm trung tâm nhằm phát triển phẩm chất, năng lực
3.47 0.56 1 3.25 0.58 1 0.658
3.42 0.55 3.21 0.55
Đa số các ý kiến đều cho rằng việc GV tổ chức DH theo hướng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, DH tích cực, lấy người học làm trung tâm nhằm phát triển phẩm chất và năng lực là rất cấp thiết (xếp bậc cao nhất với GTTB=3.47). Hơn nữa, các cuộc thi trong nhà trường như hội thi khoa học kĩ thuật, thi lập trình, tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ học tập là những hình thức rất cấp thiết góp phần phát triển phẩm chất, năng lực của HS theo yêu cầu của chương trình GDPT 2018 (GTTB=3.41).
Tuy nhiên, việc nhà trường tổ chức các HĐ tham quan, trải nghiệm cho HS tại các cơ sở sản xuất kinh doanh; phối hợp với trường cao đẳng, đại học để thực hiện nghiên cứu khoa học được đánh giá ở mức thấp hơn so với hai nội dung trên với GTTB=3.40, GTTB=3.39. Việc thực hiện những nội dung này trên thực tế được xếp ở mức khả thi (GTTB=3.23, 3.17).
3.4.6.4 Nâng cao chất lượng quản lý đầu ra thông qua hỗ trợ học sinh học tập
Bảng 6.4. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đầu ra thông qua hỗ trợ học sinh học tập
Nội dung khảo nghiệm Tính cấp thiết Tính khả thi
Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Nhà trường tổ chức tập huấn cho GV nhằm trang bị kiến thức chuyên sâu về đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HS
3.35 0.50 5 3.09 0.54 5 0.539 Nhà trường tổ chức gặp mặt giáo viên
bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và CMHS để tìm biện pháp giúp đỡ HS
3.52 0.57 3 3.28 0.60 3 0.683 Tổ chuyên môn xây dựng bộ tiêu chí
đánh giá kết quả HĐDH của GV - HS 3.57 0.58
2 3.39 0.57 1 0.735 GV giúp HS thường xuyên xác định
kết quả học tập so với mục tiêu đặt ra 3.48 0.56 4
3.25 0.62 3 0.576 GV không ngừng khuyến khích HS
tìm hiểu phương pháp học phù hợp 3.52 0.55
3 3.30 0.58 2
0.556 GV hướng dẫn, giúp đỡ HS nâng cao
khả năng tự học 3.61 0.50 1
3.28 0.58 3
0.522 Nhà trường phối hợp với CMHS để
nhắc nhở, giúp đỡ HS học tập 3.06 0.59
6 2.78 0.65
6 0.392 3.45 0.55 3.20 0.59
Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đầu ra thông qua hỗ trợ HS học tập được cho là rất cấp thiết và rất khả thi. GV rất cần phải hướng dẫn, giúp đỡ HS nâng cao khả năng tự học (GTTB=3.61) đồng thời khuyến khích HS tìm hiểu phương pháp học tập
3 3.1 3.2 3.3 3.4 3.5
3.1 3.2 3.3 3.4
Biểu 3. Biểu đồ thể hiện tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đẩy mạnh chất lượng quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
cần thiết khả thi
phù hợp nhất (GTTB=3.52). GV thường xuyên giúp HS so sánh kết quả đạt được đối chiếu với mục tiêu đặt ra, từ đó có sự cải tiến phù hợp với HĐ học tập (GTTB=3.48).
Ngoài ra, nhà trường tăng cường phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, GV bộ môn và CMHS để tìm biện pháp giúp đỡ HS được cho là rất cấp thiết và khả thi (GTTB=3.52, 3.09). Bên cạnh đó việc TCM xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả HĐDH của GV và HS được cho là rất cấp thiết và rất khả thi. (GTTB=3.57, 3.39). Nhà trường tập huấn cho GV những kiến thức để hiểu về tâm lý HS, từ đó dễ dàng tiếp cận và giúp đỡ HS (GTTB=3.35). Mặc dù vậy, biện pháp phối hợp với CMHS để nhắc nhở, giúp đỡ HS trong học tập được đánh giá thấp hơn, chỉ đạt ở mức cấp thiết (GTTB=3.06) và khả thi (GTTB=2.78). Bên cạnh đó, tính khả thi của các biện pháp trong nhóm này cũng được đánh giá ở mức thấp hơn một bậc với khoản cách khá xa so với mức độ đánh giá về tính cấp thiết (2.78=< M <= 3.39).
3.4.6.5. Đổi mới tổ chức các hoạt động hướng nghiệp nhằm phát huy hiệu quả quản lý đầu ra
Bảng 6.5. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đổi mới tổ chức các hoạt động hướng nghiệp nhằm phát huy hiệu quả quản lý đầu ra
Nội dung khảo nghiệm
Tính cấp thiết Tính khả thi Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Nhà trường tổ chức tập huấn cho đội ngũ CBQL và GV về kĩ năng tư vấn, hướng nghiệp cho HS.
3.37 0.53 2 3.01 0.61 4 0.482
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4
4.1 4.2 4.3 4.4 4.5 4.6 4.7
Biểu 4. Biểu đồ thể hiện tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đầu ra thông qua
hỗ trợ học sinh học tập
cần thiết khả thi
Nội dung khảo nghiệm
Tính cấp thiết Tính khả thi
Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Tổ chuyên môn tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu những ngành nghề có liên quan trực tiếp đến kiến thức, kĩ năng bộ môn.
3.26 0.53 4 3.00 0.58 5 0.501 Trong sinh hoạt định kỳ, TCM thảo luận
về những nội dung hướng nghiệp theo đơn vị bài học hay theo các chủ đề.
3.21 0.61 5 3.02 0.66 3 0.747 Nhà trường thực hiện công tác hướng
nghiệp, giúp học sinh biết được yêu cầu về phẩm chất, năng lực cần phải có của một số nhóm ngành nghề cơ bản trong xã hội
3.47 0.53 1
3.26 0.49 1
0.544 Nhà trường phối hợp với các trường đại
học, cao đẳng, các đơn vị sản xuất kinh doanh của địa phương để giới thiệu cho GV những thông tin mới về nhu cầu của thị trường lao động, HĐ đào tạo nghề
3.32 0.59 3 3.04 0.65 2 0.643
3.33 0.56 3.07 0.60
Công tác hướng nghiệp trong nhà trường được cho là rất cấp thiết, xếp hàng đầu trong nhóm các HĐ; nhà trường cần tổ chức HĐ giúp HS biết được yêu cầu về phẩm chất, năng lực của một số nhóm ngành nghề. Việc tập huấn cho GV kĩ năng tư vấn, hướng nghiệp cho HS cũng như việc phối hợp với các trường cao đẳng, đại học, các đơn vị sản xuất kinh doanh để giới thiệu thông tin nghề nghiệp cho GV và HS được cho là rất cấp thiết. Mặc dù vậy, việc triển khai lồng ghép hướng nghiệp với dạy học bộ môn được đánh giá ở mức cấp thiết, thấp hơn một bậc so với các nội dung trước.
Ngoài ra, có sự chênh lệch khá lớn giữa tính cấp thiết và tính khả thi đối với các nội dung của biện pháp trang bị cho đội ngũ CBQL, GV năng lực định hướng nghề nghiệp cho HS. Việc thực hiện các biện pháp ở nhóm này chỉ được đánh giá ở mức khả thi (3.00<= M<=3.26).
3.4.6.6. Tổ chức thực hiện hiệu quả văn hóa chất lượng trong nhà trường
Bảng 6.6. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả văn hóa chất lượng trong nhà trường
Nội dung khảo nghiệm
Tính cấp thiết Tính khả thi Tương quan GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB r **
Các giá trị văn hóa của nhà trường được duy trì thực hiện như đoàn kết, thống nhất, liên tục cải tiến và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ
3.24 0.58 3
3.09 0.57 3
0.657 Nhà trường phát huy dân chủ, trao
quyền cho các cá nhân chủ động, sáng tạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ
3.22 0.60 4 2.99 0.63 4 0.594 Các bộ phận phối hợp chặt chẽ, thống
nhất cao trong thực hiện nhiệm vụ, rà soát và cải tiến chất lượng
3.48 0.60 2
3.25 0.59 2
0.629 Nhà trường thường xuyên khen thưởng
GV và HS đạt thành tích tốt hoặc có sự tiến bộ trong dạy và học
3.55 0.51 1
3.37 0.51 1
0.661 3.37 0.57 3.18 0.57
Các đối tượng khảo sát đánh giá việc thực hiện biện pháp nhằm đẩy mạnh xây dựng VHCL nhà trường qua việc duy trì các giá trị văn hóa như đoàn kết, thông nhất, liên tục cải tiến và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Nhà trường phát huy dân chủ, trao quyền cho các cá nhân chủ động, sáng tạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ là cấp thiết và khả thi (GTTB=3.24, 3.22; GTTB=3.09, 2.99). Bên cạnh đó, các đối tượng khảo sát cho rằng nhà
2.7 2.8 2.9 3 3.1 3.2 3.3 3.4 3.5 3.6
5.1 5.2 5.3 5.4 5.5
Biểu 5. Biểu đồ thể hiện tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đổi mới tổ chức các hoạt động hướng nghiệp
nhằm phát huy hiệu quả quản lý đầu ra
cần thiết khả thi
trường rất cần thực hiện sự phối hợp, tham gia của các bộ phận trong thực hiện nhiệm vụ, rà soát và cải tiến chất lượng cũng như khen thưởng GV và HS đạt thành tích tốt hoặc có nhiều tiến bộ (GTTB=3.48, GTTB=3.55). Tuy nhiên, tính khả thi của biện pháp được đánh giá thấp hơn sự cấp thiết (GTTB=3.25, GTTB=3.37). Điều này cho thấy có một chút ngần ngại của các đối tượng khảo sát đối với triển khai VHCL trong nhà trường.
Nhận xét chung
Bảng 6.7. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể
Nội dung khảo nghiệm
Tính cấp thiết Tính khả thi GTTB ĐLC TB GTTB ĐLC TB Cải tiến công tác lập kế hoạch quản lý HĐDH 3.33 0.58 5 3.16 0.59 4 Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
quản lý, giáo viên, nhân viên 3.35 0.57 4 3.15 0.58 5 Đẩy mạnh chất lượng quản lý quá trình DH theo
hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học 3.42 0.55 2 3.19 0.57 2 Nâng cao chất lượng quản lý đầu ra thông qua
hỗ trợ học sinh học tập 3.45 0.55 1 3.20 0.59
1 Đổi mới tổ chức các hoạt động hướng nghiệp
nhằm phát huy hiệu quả quản lý đầu ra 3.33 0.56 5 3.07 0.6 6 Tổ chức thực hiện hiệu quả văn hóa chất lượng
trong nhà trường 3.37 0.57 3 3.18 0.57
3 Thực hiện tính bình quân kết quả khảo sát theo từng nhóm biện pháp, ta có được bảng số liệu chung để đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của 6 nhóm biện pháp đề ra.
Kết quả khảo sát cho thấy các biện pháp mà tác giả đưa ra là cấp thiết và rất cấp thiết để quản lý HĐDH tại các trường THPT theo tiếp cận TQM. Hơn nữa, các biện pháp đều có
2.6 2.8 3 3.2 3.4 3.6
6.1 6.2 6.3 6.4
Biểu 6. Biểu đồ thể hiện tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả văn hóa chất lượng
trong nhà trường
cần thiết khả thi
thể thực hiện được nếu áp dụng vào thực tế (được đánh giá ở mức khả thi).
Từ kết quả tổng hợp, có thể thấy nhóm biện pháp về nâng cao hiệu quả thực hiện VHCL trong nhà trường và nâng cao hiệu quả quản lý đầu ra thông qua hỗ trợ học sinh học tập được đánh giá là rất cấp thiết và có tính khả thi ở mức cao nhất trong tất cả các biện pháp.
Nhóm biện pháp ít được đánh giá cao, đạt mức thấp nhất về tính cấp thiết và tính khả thi là biện pháp cải tiến công tác lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học và biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu ra thông qua các hoạt động hướng nghiệp. Việc đánh giá khả năng triển khai thực hiện một số biện pháp còn ở mức thấp hơn so với mức độ cấp thiết của biện pháp. Điều này cho thấy vẫn còn tâm lý e dè, chưa tin tưởng trong đội ngũ CBQL, GV khi áp dụng thực hiện các biện pháp đề ra.