11. Cấu trúc của luận án
1.3. Một số mô hình quản lý chất lượng trong giáo dục
Mô hình ISO 9000 còn được gọi là các hệ thống chất lượng; là một hệ thống các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất nhằm cho ra sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với mẫu mã, quy cách và thông số kỹ thuật được qui định trước đó. Mô hình này được áp dụng cho các tổ chức sản xuất kinh doanh chú trọng vào thiết kế và phát triển sản phẩm. Mô hình ISO cũng được
áp dụng cho các cơ sở giáo dục với hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể trên những lĩnh vực quản lý, hoạt động giáo dục trong nhà trường. Đặc biệt, các tổ chức chuyên kiểm tra, kiểm định chất lượng giáo dục đã vận dụng một số yêu cầu, các qui định, bộ tiêu chí đánh giá của ISO vào kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, nhất là ở bậc đại học. Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình ISO trong giáo dục sẽ tạo ra sản phẩm đồng loạt, thống nhất nên khá cứng nhắc khi áp dụng vào thực tế quản lý chất lượng giáo dục vì sản phẩm của giáo dục là con người với sự phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực, nhân cách mỗi cá nhân có đặc trưng riêng, không thể đồng loạt giống nhau (Nguyễn Đức Chính, 2003). Các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá theo ISO được vận dụng đưa vào đánh giá các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng. Ở cấp trung học phổ thông, để đánh giá chất lượng giáo dục, dạy học, Bộ GD & ĐT đã ban hành bộ tiêu chí riêng theo thông tư số 18/2018/TT- BGDĐT ngày 22/8/2018 qui định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, trường THPT, trường phổ thông có nhiều cấp học.
1.3.2. Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model)
Mô hình các yếu tố tổ chức là mô hình đánh giá chất lượng giáo dục dựa trên 5 yếu tố: đầu vào, quá trình đào tạo, kết quả đào tạo, đầu ra và hiệu quả; chủ yếu áp dụng ở bậc đại học. (1) Chất lượng đầu vào đòi hỏi những yếu tố như người học, người dạy, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, các qui định phải đạt ở một số tiêu chí nhất định. (2) Chất lượng quá trình đào tạo như phương pháp, qui trình đào tạo, quản lý phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định của quá trình dạy học và các quá trình đào tạo khác. (3) Chất lượng đầu ra đòi hỏi các nhân tố như sinh viên tốt nghiệp, kết quả dạy học và các dịch vụ giáo dục khác đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội cũng như đạt được ở những mức độ nhất định so với bộ tiêu chí hoặc các mục tiêu đã được định sẵn. (4) Chất lượng sản phẩm là mức độ đạt được của người học hoàn thành chương trình được đánh giá bởi chính người học hoặc cha mẹ của họ. (5) Chất lượng giá trị gia tăng là mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp đóng góp cho xã hội và hệ thống giáo dục (Nguyễn Đức Chính, 2003).
1.3.3. Mô hình CIPO
(C:Context:Bối cảnh –I:Input:Đầu vào –P: Process: Quá trình – O:Output:Đầu ra) Theo Phạm Thị Như Phong (2017), sử dụng mô hình đảm bảo chất lượng CIPO để quản lý chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông đòi hỏi nhà quản lý phải quan tâm chú ý thực hiện các tác động QL đối với các yếu tố Bối cảnh (context)- Đầu vào
(input), Quá trình (process), Đầu ra (output). (1) Nhà quản lý cần quan tâm đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, xu hướng phát triển nghề nghiệp của địa phương và cả nước để phối hợp giáo dục phẩm chất đạo đức, rèn luyện năng lực sống và làm việc cho học sinh. (2) Quản lý nhà trường cần đảm bảo các yếu tố đầu vào như thực hiện tuyển sinh đúng yêu cầu, tiêu chuẩn, số lượng; xây dựng đội ngũ giáo viên đủ và đạt chuẩn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực GV; thực hiện chương trình giảng dạy hiệu quả, linh hoạt với điều kiện CSVC của trường. (3) Đảm bảo quá trình dạy học gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. Nhà quản lý cần đảm bảo việc xây dựng chương trình, lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch bài giảng của GV bám sát mục tiêu, chú trọng các hoạt động phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS. Việc tổ chức HĐDH bám sát kế hoạch bài giảng đồng thời sử dụng hiệu quả trang thiết bị, phương pháp đảm bảo hiệu quả của các hoạt động. Bên cạnh đó nhà quản lý cần QL hoạt động học tập của HS. Học sinh cần có động cơ, thái độ học tập tích cực; có phương pháp tự học, thời gian học tập hợp lí. Nhà quản lý đồng thời phải quan tâm đến kết quả học tập của HS. (4) Quản lý nhà trường thực hiện các công việc đánh giá hiệu quả giảng dạy của GV, chất lượng học tập của HS, kết quả tư vấn hướng nghiệp; thu thập thông tin về chất lượng học tập của HS khi tham gia bậc học trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
1.3.4. Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Hình 3. Mô hình cải tiến liên tục chất lượng dạy học theo vòng tròn Deming P-D-C-A (Sokovic, Pavletic, Kern Pipan, 2010, tr. 221).
Plan: Lập kế hoạch; Do: Tổ chức thực hiện; Check: kiểm soát; Act: hành động cải tiến;
Continuous improvement: cải tiến liên tục; Qlevel: mức chất lượng
Bunglowala và Asthana (2016) đã vận dụng tiếp cận TQM với qui trình Plan –Do –Check –Act (P-D-C-A) vào QL các hoạt động giáo dục, đòi hỏi các thành viên trong nhà trường phải tuân thủ các bước sau:
- Lập kế hoạch (Plan) vận dụng các phương pháp của TQM cần phải thiết lập chính sách chất lượng trong dạy và học; phát triển tuyên bố về tầm nhìn và sứ mạng đối với QL chất lượng; lập kế hoạch thực hiện các chiến thuật về chất lượng.
- Tổ chức thực hiện (Do) là triển khai kế hoạch và lấy dữ liệu để phân tích; cụ thể như quá trình giáo dục và huấn luyện; tập trung vào khách hàng là người học; tăng sự tham gia của GV; phát triển các dự án và nâng cao nhận thức về TQM trong GV.
- Kiểm tra (Check) để phân tích, đánh giá, kiểm tra và nghiên cứu kết quả. Đối với qui trình này, ta cần đánh giá toàn diện, liên tục bám sát, đo lường, kiểm tra vì sự cải tiến trong quá trình dạy và học.
- Cải tiến (Act) là thực hiện những hành động để duy trì và cải tiến qui trình bao gồm cải tiến liên tục, động viên và khen thưởng.
*Nhận định chung về các mô hình:
Có thể thấy các mô hình quản lý chất lượng như mô hình ISO 9000, mô hình các yếu tố tổ chức và mô hình CIPO đòi hỏi nhà quản lý kiểm soát chất lượng ở các công đoạn dựa trên hiện trạng của các đối tượng quản lý ở các giai đoạn khác nhau của quá trình giáo dục. Tuy nhiên, khi tiếp cận theo quá trình, các mô hình QL chỉ chú trọng đến hiện trạng (đầu vào) của các đối tượng QL như điều kiện kinh tế xã hội, CSVC, chương trình giáo dục, nguồn lực GV, đặc điểm HS; chú trọng đánh giá chất lượng đạt được - kết quả dạy và học (đầu ra). Việc quản lý quá trình chưa cụ thể hóa hoạt động của các chủ thể quản lý. Hoạt động QL mang tính một chiều, nhà QL tiếp cận thông tin, đánh giá tình hình để kiểm soát chất lượng, chưa thể hiện rõ sự tác động của chủ thể QL và hành động của các đối tượng QL như GV, HS nhằm đảm bảo chất lượng xuyên suốt của cả quá trình giáo dục trước khi cho ra sản phẩm giáo dục đạt mục tiêu đề ra. Hơn thế nữa, sự QL cứng nhắc từ các cấp theo qui định đã lạc hậu, không bắt kịp nhu cầu phát triển của xã hội, cũng như việc không có nhiều sự chủ động trong tuyển dụng GV, thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh khiến cho quản lý chất lượng trong nhà trường nghiên nhiều về quản lý hành chính; hệ thống vận hành theo lối mòn. Đánh giá chất lượng chỉ dừng lại ở đánh giá mức độ tuân thủ các qui định của ngành, của trường đề ra đối với GV, đánh giá kết quả học tập của HS
đạt được vào kết quả kiểm tra ở mỗi học kì. Công việc cải tiến, nâng cao chất lượng trong nhà trường dường như chỉ tập trung vào một số ít các cá nhân, chủ yếu là ở bộ phận QL.
Đối với mô hình quản lý theo tiếp cận TQM, hoạt động QL được thực hiện xuyên suốt cả quá trình chứ không phải là những hành động ngắn hạn buộc tổ chức phải liên tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu và sự hài lòng của khách hàng. Đội ngũ lãnh đạo, QL cần phát huy vai trò trong việc hỗ trợ, động viên, khuyến khích các thành viên kịp thời; trao quyền cho các bộ phận đồng thời tạo điều kiện để các cá nhân được đào tạo, bồi dưỡng để phát triển bản thân nhằm thực hiện cải tiến liên tục đối với công việc mình phụ trách (Kanji & Asher, 2001)
Quản lý theo TQM chú trọng vào người học và sự tham gia của toàn thể các bộ phận; liên tục cải tiến và nhìn nhận giáo dục là một hệ thống: nhà trường muốn phát triển, cải tiến chất lượng cần phải chú trọng đến nhu cầu của người học. Quản lý nhà trường cần làm mọi cách để tất cả mọi GV và HS thực hiện tốt việc cải tiến hoạt động của mình hướng đến chất lượng, cả về dạy và học. Các hoạt động giáo dục trong nhà trường có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà QL cần nhận thấy tính hệ thống của quá trình giáo dục và có sự hiểu biết đến mọi lĩnh vực của hệ thống. Điều này giúp tăng hiệu quả khi tiến hành cải tiến chất lượng từng phần hướng đến tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của khách hàng (Lovat, Toomey & Clement, 2010).