Và ba người này rơi vào trường hợp không được làm chứng di chúc theo khoản 1 Điều 632 BLDS 2015, họ là những người thừa kế theo pháp luật của ông Này.. Ông Này tự dùng tay của mình để v
Trang 1MỤC LỤC
Bài tập 1: Hình thức của di chúc 2
Bài tập 2: Di chúc tài sản của người khác 4
Bài tập 3: Di chúc chung của vợ chồng 7
Bài tập 4: Di sản dùng vào việc thờ cúng 8
TƯ LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2BUỔI THẢO LUẬN 6: Quy định chung về di chúc Bài tập 1: Hình thức của di chúc
Câu 1: Điều kiện về hình thức để di chúc tự viết tay có giá trị pháp lý? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Di chúc là giao dịch thể hiện ý chí của người để lại di sản và là giao dịch rất trọng hình thức.1 Vì thế, trong Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định rất rõ về Hình thức của
di chúc
Căn cứ Điều 630 BLDS 2015 quy định về Di chúc hợp pháp:
“1 Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,
đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này”.
Điều 633 BLDS 2015 quy định về Di chúc bằng văn bản không có người làm
chứng:
“Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này”.
1 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 52,53.
Trang 3Điều 634 BLDS 2015 quy định về Di chúc về văn bản có người làm chứng:
“Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này”.
Câu 2: Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này có là người làm chứng hợp pháp không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu di chúc của ông Này là di chúc phải có người làm chứng thì những người đã làm chứng di chúc của ông Này không phải là người làm chứng hợp pháp
Căn cứ vào Điều 632 BLDS 2015 quy định về Người làm chứng cho việc lập di
chúc:
“Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
Và theo khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định về Người thừa kế theo pháp luật:
“Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;
Trang 4b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”
Mà theo Bản án số 83/2009/DSPT, những người đã làm chứng cho ông Này là cha,
em gái và em trai ông Này Và ba người này rơi vào trường hợp không được làm
chứng di chúc theo khoản 1 Điều 632 BLDS 2015, họ là những người thừa kế
theo pháp luật của ông Này Cha ông Này thuộc hàng thừa kế thứ nhất, em trai và
em gái thuộc hàng thừa kế thứ hai theo khoản 1 Điều 651 BLDS 2015.
Câu 3: Di chúc của ông Này có là di chúc do ông Này tự viết tay không? Vì sao?
Di chúc của ông Này là di chúc do ông Này tự viết tay Ông Này tự dùng tay của mình để viết di chúc, tuy không được công chứng, chứng thực nhưng được lập khi ông hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định của luật 2 có sự làm chứng
của nhiều người Và cha, em gái, em trai của ông Này cũng đã điểm chỉ và ký tên làm chứng
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến hình thức di chúc của ông Này khi đây là di chúc do ông Này tự viết tay.
Di chúc của ông Này là di chúc do ông Này tự viết tay thì hướng giải quyết trên của Tòa là thỏa đáng
Di chúc tự viết tay không cần phải có người làm chứng mà chỉ cần căn cứ vào hình thức của di chúc và nội dung của di chúc là có thể xác định di chúc hợp pháp hay không Do đó mặc dù kết quả của Tòa án là công nhận di chúc đó hợp pháp nhưng
2 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Di chúc hợp pháp.
Trang 5trong quá trình xử lý còn có một vài sai sót như người làm chứng, cần phải có công chứng, chứng thực
Câu 5: Di chúc của cụ Hựu đã được lập như thế nào?
Di chúc do cụ Hựu đọc cho ông Vũ viết, cụ Hựu điểm chỉ, ông Vũ và cụ Đỗ Thị Quý (là mẹ ông Vũ) ký tên làm chứng, sau đó ngày 04-01-1999 bà Lựu mang di chúc đến cho ông Hoàng Văn Thưởng (trưởng thôn) và Ủy ban Nhân dân xã Mai Lâm xác nhận.3
Câu 6: Cụ Hựu có biết chữ không? Đoạn nào của Quyết dịnh số 874 cho câu trả lời?
Cụ Hựu không biết chữ
Quyết định có đoạn: “Ông Quang xác định cựu Hựu là người không biết chữ” 4
Câu 7: Di chúc của người không biết chữ phải thỏa mãn các điều kiện nào để
có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật?
Đối với người để lại di sản không thể tự mình viết di chúc do không biết chữ thì pháp luật quy định người này phải lập di chúc bằng văn bản, theo thủ tục công chứng, chứng thực tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp
xã5 Đồng thời phải lập, công chứng, chứng thực di chúc phải có người làm chứng
thì di chúc mới có hiệu lực Theo khoản 3 Điều 630 BLDS 2015: “Di chúc của
người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”
Câu 8: Các điều kiện nào nêu trên đã được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?
- Được người làm chứng là ông Vũ lập thành văn bản
- Có ông Vũ và bà Quý - mẹ ông Vũ kí tên làm chứng
3 Quyết đinh số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
4 Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tóa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
5 Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc
Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trang 6Câu 9: Các điều kiện nào nêu trên đã không được đáp ứng đối với di chúc của ông Hựu?
Điều kiện công chứng chứng thực Công chứng chứng thực ở đây là theo thủ tục
công chứng chứng thực quy định tại Điều 636 BLDS 2015 quy định về Thủ tục lập
di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn:
“Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:
1 Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;
2 Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản
di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản
di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.”
Câu 10: Theo anh/chị, di chúc nêu trên có thỏa mãn điều kiện về hình thức không? Vì sao?
Di chúc trên không thỏa mãn điều kiện về hình thức Mặc dù di chúc đã được lập thành văn bản và có người làm chứng nhưng về yêu cầu có công chứng, chứng thực do cụ Hựu là người không biết chữ thì chưa thỏa mãn yêu cầu của Luật
Ở đây cụ Hựu chỉ đọc cho ông Vũ viết và bà Lựu mang di chúc đến cho ông
Hoàng Văn Thưởng (là Trưởng thôn) và Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm xác nhận
Ông Thưởng không chứng kiến cụ Hựu lập di chúc, việc Ủy ban nhân dân xã Mai
Trang 7Lâm xác nhận là do bà Lựu mang di chúc đến xác nhận (sau khi cụ Hựu lập di chúc hơn 01 tháng) và Ủy ban nhân dân xã Mai Lâm chỉ xác nhận chữ ký của ông Thưởng chứ không xác nhận nội dung của di chúc Mặt khác, qua giám định dấu vân tay của cụ Hựu tại bản di chúc thì Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận: dấu vân tay mờ không thể hiện rõ các đặc điểm riêng nên không đủ yếu
tố giám định 6
Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về các quy định trong BLDS liên quan đến hình thức di chúc của người không biết chữ.
Nếu đối chiếu với Pháp lệnh thừa kế 1990 thì các quy định trên kế thừa các quy
định của Pháp lệnh Bởi lẽ, theo khoản 3 Điều 14 Pháp lệnh thừa kế,“ trong
trường hợp người lập di chúc không đọc được bản di chúc được, không ký hoặc điểm chỉ được, thì phải nhờ người chứng kiến Người chứng kiến đọc bản di chúc cho người lập di chúc nghe và ký vào bản di chúc trước mặt người có trách nhiệm chứng thức của cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn.” 78
Vì thế quy định trong BLDS là hợp lí, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Bài tập 2: Di chúc tài sản của người khác
Câu 1: Cụ Hương đã định đoạt tài sản nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Cụ Hương đã định đoạt phần tài sản là toàn bộ nhà và đất số 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận
Quyết định có đoạn: “Ngày 06/04/2009 cụ Nguyễn Văn Hương chết, để lại di chúc
có nội dung chia toàn bộ căn nhà và đất sô 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận cho 5 người con là: Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Dũng, Quãng Thị Kiều (vợ Nguyễn Hữu Trí), di
6 Quyết định số 874/2011/DS-GĐT ngày 22/11/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
7 Khoản 3 Điều 14 Pháp lệnh thừa kế 1990.
8 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 53,54,55,56.
Trang 8chúc đã được công chứng tại Phòng công chứng số 4 thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/01/2019.” 9
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của vợ chồng cụ Hương?
Quyết định có đoạn: “Nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ 25D/19 Nguyễn Văn Đậu (nay
là 302 Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Phú Nhuận) được Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận cấp giấy chứng nhận cho cụ Nguyễn Văn Hương vào năm
1994” 10
Mà cụ Lê Văn Quý và cụ Nguyễn Văn Hương chung sống từ năm 1955, lập hôn thú năm 1962 nên tài sản cụ Hương định đoạt trong di chúc là tài sản chung của hai
vợ chồng
Câu 3: Tòa đã công nhận phần nào của di chúc? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Tòa án cấp sơ thẩm công nhận phần tài sản của cụ Hương (1/2 nhà đất) được chia đều cho 5 người con
Quyết định có đoạn: “Tòa án cấp sơ thẩm xét xử di chúc của cụ Nguyễn Văn Hương có hiệu lực một phần đối phần tài sản của cụ Hương (1/2 nhà đất) nên được chia đều cho 5 người con là các ông bà Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Hữu Dũng, Quãng Thị Kiều (vợ ông Nguyễn Hữu Trí) sau khi đã chia cho cụ Quý 2/3 suất thừa kế theo pháp luật;…” 11
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm.
Việc Tòa án quyết định chia di sản của cụ Quý phù hợp với quy định của pháp luật
Theo Điều 612 BLDS 2015 quy định về Di sản: “Di sản bao gồm tài sản riêng của
người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Trong trường hợp cụ Quý và cụ Hương, tài sản thuộc sở hữu chung của cả hai
9 Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
10 Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
11 Quyết định số 359/2013/DS-GĐT ngày 28/8/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Trang 9người Trước khi chết, cụ Hương cũng không có tài sản riêng nên chỉ có phần tài sản trong tài sản chung với cụ Quý của cụ Hương mới được coi là di sản Cụ
Hương chỉ có quyền định đoạt phần đó Vì vậy, việc Tòa án xác định chỉ có 1/2 nhà đất được chia cho 5 người thừa kế là phù hợp với quy định trên của pháp luật
Theo Điều 644 BLDS 2015 quy định về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”
Cụ Quý không thuộc trường hợp tại Điều 620 và khoản 1 Điều 621 của BLDS năm 2015 Khi cụ Hương chết, cụ Quý là vợ của cụ Hương là người lập di chúc
cho hưởng di sản
Vì vậy, việc Tòa án xác định chia cho cụ Quý 2/3 suất thừa kế theo pháp luật là hoàn toàn phù hợp
Câu 5: Nếu cụ Quý chết trước cụ Hương, phần nào của di chúc có giá trị pháp lý? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.” Đây là một quyền
cơ bản của cá nhân được quy định tại Bộ luật dân sự và Pháp lệnh thừa Khi một người định đoạt tài sản của mình trong di chúc cho người khác và di chúc này có giá trị pháp lý thì người đáng ra được hưởng thừa kế theo pháp luật sẽ không được hưởng đến phần di sản này.” 12
12 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt
Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 44-47.
Trang 10Như vậy, nếu cụ Quý chết trước cụ Hương thì toàn bộ phần di chúc của cụ Huoneg
có giá trị pháp lí đối với phần tài sản của cụ Hương được hưởng từ phần thừa kế
theo pháp luật khi cụ Quý chết.Vì căn cứ theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia
đình 2014 quy đinh về Tài sản chung của vợ chồng: “Tài sản chung của vợ chồng
gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng choc hung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ
là tài sản chung khi vợ chồng thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.”
Theo đó, sau khi cụ Quý chết, đối với tài sản chung của vợ chồng thì 1/2 sẽ là của
cụ Hương và 1/2 còn lại là của cụ Quý
Căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 650 BLDS 2015 quy định về Những trường
hợp thừa kế theo pháp luật:
“1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a, Không có di chúc;”
Và quy định của Điểm a, Khoản 1, Điều 651 BLDS 2015 quy định về Người thừa
kế theo pháp luật:
“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;”
Theo đó, cụ Quý chết trước cụ Hương và không để lại di chúc, do vậy phần tài sản của cụ Quý sẽ được chia đều cho cụ Hương và các con của cụ Quý - là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật Như vậy, tài sản của cụ Hương
là phần được hưởng thừa kế pháp luật và 1/2 trong số tài sản chung với cụ Quý;