1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN dân sự 2 BUỔI 1

11 127 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 31,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất: Việc thực hiện công việc hoàn toàn không phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện công việc không có ủy quyê

Trang 1

Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.1

Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự

Vì thế, thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ là bởi lẽ trong

thực tế có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền mà BLDS 2015 đã dự liệu điều này tại chương XVIII2; khoản 8, Điều 83 và khoản 3, Điều 2754 BLDS 2015.

Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.

- Chủ thể: + BLDS 2005 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện bao gồm chỉ

có cá nhân

+ BLDS 2015 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện bao gồm cả cá nhân và

pháp nhân (mở rộng phạm vi chủ thể )

1 Điều 574 BLDS 2015.

2 Thực hiện công việc không có ủy quyền.

3 Điều 8 Căn cứ xác lập quyền dân sự

Quyền dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:

[ ] 8 Thực hiện công việc không có ủy quyền [ ]

4 Điều 275 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Trang 2

- Mục đích thực hiện: + BLDS 2005 quy định:“… hoàn toàn vì lợi ích của người có công

việc được thực hiện.”5 (hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác)

+ BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực

hiện”6 Bỏ từ "hoàn toàn” vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng cũng có thể vì mục đích khác tuy nhiên không thể làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác

Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Thứ nhất: Việc thực hiện công việc hoàn toàn không phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện công việc không có ủy quyền

Thứ hai: Việc thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện

Thứ ba: Người có công việc được thực hiện không biết việc có người khác đang thực hiện công việc cho mình hoặc biết nhưng không phản đối việc thực hiện việc đó

Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Theo Điều 575 BLDS 2015 định nghĩa: “Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một

người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”.

Theo đề, chưa có căn cứ xác định C đã tiến hành xây dựng dự án hay chưa

5 Điều 594 BLDS 2005

6 Điều 574 BLDS 2015.

2

Trang 3

Vì vậy:

- Nếu C chưa làm gì thì không thể yêu cầu A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định thực hiện công việc không có ủy quyền

- Nếu C đang xây dựng mà A biết và phản đối mà C vẫn làm thì C cũng không thể yêu cầu A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định thực hiện công việc không có ủy quyền được

- Nếu đã xây dựng xong mà A không biết hoặc biết mà không phản đối thì lúc này điều kiện có một chủ thể thực hiện công việc của người khác và người này không biết hoặc biết mà không phản đối đã được thỏa mãn Chúng ta xét đến những điều kiện khác

+ Trong tình huống đã nêu, nhà thầu C thực hiện công việc là do đã ký hợp đồng với ban quản lý dự án B Đối chiếu với người có công việc được thực hiện (chủ đầu tư A), nhà thầu C không có nghĩa vụ nào (giữa họ không có hợp đồng và không có quy định nào buộc C làm việc cho A) nhưng thực chất công việc mà C tiến hành là theo thỏa thuận với chủ thể khác (ban quản lý dự án B)

+ Theo định nghĩa tại Điều 575 thì chúng ta chỉ áp dụng chế định thực hiện công việc không

có ủy quyền khi người thực hiện công việc tiến hành công việc này “vì lợi ích của người có

công việc được thực hiện”, tuy nhiên cũng không loại trừ khả năng người tiến hành công

việc cũng có lợi ích từ việc thực hiện vì nhà thầu C làm việc để thu lợi nhuận Như vậy điều kiện này cũng được đảm bảo

Như vậy, khi nhà thầu C đã hoàn thành công việc thì có thể yêu cầu Chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định thực hiện công việc không có ủy quyền

Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền)

Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

Trang 4

Theo Điểm a, b Điều 1 Mục I Thông tư 01/TTLT trên thì việc tính lại khoản giá trị tiền

phải thanh toán được tính như sau:

- Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/07/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương, tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó

- Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 01/7/1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 01/7/1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định

tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2

Điều 313 BLDS 2015, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Việc tính lại khoản giá trị tiền phải trả qua trung gian là gạo.

Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

Thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền là 3.285.000đ

Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 Thông tư 01/TTLT ngày 29/6/1997 và Điều 280 BLDS

2015

Cách tính như sau:

- Giá gạo trung bình năm 1973 là 137đ/kg thì số lượng gạo quy đổi là 365kg

(50000đ:137đ/kg=365kg)

- Giá gạo tại thời điểm xét xử là 9000đ, vậy số tiền mà tòa án yêu cầu ông Quới hoàn trả cho bà Cô là 3285000đ (365kg*9000đ/kg=3285000đ)

Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GDT không? Vì sao?

4

Trang 5

Không

Vì theo điểm a, khoản 1 Thông tư 01/TTLT năm 1997 thì “Nếu việc gây thiệt hại hoặc

phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 01/7/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Tòa án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là “giá gạo”) tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó ra giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài

sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó” Nhưng theo Quyết định số

15/2018/DS-GĐT thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ của bà Hương là quý II kể từ ngày 16/04/1992 (thời

gian này trước 01/7/1997) nên Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không như Thông tư

01/TTLT.

Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GDT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa ấn cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu?

Vì sao?

Nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.670.700.000đ thì bà Hường phải thanh toán cho ông Bảng số tiền là 1/5 x 1.670.700.000đ = 339.552.000đ

Vì theo bản án, TAND cấp tối cao tại Hà Nội có nói rõ: “Bà Hương phải thanh toán cho cụ

Bảng số tiền còn nợ tương ứng 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm”.

Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?

Chưa tìm thấy tiền lệ nào

Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận

Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?

Trang 6

Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Giống

- Hình thức thực hiện: Bằng văn bản hoặc bằng lời nói trừ trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao phải được lập thành văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký, xin phép;

- Không chuyển giao quyền, nghĩa vụ gắn với nhân thân

Khác - Chuyển giao quyền yêu cầu là sự

thỏa thuận giữa người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ với người thứ ba nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho người đó Người thứ

ba trong trường hợp này gọi là

người thế quyền, trở thành người có quyền, được quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo phạm vi quyền được chuyển giao.7

- Cơ sở pháp lý: Điều 365-369 BLDS 2015

- Việc chuyển giao không cần có

sự đồng ý của bên có nghĩa vụ theo

khoản 2, Điều 365 BLDS 2015.8

- Sau khi chuyển giao thì biện pháp bảo đảm vẫn duy trì;

- Chuyển giao nghĩa vụ là sự thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ với người thứ ba trên cơ sở có sự dồng ý của người có quyền nhằm chuyển nghĩa vụ

cho người thứ ba đó Người thứ ba gọi là người thế nghĩa vụ trở thành người có nghĩa vụ mới phải thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của người có quyền trong phạm vi nghĩa vụ đã được xác định.9

- Cơ sở pháp lý: Điều 370-371 BLDS 2015

- Việc chuyển giao bắt buộc phải có sự đồng ý của bên có quyền theo

khoản 1, Điều 370 BLDS 2015.10

- Sau khi chuyển giao thì biện pháp bảo đảm chấm dứt, trừ trường hợp

7 PGS.TS Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi và bổ sung), Nxb Hồng Đức, tr.58.

8 2 Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.

9 PGS.TS Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi và bổ sung), Nxb Hồng Đức, tr.62

10 1 Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.

6

Trang 7

- Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả

năng thực hiện nghĩa vụ của bên có

nghĩa vụ;

- Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cáo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ về việc chuyển giao

có thỏa thuận khác;

- Người có nghĩa vụ không chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Người có nghĩa vụ dân sự không phải báo cáo bằng văn bản cho bên có quyền về việc chuyển giao

Câu 2: Thông tin nào của bán án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?

Bản án có đoạn: “Theo lời khai của bà Tú thì chính bà Phượng yêu cầu cho Phượng vay tiền để kinh doanh cá khô xuất khẩu […] bà Phượng có làm đơn nhận tiền với bà Tú

Theo các biên nhận tiền do phía bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với tổng số tiền 555.000.000đ và theo biên nhận ngày

27/4/2004 thì thể hiện bà Phượng nhân của bà Lê Thị Nhan số tiền 615.000.000đ Phía bà Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thỏa thuận vay tiền với bà Tú Ngoài ra, cũng theo lời khai của bà Phượng thì vào tháng 4 năm 2004, do phía bà Loan, ông Thạnh và bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú để trả vốn vay Ngân hàng nên bà đã cùng với bà Tú vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho Ngân hàng Xác định bà Phượng là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú

Xét hợp đồng vay tiền giữa bà Phượng với bà Tú, phía bà Phượng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay, không trả vốn, lãi cho bà Tú.”

Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?

Bản án có đoạn: “ phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số

Trang 8

tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005.”

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?

Đánh giá trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lý Tòa án xác định nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển giao sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh là có căn cứ Bởi lẽ, theo

Điều 370 BLDS 2015 thì bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế

nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý và người thế nghĩa vụ sẽ trở thành bên có nghĩa vụ Trong trường hợp này, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005 Điều đó thể hiện người có quyền là bà Tú đã đồng ý với việc chuyển giao này Khi đã chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, người có nghĩa vụ ban đầu là bà Phượng sẽ được giải phóng hoàn toàn, không phải chịu trách nhiệm liên đới Thay vào đó bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh sẽ trở thành người thay thế nghĩa vụ, có trách nhiệm trả số nợ còn thiếu cho bà Tú

Câu 5: Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

- Theo khoản 1 Điều 370 BLDS 2015, muốn chuyển giao được nghĩa vụ thì người có quyền phải đồng ý thì mới chuyển giao được Và theo khoản 2 Điều 370 BLDS 2015, khi chuyển

giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ sẽ trở thành người có nghĩa vụ Người có nghĩa vụ ban đầu không còn liên quan gì với người có quyền nữa vì tất cả nghĩa vụ cần thực hiện đã được chuyển giao cho người thế nghĩa vụ và người có quyền cũng đồng ý cho việc chuyển giao này

- Đồng thời, theo Điều 371 BLDS 2015, nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao

thì biện pháp bảo đảm sẽ chấm dứt Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thuộc về người có

8

Trang 9

nghĩa vụ ban đầu mà khi nghĩa vụ được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm chấm dứt Từ đây cho ta thấy, khi nghĩa vụ được chuyển giao xong thì người có nghĩa vụ ban đầu sẽ không còn trách nhiệm gì với người có quyền nữa

Câu 6: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.

Câu 7: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền?

Bản án có đoạn: “Như vậy kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh dối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký Việc bà Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà là không có căn cứ chấp nhận.”

Câu 8: Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền.

Trên thực tiễn, các nước trên thế giới có những quy định trong hệ thống pháp luật thì khác nhau

- Ở Châu Âu, một số nước quy định người có nghĩa vụ ban đầu được giải phóng hoàn toàn nhưng một số nước lại quy định ngược lại theo hướng người thứ ba là người có nghĩa vụ bổ

sung Bộ nguyên tắc Unidroit (Điều 2.5): “Người có quyền có thể giải phóng hoàn toàn

nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ ban đầu” hoặc cụ thể hơn ở Bộ luật Dân sự Pháp (Khoản 2

Điều 1271): “Người có nghĩa vụ được người có quyền giải phóng khỏi nghĩa vụ và được thay

thế bằng một người có nghĩa vụ mới”, như vậy người có nghĩa vụ ban đầu có thể được giải

phóng khỏi nghĩa vụ một cách hoàn toàn nếu được người có quyền đồng ý

Cũng trong bộ nguyên tắc Unidroit: “Người có quyền cũng có thể quyết định là người có

nghĩa vụ ban đầu vẫn là người có nghĩa vụ trong trường hợp người có nghĩa vụ mới không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình”, sau khi chuyển giao nghĩa vụ cho người khác thì người

Trang 10

có quyền vẫn có thể bảo đảm quyền lợi của mình bằng cách khác, không giải phóng nghĩa vụ hoàn toàn cho người có nghĩa vụ ban đầu

Câu 9: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.

Với hướng giải quyết chấp nhận việc chuyển giao nghĩa vụ từ bà Phượng sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh cũng như buộc bà Ngọc phải trả lại số tiền là 651.981.000đ, yêu cầu bà Tú trả lại giấy chứng minh Hải quan là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với tinh thần của BLDS 2015

- Thứ nhất, bà Phượng có đầy đủ căn cứ để chứng minh khoản tiền mình vay mượn là do bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh vay

- Thứ hai, việc chuyển giao nghĩa vụ cũng đã được sự đồng ý từ bên có quyền – tức là bà Tú Chuyển giao nghĩa vụ có hiệu lực, bà Phượng chấm dứt nghĩa vụ với bà Tú nên bà Tú cũng không có lý do gì đề giữ giấy chứng minh Hải quan của bà Tú

Do đó, việc hoàn trả là hoàn toàn đúng đắn Tòa án đã nêu ra hướng giải quyết hợp tình (vì bà Phượng vay tiền giùm cho hai người chị của mình) và cũng hợp pháp (đúng với những gì mà pháp luật đã quy định)

Câu 10: Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.

Theo Điều 371 BLDS 2015 quy định về chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp đảm bảo:

“Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Xét theo trường hợp thứ nhất, do biện pháp bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm vì thế trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì

10

Ngày đăng: 14/09/2021, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w