Có tên, tóm tắt và nội dung trả lời câu hỏi và một só vấn đề liên quan mang tính chất tham khảo đừng nên chép lạiVẤN ĐỀ 1: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BAVẤN ĐỀ 2: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BAVẤN ĐỀ 3: LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ(2020)
Trang 1LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI 44.A
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ
Bảo vệ quyền sở hữu Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Bộ môn: Những quy định chung về luật dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 03 năm 2020
Trang 2 VẤN ĐỀ 1: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Tóm tắt quyết định Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30-05-2006.
Ông Tài gửi đơn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu ông Thơ phải trả lại trị giá 2 mẹ con trâu cho ông Tài Tòa sơ thẩm xác định con trâu và con nghé là của ông Tài và ông Thơ phải hoàn trả giá trị mẹ con con trâu cho ông Tài Tòa phúc thẩm quyết định ông Thơ phải hoàn trả giá trị con nghé, còn con trâu cái là ông Tài phải khởi kiện ông Dòn (vì lúc này ông Dòn là chủ sỡ hữu) Tòa án tối cao sau khi xem xét, hủy bản án phúc thẩm, giao cho Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm lại
1.1 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
Theo Điều 174 BLDS năm 2005 quy định:
1 Bất động sản là các tài sản bao gồm:
Đất đai;
a) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó
b) Các tài sản khác gắn liền với đất đai
c) Các tài sản khác do pháp luật quy định
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản” Theo đó, ta thấy được rằng trâu không nằm trong danh mục liệt kê bất động sản của điều trên, nên có thể khẳng định rằng trâu là động sản
1.2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
Theo Điều 167 BLDS năm 2005 quy định: ”Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Vì trâu là động sản và cũng không thuộc trong trường hợp pháp luật có quy đinh khác về quyền sở hữu nên trâu không phải là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu
1.3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?
Trang 3Trong Bản án có đoạn nêu: ”Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp thì có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền
sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài.”
1.4 Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu có tranh chấp?
Điều 182 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” Theo đó, ông Dòn là người chiếm hữu trâu có tranh chấp
1.5 Việc chiếm hữu của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?
Theo Điều 183 năm 2005 quy định về việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật:
“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây: 1.5.1.1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
1.5.1.2 Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản;
1.5.1.3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
1.5.1.4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện
do pháp luật quy định;
1.5.1.5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
1.5.1.6 Các trường hợp khác do pháp luật quy định.” Theo điều khoản trên, việc chiếm hữu của ông Dòn không có căn cứ pháp luật
1.6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Điều 189 BLDS năm 2005: “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Trang 4Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu
mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật” Như vậy, việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật chỉ được xem là ngay tình chỉ khi người
đó không biết và không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật
1.7 Ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?
Theo Bản án, trong giao dịch giữa ông Thi và ông Dòn, ông Dòn không biết trâu không thuộc sở hữu của ông Thi Việc mua bán diễn ra bình thường, không có dấu hiệu đáng nghi ngờ rằng đây là trâu do ông Thi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Vì vậy, việc chiếm hữu của ông Dòn là ngay tình
1.8 Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định của Điều 257 BLDS?
Dựa vào tính chất đền bù mà hợp đồng dân sự được chia thành ba nhóm:
1) Nhóm các hợp đồng luôn không đền bù;
2) Nhóm các hợp đồng có thể đền bù hoặc không đền bù;
3) Nhóm các hợp đồng luôn đền bù Việc xếp mỗi hợp đồng thuộc nhóm nào dựa trên các quy phạm định nghĩa được quy định trong Bộ luật dân sự
Nhóm thứ nhất – Các hợp đồng luôn không đền bù, bao gồm hợp đồng tặng cho tài sản (Điều 465, Điều 470 BLDS năm 2005) và hợp đồng mượn tài sản (Điều 512 BLDS năm 2005)
Nhóm thứ hai – Các hợp đồng có thể đền bù hoặc không đền bù Đó là: hợp đồng vay tài
sản (Điều 471 BLDS năm 2005), hợp đồng ủy quyền (Điều 581 BLDS năm 2005) và
hợp đồng gửi giữ tài sản (Điều 559 BLDS năm 2005).
Nhóm thứ ba, và cũng là nhóm phổ biến nhất – Các hợp đồng luôn đền bù Đó là: hợp đồng mua bán tài sản (Điều 428 BLDS năm 2005), hợp đồng trao đổi tài sản (Điều 463
Trang 5BLDS năm 2005), hợp đồng thuê tài sản (Điều 480 BLDS năm 2005), hợp đồng dịch vụ (Điều 518 BLDS năm 2005), hợp đồng gia công (Điều 547 BLDS năm 2005), hợp đồng bảo hiểm (Điều 527 BLDS năm 2005), hợp đồng vận chuyển (Điều 535 BLDS năm 2005)
1.9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?
Ông Dòn có được trâu do đổi với ông Thi lấy con trâu cái sổi là giao dịch dân sự có đền
bù Tính chất đền bù thể hiện ở chỗ cả hai bên đều có những lợi ích về vật chất khi trao đổi với nhau
1.10 Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?
Trâu tranh chấp là do ông Thơ tự ý dắt về trong lúc ông Tài đang thả trâu ngoài bãi ruộng, sau đó trâu được giao dịch cho ông Thi, rồi đổi cho ông Dòn, và xảy ra tranh chấp Như vậy, trâu có tranh chấp bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài
1.11Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn
Đoạn của Quyết định có câu trả lời: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xét minh, thu thập đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật”
1.12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao Hướng giải quyết trên của Tòa án giúp cho việc giải quyết sẽ dễ dàng hơn vì nếu đúng theo quy định của pháp luật thì việc con Trâu bị mất là nằm ngoài ý chí chủ quan của ông Tài, dù
Trang 6ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình và thông qua hợp đồng có đền bù vẫn phải trả lại trâu cho ông Tài Tuy nhiên, nếu xử như vậy thì sẽ phát sinh nhiều hệ lụy như, ông Dòn khởi kiện ông Thi trả lại con trâu của mình, ông Thi khởi kiện yêu cầu ông Tài trả lại số tiền mà mình đã bỏ ra để mua trâu Cho nên, Tòa đã quyết định xử theo yêu cầu của nguyên đơn là yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại cả trâu mẹ lẫn nghé.
Chế định đòi bồi thường tài sản là chế định ra đời nhằm bảo vệ tuyệt đối quyền sở hữu của người có quyền Tuy nhiên, nếu áp dụng rập khuôn pháp luật thì sẽ dẫn đến tình trạng rườm
rà, nhiều bước như trên Cho nên, dựa vào tình hình thực tế mỗi vụ tranh chấp, cùng với kinh nghiệm thì hội đồng xét xử sẽ đưa ra một quyết định đúng đắn hợp tình, hợp lý.
1.13 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?
Khi ông Tài không đòi được trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành vẫn có quy định bảo vệ ông Tài
Khoản 2 Điều 164 BLDS năm 2015: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản
có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền
sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
1.14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu
Đoạn của Quyết định có câu trả lời: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu đang tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản
Trang 7không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn
cứ pháp luật.”
1.15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Trâu là động sản không phải đăng ký, trâu là tài sản bị chiếm hữu ngoài ý muốn của ông Tài và ông Dòn sở hữu trâu đang tranh chấp là ngay tình như đã chứng minh, ta đủ điều kiện xét theo Điều 257 BLDS 2005 về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
từ người chiếm hữu đa tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài
ý chí của chủ sở hữu.” thì ông Tài có quyền đòi lại trâu từ ông Dòn vì ông Dòn có được trâu
là qua hợp đồng có đền bù (với ông Thi) tức hợp đồng mua bán
Trang 8 VẤN ĐỀ 2: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Tóm tắt Quyết định Giám đốc thẩm số 94/2013/GĐ-DS ngày 25/7/2013 về: “Vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Nguyên đơn là ông Lai, bà Nhân khởi kiện bị đơn là ông Vĩnh, yêu cầu ông Vĩnh trả lại căn nhà số 2 Nguyễn Thái Học Năm 1973, cha mẹ nguyên đơn (cụ Ba và cụ Tình) mua căn nhà trên của cụ Cậy có giấy viết tay, cụ Cậy đã xác nhận Năm 1977, khu vực 6 đã dùng nhà này làm nơi hội họp và trường mẫu giáo Sau đó, vợ chồng cụ Ba chết, con cái
ly tán Năm 1991, ông Lai làm đơn khiếu nại do ông Vĩnh sống và làm nhà mới trên đất của bố mình nhưng chưa giải quyết Tòa sơ thẩm lần 1 chấp nhận đơn khởi kiện, con cụ
Ba được hưởng quyền thừa kế, nhận tiền đền bù Tòa phúc thẩm lần 1 hủy bản án sơ thẩn lần 1 Tòa phúc thẩm lần 2 xác định ông Vĩnh có trọn quyền sở hữu ngôi nhà và không chấp nhận đơn khởi kiện của các con cụ Ba về việc đòi căn nhà TAND tối cao hủy 2 bản
án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án tỉnh Bình Định xét sơ thẩm lại
2.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm hữu?
Đoạn của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm hữu:
“Nay vợ chồng cụ Ba đã chết thì các con của cụ Ba được thừa kế số tài sản này Nhà của
cụ Ba, ông Vĩnh đã phá đi không còn, khi ông Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được đã có khiếu nại, nên chỉ còn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba.”
2.2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình quyền
sử dụng đất tranh chấp?
Đoạn của Quyết định cho thấy Tòa án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình quyền sử dụng đất tranh chấp:
“Khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp Nay ông Vĩnh cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sở hữu đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình.”
2.3 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ông Vĩnh là người ngay tình.
Việc Tòa án xác định ông Vĩnh là người ngay tình là có căn cứ Vì khi ông Vĩnh mua lại miếng đất của bà Thu thì bà Thu có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lúc đó ông mua
Trang 9đất của người chủ sở hữu và ông không biết và không bắt buộc phải biết trước đó đã xảy ra những tranh chấp gì Và sau khi mua ông cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên ông là người ngay tình
2.4 Trên cơ sở các quy định hiện nay, ông Vĩnh có phải trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con của cụ Ba không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trên cơ sở các quy định hiện nay, ông Vĩnh không phải trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con cụ Ba Vì năm 1994, bà Thu được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) cấp giấy chứng quyền sử dụng đất và ông Vĩnh dựa vào căn
cứ này để mua đất là hoàn toàn ngay tình, việc thực hiệu giao dịch này là không vô hiệu Nên các con ông Ba không có quyền đòi lại tài sản,
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 133 BLDS 2015
2.5 Tòa án tối cao đã có hướng giải quyết bảo vệ quyền lợi các con của ông Ba như thế nào
và hướng giải quyết này đã được quy định trong văn bản chưa? Vì sao?
Để bảo vệ quyền lợi các con của ông Ba, Tòa án tối cao đa có hướng giải quyết: xác minh ông Đạo hay ông Sơn là người bán căn nhà, sô tiền bán căn nhà dùng để làm gì, nếu số tiền
đó dùng để xây dựng nhà mẫu giáo đang sử dụng thì ai là người quản lý nhà mẫu giáo để xác nhận người chịu trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn Đồng thời, cần làm việc với Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn nếu có thể cấp cho nguyên đơn mảnh đất tương đương với giá trị đất tranh chấp thì tập thể không phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn
Hướng giải quyết chưa được quy định trong văn bản Vì tranh chấp về dân sự là rất nhiều,
bộ luật không thể quy định cụ thể được tất cả các hướng giải quyết mà Tòa án phải xem xét rồi giải quyết sao cho hợp lý và không ai bị thiệt
2.6 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba nêu trên.
Hướng giải quyết của Tòa án như trên là hợp lý Vì Tòa án không thể buộc ông Vĩnh trả lại đất cho con của cụ Ba được vì ông Vĩnh là chủ sở hữu có căn cứ theo pháp luật Để các con của cụ Ba không chịu thiệt thì việc xác minh người bồi thường cho các con cụ sau khi đã bán nhà của cụ là rất chính xác và có căn cứ Và vì số tiền bán nhà dùng vào việc xây dựng trường mẫu giáo nên việc làm việc xem xét cấp đất lại cho các con cụ Ba để tránh tập thể chịu bồi thường là một cách bồi thường có thể áp dụng
VẤN ĐỀ 3: LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ
Tóm tắt quyết định giám đốc thẩm số 617/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011:
Trang 10Tại đơn khởi kiện 16/10/2017 nguyên đơn Lương Ngọc Trụ trình bày ông được cha mẹ để lại 320 m² đất tại 95 Hoàng Hoa Thám, khóm 10, phường 6, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh sử dụng từ trước năm 1975 đến 1987 ông đi làm ăn xa nên vợ chồng bị đơn Ngô Văn Hòa đã lấn 15,2 m² Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/2008/ DSST, Tòa án dân sự Trà Vinh quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trụ buộc ông hòa tháo dỡ 04 ô cửa văng, 1 máng bê tông, mái tôn và đòn tay phía sau nhà và không chấp nhận yêu cầu trả lại diện tích xây nhà lấn ranh ngang 0,3m dài 34m và phần đất phía sau nhà chiều ngang 1m dài 6,2 m Bên nguyên đơn bà Nguyên và bị đơn ông Hòa có yêu cầu kháng cáo, tại Bản án dân
sự phúc thẩm số 127/2008/DSPT bác yêu cầu kháng cáo giữ nguyên bản án số 15/2008/DSST Ông Trụ và bà Nguyên khiếu nại bản án nêu trên Tại Quyết định giám đốc thẩm số 617/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011 quyết định hủy bản án 15/2008/DSST và 127/2008/DSPT, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 23/2006/DS-GĐT:
Ngày 7 tháng 9 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Diệp Vũ Trường và bà Châu Kim Thoa, bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tận Năm
1994, Uỷ ban nhân dân huyện Cái Nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Diệp Vũ Trường (vợ là bà Châu Kim Thoa) với diện tích 4.700 m2 Phần đất này gia đình ông Trường đã sử dụng từ lâu Giáp với đất của ông Trường là đất của gia đình ông Tận (ông Tận nhượng lại của anh Kiệt vào năm 1994) Trong quá trình sử dụng, ông Tận đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Trường khoảng 185m2 Sau khi xem xét tranh chấp Tòa án quyết định buộc ông Nguyễn Văn Tận phải trả cho ông Diệp Vũ Trường và bà Châu Kim Thoa diện tích đất 132,8 m2, trả cho ông Diệp Vũ Trường và bà Châu Kim Thoa giá trị quyền sử dụng đất 52,2m2 là 7,83 chỉ vàng 24K
3.1 :Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sở sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?
Đoạn mà Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sở hữu của ông Trường, bà Thoa là: Năm 1994, Uỷ ban nhân dân huyện Cái Nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Diệp Vũ Trường (vợ là bà Châu Kim Thoa) với diện tích 4.700 m2 Phần đất này gia đình ông Trường đã sử dụng từ lâu Giáp với đất của ông Trường
là đất của gia đình ông Tận (ông Tận nhượng lại của anh Kiệt vào năm 1994) Trong quá trình sử dụng, ông Tận đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Trường khoảng 185 m2 (cụ