1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN DÂN SỰ 1 BUỔI 2

19 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 38,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b Chủ thể tham gi

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

Bài tập 1: Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức 2

Bài tập 2: Giao dịch xác lập do có nhầm lẫn 8

Bài tập 3: Giao dịch xác lập do có lừa dối 10

Bài tập 4: Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu 14

Trang 2

BUỔI THẢO LUẬN 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ Bài tập 1: Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức

Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có

hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”

Điều 122 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Trang 3

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Như vậy, cả hai bộ luật này đều quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự bao gồm:

– Điều kiện về năng lực của chủ thể

– Điều kiện về thái độ của chủ thể (tính tự nguyện)

– Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch

– Điều kiện về hình thức của giao dịch (nếu có)

Mặc dù cách diễn đạt có đôi chút khác nhau nhưng về cơ bản tất cả các điều kiện

có hiệu lực của giao dịch dân sự trong hai bộ luật này đều giữ nguyên, trừ điều kiện về năng lực của chủ thể Điều kiện về năng lực chủ thể trong Bộ luật dân sự

2015 quy định có sự tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự Bộ luật dân sự

2015 quy định: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập

Thứ nhất, Bộ luật dân sự 2015 không chỉ đề cập đến năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật của chủ thể Quy định như vậy chặt chẽ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 vì có những trường hợp năng lực pháp luật của chủ thể có thể bị hạn chế do đó không thể mặc nhiên cho rằng mọi chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau khi xác lập giao dịch dân sự

Thứ hai, Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự

Cả hai bộ luật đều ghi nhận: Năng lực hành vi dân sự của một người được chia làm

ba trường hợp:

Trang 4

– Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (người từ đủ 18 tuổi, không bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự);

– Người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ (từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc người đủ 18 tuổi bị hạn chế năng lực hành vi dân sự);

– Người không có năng lực hành vi dân sự (người dưới 6 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự)

Pháp luật quy định người không có năng lực hành vi dân sự thì không được xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ có thể thực hiện một số giao dịch nhất định (thường là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày), người có năng lực hành vi dân sự được xác lập mọi giao dịch dân sự Như vậy, tùy vào từng giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện về năng lực

của chủ thể cũng có sự khác nhau Như vậy, quy định như Bộ luật dân sự 2015

“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy định của Bộ luật dân

sự 2005

Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 có những điểm mới và tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005

Câu 2: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và

từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức từ 2007 do bị tai biến nằm liệt một chỗ

Từ ngày 07/5/2010 Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự

Câu 3: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau

khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

Trang 5

Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập vào ngày 08/02/2010, trong khi Tòa án tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự vào ngày

07/05/2010 Nên giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự

Câu 4: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu

không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

- Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội đã vô hiệu Được ghi nhận tại hai điểm sau trong bản án:

+ “Tuy nhiên sau khi thụ lý vụ án, Tòa án Nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định tuyên bố ông Đặng Hữu Hội bị mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày 7/5/2010 Ngày 10/8/2010 ông Hội chết, bà Hương, anh Bình, chị Thủy và anh Toàn đều thống nhất cử chị Đặng Thị Kim Ánh là người địa diện cho ông Hội và là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của ông Hội Do đó chị Hương có quyền khởi kiện theo

quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2005.”

+ “Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/7/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa thì 120m2 đất thuộc thửa 146, tờ bản đồ số D5-I-A-b, tại 25 Lê Trung Kiên, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên là tài sản chung của ông Hội và bà Hương; do đó bà Hương có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương Tòa án cấp sơ thẩm hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhường quyền sử dụng đất lập ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Đặng Hữu Hội, bà Phạm Thị Hương với vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh, còn Tòa án cấp phúc thẩm thì công nhận toàn bộ hợp đồng mua bán nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở lập ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Đặng Hữu Hội (chết) bà Phạm Thị Hương và vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh đều là không đúng.”

- Hơn nữa vào ngày 07/5/2010 ông Hội đã bị Tòa tuyên bố mất năng lực hành vi

dân sự nên căn cứ theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2005 “Khi một người do

bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành

Trang 6

vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.” thì phần giao

dịch của ông Hội là vô hiệu

Câu 5: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội

không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.

Trong thực tiễn xét xử có vụ việc giống với hoàn cảnh của ông Hội chẳng hạn như

vụ việc của ông Cường trong Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 Toá án

nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái:

Vào ngày 20/01/2004, ông Cường cùng bà Bính (vợ ông Cường) ký giấy chuyển nhượng cho anh Thăng (con riêng của bà Bình) một phần đất diện tích 288m2 Ngày 13/06/2005, Toà án huyện xử bà Bình ly hôn với ông Cường Sau đó anh Hưng (con riêng ông Cường) đón ông Cường về nuôi dưỡng và đăng ký giám hộ vào ngày 10/08/2005 Lúc đón ông Cường về, anh Hưng phát hiện ông Cường có biểu hiện của người bị tâm thần nên đã yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tại biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh đã kết luận ông Cường bị mắc bệnh "loạn thần do sử dụng rượu" Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình Trên cơ sở kết luận giám định này, Toà án đã cho rằng "ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004" Từ đó, Toà án tuyên bố huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cường, bà Bính với anh Thăng Buộc anh

Trang 7

Thăng phải trả lại 288m2 đất thổ cư cho ông Cường và người giám hộ của ông Cường là anh Hưng quản lý

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao

trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp

lý khi đưa ra hướng xử lý.

- Đầu tiên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/07/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa thì 120m2 đất thuộc thửa 146, tờ bản đồ số D5-I-A-b, tại 25 Lê Trung Kiên, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên là tài sản chung của ông Hội và bà Hương nên nếu quyết định hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng đất thì coi như bác bỏ cả quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Hương đối với phần tài sản thuộc sở hữu của bà

- Thứ hai, việc chuyển nhượng đất này là giao dịch hợp đồng nên cần có sự thỏa thuận giữa các bên nhưng vì ông Hội thực tế không còn khả năng nhận trước khi thực hiện giao dịch (năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được) vì vậy giao dịch do ông Hội và bà Hương xác lập thực hiện bị vô hiệu 1 phần (phần giao dịch của ông Hội)

Như vậy, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập) là hợp lí

Câu 7: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch

đó có bị vô hiệu không? Vì sao?

Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không

bị vô hiệu

Vì: Theo điểm b khoản 2 Điều 125 BLDS năm 2015 “Giao dịch dân sự chỉ làm

phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ.”

Trang 8

=> Đối với giao dịch tặng cho ông Hội, thì giao dịch đó chỉ làm phát sinh quyền dành cho ông Hội

Bài tập 2: Giao dịch xác lập do có nhầm lẫn

Câu 1: So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về giao dịch vô hiệu do

nhầm lẫn? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.

Theo Điều 131 BLDS năm 2005: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn Khi

một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định

tại Điều 132 của Bộ luật này.

Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn BLDS 2015 bổ sung một trường

hợp ngoại lệ tại khoản 2 Điều 136: Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn

không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được

Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định của các giao dịch dân sự, tránh việc lợi dụng vào quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu khi các bên đều đã đạt được mục đích chính của mình dù trước đó có nhầm lẫn xảy ra

Câu 2: Đoạn nào của bản án trên cho thấy Tòa án đã tuyên bố hợp đồng vô

hiệu do nhầm lẫn?

2.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim Mai; tuyên bố

“ hợp đồng mua bán nhà đất” xác lập ngày 17/02/2016 và “hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất” xác lập ngày 02/3/2016 giữa bà Trần Thị Kim Mai và

bà Wòng Thị Lan Anh được Văn phòng công chứng Thủ Dầu Một công chứng số

Trang 9

1170 (quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD) là vô hiệu; bà Wòng Thị Lan Anh phải trả lại cho bà Trần Thị Kim Mai số tiền đã nhận là 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng)

Câu 3: Theo anh/chị, nhầm lẫn là gì và, trong vụ việc trên, có nhầm lẫn không?

Vì sao?

- Nhầm lẫn là việc các bên nhận xét, đánh giá, phán đoán một sự vật, hiện tượng hay vấn đề không đúng với bản chất của nó một cách không chủ ý do quá trình tiếp nhận sự vật, hiện tượng, vấn đề đó có yếu tố khác tác động gây ra sự sai khác

- Trong vụ việc trên có sự nhầm lẫn vì bà Anh và bà Mai đều không biết việc mặt tiền đường nhựa 18m là đường đi của quân đội, quản lý trực tiếp là Sư đoàn BB7

và việc Sư đoàn có chủ trương xây hàng rào và có cử cán bộ nhiều lần sang thông báo cho các hộ dân nhưng bà Anh thường xuyên vắng nhà nên bà Anh không tiếp nhận được thông tin này Mặt khác, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho

bà Anh năm 2010 ghi không rõ ràng về vấn đề đường nhựa rộng 18m gây nhầm lẫn cho người sử dụng đất Vì thế không có đủ căn cứ cho rằng bà Anh lừa dối bà Mai

Câu 4: Giả sử có nhầm lẫn, việc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhẫm lẫn có

thuyết phục không? Vì sao?

- Sự nhầm lẫn xảy ra trong giao dịch này làm cho bà Mai không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch, cả bà Anh và bà Mai không thể khắc phục được ngay sự nhầm lẫn này Cụ thể, bà Mai mua nhà bà Anh với mặt tiền đường nhựa 18m nhưng trên thực tế chỉ có 2m đường đi, giá trị nhà đất hoàn toàn khác nhau, chênh lệch rất lớn về giá trị

- Bà Mai có liên hệ với bà Anh để thương lượng giảm giá trị của hợp đồng nhưng

bà Anh không đồng ý thương lượng

Vì thế, việc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là có thuyết phục

Trang 10

Bài tập 3: Giao dịch xác lập do có lừa dối

Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo

BLDS 2005 và BLDS 2015

Theo BLDS năm 2005:

Điều 132 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”

Theo BLDS năm 2015:

Điều 127 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”

Kết luận: Như vậy, hành vi lừa dối có thể do một bên chủ thể xác lập giao dịch thực hiện hoặc do người thứ ba Tuy nhiên, trong trường hợp do người thứ ba gây

ra thì cần phải hiểu người thứ ba đó có mối quan hệ với một bên chủ thể xác lập giao dịch và bên chủ thể đó biết rõ hành vi lừa dối bên chủ thể còn lại của người thứ ba

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã

bị tuyên vô hiệu do có lừa dối?

Ngày đăng: 14/09/2021, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w