1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN DÂN SỰ 1 BUỔI 3

15 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 38,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

e Trái phiếu doanh nghiệp.6 Câu 2: Trong bài viết Các loại tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, tác giả Nguyễn Minh Oanh có coi “ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữ

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

Bài tập 1: Khái niệm tài sản 2 Bài tập 2: Căn cứ xác lập sở hữu 10 Bài tập 3: Chuyển rủi ro đối với tài sản 13

Trang 2

BUỔI THẢO LUẬN 3: TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

Bài tập 1: Khái niệm tài sản

Câu 1: Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về một vài giấy tờ có giá?

Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng khác Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân

sự1

Theo Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo quyết định số 07/2008 QĐ-NHNN ngày 11/08/2009 của

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín

dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác định nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác nhau giữa tổ chức tín dụng và người mua”.

Ví dụ: Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, thì giấy tờ có giá bao

gồm:

a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác2.

b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu.3

1 Nguyễn Minh Oanh, Các loại tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 1/2009, tr.14 và tiếp theo.

2 Được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005.

3 Được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005.

Trang 3

c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa

vụ trả nợ.4

d)Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định)5.

e) Trái phiếu doanh nghiệp.6

Câu 2: Trong bài viết Các loại tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, tác giả

Nguyễn Minh Oanh có coi “ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là tài sản không?

Trong bài viết có đoạn: “Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu,

quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm… không phải là giấy tờ có giá Nếu cần phải xem xét thì nó chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó”.

Như vậy, tác giả Nguyễn Minh Oanh xác định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải là giấy tờ có giá mà là vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó Mà vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó thì người đó sẽ nắm giữ được, quản lý được Từ đó có thể nói “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” chính là vật mà căn

cứ theo Điều 163 BLDS năm 2005 là một loại tài sản.

Câu 3: Trong bài viết Vai trò của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề

kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tác giả Đỗ Thành Công có coi “giấy

4 Được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009.

5 Được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi,

bổ sung một số điều năm 2010).

6 Được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính

phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”…’’

Trang 4

chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” là tài sản

không?

Trong bài viết, tác giả cho rằng: “Theo Bộ luật dân sự 2005, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá, tuy nhiên hoàn toàn có thể xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật Điều này là hợp lý bởi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tồn tại dưới một hình thức vật chất nhất định, thậm chí có hình dáng cụ thể (là

tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người (có thể thực hiện việc nắm giữ, chiếm giữ, quản lý đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể tham gia vào giao dịch trao đổi mua bán không làm mất đi bản chất tài sản của nó

Câu 4: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy

chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản

án số 39 có cho câu trả lời không?

- Theo Quyết định số 06: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá

- Theo Bản án số 39: Giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất Như vậy, Bản án này không có câu trả lời về việc xác định loại giấy chứng nhận này có phải giấy tờ có giá hay không

Câu 5: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy

chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định trên và Bản án số 39

có cho câu trả lời không? Vì sao?

Căn cứ Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản như sau:

1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

Trang 5

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Điều 115 Bộ luật dân sự 2015: Quyền tài sản

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

Căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng Quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất là quyền tài sản theo quy định tại điều 105 Bộ Luật dân sự

2015 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được coi là tài sản.

Trong quy định tại Điều 163 Bộ Luật dân sự 2005, Điều 105 Bộ Luật dân sự

2015 đều không coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà là quyền tài sản

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sỡ hữu nhà” nhìn

từ khái niệm tài sản ( và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài).

Tòa án đã căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để khẳng định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không phải là giấy tờ

có giá Do đó, nó không trở thành tài sản

Xét ở góc độ lí luận thì suy nghĩ của chúng tôi không đồng tình với phán quyết của Tòa Vì thực chất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà

Trang 6

không chỉ là một văn bản chứng quyền mà còn đáp ứng đủ các điều kiện trở thành vật trong giao dịch dân sự, đó là:

- Thứ nhất, đó là một bộ phận của thế giới vật chất;

- Thứ hai, con người có thể chiếm hữu được;

- Thứ ba, mang lại lợi ích cho chủ thể;

- Thứ tư, có thể đang tồn tại hoặc hình thành trong tương lai.7

Qua đó chứng minh được “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận

sở hữu nhà” là vật, và là tài sản

Xét ở góc độ thực tiễn thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà ở là một trong những vật rất phổ biến dùng để thế chấp vay tiền ngân hàng Việc thế chấp giấy này ở ngân hàng để vay tiền được xem là một loại giao dịch dân sự hợp pháp, đối tượng của giao dịch này là thế chấp quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở

Theo ISO (Insurance Services Office) thì “giấy tờ có giá bao gồm văn bản viết, bản

in, hoặc các tài liệu ghi chép và các hồ sơ, bao gồm sách, bản đồ, phim ảnh, hình

vẽ, tóm tắt, thành tích, văn tự thế chấp, và bản thảo”.8 Từ đó, ta thấy giấy tờ có giá theo sự liệt kê trên rộng hơn, nhiều hơn và hầu như bao gồm tất cả các loại giấy tờ

có giá đối với chủ thể thực hiện giao dịch

Như vậy, để đánh giá đúng khả năng cho phép dùng giấy tờ có giá để đảm bảo thực hiện giao dịch dân sự không chỉ căn cứ vào góc độ pháp lí mà còn có thể căn cứ vào thực tiễn đời sống với từng trường hợp cụ thể nhằm đưa ra những phán quyết đúng đắn trong xét xử phù hợp với bản chất từng vụ việc

7 “Các loại tài sản trong Luật Dân sự Việt Nam” của ThS Nguyễn Minh Oanh đăng trong Tạp chí Luật học số 1/2009.

8 Nguyên văn câu: “Valuable papers include written, printed, or otherwise inscribed documents and records,

including books, maps, films, drawings, abstracts, deeds, mortgages, and manuscripts”.

Trang 7

Câu 7: Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sỡ hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

Theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có

giá và quyền tài sản.”

Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định: “Giấy

tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ

có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.”

Theo Điều 115 Bộ luật dân sự 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được

bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý

để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

Vì vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà chỉ là văn bản chứa đựng Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu tài sản Quyền sử dụng đất

và quyền sở hữu tài sản là quyền tài sản theo Điều 115 Bộ luật dân sự 2015 còn

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản

Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đếm “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không phải là tài

sản, giấy tờ có giá Căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận sở hữu nhà

cũng chỉ là văn bản chứa đựng quyền sở hữu nhà Vì chưa có điều luật để áp dụng nên Tòa án không được từ chối giải quyết tranh chấp này Nên hướng giải quyết

Trang 8

của Tòa án là hợp lý, Phù hợp với pháp luật quy định Đó là quyền lợi chính đáng của chính người sở hữu đất, nhà…

Câu 9: Bitcoin là gì ?

Bitcoin là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào

Bitcoin có cách hoạt động khác hẳn so với các loại tiền tệ điển hình: Không có một ngân hàng trung ương nào quản lý nó và hệ thống hoạt động dựa trên một giao thức mạng ngang hàng trên Internet Sự cung ứng Bitcoin là tự động, hạn chế, được phân chia theo lịch trình định sẵn dựa trên các thuật toán Bitcoin được cấp tới các máy tính "đào" Bitcoin để trả công cho việc xác minh giao dịch Bitcoin và ghi chúng vào cuốn sổ cái được phân tán trong mạng ngang hàng - được gọi là blockchain Cuốn sổ cái này sử dụng Bitcoin là đơn vị kế toán Mỗi bitcoin có thể được chia nhỏ tới 100 triệu đơn vị nhỏ hơn gọi là satoshi

Phí giao dịch có thể áp dụng cho giao dịch mới tùy thuộc vào nguồn tài nguyên của mạng Ngoài phí giao dịch, các thợ đào còn được trả công cho việc mã hoá các khối (block) nhật ký giao dịch Cứ mỗi 10 phút, một khối mới được tạo ra kèm theo một lượng Bitcoin được cấp phát Số bitcoin được cấp cho mỗi khối phụ thuộc vào thời gian hoạt động của mạng lưới Vào tháng 7 năm 2016, 12,5 bitcoin được cấp phát cho mỗi khối mới Tốc độ lạm phát sẽ giảm một nửa còn 6,25 bitcoin vào tháng 7 năm 2020 và tiếp tục giảm một nửa sau mỗi chu kỳ 4 năm cho tới khi có tổng cộng 21 triệu Bitcoin được phát hành vào năm 2140 Ngoài việc đào Bitcoin, người dùng có thể có Bitcoin bằng cách trao đổi lấy Bitcoin khi bán tiền tệ, hàng hoá, hoặc dịch vụ khác

Bitcoin là loại tiền mã hoá điển hình nhất, ra đời đầu tiên, và được sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại điện tử Các doanh nghiệp có xu hướng muốn thanh toán bằng Bitcoin để giảm thiểu chi phí Đến tháng 10 năm 2017, lượng tiền cơ sở của

Trang 9

Bitcoin được định giá hơn 252 tỷ đô la Mỹ - là loại tiền mã hóa có giá trị thị trường lớn nhất Những biến động lớn trong giá trị của mỗi bitcoin đã tạo nên những lời chỉ trích về tính phù hợp kinh tế của Bitcoin như là một loại tiền tệ.9

Câu 10: Theo tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?

Theo Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh

Bến Tre về việc khởi kiện “Quyết định truy thu thuế”, Hội đồng xét xử nhận định: Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có bất cứ một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định tiền kỹ thuật số (tiền ảo) là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh

doanh và tiêu dùng ở Việt Nam Cụ thể: theo Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 quy

định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” và theo Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động

sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ,

phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày

17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự Việc cơ quan thuế ra quyết định truy thu thuế trong trường hợp này là mặc nhiên công nhận loại tiền điện tử này là hàng hóa trong khi đề án về khung pháp lý để quản lý, xử lý loại tiền này chỉ mới đang được xây dựng Việc truy thu thuế không phù hợp sẽ ảnh hưởng hoạt động quản lý tiền

tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạo điều kiện để chuyển tiền bất hợp pháp, thanh toán chuyển tiền cho các giao dịch bất hợp pháp Vậy, theo Tòa án, Bitcoin không được xem là tài sản theo pháp luật Việt Nam

Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam?

Việc Tòa án chưa thể khẳng định được Bitcoin có phải là tài sản, là hàng hóa không để áp dụng quy định về thuế và chấp nhận với yêu cầu khởi kiện của ông

9 Theo Wikipedia

Trang 10

Cường là phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam Bởi vì hiện nay, khung pháp lý về Bitcoin đang được hoàn thiện, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về tiền ảo, tiền điện tử nên đã gây ra nhiều tranh cãi, kiện tụng trong thời gian qua Pháp luật Việt Nam chưa thừa nhận Bitcoin là một loại tiền tệ có chức năng thanh toán nhưng không cấm việc mua bán sở hữu dưới dạng tài sản ảo, người dân có thể mua bán, sở hữu Bitcoin Trên thực tế, người Việt vẫn đang giao dịch Bitcoin hàng ngày thông qua các chợ mạng, các sàn giao dịch trực tuyến trong và ngoài nước Do đó, Việt Nam nên sớm luật hóa để tạo ra cơ chế quản lý, giám sát giao dịch qua Bitcoin và thu thuế đối với loại hình kinh doanh này Rất nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đã có những quy định khác nhau về việc thu thuế với giao dịch tiền thuật toán và công nhận Bitcoin như một loại tài sản Theo tìm hiểu, Sở thuế vụ Mỹ đánh thuế Bitcoin dưới dạng tài sản

ảo thay vì tiền tệ chính thống, Tòa Công lý châu Âu coi Bitcoin là một dạng tiền tệ, Đức coi Bitcoin là một dạng tiền tệ tư nhân, tại Nhật Bản được chính thức công nhận là một phương thức thanh toán, tại Australia Bitcoin được coi là một dang tài sản… Dù có khác biệt, nhưng quan điểm chung của các nước phát triển vẫn cho rằng giao dịch Bitcoin là quá trình có thể sinh ra lợi nhuận, cần phải thu thuế đối với khoản lợi nhuận này Hy vọng trong thời gian tới, pháp luật Việt Nam sẽ sớm hoàn thiện cơ chế pháp lý đối với Bitcoin và công nhận Bitcoin như một dạng tiền

ảo, do đó có thể coi là tài sản và thu thuế đối với loại hình kinh doanh này để tránh những lỗ hổng pháp luật, tranh cãi như trong thời gian qua

Bài tập 2: Căn cứ xác lập sở hữu

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/ chị về khẳng định này của Tòa án?

Toà án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm dựa vào đoạn: "Trong khi đó chị Vân khai gia đình chị Vân ở tại nhà số 2 Hàng Bút từ năm 1954, lúc đầu là ông nội chị Vân ở sau này bố chị Vân và chị Vân tiếp tục ở"

Ngày đăng: 14/09/2021, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w