1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN DÂN SỰ 1 BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

27 257 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 41,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh q

Trang 1

MỤC LỤC

Bài tập 1: 2

Vấn đề 1: Trường hợp đại diện hợp lệ 2

Vấn đề 2: Trường hợp đại diện không hợp lý 8

Bài tập 2: 10

Vấn đề 1: Hình thức sở hữu tài sản 10

Vấn đề 2: Diện thừa kế 13

Vấn đề 3: Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 16

Vấn đề 4: Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản 23

Trang 2

BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ Bài tập 1:

Vấn đề 1: Trường hợp đại diện hợp lệ

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về người đại diện.

- Thứ nhất, về chủ thể đại diện:

Tại khoản 1 Điều 139 BLDS 2005 quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây

gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.” còn tại

khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 lại thay từ “một người” bằng “cá nhân, pháp

nhân” Bởi lẽ có sự thay đổi trên vì nếu chỉ là “một người” thì không bao quát hết

các trường hợp có nhiều người đại diện như cha mẹ cùng đại diện theo pháp luậtcho con chưa thành niên hay trường hợp nhiều người đại diện theo pháp luật chopháp nhân

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 139 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân, pháp nhân, chủ

thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện” Ở

quy định này, người đại diện có thể là “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác” Sở dĩ

có “chủ thể khác” là bởi BLDS vẫn công nhận “hộ gia đình, tổ hợp tác” là chủ thể Đến BLDS 2015, có sự thay đổi so với bộ luật cũ ở chỗ không ghi nhận “tổ

hợp tác, hộ gia đình” với tư cách của chủ thể nữa Do đó khoản 2 Điều 134 BLDS

2015 quy định: “cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

thông qua người đại diện” Như vậy, “chủ thể khác” đã bị loại bỏ để đảm bảo tính

thống nhất trong toàn Bộ luật.1

Thêm vào đó, thay vì quy định như tại khoản 5 Điều 139 BLDS 2005: “Người đại

diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2

Điều 143 của Bộ luật này.” thì tại khoản 3 Điều 134 BLDS 2015 lại quy định:

“Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân

sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực

1 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học - Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, Hội

luật gia Việt Nam, tr.175

Trang 3

hiện.” Việc thay đổi này mang tính khái quát hơn chứ không cứng nhắc như quy

định cũ, bao quát các trường hợp có thể người đại diện chưa đầy đủ năng lực hành

vi dân sự nhưng giao dịch đó là hợp lý

- Thứ hai, về phân loại đại diện:

Ở BLDS 2005 chỉ phân loại dựa vào căn cứ xác lập quyền đó là đại diện theo phápluật và đại diện theo ủy quyền thì đến với BLDS 2015 còn dựa vào chủ thể đại diện

để chia đại diện theo pháp luật thành đại diện cho pháp luật của cá nhân và đại diệncho pháp luật của pháp nhân Trong đó, các quy định trong điều luật về vấn đề nàyquy định cụ thể, toàn diện hơn để đảm bảo phù hợp với các Luật chuyên ngànhkhác (như Luật doanh nghiệp 2014 về vấn đề pháp nhân có nhiều người đại diệntheo pháp luật) và phù hợp với các chỉnh lý trong BLDS 2015 so với BLDS 2005

- Thứ ba, về hậu quả pháp lý của hành vi đại diện:

Tại Điều 139 BLDS 2015 quy định:

“1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù

hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.

2 Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.

3 Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là

do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối”

Điểm mới đáng chú ý của Điều 139 BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hậu quả pháp lý của hành vi đại diện là ở khoản 2 và khoản 3 vì đã bổ sung trường hợp

người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bịlừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi nhằm bảo vệ lợi íchcho các bên khi xảy ra trường hợp này

Trang 4

- Thứ tư, về thời hạn đại diện:

Bổ sung Điều 140 BLDS 2015 về thời hạn đại diện với quy định cụ thể, rõ ràng dễ

áp dụng tại khoản 1 và khoản 2:

“1 Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ

quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.

2 Trường hợp không xác định được thời hạn đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn đại diện được xác định như sau:

a) Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó;

b) Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện.”

- Thứ năm, về phạm vi đại diện:

Theo khoản 3 Điều 141 BLDS 2015 thì phạm vi đại diện được mở rộng khi “Một

cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Đây là một quy định mới

quan trọng Tiêu chí để xem xét giá trị pháp lý của việc thực hiện quyền đại diện làgiao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập phải xuất phát từ lợi íchcủa người được đại diện Do đó, nếu có bất kỳ chứng cứ chứng minh điều ngược lạithì điều đó có nghĩa là giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện đãkhông đúng với phạm vi đại diện của người đó

- Thứ sáu, về vấn đề hậu quả của giao dịch do người không có quyền đại diện hay

vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện:

BLDS 2015 bổ sung thêm các điểm, khoản về giao dịch dân sự do người không cóquyền đại diện xác lập, thực hiện, trong đó:

Tại điểm c khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 quy định:

Trang 5

“Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc

không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không

có quyền đại diện.”

Hay tại khoản 4 Điều 142 BLDS 2015 quy định:

“Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập,

thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.”

Ngoài ra còn các quy định tương tự khác tại Điều 143 BLDS 2015 về giao dịch dân

sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

Những quy định như trên đã bổ sung các trường hợp mà trước đây BLDS 2005 còn

bỏ ngỏ, chưa giải quyết hết được các vụ việc dân sự từng xảy ra nằm ngoài các quyđịnh pháp luật Như vậy, việc bổ sung thêm các quy định này đã bảo vệ được lợiích hợp pháp cho các bên chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự, tránh tình trạng

“trục lợi” diễn ra trong thực tiễn

Câu 2: Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho

Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?

Quyết đinh có đoạn: “Ngày 16/01/2007, Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên(gọi tắt

là công ty kim khí Hưng Yên – bên A)- do ông Lê Văn Mạnh – Phó Tổng Giám Đốc làm đại diện ký Hợp đồng mua bán phôi thép số 01/HĐPT/2007/VA-HY với Vinausteel – bên B)”

Và “Ngày 16/01/2007, Công ty kim khí Hưng Yên ký kết Hợp đồng mua bán với

công ty Vinausteel là do ông Mạnh Phó giám đốc ký theo sự ủy quyền số 1296/UQ/ HYM ngày 20/11/2006 của bà Lê Thị Ngọc Lan”

Và “Bởi lẽ, ngày 20/11/2006, bà Lê Thị Ngọc Lan có Giấy ủy quyền cho ông Lê

Văn Mạnh - Phó Tổng Giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên được thay mặt Công ty thực hiện các giao dịch kinh tế trong phạm vi ngành nghề kinh doanh (trong thời gian này bà Lê Thị Ngọc Lan vẫn là người đại diện theo pháp luật của Công ty kim khí Hưng Yên), nên ngày 16/01/2007, ông Mạnh đã đại diện cho Công ty kim khí

Trang 6

Hưng Yên ký Hợp đồng mua bán phôi thép số 01/HĐPT/2007/VA-HY với Công ty Vinausteel.” 2

Câu 3: Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm gì với Vinausteel

Quyết định có đoạn: “Việc ông Lê Văn Mạnh có Bản cam kết vào ngày 01/4/2007

“xin chịu trách nhiệm trước pháp luật và xin cam kết nhận trách nhiệm trả cho Công ty và các bên thứ ba (trong đó có Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel) tất cả các khoản nợ và bổi thường thiệt hại phát sinh từ các giao dịch, hợp đồng” mà ông Mạnh đã ký hoặc từ các giao dịch, hợp đồng của Công ty được

ký kết trước đó Tuy nhiên, Công ty Vinausteel không tham gia ký kết, không đồng ý nên không thuộc trường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản

1 Điều 315 Bộ luật dân sự năm 2005.”

“Do đó, Công ty kim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ

và bồi thường thiệt hại cho Công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh, ông Dũng.”3

Câu 4: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?)

Theo Khoản 1 Điều 139 về Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện thì: “Giao dịch

dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người đại diện” Ở đây người đại

diện là ông Mạnh, còn công ty kim khí Hưng Yên được ông Mạnh đại diện, nênquyền, nghĩa vụ phát sinh với công ty kim khí Hưng Yên

Ông Mạnh trong trường hợp kể trên dù không phải là người đại diện theo pháp luậtcủa Công ty Hưng Yên nhưng lại là người đại diện theo ủy quyền theo sự ủy quyền

số 1296/UQ/HYM ngày 20/11/2006 của bà Lê Thị Ngọc Lan – tại thời điểm ký

2 Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

3 Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 7

giấy ủy quyền bà vẫn đang giữ chức vụ Tổng giám đốc trên danh nghĩa và là ngườiđại diện theo pháp luật của công ty Chính vì thế, không thể bắt người đại diện theo

ủy quyền của công ty chịu trách nhiệm cho những khoản nợ và nghĩa vụ tài sảnphát sinh một cách khách quan do người đó ký kết khi có sự ủy quyền của ngườiđại diện theo pháp luật của pháp nhân được vì trong trường hợp kể trên thì ôngMạnh chỉ là người thay mặt cho Công ty Hưng Yên ký kết chứ không phải ôngMạnh ký nhân danh chính mình

Vì vậy, hướng giải quyết của tòa án về việc ông Mạnh không phải chịu trách nhiệmtrả nợ với công ty Vinausteel là phù hợp với quy định của pháp luật, bảo vệ đượcquyền lợi của ông Mạnh bởi lẽ giao dịch này là công việc kinh doanh của công ty,ông Mạnh thực hiện giao dịch không vì vụ lợi cá nhân mà là phục vụ công việckinh doanh của công ty

Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm với các khoản nợ và bồithường thiệt hại cho Công ty Vinausteel

Quyết định có đoạn: “Ngoài ra, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ

hôn nhân giữa ông Lê Văn Dũng và bà Lê Thị Ngọc Lan; việc bà Nguyễn Thị Toàn

và ông Lê Văn Dũng có thỏa thuận với nhau về trách nhiệm thanh toán các khoản

nợ cũng như việc ông Mạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel là việc nội bộ của Công ty kim khí Hưng Yên.

Do đó, Công ty kim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hại cho Công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh, ông Dũng.”4

Câu 6: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên.

Công ty kim khí Hưng Yên là một Công ty Cổ phần có tư cách pháp nhân, có tàisản riêng và chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Trong vụ việc với công

4 Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 8

ty Vinausteel, Công ty Hưng Yên đã tự nhân danh mình (có người đại diện theo ủyquyền là ông Mạnh - Phó Giám đốc theo sự ủy quyền số 1296/UQ/HYM ngày20/11/2006 của bà Lê Thị Ngọc Lan) ký kết hợp đồng với Công ty Vinausteel Vìđây là một tổ chức có tư cách pháp nhân (không thuộc trường hợp Công ty Hợpdanh) nên đối với những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản thì Công ty phải chịu tráchnhiệm bằng tài sản của chính công ty mình và các thành viên trong công ty chỉ chịutrách nhiệm bằng số vốn đã góp vào công ty Chính vì lẽ đó, Tòa án không cần thiếtquan tâm tới công việc nội bộ của Công ty Hưng Yên mà chỉ cần quan tâm tới tưcách pháp nhân của Công ty để yêu cầu Công ty thanh toán nợ và bồi thường thiệthại cho Công ty Vinausteel là hoàn toàn thuyết phụcd, bảo vệ được quyền và lợi íchhợp pháp của các cá nhân như ông Mạnh, ông Dũng.

Câu 7: Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.

Vấn đề 2: Trường hợp đại diện không hợp lý

Câu 1: Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?

Quyết định có các đoạn: “Theo tài liệu do Công ty xây dựng số 2 Nghệ An xuất

trình thì ngày 26/3/2001, Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 263 CV/ XD2.TCKT quy định về việc vay vốn tín dụng của các đơn vị trực thuộc và ngày 06/4/2001, Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 064 CV/XDII.TCKT gửi chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An trong đó có nội dung “đề nghị Ngân hàng Công thương Nghệ An không cho các xí nghiệp thuộc công ty xây dựng

số II Nghệ An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001…”

Trang 9

“các văn bản của Công ty liên quan đến vay vốn của Ngân hàng Công thương Nghệ An ban hành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàng vẫn ký Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp 4 vay tiền.”5

Câu 2: Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?

Theo Toà giám đốc thẩm, Vinaconex phải chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp

đồng trên Quyết định có đoạn: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm

buộc Công ty cổ phần xây dựng 16 – Vinaconex phải trả khoản tiền nợ gốc và lãi (1.382.040.000 đồng) cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là có căn cứ”.6

Câu 3: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.

Hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm là hợp lí và có căn cứ

Vì dựa theo khoản 1 Điều 142 BLDS 2015:

“1 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một số trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời gian hợp lý;

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình mà không có quyền đại diện.”

Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là hoàn toàn hợp lý Vì Xí nghiệpxây dựng số 4 thuộc Công ty cổ phần xây dựng số 16 – Vinaconex; khi Xí nghiệpxây dựng số 4 vay vốn và không đủ khả năng thanh toán thì Công ty Vinaconexphải có chức năng thanh toán khoản nợ ấy cho Xí nghiệp Mặc dù Công tyVinaconex có công văn số D64CV/XDII có nội dung không cho Xí nghiệp xâydựng 4 vay vốn ngân hàng nhưng xí nghiệp có báo cáo tài chính 6 tháng một lần và

5 Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

6 Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 10

Ban giám đốc Công ty không có ý kiến gì nên việc Công ty Vinaconex phải chịutrách nhiệm cho việc vay vốn là hoàn toàn đúng.

Câu 4: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lí như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?

Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng

phản đối hợp đồng thì căn cứ theo Điều 142 BLDS 2015 quy định về hậu quả của

giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện:

“1 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không

có quyền đại diện.

2 Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thì người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.

3 Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

4 Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.” Ta chia thành 2 trường hợp:

Trang 11

- Trường hợp 1: Nếu công ty Vinaconex đồng ý hoặc biết mà không phản đối hợpđồng thì giao dịch do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện xác lập

vẫn làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của Vinaconex theo quy định tại khoản 1 Điều

142 BLDS 2015

- Trường hợp 2: Nếu công ty Vinaconex không đồng ý hợp đồng thì giao dịch dongười đại diện Vinaconex không có quyền đại diện xác lập không làm phát sinhquyền, nghĩa vụ của Vinaconex mà người đại diện đó phải có nghĩa vụ bồi thường

cho Ngân hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 142 BLDS 2015.

2005

- Sở hữu Nhà nước: Điều 200 BLDS 2005 quy định:

“Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm

đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ

ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài

nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng

biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do

Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc

các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa

học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng

các tài sản khác do pháp luật quy định.”

- Sở hữu tư nhân, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể.

- Sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung.

- Sở hữu toàn dân: Điều 199 BLDS 2015 quy định:

“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,

nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý

là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”

- Sở hữu riêng.

- Sở hữu chung.

Trang 12

Câu 2: Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời

kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?

Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân

với bà Thẩm Quyết định có đoạn: “Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6,

thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm…”7

Câu 3: Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà Quyết định có

đoạn: “Còn bà Thẩm cho rằng căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích

101 m 2 đất là tài sản chung của vợ chồng bà…” và đoạn: “Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Thẩm có đơn khiếu nại cho rằng căn nhà đang tranh chấp là tài sản chung của bà và ông Lưu, yêu cầu được chia tài sản chung và được chia thừa kế theo pháp luật.”8

Câu 4: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng của ông

Lưu Quyết định có đoạn: “…nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào Miền

Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên.”9

Câu 5: Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

7 Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

8 Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

9 Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 13

Mặc dù, căn nhà số 150/6A được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ôngLưu và bà Thẩm, nhưng thực tế ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác từ năm1975; đến năm 1994 ông Lưu mới nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn ThịBướm để cất nhà, còn bà Thẩm và chị Hương vẫn ở ngoài Bắc Như vậy, căn nhà

số 150/6A đứng tên ông Lưu, được tạo lập bằng nguồn thu nhập (tài sản riêng) củaông Lưu Hơn nữa, bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức đểcùng ông Lưu tạo lập căn nhà này Vậy nên căn nhà số 150/6A đương nhiên thuộc

sở hữu riêng của ông Lưu

Vậy nên, việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định căn nhà số 150/6A LýThường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (sau đây gọi tắt là cănnhà số 150/6A) thuộc sở hữu riêng của ông Lưu là hoàn toàn hợp lý, đảm bảo đượcquyền và lợi ích hợp pháp của những người được hưởng thừa kế

Câu 6: Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.

Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu không thể dichúc định đoạt toàn bộ căn nhà này

Theo khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Vợ, chồng có

quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”

Tại điểm a khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định

nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng:

“Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn

cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”

Và khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Ngày đăng: 14/09/2021, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w