Thảo luận dân sự 1 buổi thứ nhất: Chủ thể của pháp luật dân sự. Môn: Những vấn đề chung của luật dân sự. Giảng viên thảo luận: Nguyễn Tấn Hoàng Hải. Nhóm sinh viên thực hiện: Lớp 102-TM44A1. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1Khoa Luật Thương mại Lớp Luật Thương mại 44A.1
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
Bộ môn: Quy định chung, tài sản, thừa kế
Giảng viên: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Trang 2MỤC LỤCVẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN
Câu 1.1 Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc
trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao? 1
Câu 1.2 Nêu những đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành
vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự 2
Câu 1.3 Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự không ? Vì sao? 3
Câu 1.4 Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và
là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 3
Câu 1.5 Toà án không để bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không?
Câu 1.9 Suy nghĩ của anh/chị về chế định người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi mới được bổ sung trong BLDS 2015 6VẤN ĐỀ 2: TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ
Câu 2.1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (Nêu rõ từng
điều kiện) 8
Câu 2.2 Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đạidiện của Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của
Bản án có câu trả lời 9
Trang 3Câu 2.3 Trong Bản án số 1117, vì sao Toà án xác định Cơ quan đại diện của Bộ tài
nguyên và môi trường không có tư cách pháp nhân? 10 Câu 2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án 10
Câu 2.5 Pháp nhân và cá nhân có gì khác nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu
cơ sở khi trả lời (nhất là trên cơ sở BLDS 2005 và BLDS 2015) 11
Câu 2.6 Giao dịch do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân
có ràng buộc pháp nhân không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12
Câu 2.7 Trong tình huống trên, hợp đồng ký kết với Công ty Nam Hà có ràng buộc
Công ty Bắc Sơn không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12VẤN ĐỀ 3: TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA PHÁP NHÂN
Câu 3.1 Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên và trách
nhiệm của các thành viên đối với nghĩa vụ của pháp nhân 15
Câu 3.2 Trong Bản án được bình luận, bà Hiền có là thành viên của Công ty Xuyên
Á không? Vì sao? 15
Câu 3.3 Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á hay
của bà Hiền? Vì sao? 15
Câu 3.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Toà cấp sơ thẩm và Toà cấp
phúc thẩm liên quan đến nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích 16
Câu 3.5 Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của Công ty Ngọc Bích khi công ty
Xuyên Á đã bị giải thể? 16
Trang 4VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN
Tóm tắt Quyết định số: 11/2017/QĐDS-ST ngày 18/7/2017 về “V/v: Tuyên
bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn – tỉnh Quảng Nam
Bà Vũ Thị H yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn P có khó khăn trong nhận thức, làmchủ hành vi để giải quyết vụ án ly hôn giữa bà và ông Lê Văn P Ông P bị bệnh tâmthần từ năm 2004, điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Đà Nẵng, sau khi xuấtviện thì tiếp tục điều trị ngoại trú dưới sự quản lí của Trạm Y tế xã Đ Cho đến thờiđiểm hiện tại, ông P có kết luận của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực MiềnTrung về mặt y học là rối loạn cảm xúc lưỡng cực, nhưng hiện tại thuyên giảm; vềmặt pháp luật là khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Trên thực tế, Bà Huỳnh Thị T là người đã nuôi dưỡng và sống với ông Lê Văn Pđến thời điểm hiện tại Ông P yêu cầu Tòa án chỉ định bà T làm người giám hộ chomình và bà T đồng ý Cuối cùng, Tòa án đã thụ lý yêu cầu của bà H và ban hànhquyết định giải quyết việc dân sự Theo đó bà H không đủ điều kiện làm người giám
hộ cho ông P, đồng thời tuyên bố ông Lê Văn P có khó khăn trong nhận thức, làmchủ hành vi Chỉ định bà Huỳnh Thị T là người giám hộ cho ông Lê Văn P theonguyện vọng của ông P
Câu 1.1 Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận không thuộc trườnghợp mất năng lực hành vi dân sự
Bởi để kết luận người mất năng lực hành vi dân sự cần căn cứ theo khoản 1 Điều
22 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định:
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án quyết định tuyên
Trang 5bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần
Dựa trên cơ sở kết luận của kết quả giám định pháp y tâm thần số286/KLGĐTC, ngày 22/5/2017 đối với ông Lê Văn P của Trung tâm Pháp y Tâmthần khu vực Miền Trung đã có kết luận:
Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F13.7)
Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Trong trường hợp này, kết luận giám định pháp y tâm thần đã nêu rõ ông LêVăn P không bị mắc bệnh tâm thần Hơn nữa, theo yêu cầu của bà Vũ Thị H (vợông P) – người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn P có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chứ không yêu cầu tuyên bố ông P mất nănglực hành vi dân sự Dựa vào những cơ sở trên, ta có thể kết luận rằng ông P khôngthuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự Theo đó, cần dựa trên khoản 1 Điều
23 đối với trường hợp ông P
Câu 1.2 Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không ? Vì sao?
Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 có quy định:
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Trong trường hợp nêu trên, ông P mắc bệnh tâm thần từ năm 2004 và được điềutrị tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Đà Nẵng Sau đó, ông được xuất viện và hiệnđang điều trị ngoại trú dưới sự quản lý của trạm Y tế Đặc biệt, theo kết luận giámđịnh pháp y tâm thần, tại thời điểm hiện tại, ông P bị rối loạn cảm xúc lưỡng cựctuy đã có sự thuyên giảm
Theo đó, ông P không phải là người nghiện ma tuý hoặc các chất kích thích dẫnđến phá hoại tài sản gia đình, mà ông là người mắc bệnh tâm thần Do vậy, trongQuyết định trên, ông P không thuộc trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 7Câu 1.3: Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Căn cứ khoản 1 Điều 24 BLDS 2015:
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
Ông P theo giám định pháp y tâm thần số: 286/KLGĐTC ngày 22/5/2017 kếtluận:
Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F13.7)
Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Chính vì vậy, ông P không thuộc trường hợp hạn chế năng lực hành vi dân sự
Câu 1.4 Điểm khác nhau cơ bản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
và là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:
Tiêu chí nhận thức, làm chủ hành Người khó khăn trong
vi
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Đặc điểm nhận dạng
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vidân sự
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Thời điểm xác định
thuộc đối tượng
Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố Khi Tòa án ra quyết định
Người đại diện Người giám hộ do Tòa án chỉ định Người đại diện theo pháp luậtTrường hợp chấm dứt Khi không còn căn cứ
tuyên bố một người có Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn
Trang 8khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi thì Tòa
án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
chế năng lực hành vi dân
sự thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lựchành vi dân sự
Câu 1.5 Việc Toà án không để bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Theo em, việc Toà án không để bà H là người giám hộ cho ông P thuyết phục vì
lý do sau:
Tại khoản 1 Điều 53 BLDS 2015 có quy định: “Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ” Tuy nhiên, người chồng hoặc vợ vẫn
có quyền ly hôn đối với người kia cho dù người kia bị mất năng lực hành vi dân sự.Trong vụ việc trên, bà H đã có ý muốn ly hôn với ông P nên việc để bà làm ngườigiám hộ đương nhiên là không hợp lý Trong trường hợp này, Toà án phải chỉ địnhngười giám hộ khác cho ông P
Từ lý do trên, em cho rằng việc Toà án không để bà H là người giám hộ cho ông
P là hoàn toàn hợp lý và thuyết phục
Câu 1.6 Việc Tòa án không để bà H làm người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Ông P được Tòa tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi Vì vậy theo khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 và điểm d khoản 1 Điều 47 BLDS
2015, việc chỉ định người giám hộ cho ông P được tiến hành theo luật định
Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.” thì người giám hộ của ông P
là bà Vũ Thị H Tuy nhiên, bà H là chủ thể yêu cầu Tòa án tuyên bố ông P có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để giải quyết vụ án ly hôn giữa bà và ông P
Do đó, Tòa án không thể chỉ định bà H trở thành người giám hộ cho ông P Điều
Trang 9này thuyết phục và hợp lý bởi nếu chỉ định bà H làm người giám hộ cho ông P cóthể quyền lợi của người được giám hộ sẽ bị ảnh hưởng khi hai người ly hôn.
Câu 1.7 Việc Toà án không để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P là rất thuyết phục vì theo Điều
53 của Bộ luật Dân sự 2015 thì bà Vũ Thị H (vợ ông P), ông Lê Văn H (cha ông P)
và bà Lê Thị H (mẹ ông P) không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P
Lý do:
- Bà Vũ Thị H đã yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án ly hôn với ông P mà Tòa án
đã thụ lý nên bà H không còn đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P
- Ông Lê Văn H đã mất năm 2007
- Bà Lê Thị H đã bỏ nhà đi hơn 20 năm nay, không quay trở về địa phương cũngnhư không rõ tung tích của bà nên không có cơ sở chỉ định bà Lê Thị H làm ngườigiám hộ cho ông P
Mặt khác, bà T là người đã nuôi dưỡng ông P từ nhỏ đến tuổi trưởng thành vàhiện nay vẫn chung sống với ông P Bà cũng là người thân duy nhất của ông P đếntại thời điểm này Theo Điều 49 của Bộ Luật Dân sự 2015 thì bà T có điểu kiện đểlàm người giám hộ cho ông P với tư cách cá nhân Theo khoản 2 Điều 46 của BộLuật Dân sự 2015, ông P yêu cầu Tòa án chỉ định bà T là người giám hộ cho mình
Vì vậy, việc Tòa án chỉ định bà T làm người giám hộ cho ông P là một quyết định
vô cùng đúng đắn và thuyết phục
Trang 10Câu 1.8 Với vai trò của người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch nào? Vì sao?
Với vai trò của người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịchdân sự
Lý do: Theo Quyết định số 11/2017/QĐDS-ST ngày 18/7/2017 của Tòa án nhândân thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, ông P được tuyên bố có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 57 của Bộ luật Dân
sự 2015 thì người giám hộ đối với người được giám hộ có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi đại diện người được giám hộ trong các giao dịch dân sự Vìvậy, bà T được đại diện ông P trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
Câu 1.9 Suy nghĩ của anh/chị về chế định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mới được bổ sung trong BLDS 2015
Tại Điều 22,23 trong Bộ luật Dân sự 2005 chỉ mới quy định về 2 trường hợp làngười mất năng lực hành vi dân sự, và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.Tuy nhiên, trong thực tế còn tồn tại một số trường hợp không thể áp dụng 2 quyđịnh trên, chẳng hạn như: những người già, lớn tuổi bị bệnh suy giảm trí nhớ (bệnhAlzheimer), bệnh run tay (Parkinson)… mà phải thực hiện và chịu trách nhiệm nhưmột người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì rất bất hợp lý Do đó, chế địnhngười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mới được bổ sung trong BLDS
2015 đã khắc phục những hạn chế trong BLDS 2005 và thể hiện được sự tôn trọngquyền con người, quyền công dân
Tuy nhiên, chế định trên vẫn tồn tại một số điều chưa rõ ràng:
Tại khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 quy định rằng người khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi là “người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất khả năng hành vi dân sự” Quy định không cụ thể như vậy rất khó có thể phân biệt những trường hợp
nào là trường hợp mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhậnthức và làm chủ hành vi
Ví dụ: Những người khiếm thính, khiếm thị có thể được xem là khiếm khuyết
về thể chất Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, họ vẫn nhận thức, làm chủ được
Trang 11hành vi của mình, họ thực hiện các giao dịch dân sự qua ngôn ngữ, ký hiệu, chữ
giành riêng cho người khuyết tật Chính vì vậy, không thể kết luận họ là người mất
năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi
Tóm lại, theo em, chế định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vimới được bổ sung trong BLDS 2015 đã giải quyết được những bất cập trong BLDS
2005 Tuy nhiên, chế định này cần được giải thích, làm rõ và có quy định cụ thểtrong các trường hợp thế nào là người có tình trạng thể chất hoặc tinh thần màkhông đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lựchành vi dân sự
Trang 12VẤN ĐỀ 2: TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ
Tóm tắt Bản án số 1117/2012/LĐ-PT về “V/v tranh chấp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” của Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh
Ông Nguyễn Ngọc Hùng (nguyên đơn) là nhân viên bảo vệ, đồng thời là ngườisửa chữa điện nước tại Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ ChíMinh Ngày 10/12/2008, ông và cơ quan ký phụ lục hợp đồng thay đổi tên người sửdụng lao động Ngày 11/3/2010, cơ quan của ông mất 2 chiếc xe máy và bắt ông bồithường Sau đó cơ quan của ông ký hợp đồng với Công ty bảo vệ chuyên nghiệp vàngày 15/09/2011 chấm dứt hợp đồng với ông với lý do ông không hoàn thànhnhiệm vụ được giao Ông không đồng ý nên đã khởi kiện, yêu cầu cơ quan đại diệncủa Bộ hủy quyết định 192/QĐ-CQĐDPN chấm dứt hợp đồng lao động, giải quyếtchế độ trợ cấp, bảo hiểm, bồi thường vì đã đơn phương chấm dứt hợp đồng với ông.Tòa án nhân dân quận 1 đã tuyên xử hủy quyết định theo yêu cầu và buộc cơquan đại diện bồi thường cho ông Hùng, giao lại sổ bảo hiểm và tiếp tục đóngBHXH và BHTN
Ngày 6/6/2012 người đại diện pháp luật của cơ quan đại diện Bộ kháng cáo, chorằng ông Hùng không hoàn thành nhiệm vụ và việc ký hợp đồng với Công ty bảo vệchuyên nghiệp, chấm dứt hợp đồng với ông Hùng là thay đổi cơ cấu Do cơ quanđại diện Bộ là đơn vị phụ thuộc pháp nhân nên cơ quan đại diện không có tư cáchpháp nhân và không thể là bị đơn.Từ lý do trên, Tòa án quyết định hủy án sơ thẩm
để ông Hùng khởi kiện lại cho đúng đối tượng và chuyển hồ sơ về Tòa án Nhân dânQuận 1 để giải quyết
Câu 2.1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (Nêu rõ từng điều kiện)
Theo khoản 1 Điều 74 của Bộ Luật dân sự 2015, một tổ chức được công nhận làpháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: Là một tổ chức được thành lập hợppháp, có cơ cấu tổ chức, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác; tự chịu tráchnhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật mộtcách độc lập