1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN dân sự 2 BUỔI 2

11 733 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 46,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 thì nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời..

Trang 1

Vấn đề 1: Chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng

Xảy ra tranh chấp và Tòa tuyên:

(1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

(2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý

(3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới

Câu 1: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.

Về vấn đề thứ nhất:

Tòa án cho rằng bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

theo quy định của Điều 400 BLDS 2015 Theo nhóm, hướng giải quyết này của Tòa án là

hoàn toàn hợp lí Căn cứ vào khoản 1 Điều 400 BLDS 2015: “Hợp đồng được giao kết vào

thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết” thì bên đề nghị giao kết hợp đồng là A,

B, C và bên được đề nghị là D Tuy nhiên, chỉ có A và B nhận được chấp nhận giao kết hợp đồng từ D, còn C thì không nhận được D cũng không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C, C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D Hơn nữa trong hợp đồng giữa A, B, C cũng không nhắc đến thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng Vì vậy nên việc xác định bên đề nghị ở đây là C chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ phía D là hoàn toàn hợp lí

1

A

Pháp nhân

B

Cá nhân

C

Cá nhân

D

gửi một giao kết HĐ

D

gửi chấp nhận giao kết HĐ A

B

không

CM đượ

c đã gửi

C

Trang 2

Về vấn đề thứ hai:

Tòa án cho rằng chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định

của Điều 394 BLDS 2015 Theo nhóm, nhận định này của Tòa án là hợp lí Vì căn cứ vào

khoản 1 Điều 394 BLDS 2015: “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời

chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó ” Theo đó hợp đồng giao

kết giữa A, B, C với D không quy định cụ thể về thời hạn D trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Vậy nên chấp nhận giao kết này của D chưa được thực hiện

Về vấn đề thứ ba:

Tòa án cho rằng chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới Theo tôi hướng giải

quyết này của Tòa án là không hợp lí Căn cứ vào khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 thì nếu bên

đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời Tuy nhiên vì hợp đồng giao kết này không có quy định cụ thể về thời hạn D trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, nên không thể nào xem rằng chấp nhận của D là một đề nghị giao kết mới

Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng

Nội dung Án lệ số 04/2016/AL

“Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26/04/1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26/04/1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà Như vậy, có

cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ”

2

Trang 3

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp dồng?

Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 Khoản 2 Điều 393 BLDS 2015

Hợp đồng dân sự cũng được xem là giao

kết khi hết hạn trả lời mà bên nhận đề nghị

vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là

sự trả lời chấp nhận giao kết

Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã xác lập giữa các bên

BLDS 2005, ta thấy có một điều vô lí là điều khoản này không được đặt ở phần chấp nhận giao kết mà lại quy định trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết Đến BLDS 2015, quy định này đã có thêm một số điểm khác so với BLDS 2005

 Điểm thay đổi thứ nhất:

Trong BLDS 2005 vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng chỉ được ghi nhận

tại Điều 404 về thời điểm giao kết hợp đồng, đến BLDS 2015 điều này đã được ghi nhận ngay từ khi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 393 Như vậy, BLDS 2015 đã khắc

phục nhược điểm của BLDS 2005, nâng cao vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng

 Điểm thay đổi thứ hai:

Theo Điều 393 BLDS 2015 có quy định rõ ràng không công nhận im lặng là chấp

nhận đề nghị giao kết hợp đồng, khi mà BLDS 2005 không nhắc đến dẫn đến sự mập mờ không rõ ràng trong khi áp dụng điều luật

 Điểm thay đổi thứ ba:

Cả hai bộ luật đều có trường hợp ngoại lệ là im lặng được coi là đồng ý khi giữa các

bên có sự thỏa thuận Nhưng Điều 393 BLDS 2015 có thêm một trường hợp ngoại lệ nữa là

“…theo thói quen đã được xác lập giữa các bên” Điểm mới này, góp phần đảm bảo được

quyền lợi của các bên khi tham gia vào giao dịch, mở rộng phạm vi

 Điểm thay đổi thứ tư:

Khi im lặng được coi là đồng ý thì BLDS 2005 chưa xác định được thời điểm giao kết

hợp đồng, khắc phục nhược điểm này khoản 2 Điều 400 BLDS 2015 đã thêm quy định về

thời điểm giao kết hợp đồng: “Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.” Tuy nhiên, quy định này mới chỉ xác định được thời điểm giao kết im

lặng khi giao kết hợp đồng trong trường hợp các bên có thỏa thuận mà chưa quy định đối với trường hợp theo thói quen

Thực tế, trong thời gian qua, nhiều tranh chấp phát sinh từ việc im lặng trong khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế

3

Trang 4

những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng này Hơn nữa, việc điều chỉnh này giúp mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen, tập quán giao kết hợp đồng, mua bán hàng

Tóm tắt tình huống

Năm 2001, ông Bùi và bà Chu chuyển nhượng đất (đất của hộ gồm 7 khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn sử dụng mảnh đất, nên hai bên làm thủ tục chuyển nhượng, không ai có

ý kiến về việc này Đến nay, các con của ông Bùi bà Chu đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu vì

họ chưa đồng ý Tòa đã áp dụng Án lệ số 04/2016 để giải quyết

Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

“Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26/04/1996, ông Ngự còn viết

“giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.”1

Trong tình huống trên có những nét tương đồng với tình tiết trong Án lệ 04/2016:

 Diện tích đất tranh chấp đều là tài sản chung của hai vợ chồng: Ông Ngự và bà Phấn; Ông Bùi và bà Chu

 Khi ký kết hợp đồng không có đầy đủ chữ ký của cả hộ gia đình: Chỉ ông Ngự ký kết trong hợp đồng; chỉ ông Bùi và bà Chu ký kết trong hợp đồng

 Bên chuyển nhượng đều đã nhận tiền và không ai có ý kiến: Ông Ngự và bà Phấn đã nhận vàng và chia cho các con, ngoài ra ông còn viết “cam kết” mượn lại phần nhà đất để ở tạm khi xây nhà mới; ông Bùi và bà Chu nhận tiền, con các đều không có ý kiến gì

Việc Tòa án đã áp dụng Án lệ 04/2016 vào tình huống trên là hoàn toàn phù hợp Việc ban hành Án lệ số 04 giúp cho chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát và thống nhất được quan điểm trong việc xem xét giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1 Án lệ số 04/2016/AL

4

Trang 5

trong trường hợp không có văn bản thỏa thuận giữa những người có liên quan; nếu có đủ căn

cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất

đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết

mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được

Tóm tắt tình huống

Ông An ký hợp đồng bán cho ông Bình máy đào hiệu Hitachi nhưng khi thực hiện hợp đồng, hai bên không thống nhất được với nhau về máy phải giao nhận

Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.

 Điểm thay đổi thứ nhất:

Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 Khoản 1 Điều 408 BLDS 2015

Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp

đồng có đối tượng không thể thực hiện

được vì lý do khách quan thì hợp đồng này

bị vô hiệu

Trường hợp ngay từ khi giao kết hợp đồng

có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu

Theo đó, BLDS 2005 nêu ra hợp đồng vô hiệu khi có đối tượng không thể thực hiện được từ thời điểm “ký kết”, trong BLDS 2015 đã thay đổi thành “giao kết” Thuật ngữ “ký kết” không có tính bao quát vì “ký kết” chỉ đúng cho hợp đồng bằng văn bản Trong khi đó,

còn có hợp đồng miệng, hợp đồng giao kết thông qua im lặng, … Do đó khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thay từ “ký kết” thành từ “giao kết” sẽ phù hợp và bao quát hơn.

Bên cạnh đó BLDS 2005 còn nêu thêm điều kiện “vì lý do khách quan” thì mới vô

hiệu và BLDS 2015 đã bỏ đi quy định này Nếu áp dụng khoản 1, Điều 411 BLDS 2005 chỉ

khoanh vùng ở trường hợp “vì lý do khách quan” thì trong thực tiễn vận dụng Điều luật này

dù cho không làm hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng này cũng không thể thực hiện được

 Điểm thay đổi thứ hai:

Khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015

Quy định tại khoản 2 Điều này cũng được Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này

5

Trang 6

áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có

một hoặc nhiều phần đối tượng không thể

thực hiện được, nhưng phần còn lại vẫn có

giá trị pháp lý.

cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn

lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.

Như vậy, BLDS 2015 đã mở rộng đối tượng điều chỉnh đối với các hợp đồng mà ngay

từ khi giao kết mà có một hoặc nhiều phần vô hiệu thì phần còn lại vẫn có giá trị pháp lý, cụ

thể, so với khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 quy định chỉ áp dụng cho 1 đối tượng là khoản 2

thì BLDS 2015 đã áp dụng cho 2 đối tượng thuộc khoản 1 và 2

Đồng thời, từ “giá trị pháp lý” trong khoản 3 BLDS 2005 đến khoản 3 BLDS 2015

đã được thay bằng cụm từ “hiệu lực” 2 Ta thấy rằng, hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng ko có hiệu lực pháp lý - nhưng ngược lại: hợp đồng không có hiệu lực pháp lý chưa chắc đã phải là hợp đồng vô hiệu - mà có thể là hợp đồng chưa được ký kết, đã ký kết nhưng

bị đình chỉ hiệu lực, hoặc đã hết hiệu lực Như vậy, dùng cụm từ “hiệu lực” sẽ tạo sự khái quát, bao quát hơn so với việc dùm cụm từ “giá trị pháp lý” vì “giá trị pháp lý” chỉ mang ý nghĩa luật định, còn “hiệu lực” còn có ý nghĩa trong việc thực thi Những thay đổi trên đối

với chế định hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được là phù hợp với thực tiễn xét xử ở Việt Nam

Câu 2: Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS

2015 không? Vì sao?

Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở khoản 1 Điều 408

BLDS 2015 về Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được: “1.

Trường hợp ngay từ khi giao kết hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.

Theo đó, trong hợp đồng này có đối tượng không thể thực hiện được Tại văn bản của hợp đồng, các bên không thể hiện về việc bên bán phải giao cho bên mua chiếc máy đào nhãn hiệu Hitachi được sản xuất năm nào, không thể hiện về quy cách, chất lượng, công suất, thể tích gầu cũng như số khung, số máy của máy đào.3 Do vậy theo Điều 408 BLDS 2015 thì hợp

đồng này bị vô hiệu

2 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học – Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

2016, tr.383.

3 Lê Thị Hồng Vân, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức – Hội

Luật gia Việt Nam 2017, Vấn đề 13.

6

Trang 7

Câu 3: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng trên được xác định như thế nào? Vì sao?

Căn cứ vào khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thì hợp đồng trên vô hiệu do hợp đồng có

đối tượng không thể thực hiện được

Hiện tại vẫn chưa có một điều luật nào quy định cụ thể về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng của trường hợp trên nên căn cứ vào tình huống, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng có thể là không bị giới hạn.4

Vấn đề 4: Xác lập hợp đồng giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản

Tóm tắt bản án Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệp Thúy (gọi là bà Thúy)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang (gọi là bà Trang)

Ngày 23/11/2013, bà Trang và bà Thúy thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và bà Thúy đã thanh toán cho bà Trang 95.000.000 đồng Theo đơn khởi kiện, bà Thúy yêu cầu tuyên hợp đồng trên vô hiệu vì đây là giao dịch giả tạo che dấu cho việc bà đã cho bà Trang vay số tiền 100.000.000 đồng và buộc

bà Trang trả lại 95.000.000 đồng đã nhận

Quyết định của Tòa: Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa

bà Thúy và bà Trang vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản là số tiền 100.000.000 đồng

có hiệu lực Bà Trang phải trả lại bà Thúy 95.000.000 đồng, bà Thúy tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất của số tiền này

4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam 2016,

tr.777-778.

7

Trang 8

Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

Theo Điều 124 BLDS 2015 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, nhưng

không nêu rõ thuật ngữ “giả tạo” phải hiểu như thế nào

Theo một số nhà bình luận Bộ luật Dân sự: “Giao dịch giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch” 5

Theo nhóm, giả tạo trong xác lập giao dịch có thể hiểu là khi xác lập giao dịch thì ý chí được biểu đạt ra ngoài khác với ý chí đích thực nhằm che dấu việc thực hiện một hợp đồng khác mà các bên thật sự mong muốn thực hiện và có tồn tại sự khác biệt giữa kết quả thực tế đã thực hiện giao dịch so với mục đích của giao dịch dân sự đã xác lập

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp dồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

Đoạn “Xét theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.” Đối chiếu quy định trên với trường hợp giữa nguyên đơn với

bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực.” cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng

Các bên xác lập giao dịch giả tạo với mục đích nhằm che giấu cho giao dịch vay tài sản, che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng

Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.

Từ những tình tiết của vụ việc, Tòa án nhận thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 200 triệu đồng giữa bà Thúy và bà Trang có sự khác biệt với ý chí đích thực

và hợp đồng trên nhằm che giấu cho giao dịch vay tài sản là số tiền 100 triệu đồng giữa hai người

Theo Điều 124 BLDS 2015 về Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, Tòa tuyên:

- Đối với hợp đồng giả tạo (chuyển nhượng quyền sử dụng đất) đương nhiên bị vô hiệu và bà Trang phải trả lại 95 triệu đồng đã nhận từ bà Thúy khi thực hiện hợp đồng

- Đối với hợp đồng bị che giấu, hợp đồng này vẫn có hiệu lực trên thực tế và ràng buộc các bên, nếu nó tuân thủ các điều kiện luật định Nếu thiếu một trong các điều kiện có

5 Hoàng Thế Liên (Cb), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2013, tr.321.

8

Trang 9

hiệu lực của giao dịch, hợp đồng, thì tùy trường hợp mà hợp đồng bị che giấu có thể bị vô hiệu hoặc đương nhiên vô hiệu.6 Trong vụ việc trên, hợp đồng vay tài sản này vẫn có hiệu lực

vì hợp đồng trên đảm bảo các điều kiện luật định khi xác lập hợp đồng

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng

bị che giấu.

Theo nhóm, hướng xử lý trên của Tòa án là hợp lý Pháp luật của chúng ta tôn trọng sự

tự do ý chí của các bên khi xác lập hợp đồng vì thế một hợp đồng sẽ có giá trị pháp lý khi đáp ứng các điều kiện thông thường áp dụng cho giao dịch này Về nguyên tắc, hợp đồng giả tạo

bị vô hiệu không làm ảnh hưởng gì đến hợp đồng bị che giấu và hợp đồng che giấu trong vụ việc này vẫn có hiệu lực vì đã đáp ứng đủ điều kiện khi xác lập hợp đồng

Tóm tắt bản án Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu (gọi là bà Thu)

Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim Anh (gọi là bà Anh)

Trong năm 2009, bà Thu và bà Anh có thực hiện 03 lần giao dịch vay tài sản tổng số tiền là 3,7 tỷ đồng Cuối năm 2009, vợ chồng bà Anh có yêu cầu được cấn trừ đất ở Bình Dương để trả nợ cho bà Thu nhưng không được bà Thu đồng ý (do bà Anh đưa giá quá cao) Sau đó, ngày 14/02/2010 bà Anh đã trả cho bà Thu được 600 triệu đồng Và vợ chồng bà Anh cam kết sẽ chuyển nhượng nhà đất để trả nợ cho bà Thu Sau đó, vợ chồng bà Anh chuyển nhượng toàn bộ nhà đất cho vợ chồng ông Vượng với giá 680 triệu đồng Tuy nhiên, thỏa thuận chuyển nhượng này là không phù hợp với thực tế (5,6 tỷ đồng) và hai bên cũng chưa hoàn tất thủ tục

Quyết định của Tòa: Hủy bỏ bản án phúc thẩm trước đó yêu cầu vợ chồng bà Anh phải trả cả gốc lẫn lãi cho bà Thu, theo đó hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là vô hiệu đồng thời phong tỏa nhà đất của vợ chồng bà Anh để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ với bà Thu

6 Nguyễn Hồng Thanh, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam 2017, Vấn đề 06.

9

Trang 10

Câu 1: Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng

là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?

Bởi vì, bà Anh thừa nhận còn thiếu bà Thu 3,1 tỷ đồng, bà cũng cam kết rằng sẽ chuyển nhượng nhà đất để trả tiền cho bà Thu Tuy nhiên, vợ chồng bà Anh lại làm thủ tục chuyển nhượng cho vợ chồng ông Vượng Thủ tục chuyển nhượng này không phù hợp với thực tế, mức giá nhà đất thực tế là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận với giá chỉ 680 triệu đồng Việc chuyển nhượng này nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu

Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

Số tiền bà Anh phải trả cho bà Thu tổng cộng là 3.962.850.000 trong đó 3,1 tỷ tiền gốc

và 862.850.000 đồng tiền lãi Đồng thời, vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả cho bà Thu Tuy nhiên, bà Anh lại chuyển nhượng cho vợ chồng ông Vượng với giá chỉ

680 triệu đồng so với thực tế là 5,6 tỷ đồng, không những thế ông Vượng lại còn là anh ruột của bà Anh Hành vi này cho thấy bà Anh không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ với bà Thu: dùng 5,6 tỷ đồng để hoàn trả 3.962.850.000 đồng cho bà Thu Vì thế, hướng giải quyết của

Tòa là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với khoản 2 Điều 124 BLDS 2015.

Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Khi hợp đồng giả tạo vô hiệu thì việc xử lý hậu quả phải tuân theo quy định tại Điều

131 BLDS 2015 Theo đó: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”.7

Theo Điều 124 BLDS 2015 thì hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng sẽ bị vô hiệu Và căn cứ khoản 2, Điều 131 BLDS 2015 quy

định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:“ 2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì

chồng bà Anh hoàn trả 4 tỷ đồng đã nhận từ vợ chồng ông Vượng, vợ chồng ông Vượng hoàn trả nhà đất đã nhận và phong tỏa nhà đất của vợ chồng bà Anh Theo đó, vợ chồng bà Anh phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bà Thu, hoàn trả số tiền cả gốc lẫn lãi là 3.962.850.000 đồng

7 Nguyễn Hồng Thanh, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam 2017, Vấn đề 06.

10

Ngày đăng: 14/09/2021, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w