1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN DÂN SỰ 1 BUỔI 4

23 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 40,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLDS về đăng ký tài sản “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.” V

Trang 1

MỤC LỤC Bài tập 1: Đòi động sản từ người thứ ba 2 Bài tập 2: Đòi bất động sản từ người thứ ba 7 Bài tập 3: Lấn chiếm tài sản liền kề 10

Trang 2

BUỔI THẢO LUẬN 4: BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU Bài tập 1: Đòi động sản từ người thứ ba

Câu 1: Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?

Căn cứ Điều 107 BLDS 2015 về Bất động sản và động sản

“1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

Vì trâu không là bất động sản nên nó là động sản

Câu 2: Trâu có là tài sản phải đăng kí quyền sở hữu không? Vì sao?

Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLDS về đăng ký tài sản

“Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.”

Vì trâu là động sản nên trâu là tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu

Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?

Đó là đoạn: Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phức (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì

có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu

Trang 3

và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài.

Câu 4: Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiễm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?

Căn cứ khoản 1 Điều 179 BLDS 2015 về Khái niệm chiếm hữu

“ Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.”

Trâu có tranh chấp đang được ông Dòn chiếm hữu

Câu 5: Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?

Việc chiếm hữu của ông Dòn không có căn cứ pháp luật

Căn cứ khoản 2 Điều 165 BLDS 2015

“Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.”

Ông Thơ khai là đã mua con trâu cái của ông Phùng Văn Tài nhưng trong Quyết định không có tài liệu chứng minh và không đề cập đến chuyện này, cho nên việc chiếm hữu của ông Thơ là không có căn cứ pháp luật do không phù hợp với quy

định tại khoản 1 Điều 165 BLDS 2015, do vậy ông Thơ không có quyền bán trâu

cho ông Thi và ông Thi không được đổi trâu với ông Dòn Cho nên việc ông Dòn chiếm hữu con trâu là không có căn cứ pháp luật mặc dù ông Dòn có được con trâu

thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 165 BLDS 2015.

Câu 6: Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ Điều 180 BLDS 2015 về Chiếm hữu ngay tình

Trang 4

“Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

Câu 7: Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

Trong hoàn cảnh trên, ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình

Vì từ ban đầu ông Thơ là người chiếm hữu con trâu không có căn cứ pháp luật khi ông Thơ bán con trâu cho ông Thi dẫn đến ông Thi cũng là người chiếm hữu

không có căn cứ pháp luật và khi ông Thi đổi trâu với ông Dòn thì ông Dòn cũng làngười chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Tuy nhiên từ đầu đến cuối, ông Dòn không biết (không thể biết) việc trao đổi giữa mình và ông Thi là không có căn cứ pháp luật nên ông cho rằng con trâu thuộc quyền sở hữu của ông Thi và giao dịch giữa ông và ông Thi là hợp pháp

Câu 8: Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?

Căn cứ Điều 167 BLDS 2015 về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký

quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”

Thì theo đó:

– Hợp đồng có đền bù: Là hợp đồng mà trong đó, một bên nhận được lợi ích từ bên kia chuyển giao thì phải chuyển giao lại cho bên kia một lợi ích tương ứng.– Hợp đồng không có đền bù: Là hợp đồng mà trong đó, một bên nhận được lợi ích do bên kia chuyển giao nhưng không phải chuyển giao lại bất kỳ lợi ích nào

Trang 5

Như vậy, căn cứ vào sự trao đổi ngang giá (có đi có lại về lợi ích giữa các bên) để xác định hợp đồng nào là có đền bù, hợp đồng nào là không có đền bù.

Câu 9: Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?

Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù Vì giao dịch giữa ông Dòn và ông Thi là sự trao đổi ngang giá, ông Dòn nhận trâu từ ông Thi và ông Thi nhận trâu từ ông Dòn

Câu 10: Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?

Trâu có tranh chấp bị lấy cắp, bị mất và chiếm hữu ngoài ý chỉ của ông Tài

Vì ông Tài không từ bỏ quyền sở hữu con trâu (hàng tháng vẫn đến xem), cũng không định đoạt (bán, tặng, cho) con trâu

Câu 11: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn, được thể hiện ở đoạn: Tòa án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lý nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé là 900.000đ, bác yêu cầu của ông Tàiđòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật

Câu 12: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là chưa hợp lý Tòa

tuyên ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn trong khi căn cứ Điều 167 BLDS

2015 “ trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền

đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.” thì ông Tài có quyền đòi trâu từ ông Dòn vì hợp

Trang 6

đồng giữa ông Thi và ông Dòn là hợp đồng có đền bù và con trâu đó bị lấy cắp, bị mất hoặc chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài.

Câu 13: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành

có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

Căn cứ Điều 166 BLDS 2015 về Quyền đòi lại tài sản

“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn

cứ pháp luật.

2 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.”

Vì ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình và trâu là động sản không phải đăng kí

quyền sở hữu nên sẽ căn cứ Điều 167 BLDS 2015 về Quyền đòi lại động sản

không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”

Theo quyết định của Tòa án, ông Tài là chủ sở hữu hợp pháp và ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình nên dựa theo BLDS năm 2015 qui định tại điều 166 và 167 thì ông Tài hoàn toàn có quyền đòi lại con trâu

Câu 14: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết dịnh cho câu trả lời?

Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được yêu cầu ông Thơ trả giá trị con trâu Quyết định có nêu:

Trang 7

“Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật.”

Câu 15: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lí

Bài tập 2: Đòi bất động sản từ người thứ ba

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc

sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm hữu?

Quyết định có nêu: “… Tuy nhiên, các cơ quan chuyên môn về quản lí nhà đất của

Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và ông Vĩnh chỉ cung cấp được các giấy tờ

do Khu vực 6 bán nhà đất cho vợ chồng bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh, không cung cấp giấy tờ về việc vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất cho Khu vực 6 và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba Do đó không có căn cứ xác định vợ cụ

Ba hoặc bà Nhân đã bán nhà đất đang tranh chấp cho Khu vực 6 Nay vợ chông cụ

Ba đã chết thì các con của cụ Ba được thừa kế tài sản này…”

“…Năm 1995, bà Thu đã bán nhà đất này cho ông Vĩnh, hợp đồng mua bán có công chứng Năm 2002, vợ chồng ông La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà ở, diện tích nhà 17,1m2 diện tích đất là 19,5m2…”

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy tòa án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình quyền sử dụng đất tranh chấp?

Quyết định có nêu: “…Khi ông Vĩnh mua đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã đượccấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp Nay ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay

tình…”, ông Vĩnh quyết sử dụng đất tranh chấp, điều này thể hiện ở đoạn: “…ông

Trang 8

không đồng ý trả lại nhà đất cho nguyên đơn, vì ông đã mua căn nhà này hợp pháp.”

Câu 3: Suy nghĩ của anh chị về việc tòa án xác định ông Vĩnh là người ngay tình?

- Trong quyết định Tòa án đã xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình Trong thực tiễn xét xử, các trường hợp chiếm hữu ngay tình là các trường hợp chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Vậy trong trường hợp của ông Vĩnh là hợp pháp về mặt thủ tục (hợp đồng mua bán được công chứng, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất) Tuy nhiên các

cơ quan chuyên môn về quản lý nhà đất của Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn

và ông Vĩnh chỉ cung cấp được các giấy tờ do Khu vực 6 bán nhà đất cho vợ chồng

bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh, không cung cấp được giấy tờ về việc

vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất cho

- Khu vực 6 và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba, nên Khu vực 6 không phải chủ

sở hữu nhà đất có tranh chấp và không có quyền định đoạt nó Từ đó việc chiếm hữu nhà đất của bà Thu là không có căn cứ pháp luật, dẫn đến việc chiếm hữu của ông Vĩnh là không có căn cứu pháp luật Mặt khác, ông Vĩnh không biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật, vì xét về mặt thủ tục hợp đồng ông hoàn toàn hợp pháp Vậy Tòa án xác định ông Vĩnh là người ngay tình là hợp lí

Câu 4: Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh có phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con cụ Ba không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trên cơ sở các quy định hiện hành thì ông Vĩnh không phải hoàn trả quyền sửu

dụng đất tranh chấp cho các con cụ Ba bởi một số lí do sau đây: Căn cứ vào khoản

2 Điều 138 BLDS 2015 thì giao dịch của bà Thu với ông Vĩnh là có hiệu lực.

Trang 9

Hơn nữa, căn cứ vào Điều 258 BLDS 2015: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản

phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa” Như vậy, vợ chồng ông Vĩnh thuộc đối tượng chiếm hữu

ngay tình và thực hiện giao dịch với vợ chồng bà Thu là người mà theo quyết định của bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền là chủ sở hữu nhưng sau đó, do phát sinh tranh chấp nên mới phát hiện chủ sở hữu thực sự là ông Lai, bà Nhân Đồng thời hợp đồng mua bán nhà đất giữa bà Thu và ông Vĩnh là có hiệu lực Và theo quy định của Luật thì ông Lai, bà Nhân không thuộc vào đối tượng được đòi lại tài sản từ người thứ ban gay tình Do đó, ông Vĩnh cũng không phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh chấp cho nguyên đơn

Câu 5 : Tòa án tối cao đã có hướng giải quyết bảo vệ các con cụ Ba như thế nào

và hướng giải quyết này đã được quy định trong văn bản chưa? Vì sao?

Để bảo vệ quyền lợi cho các con cụ Ba, Tòa án đã đưa ra hướng giải quyết là xác định ai là người có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do việc bán nhà trái pháp luậtcho nguyên đơn, đồng thời, Tòa án cũng yêu cầu làm rõ việc với UBND tỉnh Quy Nhơn nếu có thể xem xét hỗ trợ cấp đất mới tương ứng giá trị đất tranh chấp cho nguyên đơn

- Hướng giải quyết này của Tòa án đã quy định cụ thể tại Điều 133 BLDS 2015

Vì việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là ngoài ý chí của chủ sở hữu không thể đòi lại tài sản Nếu không có quy định như trên thì sẽ không đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu

Câu 6: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba nêu trên.

Ông Lai và bà Nhân là chủ sỡ hữu hợp căn nhà số 02 Nguyễn Thái Học, theo khẳng định của bên nguyên đơn và thực tế tìm hiểu bản án, cho thấy họ chưa từng thực hiện giao dịch mua bán căn nhà này cho UBND phường Lê Hồng Phong mà

Trang 10

chỉ cho mượn để làm nhà mẫu giáo và nơi hội họp của Khu phố 6 Do đó, việc Khuphố 6 tự ý bán căn nhà này cho người khác đã vượt quá giới hạn với tư cách là đối tượng mượn, thuê Sau đó phát sinh thêm giao dịch mua bán nhà đất với bà Thu, sau là giao dịch mua bán với ông Vĩnh, mà ông Vĩnh ngay tình nên không thể đòi lại nhà đất Trong trường hợp này, căn nhà này đã bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu Do đó, quyết định theo hướng bảo vệ quyền lợi cho các con cụ Ba như trong Quyết định là phù hợp.

Bài tập 3: Lấn chiếm tài sản liền kề

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Thi và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

Quyết định có nêu “Toà án cấp phúc thẩm buộc ông Hậu trả 132,8 m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trống do ông Trê và bà Thi, còn phần đất ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựng nhà (52,2 m2) thì giao ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi là hợp tình hợp lý” “Tuy nhiên, ngoài diện tích 52,2 m2 nêu trên, căn nhà của ông Hậu còn có hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê và bà Thi có diện tích 10,71 m2 chưa được Toà án sơ thẩm và Toà án phúc thẩm xem xét buộc ông Hậu phải tháo dỡ hoặc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê

và bà Thi là chưa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Trê và Thi”

“Mặt khác, theo báo cáo của Cơ quan Thi hành án và theo khiếu nại của ông Trê, thì ngoài căn nhà nằm trên diện tích 52,2 m2 Toà án các cấp giao cho ông Hậu

sử dụng, còn có một căn nhà phụ có diện tích 18,57 m2 của ông Hậu xây dựng trên diện tích đất mà Toà án các cấp buộc ông Hậu trả lại cho ông Trê, bà Thi nhưng Toà án các cấp cũng chưa xem xét giải quyết, gây khó khăn cho việc thi hành án”

- Phần lấn cụ thể như sau:

+ 132,8 m2 đất trống

+ 52,2 m2 đất đã xây dựng nhà

Trang 11

+ 10,71 m2 hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê.

Tuy nhiên, dưới lòng đất sát tường nhà ông Hoà có ông nước do gia đình ông Hoà chôn, nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không buộc gia đình ông Hoà phải tháo dỡ là không đúng, không đảm bảo được quyền lợi của gia đình ông Trụ”

Câu 3: BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không?

Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất,

không gian thuộc quyền sử dụng của người khác Cụ thể là khoản 2, khoản 3, Điều 265 của Bộ luật Dân sự 2005 về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất

động sản

“2 Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều

thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc

sử dụng đất liền kề của người khác.

Ngày đăng: 14/09/2021, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w