1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THẢO LUẬN DÂN SỰ 1 BUỔI THỨ HAI: GIAO DỊCH DÂN SỰ

26 273 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 106,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thảo luận dân sự 1 buổi thứ hai: Giao dịch dân sự. Môn: Những vấn đề chung của luật dân sự. Giảng viên thảo luận: Nguyễn Tấn Hoàng Hải. Nhóm sinh viên thực hiện: Lớp 102TM44A1. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

Khoa Luật Thương mại Lớp Luật Thương mai 44A.1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI GIAO DỊCH DÂN

SỰ

Bộ môn : Quy định chung, tài sản, thừa kế

Giảng viên : Th.S Nguyễn Tấn Hoàng Hải

Người thực hiện : Nguyễn Ngọc Bảo Anh

MSSV : 195 380101 1005

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2020

Trang 3

MỤC LỤC

VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH

Câu 1.1 So với BLDS 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của

giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên 1

Câu 1.2 Đoạn nào trong bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu

nhà ở tại Việt Nam? 3

Câu 1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ bị

Toà án tuyên bố vô hiệu? 3

Câu 1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ

thể) về căn cứ để Toà án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu 4

VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC

Câu 2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có

hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này 5

Câu 2.2 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ

thời điểm nào ông Hội bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? 7

Câu 2.3 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau

khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự? 7

Câu 2.4 Theo Toà án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu

không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào? 7

Câu 2.5 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không

và Toà án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết

Trang 4

Câu 2.7 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó

có bị vô hiệu không? Vì sao? 9

VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI

Câu 3.1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo

BLDS 2005 và BLDS 2015 11

Câu 3.2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thoả thuận hoán nhượng đã bị

tuyên vô hiệu do có lừa dối? 11

Câu 3.3 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ

anh/chị biết 12

Câu 3.4 Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS 2015 không? Vì sao?

12

Câu 3.5 Trong Quyết định số 210, theo Toà án, ai được yêu cầu và ai không được

yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu? 13

Câu 3.6 Trong Quyết định số 210, theo Toà án, thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố

hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao? 13

Câu 3.7 Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

do lừa dối, Toà án có công nhận hợp đồng không? Vì sao? 14

Câu 3.8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định

tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210? 14

VẤN ĐỀ 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

Câu 4.1 Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 16

Câu 4.2 Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú

Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng

công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao? 16

Câu 4.3 Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà

Công ty Orange đã thực hiện như thế nào? 17

Trang 5

Câu 4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phánliên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định

hợp đồng vô hiệu 17

Câu 4.5 Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc màCông ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vôhiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như

thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào? 18

Câu 4.6 Trong Quyết định số 75, vì sao Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xác

định hợp đồng vô hiệu? 19

Câu 4.7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xác định

hợp đồng vô hiệu trong Quyết định trên 19

Câu 4.8 Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ

được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 19

Câu 4.9 Trong Bản án số 133, Toà án quyết định huỷ giấy chứng nhận cấp cho anhĐậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đểđược cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự

vô hiệu không? Vì sao? 20 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ

TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH

Tóm tắt Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 về “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

Năm 2004, vợ chồng ông T và bà Ph (nguyên đơn) có mua phần đất của bà Đ (bịđơn) với số tiền 3000 USD và phần đất gắn liền với ngôi nhà với số tiền 4000 USD.Năm 2011, bà Đ đã làm giấy cam kết bà chỉ đứng tên dùm và sẽ trả lại khi nguyênđơn về nước Do đó, 2 ông bà đã khởi kiện bà Đ về vấn đề “Tranh chấp hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất”, yêu cầu bị đơn phải trả 550.000.000 đồngtương đương với số tiền nguyên đơn đã đưa cho bà Nhưng do giấy tờ giữa nguyênđơn với bị đơn không tuân thủ quy định pháp luật và vợ chồng nguyên đơn là ngườiViệt định cư tại nước ngoài nên Toà yêu cầu bà Đ phải trả 350 000 000 đồng (đúngvới số tiền bị đơn nguyện trả), đồng thời vô hiệu giấy nền thổ cư cũng như giấy camkết xác lập giữa 2 bên

Câu 1.1 So với BLDS 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.

So với BLDS 2005, BLDS 2015 có một số khác biệt về điều kiện có hiệu lực củagiao dịch dân sự như sau:

1 Về năng lực xác lập giao dịch:

Điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân

sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”.

Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”.

Như vậy, trong BLDS 2015 đã thay thế từ “người” tham gia giao dịch thành

“chủ thể” Theo đó, chủ thể giao dịch dân sự trong BLDS 2015 sẽ bao gồm cả cánhân (con người về mặt sinh học) và pháp nhân (con người về mặt pháp lý) 1 Cònnếu như quy định của BLDS 2005, chủ thể tham gia giao dịch dân sự chỉ là cá nhân

và nếu trong thực tiễn có giao dịch thực hiện bởi pháp nhân thì BLDS 2005 sẽ

1 https://kiemsat.vn/binh-luan-nhung-diem-moi-cua-phan-chung-bo-luat-dan-su-nam-2015-48549.html

Trang 7

không thể điều chỉnh được Đồng thời để tham gia giao dịch, ngoài năng lực hành vidân sự, BLDS 2015 còn bổ sung năng lực pháp luật dân sự.

2 Điều cấm của luật

Điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015: “Mục đích và nội dung của giao dịch

dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”

Điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005: “Mục đích và nội dung của giao dịch

không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”

Pháp luật bao gồm cả văn bản luật và các văn bản dưới luật (nghị định, thôngtư…) Như vậy, pháp luật có nội hàm rộng hơn luật BLDS 2015 đã thay thế từ

“pháp luật” thành từ “luật”, có tác dụng nhấn mạnh tầm quan trọng và hiệu lực củavăn bản luật so với các văn bản dưới luật, trong trường hợp có mâu thuẫn giữa cácquy định với nhau

3 Về hình thức

Khoản 2 Điều 117 BLDS 2015: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có

hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Khoản 2 Điều 122 BLDS 2005: “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có

hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

BLDS 2015 thay thế từ “pháp luật” thành “luật” đã làm hẹp đi yêu cầu về hìnhthức (do pháp luật có nội hàm rộng hơn luật)

4 Các loại hình thức

Điều 119 BLDS 2015: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”.

Điều 124 BLDS 2005: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng

ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.”

Trang 8

Như vậy BLDS 2015 đã bỏ hình thức văn bản không có công chứng chứng thựcnhư: văn bản viết tay, văn bản đánh máy và bỏ từ “xin phép” thể hiện rằng khôngcoi việc xin phép là một hình thức nữa.

Câu 1.2 Đoạn nào trong Bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam?

Đoạn trong Bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tạiViệt Nam là:

Ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốctịch Mỹ thì theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Điều 126 củaLuật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được

quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thoả mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”, “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều này đã về Việt Nam

cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà

ở riêng lẻ hoặc một căn hộ…” do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam 2

Câu 1.3 Đoạn nào của Bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà

Đ bị Toà án tuyên bố vô hiệu?

Đoạn của Bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ bị Toà ántuyên bố vô hiệu là:

… do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nôngthôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy chonền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấycam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và

2 Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 vụ việc “Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

Trang 9

do không quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật Dânsự…3

Câu 1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Toà án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu

Theo bản án, ông T và bà H là người Việt Nam đã định cư và nhập quốc tịch

Mỹ Do đó, xét theo quy định của Luật đất đai và Điều 126 Luật nhà ở năm 2005 thì

vợ chồng ông không đủ điều kiện để sở hữu đất nông thôn và đất trồng cây lâu năm

ở Việt Nam Bên cạnh đó, do hợp đồng giữa vợ chồng nguyên đơn và bị đơn Đkhông tuân thủ theo quy định của pháp luật, không công chứng, chứng thực theoquy định Do đó, hợp đồng của 2 bên được xem là không tuân thủ quy định về hìnhthức theo Điều 117,123,129 của Bộ luật Dân sự 2005 nên hợp đồng nêu trên vô hiệu

Phân tích Điều 18 BLDS 2015: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không

bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Trong Luật Nhà ờ có những quy định người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại ViệtNam trong một số trường hợp nên phải tuân theo

3 Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 vụ việc “Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

Trang 10

VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ

NĂNG NHẬN THỨC

Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm ngày 25/7/2013 về Vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” của Toà án nhân dân tối cao

Vợ chồng ông Hội, bà Hương (cha mẹ của chị Ánh đồng thời là nguyên đơn) tạolập được 1 căn nhà Ngày 8/2/2010, bà Hương (bị đơn) có tự ý bán căn nhà cho vợchồng ông Hùng mà không bàn bạc hỏi ý kiến Nên chị Ánh đã khởi kiện yêu cầuToà án huỷ hợp đồng mua bán Về phía bị đơn, bà cho rằng tuy ông Hội đã bị taibiến từ năm 2007, nhưng lúc ký hợp đồng vẫn còn nhận thức được nên hợp đồnggiữa bà và ông Hùng là đúng pháp luật

Phiên toà sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bác yêu cầu của bịđơn Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, yêu cầu của bị đơn lại được chấp nhận.Không đồng tình nên sau phiên toà phúc thẩm, chị Ánh đã làm đơn khiếu nại đềnghị Toà án xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Sau khi xem xét, Toà án nhân dântối cao nhận thấy rằng, khi vụ án thụ lý, ông Hội đã bị tuyên bố mất năng lực hành

vi dân sự kể từ ngày 7/5/2010 và sau khi ông mất, chị Ánh là người đại diện choông Hội và là người thừa kế quyền, nghĩa vụ cho ông nên chị có quyền khởi kiện.Đồng thời, do căn nhà là tài sản chung nên quyết định của toà án sơ thẩm cũng nhưphúc thẩm là không thuyết phục Chính vì vậy, Toà án nhân dân tối cao quyết địnhhuỷ cả 2 bản án nêu trên và giao lại hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà,tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại

Nhận định: Trường hợp 1 người không thể nhận thức làm chủ hành vi của mình nhưng chưa bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch (hợp đồng) với người khác thì giao dịch này sẽ bị vô hiệu (Đánh giá nhận định này dưới góc độ VB pháp luật, thực tiễn xét xử và quan điểm cá nhân)

Câu 2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

Trang 11

Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, BLDS 2015 đã có những sửa đổi,

bổ sung cho BLDS 2005, khắc phục được những thiếu sót cũng như bỏ bớt một sốtình tiết thừa trong Bộ luật cũ như sau:

So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã thay từ “người tham gia giao dịch” thành

“chủ thể” Như vậy, xét theo quy định mới, chủ thể bao gồm cả cá nhân và phápnhân Còn nếu xét theo quy định cũ thì chỉ mới xét tới chủ thể là cá nhân, và nhữnggiao dịch do pháp nhân thực hiện trong thực tiễn sẽ không được điều chỉnh Bêncạnh đó, trong BLDS 2005 trước đây chỉ yêu cầu chủ thể tham gia xác lập giao dịch

có năng lực hành vi dân sự, nhưng trong BLDS 2015 đã quy định thêm là phải có

“năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” 4 Sự bổsung này là cần thiết vì trong thực tế, năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụthuộc vào giao dịch cụ thể Chẳng hạn như, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự vẫn có thể giao dịch nhằm phục vụ sinh hoạt hằng ngày

Ngoài ra, tại điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 có quy định: “Mục đích và

nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức

xã hội” Điều cấm có nội hàm rộng như trên có thể dẫn đến sự lạm quyền của cơ

quan nhà nước khi can thiệp vao quan hệ tư Do đó, BLDS 2015 đã thay từ “phápluật” thành “luật” để giới hạn quyền hay tự do của các chủ thể phải do luật (tức vănbản do Quốc hội ban hành) 5 Đồng thời, theo Điều 123 BLDS 2005, “mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” Từ “hợp pháp” đã được bỏ đi vì điều này đã được thể hiện cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015: “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự

không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Cuối cùng, về hình thức, Khoản 2 Điều 117 BLDS 2005: “Hình thức của giao

dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có

quy định” BLDS 2015 chỉ sử dụng từ “luật” có phạm vi thu hẹp hơn, tức chỉ có văn

bản luật mới có thể áp đặt, chi phối hình thức Ngoài ra, BLDS 2015 đã bỏ hìnhthức văn bản không có công chứng chứng thực như: văn bản viết tay, văn bản đánhmáy và bỏ từ “xin phép” thể hiện rằng không coi việc xin phép là một hình thứcnữa

4 Điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015

5 Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Trương Tín (2018), Giáo trình những vấn đề chung về Luật dân sự, Nxb.

Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 319.

Trang 12

Đó là những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệulực của giao dịch dân sự, thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật.

Câu 2.2 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và

từ thời điểm nào ông Hội bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức từ năm 2007 do lúc đó ông đã

bị tai biến, nằm liệt một chỗ không nhận thức được Nhưng đến ngày 7/5/2010, ôngHội mới bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự (về mặt pháp lý), nên trướckhi tuyên ông vẫn có năng lực bình thường

Câu 2.3 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập vào ngày 8/2/2010.Nhưng đến ngày 7/5/2010, ông mới bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân

sự Chính vì vậy, giao dịch của ông Hội và bà Hương được xác lập trước khi ông bịtuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Câu 2.4 Theo Toà án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu mặc dù

giao dịch đó (cùng với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông bị Tòa tuyên bố

mất năng lực hành vi dân sự Bởi lẽ, xét theo Điều 128 BLDS 2015: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu” (trước đây là Điều 133 BLDS 2005)

Như vậy, giao dịch giữa ông Hội, bà Hương với vợ chồng ông Hùng bị vô hiệu một phần (phần giao dịch của ông Hội).

Muốn tuyên bố khoản 1 Điều 125 BLDS thì phải mất năng lực hành vi dân sự

Do đó, Toà án viện dẫn cơ sở pháp lý chưa chính xác

Cũng không thể áp dụng Điều 128 BLDS 2015 Để áp dụng Điều này khi trước

đó mình bị mất năng lực hành vi, nhưng sau đó người ta bình thường lại thì có

Trang 13

quyền yêu cầu Trong trường hợp này, giao dịch trên là do người con gái của ôngHội xác lập

=> Toà án lúng túng trong trường hợp trên Tuy nhiên, Toà án đưa ra quy định

để bảo vệ quyền cho người mất năng lực hành vi DS => Hợp lý

Câu 2.5 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Toà án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/ chị biết (Luật hợp đồng Việt Nam – bản án và bình luận bản án tập 1)

Trong thực tiễn xét xử, có tồn tại vụ việc giống hoàn cảnh của ông Hội (Quyếtđịnh 102/2015, ông Diện gì đó)

Ông Cường là người sử dụng không có quyền định đoạt diện tích 288 m2 đất (do

mẹ ông để lại nhưng việc chia di sản chưa được thực hiện) Ngày 20/01/2004 ôngCường và bà Bính (vợ ông Cường) ký giấy chuyển nhượng cho anh Thăng (conriêng của bà Bính) diện tích đất trên Ngày 13/6/2005, Tòa án huyện xử bà Bính lyhôn với ông Cường Sau đó, anh Hưng (con riêng ông Cường) đón ông về nuôidưỡng và phát hiện ông Cường có biểu hiện của người bị tâm thần nên đã yêu cầuTòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.6 Theo đề nghị của anh Hưng, Tòa án đã ra quyếtđịnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Cường Tại Biên bản giám địnhpháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh đãkết luận ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh

là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tưduy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình Trên cơ sở kếtluận giám định này, Tòa án đã cho rằng “ông Cường được coi là người mất hoàntoàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày01/01/2004” Do đó, hợp đồng trên xác nhận vô hiệu

Câu 2.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch cho ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp

lý khi đưa ra hướng xử lý.

Hướng tuyên bố nêu trên (trích trong bình luận án)

Nên áp dụng Điều 122

6 Đỗ Văn Đại (2007), “Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người việc mất năng lực hành vi dân sự

qua một bản án”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (2).

Ngày đăng: 18/08/2021, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w