1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy

103 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Từ Lấy Trong Thơ Nguyễn Duy
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tuấn
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Mai
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chuyên luận Từ láy trong tiếng Việt, Hoàng Văn Hoành xem láy như một cơ chế, một biện pháp cấu tạo từ theo những nguyên tắc nhất định; từ đó ông nêu ra đặc điểm riêng về cấu trúc

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH TUẤN

ĐẶC ĐIỂM TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH TUẤN

ĐẶC ĐIỂM TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRỊNH THỊ MAI

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Vinh, đã tận tình giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập

và nghiên cứu

Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trịnh Thị Mai,

người Cô đã tận tâm, chu đáo trong hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin được cảm ơn nhà thơ Nguyễn Duy và gia đình, đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá cho luận văn

Và tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Trong quá trình thực hiện đề tài, tuy có cố gắng rất nhiều, nhưng chắc rằng luận văn của chúng tôi cũng có những thiếu sót Với tinh thần cầu thị và lòng biết ơn, chúng tôi rất mong nhận được những nhận xét, góp ý quý báu của qúi thầy cô giáo và của những ai quan tâm đến đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Tuấn

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15

1.1 Từ láy trong tiếng Việt 15

1.1.1 Khái niệm 15

1.1.2 Phân loại từ láy 16

1.1.3 Đặc điểm của từ láy 23

1.2 Thơ và ngôn ngữ thơ 24

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của thơ 24

1.2.2 Ngôn ngữ thơ 27

1.3 Tác giả Nguyễn Duy và thơ Nguyễn Duy 28

1.3.1 Tác giả Nguyễn Duy 28

1.3.2 Thơ Nguyễn Duy 29

1.4 Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY 31

2.1 Cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy 31

2.1.1 Từ láy bậc một trong thơ Nguyễn Duy 31

2.1.2 Từ láy bậc hai trong thơ Nguyễn Duy 47

2.1.2.2 Cấu tạo của từ láy tư 52

Trang 5

2.3 Tiểu kết chương 2 61

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY 62

3.1 Dẫn nhập 62

3.2 Ngữ nghĩa từ láy trong thơ Nguyễn Duy 63

3.2.1 Từ láy biểu hiện màu sắc 63

3.2.2 Từ láy biểu hiện hình dáng đường nét 73

3.2.3 Từ láy biểu hiện âm thanh 81

3.2.4 Từ láy biểu hiện trạng thái tình cảm của con người 85

3.3 Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

Bảng 2.1 Các loại từ láy theo hình thức cấu tạo trong thơ Nguyễn Duy 31Bảng 2.2 Các dạng từ láy có cấu tạo gồm hai tiếng (từ láy bậc I) 31Bảng 2.3 Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các phụ âm đầu 40Bảng 2.4 Từ láy có cấu tạo gồm nhiều tiếng (từ láy bậc II) 47

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong vốn từ thuần Việt, từ láy là lớp từ nổi bật cả về hình thức

lẫn ngữ nghĩa Lớp từ này đã được giới Việt ngữ học nghiên cứu nhiều ở diện đồng đại về mặt cấu tạo và mặt ý nghĩa Đây là lớp từ ra đời sớm, phát triển nhanh về số lượng và được dùng nhiều trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt

Cũng như các lớp từ khác, từ láy đã có những biến đổi nhất định về hình thức và vai trò để đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngày càng tinh tế của người Việt Với những đặc trưng về thanh âm và kiểu ngữ nghĩa riêng biệt của mình, từ láy được dùng nhiều trong ngôn ngữ văn chương, nhất là trong thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay Khảo sát thực tiễn sử dụng từ láy trong thơ Việt Nam qua thi phẩm của một tác giả hoặc của một giai đoạn văn học là hướng đi góp phần cho thấy vai trò nghệ thuật của lớp từ này

1.2 Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thi ca

Việt Nam hiện đại xuất hiện vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống

Mỹ Với giải thưởng thơ của Báo Văn nghệ năm 1972 - 1973, Nguyễn Duy nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ Sau chiến tranh cả đất nước phải từng bước làm quen với cuộc sống mới, từng bước thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp để đối diện với những khó khăn và thách thức mới Hoàn cảnh xã hội như vậy đã tác động rất lớn tới ý thức nghệ thuật của những người cầm bút Nhiều nhà thơ đã được khẳng định ở thời kỳ trước nay trở về đối diện với cuộc sống đời thường cảm thấy hẫng hụt trong sáng tác Nguyễn Duy vẫn tiếp tục viết đều tay và cho ra đời một loạt tác phẩm thơ được nhiều người đón đọc Đặc biệt bằng những sáng tạo độc đáo về mặt ngôn ngữ, Nguyễn Duy đã tạo được

Trang 8

phong cách có dấu ấn riêng, giọng điệu riêng Thơ Nguyễn Duy xứng đáng được quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ và toàn diện, nhất là

về mặt ngôn ngữ

Từ lâu, thơ Nguyễn Duy đã được đưa vào dạy học ở trường phổ thông

Học sinh THCS đã quen với bài Tre Việt Nam, Ánh trăng nổi tiếng của tác giả, và học sinh THPT còn được tiếp xúc với bài Đò Lèn rất độc đáo Nghiên

cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có đóng góp phần nào cho việc dạy học thơ Nguyễn Duy nói riêng và thơ ca nói chung ở trường phổ thông

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm từ láy trong thơ

Nguyễn Duy làm đối tượng nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu từ láy trong tiếng Việt

Là một mảng từ quan trọng trong vốn từ tiếng Việt, từ láy đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu mấy thập kỷ qua Nhiều nghiên cứu về từ láy của các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước đã được công bố Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu về từ láy tiếng Việt

Nguyễn Tài Cẩn với giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng - Từ ghép -

Đoản ngữ) đã khảo sát và miêu tả tỉ mỉ các kiểu loại của từ láy Ông nêu rõ sự

khác nhau giữa từ láy và dạng láy của từ: “… mặc dù đều là sản phẩm của phương thức láy, nhưng từ láy ở bậc từ còn dạng láy của từ là đơn vị tương đương ngữ”

Hồ Lê với chuyên khảo Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại đã

miêu tả cấu tạo những kiểu dạng cụ thể của từ láy

Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, xếp từ láy vào

một tiểu nhóm của từ ghép (gọi là từ ghép láy) “Từ ghép láy là những từ ghép gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm Các thành tố của từ ghép láy có mối quan hệ tương quan với nhau về thanh điệu

Trang 9

hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa nhất định” [58; tr23] Tác giả chia từ ghép láy thành

từ ghép láy hoàn toàn và từ ghép láy bộ phận

Nguyễn văn Tu trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại gọi từ láy là

từ lấp láy và cũng chia từ lấp láy ra thành từ lấp láy toàn bộ và từ lấp láy bộ phận Ông còn chú ý đến vấn đề từ loại của từ lấp láy

Trong chuyên luận Từ láy trong tiếng Việt, Hoàng Văn Hoành xem láy

như một cơ chế, một biện pháp cấu tạo từ theo những nguyên tắc nhất định; từ

đó ông nêu ra đặc điểm riêng về cấu trúc và ngữ nghĩa của từ láy

Đỗ Thị Lim Liên trong giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt định nghĩa: “Từ

láy là những từ được cấu tạo dựa trên phương thức láy ngữ âm, ví dụ: mấp

mô, lấp lánh, chập chờn, chon von” [51;tr 32] Tác giả đưa ra 3 tiêu chí phân loại từ láy: 1) Số lượng âm tiết (chia ra: từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư); 2) Bộ phận được láy (chia ra: từ láy hoàn toàn, từ láy bộ phận - gồm láy vần và láy phụ âm đầu); 3) Tính chất mô phỏng hay không mô phỏng (chia ra: từ láy tượng thanh, từ láy tượng hình, từ láy biểu trưng) Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến vai trò của từ láy

Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, gọi từ láy

là ngữ láy âm: “Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã cho Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả Hiện tượng láy không chỉ riêng tiếng Việt mà còn ở nhiều ngôn ngữ khác trong vùng Đông Nam Á” [31; tr 86] Tác giả chia ngữ láy âm thành ngữ láy âm đơn nhất và ngữ láy âm mô hình

Bên cạnh các giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo trên, có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu về từ láy đăng trên tạp chí chuyên ngành như:

Đào Thản với công trình “Những đặc điểm về từ láy tiếng Việt đã xem xét những từ láy là những đơn vị có nghĩa từ vựng riêng và được vận dụng

Trang 10

riêng trong lời nói Tác giả cũng giới thiệu các kiểu cấu tạo của từ láy (từ láy hoàn toàn, từ láy gần hoàn toàn, từ láy bộ phận - láy âm đầu, láy vần), từ đó rút ra đặc điểm và ý nghĩa của từ láy

Nguyễn Phú Phong với công trình “Vấn đề từ láy trong tiếng Việt nghiên cứu vấn đề láy tăng và láy giảm qua sự láy có thay đổi thanh điệu, từ

đó tìm hiểu hướng láy, số lần láy, của loại từ láy này để đưa ra những mô hình của từ láy tăng và láy giảm

Hoàng Tuệ với “Về những từ gọi là “từ láy” trong tiếng Việt cho rằng:

“Từ láy nên được xét về mặt cơ trình cấu tạo của nó nữa, chứ không chỉ về mặt cấu trúc mà thôi” Ông nhấn mạnh: “Nên hiểu láy là một phương thức cấu tạo, những từ mà trong đó có sự tương quan âm nghĩa nhất định, tương quan ấy có tính chất tự nhiên, trực tiếp nhưng tương quan ấy tinh tế hơn nhiều và có thể nói là được cách điệu hóa Sự cách điệu ấy chính là sự biểu trưng hóa ngữ âm Mối tương quan này tạo ra sắc thái biểu cảm gợi ý, giá trị của từ láy” Như vậy, tác giả coi từ láy là sự hòa phối ngữ âm giữa những yếu tố tương ứng của các

âm tiết Đó là “một sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa”

Nguyễn thị Hai với bài viết “Từ láy tượng thanh trọng sự tương ứng giữa

âm và nghĩa” đã nghiên cứu cấu tạo và phân loại về nghĩa của từ tượng thanh,

từ đó làm sáng tỏ sự tương ứng giữa âm và nghĩa trong những loại từ này

Phi Tuyết Hinh với “Từ láy và sự biểu trưng ngữ âm”, đã đi sâu vào phân tích ý nghĩa của từ láy đó là giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm, đặc biệt tìm hiểu giá trị biểu trưng hóa của từ láy, mối quan hệ giữa âm

và nghĩa trong mỗi từ này, mối quan hệ tạo nên giá trị biểu trưng ngữ âm của

từ láy Tác giả này cũng đã tìm hiểu hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa

của dạng từ láy song tiết cấu tạo theo khuôn [X- “âp”+ X-Y] (như: nhấp nhô,

thấp thoáng, lập lòe…) trong bài viết “Thử tìm hiểu từ láy song tiết dạng

[X-âp + X-Y]” [38;tr14]

Trang 11

Phạm Văn Hoàn trong bài “Từ láy trong tiếng Việt và sự cần thiết nhận diện nó” đã tìm hiểu cách nhận dạng từ láy và giá trị biểu trưng hóa của từ láy

Hai tác giả Hà Quang Năng và Bùi Thị Mai trong bài “Đặc trưng ngữ pháp của từ tượng thanh trong sự tương ứng giữa âm và nghĩa” khảo sát hoạt

động của từ tượng thanh trong Truyện Kiều, Thơ Hồ Xuân Hương, Tắt đèn,

Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh; từ đó rút ra nhận xét về hoạt động ngữ

pháp và bản chất ngữ pháp của lớp từ này trong tiếng Việt

Nói chung, các tác giả trên đã đi sâu vào nghiên cứu từ láy từ nhiều phương diện khác nhau như định nghĩa, đặc điểm, cơ sở phân loại, cơ chế hoạt động, vai trò, ý nghĩa của từ láy

2.2 Tình hình nghiên cứu từ láy trong tác phẩm văn học

Từ láy là những từ có giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm và giá trị phong cách nổi trội so với từ ghép Vì vậy từ láy được xem là một lớp từ đắc dụng trong sáng tác văn chương Hầu như nhà thơ, nhà văn nào cũng sử dụng từ láy trong tác phẩm của mình, xem đó là một phương tiện ngôn từ mang tính nghệ thuật để tác động sâu sắc đến người nghe, người đọc Những tác giả có tên tuổi thường sử dụng từ láy trong tác phẩm của mình như một công cụ thể hiện phong cách riêng

Tuy nhiên tìm hiểu từ láy trong tác phẩm văn học của một tác giả cụ thể một cách toàn diện có hệ thống thì chưa phải là nhiều Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu từ láy trong tác phẩm văn học như:

Hoàng Thị Thương (2011) với công trình Từ láy trong thơ mới qua thi

nhân Việt Nam đã thống kê phân tích nghĩa của từ láy trong thơ mới

Phan Viết Đan với luận văn Khảo sát từ láy trong thơ Quốc âm thế kỷ

XV qua Quốc âm thi tập và Hồng Đức Quốc âm thi tập đã miêu tả số lượng,

cấu tạo, tần suất và giá trị sử dụng của từ láy trong thơ Quốc âm thế kỷ XV

Trang 12

Hoàng Thị Lan với luận văn Từ láy trong Truyện Kiều và Truyện Lục

Vân Tiên (ĐHSP Vinh, 1997) đã khảo sát các loại từ láy và rút ra tác dụng của

từ láy đối với hai tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát cùng trong thế kỷ XIX

Luận văn Khảo sát từ láy trong thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên của

Đặng Thị Lan, ĐHSP Vinh, 1998) đã khảo sát các loại từ láy và đi sâu miêu

tả, so sánh từ láy trong thi phẩm của hai nhà thơ lớn hiện đại

Luận văn Từ láy trong thể ngâm khúc của Lê Thị Hà, Đại học Vinh,

2004) miêu tả số lượng, vai trò về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của từ láy trong các khúc ngâm nổi tiếng trong văn học trung đại Việt nam

Luận văn Từ láy trong truyện ngắn Võ Thị Hảo của Nguyễn Thị Hải

Yến, Đại học Vinh, 2005) khảo sát các loại từ láy và nêu lên giá trị sử dụng của từ láy trong truyện ngắn của một nhà văn nữ hiện nay

2.3 Tình hình nghiên cứu thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy là một nhà thơ nổi tiếng.Thơ Nguyễn Duy đã được chọn đưa vào chương trình giảng văn ở bậc phổ thông, giới thiệu ra nước ngoài, và

đã được đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm Vì vậy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thơ ông

Trong những bài nghiên cứu đánh giá, thẩm bình về thơ Nguyễn Duy, nhiều tác giả đã có những phát hiện về nét riêng độc đáo đối với từng tác

phẩm của ông Đọc Hơi ấm ổ rơm, Vũ Quần Phương cho là “tấm lòng thơm

thảo, nhường cơm xẻ áo của nhân dân ta” [16, tr.154] Đọc Đò Lèn, Trịnh

Thanh Sơn cho là “những thước phim quay chậm” về nỗi gian truân của người

bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã muốn trào nước mắt”; Đỗ Lai Thúy thì cho

là sự “giải cổ tích hóa”, là “cốt cách hiện đại” Đọc Ánh trăng, Nguyễn Bùi

Vợi đã cảm “nỗi ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người”

Đặng Hiển khi bàn về Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa đã viết “đã động thấu đến

những tình cảm thiêng liêng nhất, sâu xa nhất và thân thương nhất của chúng

Trang 13

ta - tình cảm đối với mẹ” Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài Tre Việt Nam đã

khẳng định đó là những biểu hiện của “phẩm chất con người” Những bài

nghiên cứu này đã chỉ ra cảm hứng trong thơ Nguyễn Duy xuất phát từ sự trân trọng, yêu thương, phát hiện ra vẻ đẹp của con người Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ đặc biệt là những gian khổ thấm đẫm máu, mồ hôi, nước mắt của người dân

Tập thơ của Nguyễn Duy được nhiều nhà phê bình chú ý nhất là Ánh

trăng- tác phẩm được nhận giải thưởng của Hội nhà văn 1984 Nhận xét về

nội dung tập thơ này, Từ Sơn viết: “Tám mươi bài thơ chọn in trong hai tập

Cát trắng và Ánh trăng chiếm số lượng lớn vẫn là những bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh Nguyễn Duy đã đi nhiều nơi, đã tiếp xúc với nhiều người Bao giờ anh cũng dành những tình cảm tốt đẹp nhất của mình cho đồng đội và cho những người dân bình thường” Cùng ý kiến đó, Lê Quang Hưng cũng rất sâu sắc khi nhận

định: Tiếng nói của Nguyễn Duy trong Ánh trăng “trước tiên vẫn là tiếng nói

của một người lính, tiếng nói tìm đến những người lính- những đồng đội để sẻ chia, trò chuyện Đúng như Nguyễn Duy tâm sự: anh luôn cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống, mắc nợ những đồng đội Các cảm giác đáng quí cũng là cái ý thức trách nhiệm ấy đã thôi thúc anh, nâng giúp anh viết ngày một nhiều, ngày một hay hơn về những người chiến sĩ” Trên cơ sở đó, Lê Quang

Hưng rút ra sự hấp dẫn của tập thơ: “Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích

trước hết vì nó thực sự là một phần của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua”

Tế Hanh cũng thể hiện sự trân trọng của mình khi nhận xét về tập thơ

Ánh trăng của Nguyễn Duy Trong bài “Hoa trên đá và Ánh trăng” đăng

trên báo Văn nghệ số 15/1986, ông viết: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta

Trang 14

thấy anh là một người lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất” [40, tr.3] Dù mỗi người

nhìn nhận, đánh giá tập thơ này ở những góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung các ý kiến trên đều thống nhất ở một điểm: cảm hứng để Nguyễn Duy viết là

từ những tâm sự và trải nghiệm của chính bản thân nhà thơ- một người lính đã từng trải qua những địa danh trận mạc cũng là những địa danh của thi ca, một công dân có trách nhiệm sâu sắc đối với cuộc đời

Trong các bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy của Hoài Thanh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thụy Kha, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Quang Sáng, Chu Văn Sơn, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Trọng Tạo, Đỗ Minh Tuấn, Phạm Thu Yến đều có khuynh hướng đi sâu tìm hiểu những nội dung cơ bản trong thơ Nguyễn Duy Các bài viết này đã khẳng định thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy ngay từ khi mới xuất hiện là những cảnh vật, sự việc, con người bình thường trong cuộc sống, gần gũi với nhà thơ và với mọi người Có thể nói, bài phê bình

sớm nhất về thơ Nguyễn Duy là “Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy” của

Hoài Thanh, đăng trên Báo Văn nghệ số 444/1972 Bài viết khẳng định: “Thơ

Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình ” Cùng ý kiến đó, Lại

Nguyên Ân trong bài “Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình” cho

rằng thơ Nguyễn Duy “nhạy cảm với cái gì ít ỏi, còm nhom, queo quắt, cộc

cằn, đơn lẻ” [2, tr.11] Trong bài “Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy”, in

trong phụ lục tập thơ Mẹ và em, Nguyễn Quang Sáng nêu ý kiến: “Ngoài mảng

thơ về đề tài chiến trận, thơ Nguyễn Duy chủ yếu dành cho những đề tài muôn thuở: tình yêu, con người và đất nước quê hương Trong thơ Duy có hầu hết

Trang 15

gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [60, tr.91] Cũng

bình về những đặc điểm này Vũ Văn Sỹ có những nhận xét khá tinh tế:

“Nguyễn Duy thường nắm bắt những cái mong manh nhưng vững chắc trong

đời: chút rưng rưng của ánh trăng, một tiếng tắc kè lạc về giữa phố, một dấu chân cua lấm tấm ruộng bùn, một kỉ niệm chập chờn nguồn cội, một mùi thơm của huệ trắng trong đền, thoáng hư thực giữa người và tiên phật Và rồi hồn thơ Nguyễn Duy neo đậu được ở đó” [63, tr.69] Sau khi nêu những cảm nhận

chung, Vũ Văn Sỹ đã mượn ngay câu thơ của Nguyễn Duy để kết luận về cảm

hứng chủ đạo trong thơ ông: “Nguyễn Duy- người thương mến đến tận cùng

chân thật” [64;tr 124] Và nếu như Nguyễn Đức Thọ chỉ chú ý một khía cạnh

trong thơ Nguyễn Duy: “Có lẽ sau cụ Tú Xương, tôi chưa thấy ai ca ngợi vợ tài

như Nguyễn Duy” thì Nguyễn Quang Sáng, một người bạn thân thiết với

Nguyễn Duy, nêu nhận xét cụ thể hơn: “Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất

nước mình bằng tình cảm rất cụ thể với người dân Thơ Nguyễn Duy có niềm

tự hào chính đáng về nhân dân mình, cùng với nỗi buồn thương chính đáng”

[60, tr.97] Còn nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đưa ra một nhận xét có ý

nghĩa khái quát: “Bao dung nên giàu có”

Nhìn chung các ý kiến đánh giá trên đã chỉ ra được nét riêng và độc đáo của thơ Nguyễn Duy là thường cảm xúc, suy nghĩ về những điều bình dị, cụ thể của đời thường Đặc điểm này thể hiện trong thơ ông như một mạch thống nhất, xuyên suốt cả trong hoàn cảnh chiến tranh và hòa bình

Cùng tìm hiểu về nội dung thơ Nguyễn Duy, năm 2008, trong luận văn

tốt nghiệp, sinh viên Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Cái tôi nội cảm tìm về

cội nguồn trong thơ trữ tình Nguyễn Duy” đã đi sâu làm rõ một trong những

khía cạnh nổi bật của thơ trữ tình Nguyễn Duy: cảm xúc về quê hương xứ sở, điệu hồn của dân tộc, về đạo đức truyền thống và những giá trị thiêng liêng cùng nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình

Trang 16

Phương diện được các tác giả quan tâm nhiều nhất và có ý kiến tương

đối thống nhất là thể loại Bài “Tre Việt Nam” được nhiều nhà phê bình phân

tích, đánh giá; có thể xem đây là một trong những bài thơ lục bát tiêu biểu của

Nguyễn Duy Văn Giá trong “Một lục bát về tre” nhận xét: “Lựa chọn thể thơ

6-8, một thể thơ thuần chất Việt Nam, tác giả xử lý thật nhuần nhuyễn, trôi chảy, trau chuốt, không non ép, gượng gạo, vấp váp một chỗ nào Trong toàn

bộ sáng tác của nhà thơ, phần các bài viết theo thể lục bát không phải là nhiều nhất nhưng anh vẫn được coi là một trong những nhà thơ hiện đại viết lục bát thành công nhất Với tất cả những gì đạt được, anh đã góp phần đem lại một sắc điệu hiện đại cho thể thơ lục bát của dân tộc” Và chính Nguyễn

Duy, khi trả lời phỏng vấn trên báo Đại đoàn kết đã bộc bạch: “Những bài

thơ lục bát là phần quý giá nhất của mình” Lê Quang Trang khẳng định

“Anh vốn là người sở trường về sử dụng thơ lục bát” Nguyễn Quang Sáng cũng cùng ý kiến đó khi cho rằng: “Nguyễn Duy vốn có ưu thế và trội hẳn lên

trong thể thơ lục bát” Nguyễn Thụy Kha: “Sẵn cái chất hóm hỉnh, dân dã, sâu sắc hơi chua cay chút chút, Duy quả là thiện nghệ trong cái trò “6&8” này” Và nếu năm 1986, Lại Nguyên Ân còn e dè khi cho rằng: “Ngay cả những bài lục bát, ta cũng thấy có cái gì bên trong như muốn cãi lại vẻ êm nhẹ mượt mà vốn có của câu hát ru truyền thống” [2, tr.11] thì đến năm 1999,

Vũ Văn Sỹ đã mạnh mẽ khẳng định: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để

thuần hoá chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hoá, “cựa quậy” Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình” [63,tr.74]

Nhà thơ Trần Đăng Khoa trong lời giới thiệu in ở đầu tập thơ “Nguyễn Duy-

thơ với tuổi thơ” cũng đã chỉ ra sự đổi mới cách tân của Nguyễn Duy khi sử

dụng thể thơ dân tộc: “Lục bát của Nguyễn Duy rất hiện đại Câu thơ vừa

phóng túng ngang tàng lại vừa uyển chuyển, chặt chẽ với một bút pháp khá

Trang 17

điêu luyện Nguyễn Duy là người có công trong việc làm mới thể thơ truyền

thống này” [48;tr 63] Nguyễn Thị Thúy Hằng trong luận văn tốt nghiệp đại

học năm 1999, với đề tài “Thơ lục bát của Nguyễn Duy” đã khảo sát câu lục

bát trong ca dao truyền thống và thơ lục bát của Nguyễn Duy Từ đó, chỉ ra sự

kế thừa những đặc điểm của ca dao và thơ truyền thống trong câu thơ Nguyễn Duy, nêu một vài điểm đổi mới trong thơ ông như: Quan niệm về thế giới và con người, hình thức trình bày thơ, cấu tứ và kết cấu ở một bài thơ lục bát Có thể thấy, mỗi tác giả đánh giá thơ lục bát của Nguyễn Duy ở một khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung các ý kiến này đều thống nhất cho rằng thơ lục bát Nguyễn Duy thực sự có vị trí cao trong các sáng tác lục bát đương thời

Ngôn ngữ là một yếu tố rất quan trọng trong thơ Nguyễn Duy cũng

được quan tâm nghiên cứu Nguyễn Quang Sáng cho “Thơ Nguyễn Duy đượm

tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian [49; tr.96] Phạm Thu Yến

lại có ý kiến khác: thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp giữa “ngôn ngữ đời thường”

và ngôn ngữ “đậm màu sắc hiện đại” Còn với Vương Trí Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ lạ”

Hồ Văn Hải là một người rất quan tâm nghiên cứu thơ Nguyễn Duy Tác giả đã có nhiều bài viết về từ láy nói chung cũng như từ láy trong thơ Nguyễn Duy nói riêng Nói về sáng tạo trong lục bát của Nguyễn Duy, Hồ

Văn Hải khẳng định: “Sáng tạo từ láy là điểm nổi bật nhất trong lục bát

Nguyễn Duy” [33, tr.6 ]

Bên cạnh thể loại, ngôn ngữ thì giọng điệu trong thơ nguyễn Duy cũng

được cũng được các nhà nhiên cứu quan tâm Khi bình bài “Tre Việt Nam”,

GS.Lê Trí Viễn cho rằng: “Giọng điệu bài thơ là kể chuyện như kể chuyện cổ

tích” Năm 1986, trong bài viết “Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình”, Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân giọng điệu trong thơ

Nguyễn Duy: “Thật ra thơ Nguyễn Duy nhìn chung vẫn nằm trong điệu trữ

Trang 18

tình Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang ngạnh và ương bướng” Với Lại Nguyên Ân, giọng điệu đó làm cho

thơ tình “bớt đi cái tha thiết héo ruột héo gan vốn thường có ở những khí

chất yếu, những tâm trạng u sầu lối cũ” “tăng thêm cái khoẻ khoắn mạnh

mẽ vốn là đặc điểm của con người thời nay” [2, tr.11] Ngô Thị Kim Cúc

khi đọc tập thơ “Bụi” của Nguyễn Duy đã nhận xét: “Từ bài đầu đến bài

cuối hầu hết vẫn giống nhau ở một cách viết, vẫn cái giọng cà tửng cà khịa khiến người ta lúc đầu bật cười rồi sau đó thấm thêm một tí lại trào nước mắt” Phạm Thu Yến thì cho rằng: khuynh hướng hài hước, trào lộng là một trong những biểu hiện của thi pháp ca dao và đã nhẹ nhàng phê bình Nguyễn Duy đôi khi “quá đà”, khiến người đọc phải “ái ngại”

Trong các bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy thì bài viết

“Nguyễn Duy - thi sĩ thảo dân” của Chu Văn Sơn là một bài viết công phu,

cung cấp cho người đọc một cái nhìn tương đối rõ về con đường sáng tác của Nguyễn Duy Ông gọi thế giới thơ Nguyễn Duy là “cõi chúng sinh thì hiện

tại”: binh lửa và bụi bặm, bùn nước và gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn

phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa”; nhân vật là

“thập loại chúng sinh”, là bà, mẹ, cha,vợ, con đặc biệt là những con người không may mắn xuất hiện trong đời sống như “chú bé đi bụi khoèo mái hiên

lắng nghe pháo tết, em điếm ế đón giao thừa gốc cây, bà bới rác nằm co ro gầm cầu ” Từ đó ông biện giải “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân”, chỉ ra bản

chất “thảo dân” ấy ở cảm hứng sáng tác, ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ lục bát của Nguyễn Duy

Như vậy điểm lại các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy chưa

có công trình nào nghiên cứu từ láy trong thơ nguyễn Duy một cách có hệ

thống Vì vậy chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn Duy

làm đối tượng nghiên cứu

Trang 19

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm của từ láy trong thơ Nguyễn Duy Đặc điểm của từ láy được tìm hiểu ở cả hai mặt cấu tạo và ngữ nghĩa

Phạm vi nghiên cứu là tất cả các bài thơ của Nguyễn Duy được in trong

quyển Tuyển tập thơ Nguyễn Duy Như vậy tư liệu để chúng tôi khảo sát là cuốn Tuyển tập thơ Nguyễn Duy

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có các nhiệm vụ:

- Giới thuyết một số vấn đề chung liên quan đến đề tài

- Thống kê, phân loại từ láy trong thơ nguyễn Duy

- Phân tích đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn Duy ở cả hai mặt cấu tạo

và ngữ nghĩa

- Rút ra những đặc trưng phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy qua lớp từ láy

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp

và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Thống kê - phân loại

- Phân tích - tổng hợp

- So sánh đối chiếu

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống lớp từ láy trong thơ Nguyễn Duy Từ láy được nghiên cứu ở cả hai mặt cấu tạo và ngữ nghĩa Các kết quả nghiên cứu là cơ sở để khẳng định phong cách thơ Nguyễn Duy và vị trí của ông trong vườn văn học muôn hương sắc của dân tộc Đề tài góp phần khẳng định giá trị nghệ thuật của lớp từ láy trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam

Trang 20

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ láy trong thơ Nguyễn Duy

Trang 21

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Từ láy trong tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm

Tiếng Việt có hai phương thức cấu tạo từ quan trọng: phương thức ghép và phương thức láy Sử dụng phương thức láy để tạo ra từ láy, lớp từ

này được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: từ lắp láy (Hồ Lê - 1976), từ

lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ, 1970), từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn, 1975;

Nguyễn Văn Tu - 1976), từ láy (Hoàng Tuệ - 1978; Đào Thản - 1970; Hoàng

Văn Hành - 1979, 1985; Nguyễn Thiện Giáp - 1985; Đỗ Hữu Châu - 1981,

1986; Diệp Quang Ban - 1989, Đỗ Thị Kim Liên -2002) v.v…

Theo tác giả Hoàng Văn Hoành: “Từ láy là những từ được cấu tạo

bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa.” [42,tr33]

Đỗ Hữu Châu cho: Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức

láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo qui tắc biến thanh tức là qui tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm cao và thấp) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa [10,tr40]

Đỗ Thị Kim Liên cho: Từ láy là những từ được cấu tạo dựa trên

phương thức láy ngữ âm

Trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Lê Văn Lý viết: "Láy là

những từ ngữ đơn được lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành phần của chúng” [52;tr 34]

Trang 22

Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại xếp từ láy vào một tiểu nhóm của từ ghép (gọi là từ ghép láy) “Từ ghép láy là những từ

ghép gồm hai hình vị kết hợp với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm Các thành tố của từ ghép láy có mối quan hệ tương quan với nhau về thanh điệu hoặc về các bộ phận ngữ âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ngữ nghĩa nhất định” [58; tr23]

Trong bài Nhìn nhận lại hiện tượng láy trong tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà đã định nghĩa: “Từ láy là kiểu từ phức có sự hào phối âm thanh (bao gồm phụ âm, nguyên âm và thanh điệu) theo quy luật giữa các tiếng tạo

thành Từ láy gồm có từ láy âm và từ láy vần Từ láy âm là từ láy có âm đầu được lặp lại và các nguyên âm khác phải có cùng độ mở Từ láy vần có phụ

âm đầu khác nhau và phần vần được lặp lại.” [32;tr8]

1.1.2 Phân loại từ láy

Có nhiều tiêu chí phân loại từ láy, nhưng nhìn chung khi phân loại từ láy, các nhà Việt ngữ học dựa vào hai căn cứ chủ yếu là cấu tạo và ý nghĩa

1.1.2.1 Dựa vào cấu tạo

Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã phân loại từ láy dựa

trên 3 phương diện: bậc láy, số lượng tiếng trong từ láy và kiểu láy, hay cơ chế láy Còn theo tác giả Đào Thản, từ láy xét về cấu tạo gồm 2 loại: từ láy hoàn toàn (các âm tiết giống nhau về cả âm đầu, phần vần và thanh điệu), từ láy gần hoàn toàn (gồm nhóm biến thanh và biến vần) Nói chung xét về cấu tạo thì các tác giả đều dựa vào phương thức láy và bộ phận được láy Sau đây chúng tôi xin trình bày tiêu chí phân loại từ láy dựa vào cấu tạo

a Căn cứ vào phương thức láy

Theo phương thức láy tức là căn cứ vào số lượng âm tiết, hay số lần

láy Căn cứ vào số lượng âm tiết của từ láy, có thể chia từ láy thành 2 loại:

Trang 23

- Từ láy bậc I (láy đôi) là các từ láy có 2 tiếng Trong cấu tạo của từ láy bậc I, tiếng gốc được nhân đôi 1 lần sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hoà phối ngữ âm thể hiện quy tắc điệp và đối

Ví dụ: loảng xoảng, chầm chậm, sừng sững, ngai ngái, dìu dịu, dửng

dưng, rờn rợn,…

- Từ láy bậc II (láy ba, láy tư ) là các từ láy gồm từ 3,4 tiếng trở lên Trong cấu tạo của từ láy bậc II, tiếng gốc được nhân đôi 2 lần trở lên sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hoà phối ngữ âm thể hiện quy tắc điệp

và đối.Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu Từ láy ba là kết quả của hai bước nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc điệp và đối Có thể chia ra làm các loại nhỏ hơn theo quy tắc điệp phụ âm đầu, đối khuôn vần, nhờ chuyển đổi phụ âm cuối và thanh điệu

Ví dụ: Xỉnh xình xinh, toác toàng toang, phấp pha phấp phới, thất tha

thất thểu…

b Căn cứ vào mức độ láy:

Có thể chia từ láy ra 2 kiểu: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận

b1.Từ láy hoàn toàn

Từ láy hoàn toàn là loại từ láy trong cấu tạo của nó, tiếng gốc được lặp lại toàn bộ ở tiếng láy Trong từ láy hoàn toàn chia ra 3 trường hợp:

- Trường hợp láy toàn bộ âm và giữ nguyên thanh điệu (nguyên khối)

Ví dụ: đùng đùng, đoàng đoàng, xanh xanh, xa xa, tà tà, hao hao,

gườm gườm, xinh xinh, rào rào

Từ láy hoàn toàn các thành tố giống hệt nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và độ kéo dài đối với mỗi thành tố Trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ láy Tuy nhiên láy

Trang 24

không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn, mà lặp lại âm thanh có sự biến đổi theo quy tắc hoà phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa Điều này thể hiện ở trường hợp từ láy hoàn toàn sau:

- Trường hợp láy toàn bộ âm và thanh điệu biến đổi (đối thanh) Loại từ láy này điệp phụ âm đầu và khuôn vần, thanh điệu được chuyển đổi để tạo thế đối Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở phụ âm đầu nên có thể xẩy ra hiện tượng biến thanh theo quy tắc chặt chẽ Nguyên tắc đối thanh điệu ở đây là: Thanh bằng đối thanh trắc, thanh bằng gồm có thanh ngang, thanh huyền; thanh trắc gồm có thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng; Đối âm vực cao với âm vực thấp theo quy tắc cùng âm vực, thuộc âm vực cao có thanh không dấu (thanh ngang), hỏi, sắc; thuộc âm vực thấp có thanh huyền, ngã, nặng Và bằng trước, trắc đứng sau

Theo quy luật hài thanh nhằm tạo nên sự trôi chảy, êm ái khi kết hợp các âm tiết theo phương thức láy, hai tiếng có thể láy được với nhau khi một tiếng mang dấu ngang phải đi liền trước hoặc liền sau một tiếng mang dấu sắc hoặc dấu hỏi Ngược lại, khi một tiếng mang dấu huyền thì tiếng kết hợp theo phương thức láy còn lại phải mang dấu nặng hoặc dấu ngã

Ví dụ: vẩn vơ, chói chang, thấp thỏm, buồn bã, lẳng lơ, nhẹ nhàng, gần

gũi, tim tím, mơn mởn, lành lạnh, đằng đẵng, phảng phất, ầm ĩ,…

Tuy nhiên, có một số ngoại lệ như: loang loãng, khít khịt, tất tật, sát

sạt, dửng dưng, cuống cuồng, ngoan ngoãn, tan tành

Trang 25

- Từ láy hoàn toàn đối vần là điệp phụ âm đầu và đối khuôn vần nhờ sự biến dạng theo quy tắc chuyển đổi chính âm hoặc phụ âm cuối

+ Theo quy tắc chuyển đổi chính âm

Trong tiếng Việt, hai loại nguyên âm chính là nguyên âm đơn (a, ă, â,

o, ô, ơ, u, ư, e, ê, i/y) và nguyên âm phức (ia (iê), ưa (ươ), ua (uô)) Từ láy

phần vần chủ yếu được kết hợp bởi các tiếng có cùng độ mở, theo sự phân loại sau:

 Nguyên âm rộng: e, a, o

 Nguyên âm vừa: ê, ơ, ô

 Nguyên âm hẹp: i, ư, u

 Nguyên âm hẹp mở qua vừa: iê, ươ, uô

Ví dụ: thủ thỉ, đủng đỉnh, ngô nghê, xồ xề, ngông nghênh, thỏ thẻ, ngo

ngoe, đù đừ, tung tăng,

+ Theo quy tắc chuyển đổi phụ âm cuối

Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng khác nhau về âm cuối Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên có thể xảy ra hiện tượng biến vần theo quy luật chặt chẽ: Các phụ âm tắc vô thanh - p, -t, - k sẽ chuyển thành các phụ

âm vang mũi cùng cặp -m, -n,- ŋ

Bộ vi cấu âm

Đầu lưỡi - răng

Gốc lưỡi - Ngạc mềm

Trang 26

ŋ - k: chênh chếch, thinh thích, đành đạch, bàng bạc,anh ách, phăng

b2 Từ láy bộ phận

Từ láy bộ phận là loại từ láy trong cấu tạo của từ tiếng gốc chỉ được lặp lại một phần ở tiếng láy Phần lặp lại giữa các tiếng nếu là phần khuôn vần thì được gọi là từ láy phần vần Phần lặp lại giữa các tiếng nếu là phụ âm đầu thì được gọi là từ láy phụ âm đầu

- Từ láy vần: Với từ láy phần vần, phụ âm đầu có sự kết hợp đa dạng với

các phụ âm khác, ví dụ trong thơ Nguyễn Duy, phụ âm “l” có thể được kết hợp

với các phụ âm khác liền trước hoặc liền sau để tạo thành từ láy bộ phận:

l/th: lếch thếch, lôi thôi, lẩn thẩn, tu hú, lòng thòng, loáng thoáng,

lướt thướt,lang thang, lững thững,,lòng thòng, lê thê, lõng thõng, lần thần,…

l/c: lập cập, lũn cũn, lởm chởm,…

l/b: lốp bốp, long bong, lang bang, lục bục,…

l/đ: lênh đênh, lận đận, lốm đốm, lảo đảo, la đà, lộp độp, lờ đờ, lao đao,…

l/t: lấm tấm, lăn tăn, li ti, loang toàng, lèo tèo,…

l/nh: lóc nhóc, lúc nhúc, lếch nhếch, làng nhàng, lằng nhằng, láo

nháo, lổn nhổn,…

l/v: lảng vảng, lởn vởn,…

l/q: loạng quạng, loanh quanh,…

l/ph: lún phún, lơ phơ, léng phéng, liêu phiêu, lênh phênh, lềnh phềnh,…

Trang 27

l/kh: lỏng khỏng, lòng khòng, lởm khởm, leo khoeo,…

l/m: lơ mơ,lờ mờ,…

l/x: liêu xiêu, lọc xọc, lao xao, loảng xoảng, lò xo, lạo xạo, lô xô,

loay xoay, lộn xộn, lăng xăng,…

l/k: lép kẹp, lỉnh kỉnh,…

l/ng: loằng ngoằng, lóp ngóp, lóng ngóng, lơ ngơ, lông ngông, lổm ngổm,…

l/r: lai rai, líu ríu,…

l/b: lép bép

l/kh: lom khom

th/l: thiêng liêng, thình lình, thùi lùi,…

kh/l: khét lẹt

- Từ láy phụ âm đầu: Với từ láy phụ âm đầu, sự thay đổi khuôn vần khá

da dạng, đảm bảo quy luật vừa điệp vừa đối trong cấu tạo từ

+ Đối xứng âm chính theo đặc điểm cấu âm của từng cặp nguyên âm

Ví dụ:

Đối xứng u/i: cũ kĩ, xù xỡ, hú hí, khúc khích, thin thít, mũm mĩm…

Đối xứng ô/ê: xồ xề, hổn hển, ngô nghê, xộc xệch,…

Đối xứng o/e: thũm thèm, mon men, móm mém, vo ve, ho he,…

Đối xứng u/ơ: vu vơ, mù mờ, nhu nhơ,…

Đối xứng ê/a: kề cà, lê la, kềnh càng, khề khà, lênh láng,…

Đối xứng i/a: hỉ hả, xí xóa, hí hoáy, rỉ rả…

Đối xứng u/ă: tung tăng, hung hăng, vùng vằng, thủng thẳng…

+ Đối xứng âm cuối theo đặc điểm cấu âm của từng cặp phụ âm cuối

Ví dụ:

Đối xứng m/p: nườm nượp, nơm nớp, chằm chặp, hầm hập,…

Đối xứng n/t: ngùn ngụt, thơn thớt, xoen xoét,…

Trang 28

* Các tiếng cùng mang thanh bổng: lủng lẳng, phá phách, hấp tấp, lẩn

thẩn, gây gỗ, nhúc nhích, ngơ ngáo,…

* Các tiếng mang thanh trầm: nũng nịu, nhộn nhịp, lẩn thẩn, lũng

thũng, chần chừ, ngậm ngùi

1.1.2.2 Dựa vào ngữ nghĩa

Căn cứ vào đặc điểm của hình thái biểu trưng hóa ngữ âm của từ láy, ta có:

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản là từ láy mô phỏng trực tiếp, tương tự với âm thanh của tự nhiên Lớp từ này có giá trị biểu cảm và khả năng gợi tả cao, góp phần tái hiện sự vật trở nên sống động hơn Bên cạnh mô phỏng âm thanh của tiếng nói, tiếng cười, lớp từ láy này còn cho thấy độ mở của khuôn miệng, qua đó có thể nắm bắt thái độ của đối tượng được nhắc đến Lớp từ này còn có chức năng gọi tên sự vật dựa trên sự mô phỏng âm thanh tự nhiên Từ tượng thanh nằm trong lớp từ này

Ví dụ: ầm ầm, rào rào, gâu gâu, róc rách,

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu là từ láy biểu thị sự vật hoặc thuộc tính của sự vật, không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, không có

cơ sở chắc chắn từ nghĩa bộ phận để chứng minh nghĩa của toàn bộ từ

Ví dụ: buâng khuâng, đủng đỉnh, thình lình, linh tinh…

+ Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa

Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa là từ láy bộ phận có sự hòa phối ngữ âm nhằm tạo nghĩa và mang sắc thái biểu

Trang 29

cảm, tượng trưng cao độ cho sự vật Hòa phối ngữ âm là sự kết hợp hài hòa giữa thành phần của một từ với một từ khác để tạo thành sự cân đối nhịp nhàng Hòa phối ngữ âm giữa hai thành phần của một từ kép gọi là từ láy

Ví dụ: vui vẻ, xinh xắn, khô khan, đẹp đẽ

1.1.3 Đặc điểm của từ láy

1.1.3.1 Đặc điểm về cấu tạo ngữ âm

Xét về mặt cấu tạo, từ láy trong tiếng Việt chịu sự chi phối bởi sự hòa phối ngữ âm theo quy tắc điệp đối Bên cạnh bộ phận từ láy có các tiếng hoàn toàn giống nhau về âm thanh còn một bộ phận từ láy có sự biến đổi âm thanh,

cụ thể là về thanh điệu hoặc các trường hợp ngoại lệ do được cấu tạo từ một

âm tắc vô thanh, nhằm tạo nên sự hài hòa về âm và nghĩa giữa tiếng gốc và tiếng láy

1.1.3.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa

Nhìn một cách bao quát, đặc trưng chung về nghĩa của từ láy được hình thành từ nghĩa của hình vị gốc theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cường hay giảm nhẹ, tổng hợp hay chuyên biệt hóa Nghĩa của từ láy khác nghĩa của hình vị gốc ở các mức độ:

- Nghĩa của từ láy biểu thị mức độ mạnh hơn so với hình vị gốc

- Nghĩa của từ láy biểu thị mức độ giảm nhẹ hơn so với hình vị gốc

- Nghĩa của từ láy có tính khái quát tổng hợp hơn so với hình vị gốc

- Nghĩa của từ láy có tính thu hẹp phạm vi hơn so với hình vị gốc Ngoài ra có những từ láy giữa các tiếng không xác định được đâu là

hình vị gốc như bâng khuâng, đỏng đảnh, thẻ thọt

Ngoài những đặc trưng chung này, đi vào cụ thể từng nhóm thì phần vần trong từ láy cũng có khả năng biểu hiện một nét nghĩa nào đó Chẳng hạn

như các từ láy mà hình vị láy ở sau có vần ăn thường diễn tả một tính chất đạt chuẩn mực, ví dụ: đầy đặn, tròn trặn, thẳng thắn, ngay ngắn, vuông vắn…

Trang 30

Về giá trị biểu trưng của khuôn vần và phụ âm đầu, trong tạp chí Ngôn ngữ

số 3 năm 1985, Võ Bình đã có nhận xét: “với ấp - ênh (trong bấp bênh, gập

ghềnh, khấp khểnh) ta thấy sự diễn tả cái gì không bằng phẳng, không đều đặn, không ổn định, với l -kh (trong lù khù, lờ khờ, lừng khừng, lụ khụ) ta thấy diễn tả cái gì chậm chạp và không dứt khoát, với ắn (trong vuông vắn, ngay ngắn, tươi tắn, đứng đắn) ta thấy diễn tả cái gì đạt đến tính chất mẫu mực.” [6; tr55]

1.2 Thơ và ngôn ngữ thơ

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của thơ

Có hàng trăm định nghĩa khác nhau về thơ Trong Từ điển văn học,

Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Thơ là hình thức sáng tác phản ánh cuộc sống

qua những tâm trang, những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu rõ ràng”

[54,tr169] Trong Giáo trình Lý luận văn học, tác giả Lê Tiến Dũng quan niệm: “Thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc

thông qua một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt” [18,tr170]

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu Trong lịch sử, để khẳng định mối quan hệ thơ ca với cuộc sống, có

lần Biêlinxki nêu câu hỏi: “Thơ là gì?” và ông trả lời: “Thơ là sự sống, là cái

mỉm cười của sự sống đang reo vui và thoăn thoắt biến hóa… thơ là ánh tươi hồng trên môi thiếu nữ, là tiếng cười hiền lành, trong trẻo của trẻ thơ… ”

Nhưng ở chỗ khác, khi đánh giá Puskin thì Biêlinxki lại nói: “Thơ là nghệ thuật,

là tài nghệ, là sáng tạo có tính chất nghệ sĩ, nghĩa là rút cuộc thơ phải được sáng tạo trong ngôn từ Cuộc sống tự nó tuy đẹp nhưng chưa phải là thơ ca.”

Có thể chia thơ thành 2 loại: thơ tự sự và thơ trữ tình

Thơ trữ tình bộc lộ tình cảm thông qua chủ thể trữ tình (nhân vật trữ tình), khi ấy nhân vật trữ tình có đôi khi biểu hiện cái tôi nghệ thuật của tác

Trang 31

giả.Ngoài ra, còn có các nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng đích của những xúc cảm mà tác giả muốn gửi gắm, tâm sự.Họ là khởi nguyên cho mọi sự căng trào của tình cảm, của đam mê và nhiệt hứng nơi người viết

Thơ tự sự có cốt truyện hoàn chỉnh được diễn tiến trong không gian, thời gian nghệ thuật với sự xuất hiện của những nhân vật, sự kiện và phản ánh đời sống thông qua suy nghĩ, tình cảm của nhân vật, sự kiện Người đọc quan tâm và cảm nhận nhiều đến cảm xúc của nhân vật hơn nội dung và diễn biến của câu chuyện được kể Cảm xúc trong thơ muốn chạm đến trái tim của đọc giả, khiến họ rung động và thổn thức chỉ khi cảm xúc ấy được phát xuất từ một trái tim đồng điệu đang tràn đầy nhiệt hứng khi đã và đang cố nén chặt, phải là những nỗi niềm riêng mang tính nhân văn, là khát khao, là động lực thúc đẩy con người hành động để vươn tới mục tiêu Cảm xúc trong thơ không phải là thứ cảm xúc mang tính khách quan như trong văn xuôi mà tùy thuộc vào cái chủ quan chủ chủ thể trữ tình và của đối tượng tiếp nhận, trong từng hoàn cảnh tâm trạng cụ thể Chẳng thế mà Hoài Thành đã từng viết:

“Thích một bài thơ là thích một con người đồng điệu”

Đặc trưng của thơ về mặt nội dung gồm 4 ý chính Thứ nhất, thơ là sự bộc lộ tình cảm một cách mãnh liệt đã được chủ thể trữ tình ý thức Tình cảm

trong thơ bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, “thơ chỉ bật ra trong tim ta khi

cuộc sống đã tràn đầy” (Tố Hữu) Tình cảm trong thơ là tình cảm mạnh mẽ,

đó có thể là sự giày vò của nội tâm, sự phản tỉnh của ý thức hay sự rung động

tế vi của tâm hồn Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những hoàn cảnh, sự kiện làm chấn động tâm hồn nhà thơ Tình cảm trong thơ là tình cảm siêu thăng, soi chiếu dưới lý tưởng thời đại: tình cảm lớn, tốt đẹp, cao thượng, thấm nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa Thứ hai, thơ - nghệ thuật của trí tưởng tượng, thơ xây dựng hình tượng của bản thân dòng ý thức, cảm xúc đang diễn ra.Tưởng tượng khi ấy chủ yếu là liên tưởng; huyễn tưởng Liên tưởng là từ

Trang 32

việc này nghĩ đến việc khác Khi liên tưởng, nhà thơ sẽ vận dụng linh hoạt các biên pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản… để thể hiện nội dung Huyễn tưởng là mượn giấc mơ, ảo giác để thể hiện cảm xúc, đó là cách để tác giả vượt thoát khỏi thực tại trong hiện thực, dùng trực cảm và lý tưởng để hiện thực khát khao của riêng mình Đặc trưng thứ ba về nội dung là tính cá thể hóa tình cảm trong thơ Thơ bao giờ cũng biểu hiện cái tôi tác giả của nó,

dù tác giả có ý thức hay không.Cái tôi trong thơ và cái tôi thường thống nhất nhưng không đồng nhất.Cảm xúc trong thơ không chỉ là cảm xúc cá nhân, mà

là cảm xúc của một lớp người, của một thế hệ, của một thời đại, của một xã hội Để tạo nên được phong cách riêng, nhà thơ trước hết phải có vốn từ phong phú, kế đến là khả năng gạn lọc, chưng cất, lựa chọn, sắp xếp, vận dụng các con chữ và đặt để chúng vào đúng vị trí khi sáng tác Một người viết bình thường chỉ có thể trở thành nhà thơ khi họ biết sử dụng đúng lúc, đúng chữ vốn từ của mình một cách hiệu quả.Đặc trưng cuối cùng về mặt nội dung

thơ là chất thơ trong thơ, chất thơ nằm ở ý ngoài lời.“Thơ là ý tại ngôn

ngoại” “Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ Nếu người ta lắng nghe cái

im lặng đó, thì có những tiếng dội rất đa dạng và tinh tế” (Tố Hữu) Cảm xúc

khi ấy như những lát cắt nhanh, mỏng không miêu tả một cách trọn vẹn mà chỉ ánh lên một cung bậc rung cảm mãnh liệt nhất có thể có khả năng bao quát trạng thái cảm xúc và tình cảm của chủ thể trữ tình

Về mặt hình thức, thơ mang tính họa, thơ biểu hiện bằng biểu tượng, ý tượng.Thơ biểu hiện bằng những hình ảnh mang nghĩa, bằng những ý tượng, hình ảnh ngụ ý Biểu tượng trong thơ không liên tục, có nhiều khoảng trắng

để người đọc suy nghiệm, nhờ đó, cảm xúc trong thơ có khả năng lan tỏa và gợi mở Biểu tượng giúp người nghệ sĩ nắm bắt trực tiếp các cảm xúc, ý niệm; không cần phải kể lể dông dài, đảm bảo tính hàm súc.Thật vây, mỗi loại thơ khác nhau sẽ có những biểu tượng khác nhau và các biểu tượng này không lặp

Trang 33

lại ở những nhà thơ khác nhau.Chính điều này đã tạo nên đặc trưng riêng cho từng thể loại và phong cách riêng cho mỗi nhà thơ

1.2.2 Ngôn ngữ thơ

Ấn tượng thẩm mỹ của một tác phẩm được tạo nên trước hết nhờ lớp ngôn từ.Ngôn ngữ là vỏ bọc của tư duy, bởi thế khi nhà thơ biết phối hợp giữa cảm xúc và sử dụng hợp lý ngôn từ thì giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ sẽ đạt đến mức tối đa.Ngôn từ trong thơ có cấu tạo đặc biệt, đó là ngôn từ

có nhịp điệu, thể hiện ở việc ngắt dòng thơ.Thi tứ và nhịp điệu thơ đan cài chặt chẽ trong nhau.Thơ là tiếng lòng, nhịp điệu của thơ cũng chính là cung bậc của cảm xúc.Bởi thế, nhịp thơ, tiết tấu thơ thường mềm mai, uyển chuyển, lúc tha thiết du dương, lúc cuộn trào căng thẳng.Thơ là tiếng nói của cảm xúc, thơ giàu nhạc điệu khi và chỉ khi nhà thơ có một đời sống nội tâm phong phú, nhạy cảm và tinh tế trước những biến chuyển, đổi dời của thế

thời.Charles Hartman khẳng định: "Nhịp điệu đóng góp toàn bộ ý nghĩa của

bài thơ và phép làm thơ là chuyển nó thành ý nghĩa".Bên cạnh đó, ngôn từ có

tính nhảy vọt, gián đoạn, để tạo nhiều tầng nghĩa Khi đó, ý tưởng giữa các dòng thơ không theo mạch logic, mà đứt đoạn theo mạch tình cảm Thơ tìm tòi tiết tấu,hướng tới sự gián đoạn trong chuỗi ngữ lưu liên tục Theo Denida

Levertop: " việc chia thơ ra thành dòng chính là một sự bắt đầu cần thiết cho

toàn bộ đời sống của nó" Việc phân tách các dòng thơ không nhất thiết phải

dựa trên mạch ngưng nghỉ của cảm xúc mà còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức, vần, nhịp trong thơ Ý nghĩa của một bài thơ có khi không hiện diện trên bề mặt câu chữ mà ẩn tàng nơi các khoảng trống còn bỏ dở, khơi gợi quá trình đồng sáng tạo khi tiếp nhận tác phẩm từ bạn đọc, cũng từ đó làm cho ý nghĩa thơ thêm phong phú Thơ gây ấn tượng bằng việc lệch chuẩn, phá cách nhịp điệu.Ngôn từ thơ không tuyến tính mà phức hợp (đa nghĩa).Thơ phá huỷ tính chất tuyến tính của thời gian Thơ hướng về ấn tượng ban đầu, nên tìm tới các hình thức chuyển nghĩa Ngôn từ thơ dùng nhiều ẩn dụ, hoán dụ, tỉnh

Trang 34

lược ngôn ngữ Ngôn từ thơ có nhiều sự kết hợp bất ngờ theo nguyên tắc lạ hóa Bên cạnh tính họa, ngôn từ của thơ ca còn thơ giàu nhạc tính Nhạc tính biểu hiện ở cách phối nhịp, phối thanh, hiệp vần, cách kết hợp các âm vang, khép… Tính nhạc của thơ là tính nhạc của cảm xúc Thơ thường có vần điệu

“Vần là sự lặp lại những khuôn âm giống nhau (gọi là vần chính) hay tương

tự nhau (gọi là vần thông) giữa các câu thơ, hay trong cùng một dòng thơ”

[27,tr174] Thơ thường ngắn gọn, cảm xúc được cô nén trong một dung lượng ngôn từ có giới hạn giúp cho bài thơ không trở nên dài dòng, nhàm chán Làm được điều đó, mỗi nhà thơ phải là một nghệ sỹ ngôn từ, mà nói như nhà thơ

Lê Đạt thì trước nhất “Nhà thơ phải nhọc mệt, phải là phu chữ.” Công việc

ấy thật khó khăn và đòi hỏi mỗi nhà thơ phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo

Cũng bởi thế mà Maiakôpxki đã từng viết rằng “Lấy một chữ phải mất hàng

tấn quặng ngôn từ” Mỗi nhà thơ để có thể viết được những bài thơ hay,

những vần thơ “đắt” đã phải làm công việc khó nhọc của một nghệ nhân giàu nhiệt tâm với nghề

1.3 Tác giả Nguyễn Duy và thơ Nguyễn Duy

1.3.1 Tác giả Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại xã Đông

Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh ThanhHóa Năm 1965 làm tiểu đội trưởng dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng Năm 1966 nhập ngũ, Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu trên các chiến trường Khe Sanh, Đường Chín, Nam Lào, sau này là mặt trận phía Nam,mặt trận phía Bắc (1979).Năm 1971, ông về học Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội Ra trường, anh về làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện Báo Văn nghệ tại phía Nam

Gắn liền và tạo nên tên tuổi cho nhà thơ Nguyễn Duy là những đứa con tinh thần, những bài thơ không tuổi giàu giá trị nội dung và đặc sắc về nghệ

thuật: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông- chùm thơ đoạt giải nhất

Trang 35

cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ, Ánh trăng, Nghe tiếng tắc kè kêu trong

thành phố Các tập thơ của Nguyễn Duy đã được xuất bản gồm: Cát trắng

(1973); Ánh trăng (1978); Đãi cát tìm vàng (1987); Mẹ và em (1987); Đường

xa (1989); Quà tặng (1990); Về (1994); Bụi (1997); Thơ Nguyễn Duy (2010, tuyển tập những bài thơ tiêu biểu nhất của ông) Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký

Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007

1.3.2 Thơ Nguyễn Duy

Dựa vào nội dung của thể loại, có thể chia thơ trữ tình thành các thể loại nhỏ hơn: trữ tình tâm tình, trữ tình phong cảnh, trữ tình thế sự, trữ tình công dân Với Nguyễn Duy, ranh giới giữa các thể loại này chỉ mang tính tương đối bởi tác giả đã hòa kết nội dung và cảm xúc thơ một cách nhuần nhị, trong khi bày tỏ tâm tình hay nhắc nhớ đến sự gắn bó giữa cá nhân với tập thể, tác giả đã có chủ ý làm thức tỉnh và phơi bày hiện thực trần thế, bóc tách mọi lớp nghĩa đến tầng sâu cùng bằng một cách thức giản đơn nhất để người đọc có khả năng nắm bắt Thơ Nguyễn Duy phần nhiều mang đậm màu sắc thế sự, chất chứa nhiều suy tư, chiêm nghiệm về sự chuyển vần của nhân tình, thế thái, sự thăng trầm của thân phận và những đổi thay nơi suy nghĩ, hành động của con người trong cuộc sống mới Chu Văn Sơn, trong bài viết

Nguyễn Duy - thi sĩ thảo dân đã “phong” cho Nguyễn Duy danh hiệu “thi sĩ

thảo dân” vì lý do “từ xưa này đang được làm mới, với những sắc thái thú vị của thì hiện tại, bởi một phong cách ngôn ngữ mà Duy đương phải lòng - ngôn ngữ “cơm bụi” [61,tr 397] Ông được đánh giá là “một trong những gương mặt tiêu biểu đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mỹ” (Trần Đăng Suyền) Ngoài ra, cũng cần phải ghi nhận sự đóng góp to lớn

của Nguyễn Duy trong việc tạo nên một diện mạo mới đẹp đẽ, giàu bản sắc,

Trang 36

độc đáo, cách điệu, đầy duyên dáng cho thể thơ truyền thống của dân tộc- thể thơ lục bát

Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy là ngôn ngữ của đời sống, là lời ăn tiếng nói của tập thể nhân dân đãđượcnhà thơ chắt lọc, sắp xếp lại Nguyễn Duy là nhà thơ giàu sáng tạo và cần mẫn với nghề Ông đã chú ý tạo nên sự khác biệt một cách rất tinh tế và độc đáo qua việc kết hợp nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, trùng điệp,“thơ hóa” và “lạ hóa” ngôn ngữ đời thường Mai

Thị Thủy Tiên nhận định: “Nguyễn Duy đã giữ được ngôn ngữ thơ ở giới hạn

chênh vênh giữa các đối cực: mộc mạc và tinh tế, bỡn cợt và nghiêm túc,nhẹ nhàng và sâu cay” [79,tr 121]

1.4 Tiểu kết chương 1

Chương 1, chúng tôi đã trình bày những tiền đề lý thuyết liên quan đến

đề tài và giới thiệu về tác giả Nguyễn Duy và thơ của ông Những tiền đề lý thuyết làm cơ sở cho đề tài là những vấn đề về từ láy như khái niệm, đặc điểm

và phân loại Còn về nhà thơ Nguyễn Duy, qua cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông ta thấy Nguyễn Duy đã khẳng định được vị trí của mình trong làng thơ Việt Nam, có những đóng góp tích cực vào việc làm đa dạng, phong phú

và giàu đẹp thêm cho tiếng Việt Những khám phá, sáng tạo, lựa chọn và kết hợp ngôn từ độc đáo, đặc biệt ở bộ phận từ láy giàu tính gợi hình và biểu cảm vừa đậm chất bình dân, gần gũi với lời ăn tiếng nói của tầng lớp bình dân vừa giàu tính thời sự đã phản ánh chân xác suy nghĩ, nếp sống, ý cảm của con người trong thời đại mới Từ ngôn ngữ đến tư duy, hành trình nhọc nhằn nhằm chắt lọc những giá trị tinh túy của thơ và đời, Nguyễn Duy đã góp phần định hình nên phong cách của một nhà thơ mới tài năng, giàu nhiệt cảm

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY

2.1 Cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy

Khảo sát 283 bài thơ của Nguyễn Duy trong tập Nguyễn Duy- thơ,

chúng tôi thống kê được 685 từ láy Kết quả phân loại từ láy trong tập thơ theo hình thức cấu tạo, được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Các loại từ láy theo hình thức cấu tạo trong thơ Nguyễn Duy

Các loại từ láy Số từ láy Tỉ lệ (%) Ví dụ

2.1.1 Từ láy bậc một trong thơ Nguyễn Duy

Kết quả khảo sát cấu tạo từ láy bậc một trong thơ Nguyễn Duy được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.2 Các dạng từ láy có cấu tạo gồm hai tiếng (từ láy bậc I)

Kiểu láy Dạng láy Số từ láy Tỉ lệ (%) Ví dụ

Hoàn

toàn

Láy nguyên khối 56 52,8 Ròng ròng, run run, ào ào,

bay bay Láy đối thanh 50 47,2 Đom đóm, thăm thẳm, len

Trang 38

2.1.1.1 Láy hoàn toàn

Ở từ láy hoàn toàn, các tiếng được lặp lại toàn bộ, nhưng cũng có một

số trường hợp tiếng trước biến đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối để tạo ra sự hài hòa về âm thanh, giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo nhưng khác nhau về trọng âm

Khảo sát thơ Nguyễn Duy, chúng tôi thống kê được 661 từ láy bậc I, chiếm tỉ lệ 96,5% Dạng láy hoàn toàn chia làm hai loại: láy nguyên khối và láy đối thanh Trong đó, có 56 từ láy nguyên khối chiếm tỉ lệ 52,8%, có 50 từ láy đối thanh chiếm tỉ lệ 47,2%

a/ Láy nguyên khối

Trong loại từ láy hoàn toàn thì láy nguyên khối có tần số xuất hiện nhiều hơn loại láy đối thanh Từ láy nguyên khối trong thơ Nguyễn Duy bao

gồm các từ như: Ròng ròng, run run, ào ào, bay bay, xăm xăm, bồng bồng,

xanh xanh, đỏ đỏ, phừng phừng, lăm lăm, hoe hoe, song song, chang chang, căm căm, mãi mãi, đêm đêm, rưng rưng, vuông vuông, lớp lớp, êm êm, oa oa, vui vui, buồn buồn, ngáp ngáp, nhong nhong, vù vù, rơi rơi, thình thình, gâu gâu, nghiêng nghiêng,phơ phơ, chiều chiều, đăm đăm, tà tà, đều đều, cong cong, ầm ầm, lù lù, se se, hiu hiu, vỗ vỗ, hu hu, phì phì, trừng trừng, xèo xèo, còng còng, hây hây, ù ù, cười cười, tồ tồ, bạc bạc, xiêu xiêu, rung rung, phăm phăm, từ từ, ngà ngà…

Bạch dương ga xép buồn hun hút

buồn song song chạy suốt mấy hàng ray

gió thổi nghe như tiếng người thở dài

Ở đây, Nguyễn Duy dùng từ láy “song song” là từ láy nguyên khối để

nói về cái buồn Cách nói này rất lạ

Hay ở câu thơ sau, tác giả viết:

Se se một chút lạnh lùng

Trang 39

mình sang với bạn, sang cùng thu sang

Để gợi tả cái lạnh, Nguyễn Duy cũng dùng từ láy nguyên khối se se

Không cần tô vẽ ồn ào cái chớm thu, cái heo may xứ bắc đã ở trong câu trong

từ và trong cách cảm nhận của ai đã từng sống với mùa thu

Hay nói về nỗi niềm nhớ nhung trong xa cách, tác giả viết:

Mặt trời là trái tim anh mặt trăng vành vạnh là tình của em thức là ngày ngủ là đêm

nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa

(Bầu trời vuông, Tr 67)

Bao nhiêu nhớ thương được tác giả viết bằng một từ láy nguyên khối

nghiêng nghiêng Diễn tả trạng thái chênh vênh khi cặp đôi yêu nhau không

được sống gần nhau, Nguyễn Duy không cần nói nhiều mà người đọc vẫn cảm nhận được tình anh nghiêng về bên em còn tình em thì nghiêng về bên anh

Viết về thời tuổi thơ và nỗi tiếc nuối khi người bạn gái tuổi thơ đi lấy

chồng trong bài “Áo trắng má hồng”, tác giả cũng sử dụng từ láy nguyên khối

để gợi tả một người bạn thuở nhỏ đang dậy thì, thưởng thành

Thướt tha áo trắng nói cười

để ta thương nhớ một thời áo nâu

tóc hoe hoe cháy trên đầu

ta và bạn gái cưỡi trâu học bài

long lanh ngọn cỏ giọt sương

song song chân đất con đường xa xa

Áo trắng là áo trắng à một hôm ta thấy bạn ta thẹn thùng

Trang 40

bạn ấy đi lấy chồng Một đoạn thơ mà tác giả dùng đến bốn từ láy nguyên khối kết hợp với năm từ láy đôi để diễn tả cái nguyên sơ của tình bạn tuổi thơ

Tong bài “Tết Nam nhớ Bắc”, tác giả cũng viết:

Nắng chang chang cũng thịt mỡ dưa hành

cũng có một mùa đông trong tủ lạnh

(Tết Nam nhớ Bắc, Tr53)

Từ “chang chang” là từ láy nguyên khối có tác dụng gợi tả cái nắng

miền Nam trong dịp tết gợi cảm giác nóng bức oi nồng, từ cái nắng ấy để nhớ

để thương cái se lạnh của tết mùa đông xứ Bắc Đây là nỗi lòng vọng ngóng quê xa của những đứa con đất Bắc Từ láy nguyên khối này không chỉ có tác dụng để tả nắng mà còn có vần ang ngân vang kéo dài như nỗi nhớ mênh mang trong lòng tác giả

Như vậy, trong thơ Nguyễn Duy từ láy nguyên khối xuất hiện tương đối nhiều Trong đó từ láy nguyên khối thường dùng để tả cảnh và diễn tả tâm trạng là nhiều nhất

b/ Láy đối thanh

Từ láy đối thanh trong thơ Nguyễn Duy chiếm 47,2%, như vậy tần số xuất hiện của chúng cũng không phải là ít Qua khảo sát, từ láy đối thanh trong thơ Nguyễn Duy có đủ cả hai dạng là đối thanh bằng- thanh trắc và đối

âm vực cao - âm vực thấp

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtôt - LưuHiệp (1961), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtôt - LưuHiệp
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Nghệ thuật
Năm: 1961
2. Lại Nguyên Ân (2000), 150 từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
3. Nguyễn Nhã Bản (2004), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
4. Nguyễn Duy Bắc (1998), Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945- 1975), Nxb Văn hóa dân tộc, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945- 1975
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
5. Lê Biên (1993), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Đại học sư phạm Hà Nội I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Năm: 1993
6. Võ Bình (1985), Ở bình diện cấu tạo từ xét các kiểu hình vị tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ở bình diện cấu tạo từ xét các kiểu hình vị tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1985
7. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
9. Nguyễn Tài Cảnh (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
10. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
11. Đỗ Hữu Châu (1970), Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ trong tác phẩm nghệ thuật, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ trong tác phẩm nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1970
12. Đỗ Hữu Châu (1977), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1977
13. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Khánh Chi (1994), Với Nguyễn Duy - những bài thơ lục bát là phần quí giá nhất của mình, Báo Đại đoàn kết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với Nguyễn Duy - những bài thơ lục bát là phần quí giá nhất của mình, Báo
Tác giả: Khánh Chi
Năm: 1994
15. Mai Ngọc Chừ (1992), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1992
16. Nguyễn Duy thơ, Nxb Hội Nhà Văn, 2010 17. Nguyễn Duy 36 bài thơ, Nxb Lao động, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duy thơ", Nxb Hội Nhà Văn, 2010 17. "Nguyễn Duy 36 bài thơ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
18. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình Lý luận văn học phần Tác phẩm văn học, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận văn học phần Tác phẩm văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
19. Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ánh trăng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
20. Nguyễn Duy (1987), Đãi cát tìm vàng, NxbVăn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đãi cát tìm vàng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NxbVăn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1987
21. Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, Nxb Thanh Hóa/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ và em
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa/
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Các dạng từ láy có cấu tạo gồm hai tiếng (từ láy bậc I) - Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy
Bảng 2.2. Các dạng từ láy có cấu tạo gồm hai tiếng (từ láy bậc I) (Trang 37)
Bảng 2.1. Các loại từ láy theo hình thức cấu tạo trong thơ Nguyễn Duy - Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy
Bảng 2.1. Các loại từ láy theo hình thức cấu tạo trong thơ Nguyễn Duy (Trang 37)
Bảng 2.3. Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các phụ âm đầu - Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy
Bảng 2.3. Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các phụ âm đầu (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w