CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
3.2. Ngữ nghĩa từ láy trong thơ Nguyễn Duy
3.2.4. Từ láy biểu hiện trạng thái tình cảm của con người
Qua khảo sát, từ láy biểu hiện trạng thái tình cảm trong thơ Nguyễn Duy khá nhiều gồm những từ như: tình tứ, thẹn thùng, ngượng ngùng, nồng nàn, mộc mạc, ấm áp, nhăn nhó, chông chênh, khao khát, nâng niu, sung sướng,…
Khi dùng những từ láy để thể hiện trạng thía tình cảm thì tác giả dùng để nói con người và có cả con vật đồ vật, cây cối.
a/ Từ láy miêu tả trạng thái tình cảm của con người
Rất nhiều từ láy chỉ trạng thía tình cảm của con người được nói đến trong thơ Nguyễn Duy như: thẫn thờ, vui vui, buồn buồn, ngượng ngùng…
Nhà quê nhìn em bằng con mắt lá Mắt vui vui khúc ruột buồn buồn.
(Hoa hậu vườn nhà ta, Tr 118) Chất hài hước được thể hiện nghiêng về sự bộc lộ sự không ăn khớp giữa con mắt những người “nhà quê” và hiện thực sự đời. Vì vậy, từ hài hước đã tạo ra dòng suy nghĩ trầm tư, thương cảm qua hai từ láy từ láy “vui vui, buồn buồn”. Đó là sự hài hước giữa cái được và cái mất của thời kinh tế thị trường. Cười vì những mâu thuẫn song hành khó tồn tại, giữa hiện thực và
ước muốn, giữa khả năng và hiện thực, giữa nghiệp và nghề. Nguyễn Duy đã làm giảm sắc thái nghĩa chỉ mức độ của cảm xúc khi sử dụng những từ láy
“vui vui, buồn buồn” trong một câu thơ mang tính chất đối lập. Cách viết ấy thể hiện một kiểu kết hợp lạ.
b/ Từ láy biểu hiện trạng thái tình cảm
Qua khảo sát, từ láy biểu thị trạng thái tình cảm trong thơ nguyễn Duy tuy không xuất hiện với tần số cao như từ láy biểu thị âm thanh hay hình dáng đường nét nhưng cũng tương đối nhiều. Các từ thường được Nguyễn Duy dùng là vui vui, buồn buồn,ngơ ngác, bồn chồn,ngỡ ngàng, ngẩn ngơ,nghẹn ngào, thẩn thờ…
Nhà quê nhìn em bằng con mắt lá Mắt vui vui khúc ruột buồn buồn
(Hoa hậu vườn nhà ta)
Đây là hai câu thơ nói về cái nhìn của những người dân quê khi nhìn các cô hoa hậu. Tác giả dùng hai từ láy hoàn toàn để thể hiện tâm trạng đối lập, nhìn qua thì cũng vui mắt nhưng nghĩ cho kỹ, xét cho kỹ thì thấy buồn.
Hai từ láy hoàn toàn có nghĩa giảm nhẹ mức độ so với hình vị gốc được đặt trong thế đối lập vừa thể hiện sự hài hước vừa thể hiện sự suy ngẫm của người nói.
Hay hai câu thơ sau:
Con vượn cuối đàn đang ngơ ngác đấy Nâng súng lên chợt hạ súng bồn chồn
(Nhớ Trường Sơn một chiều giáp tết) Hai câu thơ nói về hai chủ thể, tác giả cũng dùng hai từ láy chỉ trạng thái tâm lý. Con vượn thì còn đang ngơ ngác vô tư chưa biết điều gì sắp xảy ra với nó, còn anh lính giương súng định bắn nhìn cảnh đó thì không nỡ liền hạ súng với tâm trạng bồn chồn.
Viết về thiên nhiên cây cỏ, động vật, Nguyễn Duy cũng thường dùng từ láy biểu thị trạng thái tâm lý để nói tâm trạng cảm xúc của mình.
Cái cành cây cao cao Rung như bàn tay vẫy Tiếng chim càng lộng lẫy Nghe lại càng ngẩn ngơ
(Tiếng chim bạn bè) Chưa thây bóng chim đâu
Mà thân thương nhau quá Không ngỡ ngàng rừng lạ Nhớ tiếng chim nghe quen
(Tiếng chim bạn bè) Giàn hoa giấy nhà ai
tím chen hồng rực rỡ hoa thật mà như giả để lòng nhau băn khoăn
(Hoa giấy)
Hay viết về tình cảm giữa người chiến sỹ và người mẹ, Nguyễn Duy cũng dùng từ láy để thể hiện tâm trạng.
Nghẹn ngào mẹ chẳng nói ra
Nghẹn ngào chiến sỹ nhận quà ngô non (Bát nước ngô)
Từ láy biểu thị trạng thái tâm lý nghẹ ngào được lặp lại ở cả hai chủ thể là bà mẹ và anh lính có tác dụng nhấn mạnh, khẳng định tình cảm của họ.
Như vậy, từ láy là một phương tiện để Nguyễn Duy thể hiện tâm trạng, cảm xúc của mình. Từ láy trong thơ nguyễn Duy biểu hiện nhiều tâm trạng khác nhau với nhiều sắc thái cung bậc khác nhau.