1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ láy trong thơ nguyễn duy (2016)

135 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu Cát trắng là tập thơ đầu tay đã giúp nhà thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ trên báo văn nghệ với ba bài thơ: Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, là bước khởi đầu đầy thuận lợi l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o==

ĐỖ THỊ THỦY

TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Thị Thùy Vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốtthời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Thùy Vinh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt

thời gian vừa qua

Do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoahọc đề tài của em không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy em rấtmong nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung của thầy cô và bạn bè để đề tàiđược hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Đỗ Thị Thủy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Từ láy trong thơ Nguyễn Duy” được

hoàn thành do sự cố gắng của bản thân, dưới sự hướng dẫn tận tình của

TS Lê Thị Thùy Vinh.

Tôi xin cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của tôi và không trùngvới kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Đỗ Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Bố cục của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Khái niệm 7

1.2 Đặc điểm của từ láy tiếng Việt 7

1.2.1 Đặc điểm về cấu tạo 7

1.2.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa 8

1.3 Phân loại từ láy 10

1.3.1 Từ láy đôi 10

1.3.2 Từ láy ba 12

1.3.3 Từ láy tư 13

1.4 Phân biệt từ láy với từ ghép 13

1.5 Giá trị của từ láy trong tác phẩm văn chương 14

1.5.1 Tính nghệ thuật trong tác phẩm văn chương 14

1.5.2 Vai trò của từ láy trong việc thể hiện tính nghệ thuật của tác phẩm văn chương 15

Chương 2 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY 16

Trang 5

2.1 Tình hình khảo sát, thống kê tư liệu 16

2.2 Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong thơ Nguyễn Duy 17

2.2.1 Từ láy miêu tả thiên nhiên 17

2.2.2 Từ láy miêu tả con người 32

2.2.2.1 Từ láy khắc họa ngoại hình, dáng vẻ của con người 32

2.2.2.2 Từ láy diễn tả hành động, trạng thái của con người 39

2.2.2.3 Từ láy miêu tả tâm trạng của con người 45

KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 6

1.2 Văn học là một ngành nghệ thuật đặc biệt - nghệ thuật ngôn từ,không một ngành nghệ thuật nào có thể tái hiện hoàn chỉnh bức tranh hiệnthực đời sống phong phú, nhiều màu vẻ như văn học Điều đó có được là nhờchức năng thi ca của ngôn ngữ Bản thân vỏ âm thanh của ngôn ngữ khi đượclựa chọn, đặt vào đúng chỗ sẽ góp phần khơi gợi cảm xúc của người đọc,người nghe Đây là nơi để từ láy có cơ hội phát huy vai trò của mình nhờnhững đặc điểm hài âm, hài thanh khác biệt.

Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một bức thông điệp thẩm mĩ mà nhà văn,nhà thơ muốn chia sẻ, gửi gắm tới người đọc… Nội dung của tác phẩm khônghiển hiện rõ ràng mà nó được người đọc nhận thức thông qua quá trình tiếpnhận tác phẩm Một nguyên tắc cơ bản khi tiếp nhận tác phẩm văn học là phảixuất phát từ chính ngôn từ mà người sáng tác đã dày công lựa chọn Trong đónhững từ mang sức nặng nghệ thuật, đặc điểm nổi bật về hình thức luôn đượcchú ý hơn Từ láy là một điểm nhấn như vậy

1.3 Là một cây bút xuất sắc, Nguyễn Duy bước vào làng thơ đã gópphần tạo nên diện mạo cho thế hệ thơ trẻ kháng chiến chống Mĩ Nguyễn Duy

Trang 7

cũng là một nhà thơ có phong cách nghệ thuật rất riêng, không trộn lẫn vớibất kì nhà thơ nào Thơ ông vừa chân thật, thẳng thắn mà cũng hết sức đônhậu và tình tứ; vừa gai góc mà cũng hết sức dung dị, đằm thắm, luôn trăn trởnghĩ suy để cho ra đời những hình ảnh độc đáo, qua đó nhìn nhận thẩm địnhcuộc sống

Nếu Cát trắng là tập thơ đầu tay đã giúp nhà thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ trên báo văn nghệ với ba bài thơ: Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, là bước khởi đầu đầy thuận lợi làm nền móng vững chắc cho

những giai đoạn sáng tác sau này, là tập thơ mà tác giả tập trung chủ yếu vàomảng hiện thực về cuộc sống chiến đấu và tâm hồn người lính thì đến tập

Ánh trăng - tập thơ được sáng tác sau khi đất nước thống nhất đề tài đã được

mở rộng theo chiều của không gian đất nước và cũng được khơi sâu trong tâmthức của một cá nhân, thơ mang tính thời sự rõ rệt Và từ năm 1987, với bútlực dồi dào thơ Nguyễn Duy lúc này thu hút được sự chú ý đặc biệt đối vớiđộc giả, thể hiện rõ phong cách sáng tác của tác giả

Thơ Nguyễn Duy khá đặc biệt, thơ ông được đánh dấu bằng những chặng

đường: Đường làng - Đường nước - Đường xa - Đường về Những chặng

đường ấy dường như cũng trùng khớp với nhũng chặng đường đời của nhà

thơ Nếu như Đường làng đưa người đọc về với kí ức tuổi thơ “mang dấu ấn

ruộng vườn” với cánh đồng, với cỏ, hoa, bờ ruộng lấm tấm dấu chân cua, với

khoai sắn, với canh cua ngọt thì Đường nước in hằn dấu chân người lính

trên mỗi bước đường hành quân dọc theo chiều dài đất nước, thấm đẫm nghĩa

tình quân dân, nghĩa tình đồng đội Đường xa giống như cuốn băng đậm chất

du kí với những thước phim thơ dàn trải từ Á sang Âu, sang Mĩ, từ vùng đất

cổ kính này sang thành phố hiện đại khác, từ miền hồi ức sang thế giới hiệnđại Đường về - sự trở lại với mảnh đất quê hương, phần nhiều là trở về vớihương đồng gió nội để tìm ra cái quý giá nhất còn đọng lại, bởi cuối cùng:

Trang 8

Đâu biết những gì chờ ta đằng kiaChỉ biết ta khởi đầu từ nơi ấyNhìn khái quát trong 30 năm làm thơ của tác giả, dễ nhận thấy rằng dù ởthời điểm nào thì thơ ông cũng đều bám chặt vào cuộc sống ở hai thời: một làquá khứ với cội nguồn quê hương ông bà cha me, đồng đội trong chiến tranh;một là hiện tại ngổn ngang bề bộn Thơ ông luôn thể hiện một chiều sâuchiêm nghiệm về nhân thế từ những gì đơn giản nhất Thơ Nguyễn Duy hiệnđại nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Nguyễn Duy là một trong số những tác giả được lựa chọn giảng dạytrong cả chương trình THCS và THPT Thơ Nguyễn Duy thu hút sự chú ý củanhiều độc giả yêu thơ và giới phê bình

Để giúp bản thân cũng như người đọc có thể hiểu những giá trị mà từ láy

mang lại trong thơ ca của Nguyễn Duy, tôi lựa chọn đề tài: “Từ láy trong thơ Nguyễn Duy”.

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu từ láy từ lâu đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm Cáccông trình nghiên cứu triển khai theo nhiều hướng khác nhau, nhưng về cơbản đặc điểm của từ láy cũng như cách phân loại từ láy đều được phân tíchkhá kĩ Tất nhiên, tùy từng mức độ nghiên cứu khái quát hay tổng hợp nênkhông phải công trình nào cũng đề cập đến một vấn đề giống nhau

Trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, tác giả Đỗ Hữu Châu đãxem xét từ láy trên phương diện cấu tạo, phân loại và đặc điểm ý nghĩa của

từ láy

Theo ông: “Láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó làphương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữnguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biếnđổi theo hai nhóm: nhóm cao và nhóm thấp”

Trang 9

Từ láy được hình thành do phương thức láy tác động vào hình vị cơ sở,cho nên ý nghĩa của từ láy cũng hình thành ý nghĩa của hình vị cơ sở Do đó,khi xem xét ý nghĩa của từ láy cần phải đối chiếu nghĩa của nó với hình vị

Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học tiếng Việt”lại nhìn nhận từ láy từ phương diện màu sắc biểu cảm mà giá trị của chúngdựa trên sự đối lập với những từ đồng nghĩa hoặc tương đồng về ý nghĩa.Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” phân tích

ý nghĩa của từ láy Đó là ý nghĩa của một số từ láy xét ở góc độ từ loại như:danh từ, động từ, tính từ Đây là một công trình tiêu biểu nghiên cứu về từ láy.Đặc biệt hiện nay việc nghiên cứu về hiệu quả sử dụng từ láy trong cáctác phẩm văn học là một hướng nghiên cứu khả thi Đã có rất nhiều luận án,

Trang 10

luận văn, khóa luận, bài tạp chí đề cập đến vấn đề này

Trong khóa luận “Từ láy và giá trị của từ láy trong Truyện Kiều –Nguyễn Du”, Nguyễn Thị Nhu - k29H Văn đã tiến hành phân tích giá trị từláy trong việc miêu tả thiên nhiên và xây dựng thế giới nhân vật, qua đó thấyđược tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du

Khóa luận “Giá trị sử dụng từ láy trong thơ Xuân Diệu” của Trương ThịThu Thảo - k31 Văn đã xem xét bức tranh thiên nhiên cùng tâm trạng củanhân vật trữ tình qua những gì mà từ láy biểu hiện

Trong khóa luận “Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong thơ

Tố Hữu”, Trần Thị Hồng Tuyết - k32B Văn đã chỉ ra những giá trị của từ láytrong việc biểu đạt nội dung tư tưởng và hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng

từ láy trong thơ Tố Hữu

Ở đề tài này, tôi đặt vấn đề nghiên cứu từ láy trong thơ của Nguyễn Duy

để hướng đến làm rõ bản chất của từ láy tiếng Việt cũng như giá trị sử dụngcủa từ láy trong thơ của nhà thơ Nguyễn Duy

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến làm rõ bản chất của từ láy vàgiá trị sử dụng của từ láy trong thơ Nguyễn Duy Trên cơ sở đó góp phần làm

rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Duy

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nắm được lí thuyết về từ láy: khái niệm, phân loại và phân biệt được từláy với từ ghép

- Thống kê từ láy trong tuyển tập thơ Nguyễn Duy sau đó tiến hànhphân loại

- Hiểu và chỉ ra được giá trị của từ láy trong tác phẩm

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:

- Phương pháp miêu tả

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học

- Phương pháp phân tích phong cách học

- Thủ pháp thống kê

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là từ láy trong thơ Nguyễn Duy

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi khảo sát việc sử dụng từ láy trong cuốn “ThơNguyễn Duy” - Nhà xuất bản hội nhà văn

6 Đóng góp của khóa luận

Về mặt lí luận, khóa luận góp phần làm rõ bản chất của từ láy nóichung đồng thời khẳng định giá trị của từ láy trong thơ Nguyễn Duy nóiriêng

Về mặt thực tiễn, khóa luận cung cấp những ngữ liệu cần thiết cho việcgiảng dạy tác phẩm văn chương của Nguyễn Duy trong chương trình THCS

và THPT

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóaluận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Giá trị sử dụng từ láy trong thơ Nguyễn Duy

Trang 12

1.1 Khái niệm

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Xoay quanh vấn đề từ láy tiếng Việt từ trước đến nay đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu và đề cập tới Do đó, cũng có nhiều cách định nghĩakhác nhau về từ láy

Trong khóa luận này, chúng tôi lựa chọn khái niệm của Đỗ Hữu Châulàm cơ sở: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó làphương thức láy lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữnguyên hoặc biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biếnđổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhómthấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay một đơn vị cónghĩa” [1;14]

1.2 Đặc điểm của từ láy tiếng Việt

1.2.1 Đặc điểm về cấu tạo

Sau khi loại ra ngoài những từ có những âm tiết GS Phan Ngọc đã chứngminh không phải là âm tiết láy, thì những từ láy là những từ phức do phươngthức láy tác động vào một hình vị cơ sở (kí hiệu C) làm xuất hiện một hình vịthứ sinh được gọi là hình vị láy (kí hiệu L) Hình vị láy có đặc điểm như sau:

Về hình thức ngữ âm, cũng là một âm tiết như hình vị cơ sở, có hìnhthức ngữ âm và ngữ nghĩa giống toàn bộ hay bộ phận với hình vị cơ sở

Hình vị láy cũng có thể giống hình vị cơ sở về toàn bộ âm tiết, hoặc vềphụ âm đầu hoặc phần vần

Về thanh điệu, nếu từ láy hai âm tiết thì hai âm tiết có thanh điệu đi vớinhau theo hai nhóm thanh: nhóm cao “hỏi, sắc, không”; nhóm thấp “huyền,ngã, nặng”

Trang 13

Cả hai hình vị cơ sở và hình vị láy hợp lại thành từ láy.

Để nhận biết một từ láy, cần xem xét hai âm tiết trong một từ phức hai

âm tiết xem có đáp ứng đầy đủ những đặc điểm kể trên không Thí dụ:

Nằng nặng: Từ này hai âm tiết, hình vị cơ sở nặng ở sau, hình vị nằng ởtrước, thanh điệu thuộc nhóm thấp Đây đúng là một từ láy

Gọn gàng: Hình vị cơ sở gọn ở trước, gàng có phụ âm đầu lặp lại phụ âmđầu của gọn (/g/), thanh điệu thuộc nhóm thấp

Lấm tấm: hình vị cơ sở tấm ở sau, hình vị lấm ở trước, vần cả hai hình vịgiống nhau (vần /âm/), thanh điệu thuộc nhóm cao

Những từ láy hai âm tiết mà hình vị cơ sở có nghĩa theo đúng quy tắcthanh điệu trên là những từ láy điển hình, tạo nên trung tâm của các từ láytiếng Việt Những trường hợp mà những đặc điểm trên không đảm bảo đầy đủ

sẽ được xét sau

1.2.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa

Các từ láy tiếng Việt thường có các nghĩa sau:

1.2.2.1 Nghĩa tổng hợp khái quát

Các nghĩa này lại có hai dạng: thứ nhất là nghĩa lặp đi lặp lại cùng vớimột trạng thái, hoạt động, tính chất Đó là nghĩa của các từ láy toàn bộ như:Ngày ngày, tháng tháng, người người, nhà nhà…

Thứ hai là nghĩa khái quát như nghĩa của các từ: máy móc, mùa màng,

da dẻ…Nghĩa này gần giống với nghĩa các từ ghép đẳng lập chuyên loại như:đường sá, chợ búa, bếp núc…

Các từ này có nghĩa tổng hợp khái quát thường có thêm sắc thái mỉa mai,chê bai, đánh giá thấp Tất cả những từ láy mà hình vị láy có vần / - iếc/,

/- ung/ đều có nghĩa như vậy: sách siếc, lớp iếc, trường triếc, học hiếc….cũng

có nghĩa như vậy

1.2.2.2 Nghĩa sắc thái hóa

Trang 14

Sắc thái hóa tức là làm thay đổi nghĩa của hình vị cơ sở bằng cách thêmcho nó những sắc thái khác nhau Các sắc thái thêm vào có thể là: trạng tháihóa, nghĩa là chuyển một tính chất, một vận động thành một trạng thái diễn ratrong một khoảng thời gian nhất định: Xa - > xa xôi, xịch - > xục xịch…; kéodài, dàn trải tính chất, lặp đi lặp lại vận động trong một khoảng thời gian, như:gật - > gật gù, khểnh - > khấp khểnh… hạn chế về phạm vi sự vật, ví dụ: xấu

là hình vị cơ sở được dùng với rất nhiều sự vật khác nhau nhưng xấu xí chỉdùng cho cái xấu về hình thức, còn xấu xa chủ yếu nói về cái xấu theo tiêuchuẩn đạo đức

Vì các từ láy sắc thái hóa có thêm nét nghĩa mới như vừa nói trên nênkhi giảng những từ này cần chỉ ra rõ nét nghĩa đó Ví dụ khi giảng từ phấtphơ, chúng ta dựa trên nghĩa của hình vi phất rồi nói thêm “đưa qua đưa lạitheo chiều dọc, nhẹ nhàng, mềm mại, gây ấn tượng đẹp, đáng yêu…”

Nghĩa của các từ láy sắc thái hóa gần giống nghĩa của các từ ghép chínhphụ sắc thái hóa như: đen sì, đen thui, đen xỉn Vì vậy, cách giải nghĩa của hailoại từ này cũng giống nhau, đó là giảng nghĩa theo lối miêu tả Miêu tả là lấymột vật làm chủ thể cho đặc điểm mà từ láy hay từ ghép sắc thái hóa biểu thị,rồi miêu tả tính chất hoặc vận động của vật đó theo nghĩa của từ láy hoặc từghép sắc thái hóa

1.2.2.3.Nghĩa của các khuôn vần láy

Nghĩa tổng hợp, khái quát, nghĩa sắc thái hóa là nghĩa chung của các từláy Nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến nghĩa của cá từ láy do các khuôn vầncủa hình vị láy biểu thị Thí dụ:

Các từ láy hoàn toàn mà hình vị láy có thanh bằng cũng đều biểu thịnghĩa giảm nhẹ (do sự trải rộng trong không gian và sự lặp đi lặp lại nhiềulần) tính chất, vận động mà hình vị cơ sở biểu thị: khe khẽ, nhè nhẹ, văngvẳng, gật gù, vây vẫy… Nếu hình vị láy ở trước có thanh trắc thì nghĩa của từ

Trang 15

láy hoàn toàn lại là tăng cường: dửng dưng, cỏn con…

Khuôn vần –iếc của từ điệp âm biểu thị nghĩa: “ các sự vật, hoạt động,tính chất cùng loại với sự vật, hoạt động, tính chất do hình vị cơ sở biểu thị”:sách siếc, người nghiếc, đen điếc, học hiếc, nhảy nhiếc…Nghĩa khái quát này

đi kèm theo sắc thái biểu cảm coi thường, khinh rẻ đối với sự vật, tính chất,hoạt động được từ láy đề cập đến

Khuôn vần - ập của các hình vị láy ở trước trong các từ điệp âm biểu thịvận động lặp đi lặp lại nhiều lần theo chiều thẳng đứng: nhấp nhô, bập bùng,bập bềnh, phập phồng, trập trùng…

Khuôn vần – uc của các hình vị láy ở trước trong các từ điệp âm biểu thị

sự vận động lặp đi lặp lại từng quãng ngắn theo chiều ngang: xục xịch, nhúcnhích, rục rịch, phục phịch…

Khuôn vần – ung của các hình vị láy điệp âm ở sau cũng biểu thị ý nghĩakhái quát như ý nghĩa do khuôn vần –iếc biểu thị nhưng sắc thái coi thường,khinh rẻ nhẹ hơn: tiệc tùng, làm lụng, nhớ nhung, mịt mùng…

Khuôn vần – ăn của các hình vị láy điệp âm ở sau biểu thị nghĩa hợp vơimức độ được mọi người xem là chuẩn mực, không quá tốt cũng không thiên

về xấu: đầy đặn, nhũn nhặn, thẳng thắng, ngay ngắn, nhọc nhằn, nhiềunhặn…

Trên đây là một số khuôn vần của hình vị láy đã xác định được nghĩa.Phương thức láy tiếng Việt sử dụng gần một trăm khuôn vần để tạo các hình

vị láy nên việc tìm ra nghĩa của mỗi khuôn vần còn rất khó khăn Cần hết sứcthận trọng để tránh những kết luận thiếu sức khái quát và mâu thuẫn

1.3 Phân loại từ láy

1.3.1 Từ láy đôi

Từ láy đôi gồm hai âm tiết, giữa các âm tiết có sự phối âm với nhau

1.3.1.1 Từ láy hoàn toàn

Trang 16

Từ láy hoàn toàn là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàngiữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố Tuy nhiện, láy không phải sựlặp lại âm thanh nguyên vẹn mà là sự lặp lại âm thanh có biến đổi theo nhữngquy luật chặt chẽ và tác dụng tạo nghĩa Theo Nguyễn Hữu Quỳnh đó lànhững từ có hai thành tố hoàn toàn trùng nhau về vỏ ngữ âm, coi như thành

tố thứ hai láy lại hoàn toàn thành tố thứ nhất và cả hai tạo nên một nghĩahoàn chỉnh Sự biến đổi ngữ âm ở từ láy hoàn toàn có thể biểu thị ở nhữngmức độ sau:

(1)Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo,chỉ khác nhau về trọng âm thể hiện ở độ nhấn mạnh và kép dài khi phát âm,còn gọi là điệp âm, điệp vần, điệp thanh

Ví dụ: Xanh xanh, ù ù, nao nao…

(2)Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng khác nhau về thanh điệu, hay còn gọi

là từ láy điệp âm, điệp vần, khác thanh

Ví dụ: đo đỏ, ngoan ngoãn, dửng dưng…

(3)Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng khác nhau về phụ âm cuối và thanhđiệu theo quy tắc: các phụ âm tắc và vô thanh sẽ chuyển thành các phụ âmvang mũi cùng cặp là: p - m, t - n, ch - nh…

Ví dụ:

P - m: đèm đẹp, bìm bịp, nơm nớp…

T - n: phơn phớt, ngăn ngắt, tôn tốt…

K - ng: eng éc, quang quác, bình bịch, anh ách…

Sự biến đổi phụ âm cuối ở từ láy hoàn toàn cũng như sự biến đổi nêutrên chỉ nhằm khả năng hòa phối ngữ âm tạo nghĩa, tạo sự dễ đọc, dễ nghe; vìvậy về nguyên tắc là không có tính chất bắt buộc Trong từ láy hoàn toàn, sựbiến vần chỉ xảy ra ở một số phụ âm cuối nhất định mà thôi

1.3.1.2 Từ láy bộ phận.

Trang 17

Từ láy bộ phận là những từ láy trong đó sự phối hợp ngữ âm của từng

bộ phận âm tiết theo những quy tắc nhất định Trong tiếng Việt, kiểu từ láy

bộ phận là kiểu chính cả về số lượng từ, cả về tính đa dạng, phong phú củaquy tắc phối hợp âm thanh Căn cứ vào sự phối hợp các bộ phận khác nhaucủa âm tiết, có thể chia từ láy bộ phận thành hai nhóm nhỏ: từ láy âm và từláy vần

(1)Từ láy âm

Từ láy âm là những từ láy trong đó âm đầu được láy lại, còn vần của hai

âm tiết trong từ láy âm khác biệt nhau

Ví dụ: rì rào, xào xạc, dịu dàng, líu lo…

(2)Từ láy vần

Từ láy vần là từ láy trong đó phần vần trùng lặp ở hai âm tiết còn phụ âmđầu khác biệt nhau Cả hai yếu tố trong từ láy phải giống nhau hoàn toàn vềphần vần và thanh điệu phải phù hợp với quy luật “cùng âm vực”

Quy tắc biến đổi thanh điệu ở từ láy ba thường gặp là như sau:

Tiếng thứ hai của từ láy ba thường mang thanh bằng (phổ biến làthanh huyền)

Ví dụ: Khít khìn khịt, Sạch sành sanh…

Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập với nhau về mặt B/T hoặc đối vớinhau về âm vực cao/ thấp

Trang 18

(1) Những từ láy được tạo thành trên cơ sở của từ láy đôi bộ phận với tưcách là đơn vị gốc

Ví dụ:

Hấp tấp - > hấp ta hấp tấp

Vất vưởng - > vất vơ vất vưởng

Bồi hồi - > bổi hổi bồi hồi

Thơ thẩn - >lơ thơ lẩn thẩn

Xăng xít - > lăng xăng lít xít

(2) Những từ láy được tạo thành không phải trên cơ sở của từ láy đôi

trùng điệp - > trùng trùng điệp điệp

1.4 Phân biệt từ láy với từ ghép

- Nếu các hình vị trong từ có cả quan hệ về nghĩa và quan hệ về âm(âmthanh) thì ta xếp vào nhóm từ ghép

Trang 19

Ví dụ: thúng mủng, tươi tốt, đi đứng, mặt mũi, phẳng lặng, mơ mộng…

- Nếu các từ chỉ có một hình vị có nghĩa, còn một hình vị đã mất nghĩanhưng cả hai hình vị không có quan hệ về âm thì ta xếp vào nhóm từ ghép

Ví dụ: xe cộ, tre pheo, gà qué, chợ búa…

- Các từ không xác định được hình vị gốc(tiếng gốc) nhưng có quan hệ

về âm thì đều xếp vào lớp từ láy

Ví dụ: nhí nhảnh, bâng khuâng, dí dỏm, chôm chôm, thằn lằn, chíchchòe…

- Các từ có một hình vị co nghĩa và một hình vị không có nghĩa nhưngcác hình vị trong từ được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu thìcũng xếp vào nhóm từ láy (láy vắng khuyết phụ âm đầu)

Ví dụ: ồn ào, ầm ĩ, ấm áp, im ắng, ước ao, yếu ớt…

- Các từ có một hình vị có nghĩa và một hình vị không có nghĩa có phụ

âm đầu được ghi bằng các con chữ khác nhau nhưng có cùng cách đọc(c/k/q); ng/ngh; g/gh) cũng được xếp vào nhóm từ láy

Ví dụ: cuống quýt, cũ kĩ, gồ ghề…

Lưu ý: Trong thực tế, có nhiều từ ghép (gốc Hán) có hình thức ngữ âmgiống từ láy, song thực tế các tiếng đều có nghĩa nhưng rất khó phân biệt Vídụ: bình minh, cần mẫn, tham lam, bảo bối, chân chất, chân chính, hảo hạng,khắc khổ, thành thực, hoan hỉ……

1.5 Giá trị của từ láy trong tác phẩm văn chương

1.5.1 Tính nghệ thuật trong tác phẩm văn chương

Văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ Nếu chất liệu của các loại hìnhnghệ thuật khác là màu sắc, đường nét, hình khối thì văn học lại lấy ngôn từlàm chất liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật Không có ngôn từ thì khôngthể có tác phẩm văn học (phi ngôn ngữ bất thành văn) Trong tác phẩm, ngôn

từ là phương tiện để cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện chủ đề và tư

Trang 20

tưởng tác phẩm Nguyễn Tuân đã định nghĩa về nghề văn như sau: “Nghềvăn là nghề của chữ, chữ với tất cả mọi nghĩa mà mỗi chữ phải có được trongmột câu, nhiều câu Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa mà sinh sự để sự sinh”.Bàn về ngôn ngữ văn học, M.Goorki cho rằng: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhấtcủa văn học” Nói như vậy cũng có nghĩa là ngôn từ trong văn học khônggiống với ngôn ngữ, mà ngôn từ là ngôn ngữ được sử dụng với tất cả phẩmchất và khả năng thẩm mĩ của nó Và chính ngôn từ được tổ chức một cáchnghệ thuật ấy đã tạo nên tính nghệ thuật cho tác phẩm văn chương.

1.5.2 Vai trò của từ láy trong việc thể hiện tnh nghệ thuật của tác phẩm văn chương

Trong ngôn ngữ dân tộc, từ láy là một lớp từ đặc biệt Nó có cấu tạo rấtđộc đáo về hình thức ngữ âm và mang tính biểu cảm rất cao Nói như tác giả

Đỗ Hữu Châu thì “mỗi từ láy là một nốt nhạc về âm thanh và chưa đựngtrong mình một bức tranh cụ thể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúcgiác, khứu giác, vị giác kèm theo sự ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan,những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự vật, hiệntượng, đủ sức thông qua các giác quan hướng nội và hướng ngoại củangười nghe mà tác động mạnh mẽ vào họ” Cho nên từ láy là công cụ tạohình đắc lực của văn học nghệ thuật, nhất là đối với thơ ca Nhận định này

đã cho thấy rõ tác dụng, tầm quan trọng của từ láy đối với việc sáng tạovăn chương Vì thế, trong tác phẩm của mình, các nhà văn, nhà thơ rấtchú ý đến việc sử dụng từ láy Trên thi đàn Việt Nam, có rất nhiều nhàvăn nhà thơ đã vận dụng từ láy một cách sáng tạo, độc đáo để viết lênnhững vần thơ, trang văn hấp dẫn làm say lòng người

Trang 21

Chương 2 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY

2.1 Tình hình khảo sát, thống kê tư liệu

Ở tập thơ “Thơ Nguyễn Duy” được xuất bản bởi Nhà xuất bản hội nhàvăn, chúng tôi thống kê được 524 từ láy Cụ thể như sau

Bảng 1: Từ láy phân loại theo cấu tạo

Theo cấu

Số lượng Láy hoàn toàn

Bảng 2: Từ láy phân loại theo ý nghĩa

Theo kết quả thống kê ở trên, chúng tôi nhận thấy từ láy đôi xuất hiênnhiều nhất và phổ biến nhất trong thơ của Nguyễn Duy Trong tổng số 525phiếu thống kê từ láy, từ láy đôi chiếm tới 499 phiếu (95,3%) Trong đó, từláy âm chiếm số lượng lớn nhất (271 phiếu tương đương với 51,7%), sau đóđến từ láy hoàn toàn (121 phiếu tương ứng với 23,1%) rồi đến từ láy vần có

số lượng gần bằng với số lượng từ láy hoàn toàn (với 107 phiếu tương ứngvới 20,5%)

Không chỉ có từ láy đôi, trong thơ Nguyễn Duy cũng xuất hiện cả

Trang 22

những từ láy ba, từ láy tư Tuy xuất hiện không nhiều nhưng những từláy này đã giúp nhà thơ thể hiện một cách rõ ràng nhất tâm tư tìnhcảm của mình.

Nếu xét theo cách phân chia theo ý nghĩa, thì ta nhận thấy số lượng

từ láy được sử dụng để miêu tả thiên nhiên và số lượng từ láy miêu tả conngười có số lượng gần tương đương nhau Từ láy miêu tả thiên nhiên chiếm

268 phiếu (tương đương với 51,2%) và từ láy miêu tả con người chiếm 256phiếu (tương ứng với 48,8%) Những từ láy miêu tả thiên nhiên sẽ giúp tácgiả miêu tả bức tranh thiên nhiên phong phú, đa dạng, nhiều màu vẻ mà bứctranh làng quê được khắc họa rõ nhất, đậm nhất Còn những từ láy miêu tảcon người thì giúp tác giả khắc họa được cả ngoại hình đến hoạt động trạngthái và cả tâm trạng của biết bao con người

Qua việc khảo sát, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Duy đã sử dụng linh hoạt

ca tiểu loại từ láy.Những từ láy được Nguyễn Duy sử dụng như một trong cácphương tiện nghệ thuật đắc lực, thì đến lượt nó, nó không chỉ góp phần thểhiện các khía cạnh của nội dung các bài thơ, thành công của các tác phẩm màcòn góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật của riêng nhà thơ

Trên đây là kết quả thống kê các từ láy trong tập “Thơ Nguyễn Duy”.Qua đó ta cũng nhận thấy trong thơ Nguyễn Duy, từ láy được vận dụng trongnhững câu thơ và ngữ cảnh cụ thể để tạo nên giá trị nội dung phong phúcủa tác phẩm Điều này chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở những phần sau

2.2 Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong thơ Nguyễn Duy

2.2.1 Từ láy miêu tả thiên nhiên

Thi sĩ vốn đa tình Có lẽ vì vậy mà từ bao đời nay, thiên nhiên luôn luôn

là suối nguồn gợi ra biết bao cảm xúc đối với thi nhân Thiên nhiên đã khơinguồn cảm xúc cho biết bao hồn thơ cất cánh Tuy nhiên, mỗi người lại cảmnhận thiên nhiên ở những góc độ khác nhau Chính vì vậy mà khi đi vào văn

Trang 23

học nói chung và thơ ca nói riêng thì thiên nhiên luôn hiện lên sinh động, hấpdẫn bởi sự đa dạng, nhiều vẻ của nó Thơ viết về thiên nhiên không hiếmnhưng cái riêng, cái độc đáo của Nguyễn Duy là ông tìm thấy bên trongnhững gì quen thuộc, giản dị, mộc mạc, thậm chí khiêm nhường của tựnhiên là những giá trị vĩnh cửu Và những từ láy được sử dụng rất đắc địa, nó

có vai trò lớn trong việc giúp Nguyễn Duy tái hiện những bức tranh thiênnhiên mộc mạc, giản dị rất Việt Nam ấy

Từ ngàn đời nay, tre luôn là loại cây gắn bó thân thuộc với con ngườiViệt Nam, đất nước Việt Nam, góp phần tạo nên “dáng đứng Việt Nam” Bằng chất giọng quen thuộc giống như đang kể lại một câu chuyện cổ tích,Nguyễn Duy đã xây dựng thành công hình ảnh cây tre với sức sống dẻo daiqua thời gian:

Thân gầy guộc lá mong manh

Mà sao lên lũy lên thành tre ơi

(Tre Việt Nam)Tác giả đã sử dụng từ láy “gầy guộc” để khắc họa vẻ ngoài của tre “Gầyguộc” vốn là từ để miêu tả thân hình gầy đến mức chỉ còn da bọc xương Từláy này giúp Nguyễn Duy làm nổi bật sự đối lập giữa vẻ bên ngoài “thân gầyguộc lá mong manh” với sức mạnh đoàn kết bên trong “lên lũy lên thành”

Sự gắn bó, tinh thần tương thân tương ái của tre gợi ta liên tưởng tớihình ảnh con người Việt Nam luôn đoàn kết bên nhau vượt qua mọi thửthách:

Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Thương nhau tre chẳng ở riêng Lũy thành từ đó mà nên hỡi người

Trang 24

“Bão bùng” vốn là gió xoáy kèm theo mưa to, gió lớn, được sử dụng đểtượng trưng cho những khó khăn, thử thách “Bão bùng” là thế nhưng treluôn

Trang 25

gắn bó, tương thân tương ái Từ hình ảnh cây tre, ta liên tưởng tới hìnhảnh con người Việt Nam luôn đoàn kết bên nhau để vượt qua bao thử thách.

Có lẽ ít dân tộc nào mà lịch sử lại trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhưdân tộc Việt Nam Song, chính trong những khoảnh khắc “ngàn cân treo sợitóc” ấy, sức mạnh đoàn kết lại được khẳng định để từ đó chúng ta lần lượtchiến thắng bao kẻ thù hung bạo nhất

Tre còn là biểu tượng cho sự cần cù, chịu thương chịu khó, lạc quan yêuđời của con người Việt Nam:

Rễ siêng không ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Vươn mình trong gió tre đu

Hình ảnh thiên nhiên đi vào thơ Nguyễn Duy không chỉ có cây tre mà tacòn tm thấy rất nhiều những hình ảnh thiên nhiên khác nữa Trăng làmột hình ảnh như thế Trong thơ Nguyễn Duy, hình ảnh trăng xuất hiệnnhiều lần và để lại nhiều cảm xúc sâu sắc trong lòng người đọc Trăng gần

Trang 26

gũi, trăng gắn bó với con người, là nơi để con người gửi gắm những nỗiniềm sâu kín,

Trang 27

trăng hóa thân vào con người để biểu lộ nhiều cảm xúc, tâm trạng phức tạp của con người.

Bài thơ “Trăng” được in trong tập “Sáu & Tám” là hình ảnh vầngtrăng gắn bó với người lính trên những bước đường hành quân đầygian khổ Giữa cái náo động, thô bạo và hiểm nguy của chiến trường, vẻđẹp của trăng làm thanh lọc tâm hồn con người Người chiến sĩ cảm nhận

rõ vẻ đẹp

của ánh trăng:

Trăng đầy ăm ắp lòng thung Cành cong t tách rơi từng giọt trăng

Thôi đừng che nữa mái tăng

Đêm nay ngả với ánh trăng đầm đìa

(Trăng)Trong một đoạn thơ ngắn mà Nguyễn Duy sử dụng khá nhiều từ láy đểdiễn tả vẻ đẹp của trăng, của thiên nhiên “Ăm ắp” - nhiều đến mức sắptràn, không thể chứ thêm được nữa, nó cho thấy sự sáng soi, chiếu rọi củatrăng “Tí tách” là từ láy mô phỏng tiếng động nhỏ, nhanh liên tiếp nhưngkhông đều nhau mà ngắt quãng Thì ra, ánh trăng như bao trùm khắp khônggian núi rừng Trong khoảnh khắc tạm bình yên của lòng mình, người chiến sĩdường như nghe thấy, cảm nhận thấy từng giọt trăng như rơi xuống cáccành cây phát ra tiếng động nhỏ tí tách Vậy là trăng trong cảm nhận củangười lính trẻ trở nên hữu hình, hữu tnh và hữu ý

Câu thơ cuối đoạn tác giả sử dụng hình ảnh “ánh trăng đầm đìa”, “đầmđìa” có nghĩa là nhiều đến mức chảy ròng ròng, thường dùng để chỉ nướcmắt hoặc mồ hôi, nhưng ở đây, Nguyễn Duy đã khéo léo vận dụng đểthêm một lần nữa khắc họa vẻ đẹp của trăng, cho ta thấy được vẻ đẹp trànđầy của ánh trăng ban đêm Qua đó, ta cũng thấy được sự nhạy cảm của tâm

Trang 28

hồn người lính Vẻ đẹp đó chỉ có những người có trái tim nhạy cảm mớinắm bắt được.

Trang 29

Chính vẻ đẹp của trăng lúc này giúp xoa dịu đi nỗi nhớ nhà trong tâm hồnngười lính trẻ Trăng thắp sáng hơn những gì thiêng liêng bền chặt,giúp người chiến sĩ vượt lên trước những sợ hãi trước hiện thực táp lửa củachiến tranh, của đời sống chiến trường.

Trăng còn được soi chiếu ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó thể hiện nhiều

khía cạnh của tâm tình:

Mặt trời là trái tm anh

Mặt trăng vành vạnh là tình của em

(Bầu trời vuông)Nguyễn Duy đã lấy cái vĩnh hằng của tự nhiên “mặt trời”, “mặt trăng” đểthể hiện tình yêu bởi dường như chỉ có thiên nhiên mới đủ rộng lớn để lột tảhết những tình cảm ấy “Mặt trời” được so sánh với “trái tim anh” - tình yêumãnh liệt của người con trai, còn “mặt trăng” chính là tnh cảm của “em” Từláy “vành vạnh” mô tả dáng vẻ tròn đều, trông rất thích mắt của trăng,

đó cũng chính là tình cảm vẹn nguyên, đầy ắp của “em” Cái “vành vạnh”tròn đầy của trăng tình em kia phải chăng xuất phát từ sự yêu đời, niềm

tn vào tình yêu son sắt và vĩnh cửu của người lính Nhờ có niềm tin ấy mà

họ được tếp thêm sức mạnh trên con đường chiến đấu còn nhiều gian nguyphía trước Bởi xét cho cùng, mọi sự hi sinh của họ cũng là để bảo vệ sự bìnhyên cho đất nước và những tình cảm thiêng liêng rất riêng tư ấy Cái riêng tưlàm cho cái chung thêm bền vững và giàu ý nghĩa hơn bao giờ hết

Cũng với từ láy “vành vạnh” ấy, vẫn là vẻ đẹp tròn đầy ấy của trăngnhưng ở trong bài thơ “Ánh trăng” lại nhằm thể hiện một nỗi niềm khác:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Trang 30

Đủ cho ta giật mình

Trang 31

(Ánh trăng)Cái “tròn vành vạnh” của trăng lúc này như là hình ảnh tượng trưng chonhững gì vẹn nguyện nhất, không bao giờ đổi thay “Phăng phắc” có nghĩa là

im lặng hoàn toàn, lắng chìm vào một khoảng không gian, không có tiếngđộng Sau chiến tranh, sau không khí tráng ca của lịch sử, con người trở

về với cuộc sống đời thường, cũng có nghĩa là trở về với các quan hệ thế

sự trong cuộc sống thường nhật với những bộn bề lo toan, với những khátvọng về hạnh phúc cá nhân và cả những trăn trở để lựa chọn về cách sống.Nguyễn Duy qua hình ảnh vầng trăng tròn “vành vạnh”, im “phăng phắc”giữathành phố đầy “ánh điện”, “cửa gương” để từ đó nhắc nhở về sự thủychung với nhân dân, với đất nước, với những năm tháng gian lao vừa đi qua

Có thể nói, người nghệ sĩ Nguyễn Duy luôn phát hiện ra vẻ đẹp ẩn tàngcủa thiên nhiên trong mỗi sự vật hiện tượng dù rất nhỏ bé Ngọn gió tựnhiên sẽ để lại gì đối với những tâm hồn lãnh cảm, thờ ơ đối với cuộc sốngnày?! Ấy vậy mà với Nguyễn Duy, trong rất nhiều bài thơ ông đã nhắc khánhiều đến hình ảnh gió Có khi,, ngọn gió ấy là nỗi nhớ của một tâm hồn vớinhững biến thái tnh tế, là tấm lòng của hậu phương dành cho tiền tuyếntrên những bước đường hành quân:

Nhớ em khi đang lên đèoNghe em là gió vờn reo lá rừng

(Nhớ)Nhưng Nguyễn Duy còn cảm nhận bằng nhiều giác quan để thấy đượcbản chất của gió:

Em ơi gió - gió ngang phè

Ỡm ờ gió thổi dồn ghe dạt bào

Rồi còn nữa là hình ảnh:

Em ơi gió - gió loang toàng

Trang 32

Nhoằng tia máu chớp phun tràn cung mây

Em ơi gió - gió tuầy huầy

Phường ong bướm õng ẹo bay lòng thòngMột loạt các từ láy được sử dụng: “ỡm ờ”, “loang toàng”, “tuầy huầy” đãgiúp Nguyễn Duy bộc lộ bản chất của gió Gió “loang toàng” để ta chớp tràncung mây, gió cũng có lúc hờn dỗi như một cô nàng đỏng đảnh trong từ láy

“ỡm ờ”, “tuầy huầy”

Gió không chỉ vận động mà là sự vận động ở mức độ cao nhất Phảichăng ở trong mỗi con người luôn luôn có những ngọn gió như thế đểcuộc đời mang nhiều sắc vẻ khác nhau Nguyễn Duy luôn gắn những quanniệm, cách nhìn đời của ông một cách kín đáo vào hình tượng đầy sinh động

để tạo nên một thứ “gió” rất Nguyễn Duy

Bên cạnh những hình ảnh như cây tre, hay là trăng, là gió thì nhữngmảnh đất cũng là hình ảnh thiên nhiên đi vào trong sáng tác của Nguyễn Duy.Đến với miền Tây Quảng Bình những năm 70, ấn tượng của NguyễnDuy là những cảnh bom đạn quân thù cày xới từng tấc đất:

Bom đào đào đất đỏ đỏ

Phễu bom sâu hóa giếng hồng

Đất tuôn lặng lẽ một dòng nước xanh

Trang 33

“Lặng lẽ” – im lặng, không có một tiếng động, tiếng ồn ào nào cả Vượt

Trang 34

lên trân sự tàn phá hủy diệt của bom đạn kẻ thù, đất âm thầm ôm ấp sựsống Đất như người nén đau thương biến thành sức mạnh chống lại sự hủydiệt của quân thù Màu xanh của dòng nước giữa cái nóng nung của buổitrưa thật thiêng liêng và quý giá biết bao.Vậy là sức sống đã được nảy sinh vàtồn tại ngay ở những nơi tưởng chừng chỉ có sự hủy diệt Với từ láy “lặng lẽ”

ta nhận ra”: đất trở thành nơi ấp ủ bao ước mơ của con người,nơi bù đắpnhững đau thương mất mát của con người trong chiến tranh Chỉ một sự thểhiện giản dị bằng một từ láy thôi cũng đủ để thấy mạch nguồn sự sống củadân tộc, của sự phục sinh đang trỗi dậy mạnh mẽ Một hình ảnh đất của tựnhiên thôi cũng thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả vào sức mạnh chiếnthắng của dân tộc Việt Nam ta

Viết về đất bằng cảm hứng ngợi ca, Nguyễn Duy như có lúc hóa mìnhvào đất để lắng nghe từ trong sâu thẳm tiếng vọng ân tình:

tư kín đáo nhất của con người – nỗi nhớ tình yêu

Với bài thơ “Bài hát người làm gạch”, Nguyễn Duy cũng cho thấy một

vẻ đẹp nữa của đất quê hương:

Đất lặng im dưới chân taLặng nghe có tiếng phố nhà ngân vang

Xôn xao mái ngói tầng tầng

Lắng nghe có tiếng hát thầm đất thôi

(Bài hát người làm gạch)

Trang 35

Từ láy “xôn xao” vốn có hai cách hiểu Cách hiểu thứ nhất: “xôn xao” là

âm thanh, tiếng động vọng lên từ nhiều phía và xen lẫn, kế tiếp nhau.Còn cách hiểu thứ hai: “xôn xao” là xao xuyến, rung động trong lòng Dùhiểu theo nghĩa nào thì ta vẫn nhận ra chính đất đã tạo cho con ngườimột cuộc sống tốt đẹp hơn Từ đất, những mái ngói nhà tầng mọc lên quasức lao động của con người Sự hiện hữu của đất gắn chặt với sự đổi mới, đilên xây dựng một cuộc sống ấm no Nhà thơ nói về đất gần gũi cụ thể màgây được xúc động sâu sắc ở độc giả mọi thế hệ Chính mảnh đất, chínhthiên nhiên đã đem đến cho cuộc sống con người những điều tốt đẹp nhất

Từ những điều tưởng như giản dị ấy ta thêm yêu, thêm quý, thêm trân trọng

và biết ơn đối với mảnh đất quê hương mình Sâu xa hơn, chưa đựng trongcâu chữ là niềm tự hào của nhà thơ về dân mình, vào những con người luônluôn lạc quan, tin tưởng vào sức mạnh đang sinh sôi nảy nở từ đất Mẹ, từthiên nhiên

Thế giới thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy là những gì nhỏ bé nhất,thân thuộc và gần gũi nhất Nhiều hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến đến ítnhiều mang tính khái quát về con người, về cuộc sống như hình ảnh cỏ dạitrong bài thơ cùng tên Cây cỏ tưởng như yếu mềm, thậm chí yếu ớt nhưnglại có sức sống kì diệu, là nơi chứa đựng những âm thanh kì diệu của cuộcsống này:

Kèn đồng giun đất thân quen

Giọng chàng ca sĩ dế mèn du dương

(Cỏ dại)

“Du dương” - tiếng hát, tiếng nhạc lên bổng xuống trầm một cách êm ái

và dịu dàng Từ láy này được dùng để nói về giọng hát của chú dế mèn Thì ranơi “cỏ dại” trên thảo nguyên hoang vu ấy, lại là nơi để sự sống tươi đẹpdiễn ra từng ngày, từng giờ

Trang 36

Nguyễn Duy gắn bó thân thiết với làng quê nên những hình ảnh thiênnhiên nơi miền quê hương ấy đều in rõ, nổi hình nổi sắc trên những trang

thơ

Trang 37

của “thi sĩ thảo dân” này Không khó để người đọc nhận ra rằng trong thơNguyễn Duy, hình ảnh con cò đã trở thành một thi liệu rất quen thuộc Ôngtừng khắc họa dáng điệu “bay lả bay la” của con cò:

Con cò bay lả bay la

Theo câu quan họ bay ra chiến trường

(Khúc dân ca)

Từ láy tư “bay lả bay la” giúp Nguyễn Duy khắc họa hình ảnh cánh còđầy chất thơ Con cò cứ mải miết bay trên không gian rộng lớn Không gian

ấy không chỉ là sau lũy tre làng yên ả, thân quen mà còn là chiến trường - nơi

mà sự sống và cái chết chỉ là một ranh giới hết sức mong manh Không sợhiểm nguy, cánh cò ấy vẫn mải miết bay không ngừng Phải chăng cánh cò ấy

là biểu trưng cho sự thủy chung bất chấp bão dông, là nhịp cầu nối liền hậuphương với tiền tuyến, là sức mạnh tinh thần tiếp thêm nhiệt huyết cho mỗibước hành quân

Nguyễn Duy cũng rất tự hào thốt lên:

Nghìn năm trên dải đất này

Cũ sao được cánh cò bay la đà

(Khúc dân ca)

“La đà” là từ láy để chỉ hình ảnh cánh cò sà xuống thấp và đưa đi đưa lạitheo chiều ngang một cách nhẹ nhàng Hình ảnh “cánh cò bay la đà” ấy đã insâu vào tâm trí thi nhân Nguyễn Duy Hình ảnh bay “la đà” của cánh cò luôn

là một nét văn hóa đẹp trong tư duy của dân tộc Lịch sử dân tộc vẫn trườngtồn cùng những bản sắc văn hóa của nó Giữ gìn và trân trọng những bản sắcriêng độc đáo ấy là một nét đẹp truyền thống của người Việt Nam Từ láy “lađà” đã giúp Nguyễn Duy thể hiện rõ lối suy cảm tnh tế mang đậm màu sắcdân tộc Việt

Trang 38

Nguyễn Duy từng đặt chân tới rất nhiều vùng quê của đất nước nhưng ấn

Trang 39

tượng về mũi Cà Mau của Nguyễn Duy vẫn là hình ảnh con cò biển Vẫn là cánh cò bay giữa không gian rộng lớn, cùng với không gian ấy là hàng loạtnhững sự đổi thay:

Mênh mông không một cánh buồm

Toàn ghe gắn máy với xuồng đuôi tômMênh mông - rộng lớn đến mức dường như ta không thể nhìn thấy bờbến, giới hạn Không gian rộng lớn là thế mà không có lấy một cánh buồm,cái hiện hữu chỉ toàn là “ghe gắn máy” với “xuồng đuôi tôm” Cái hiện hữu

ấy kèm theo bao nguy cơ đối với con cò, nhưng cò vẫn:

Bắt con tép giữa bãi sình

Cái chân đen đủi, cái mình trắng phau

Tác giả đã khắc họa rõ hình dáng con cò thật đáng thương Từ láy “đenđủi” có nghĩa là đen và trông có vẻ gầy yếu, xấu xí đến tội nghiệp Thông qua

từ láy “đen đủi”, ta thấy rõ sự cô đơn lạc lõng, nhỏ bé của cò Sẽ thấmthía hơn với những ai thấu hiểu rằng người Cà Mau cũng xuất thân từ phiêudạt Phải chăng sự tương đồng này không đơn thuần chỉ là ngẫu nhiên.Thoảng đâu đó là một cảm giác nơm nớp lo sợ trước những gì được coi làđổi mới, là hiện đại hơn của cuộc sống hôm nay đã và đang sẽ phá vỡ đinhững gì vốn giản dị, bình yên của làng quê Có thể nói rằng thế giới nhữngcon vật trong thơ Nguyễn Duy luôn mang một nỗi day dứt, trăn trở về lối đi,cách sống của dân tộc Sự giao thoa giữa một bên là cái cũ, cái truyền thốngvới một bên là cái mới, cái hiện đại luôn luôn tồn tại nhiều vấn đề cần đặt ranhững câu hỏi lớn và cần được giải đáp Sự sâu sắc trong ngòi bút NguyễnDuy chính là ở chỗ đó

Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy không chỉ có những hình ảnh tươiđẹp mà cũng có những bức tranh thiên nhiên đượm nỗi buồn Thiên nhiên

Trang 40

ấy cũng cho thấy tư duy của nhà thơ có sự đổi mới, nhìn nhận hiện thựcmột

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa TiếngViệt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Từ vựng ngữ nghĩa TiếngViệt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
2. Đỗ Hữu Châu (2004), Từ vựng học TiếngViệt, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học TiếngViệt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
4. Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Công Đúc (1995), Từ điển từ láy tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ láy tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Công Đúc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
5. Nguyễn Văn Hành (2008), Từ láy trong tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
6. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2006
7. Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lâm (1999), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1999
8.Trương Thị Thu Thảo (2009), Giá trị sử dụng của từ láy trong thơ Xuân Diệu, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội.NGỮ L IỆU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị sử dụng của từ láy trong thơ XuânDiệu
Tác giả: Trương Thị Thu Thảo
Năm: 2009
9. Nguyễn Duy (1973), Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát trắng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1973
10. Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ánh trăng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
11. Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ và em
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 1987
12. Nguyễn Duy (1987), Đãi cát tìm vàng, Nxb Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đãi cát tìm vàng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Văn nghệ TP.HCM
Năm: 1987
13. Nguyễn Duy (1989), Đường xa, Nxb Trẻ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường xa
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Trẻ TP.HCM
Năm: 1989
14. Nguyễn Duy, Tuyển tập thơ Nguyễn Duy Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w