CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
3.2. Ngữ nghĩa từ láy trong thơ Nguyễn Duy
3.2.3. Từ láy biểu hiện âm thanh
Qua khảo sát, từ láy biểu hiện âm thanh trong thơ Nguyễn Duy có một số lượng khá lớn gồm những từ như: kẽo kẹt, chát chúa, ngân nga, quàng quạc, đành đạch, nghêu ngao, xôn xao,, choang choác, quang quác, thều thào, phì phọp, rả rích,, tí tách, ngân nga, nhẹ nhàng, phăng phắc, sằng sặc, xào xạc, ngêu ngao, xào xạo, sột soạt, thình thịch, gióng giả, ríu rít, quàng quạc, lép bép, lọc xọc, lao xao, lộp độp, long bong, lạo xạo, oai oái, tồ tồ, xèo xèo, oa oa, ào ào, vù vù, oăng oẳng, gâu gâu, ầm ầm, vỗ vỗ, hu hu, ù ù,…
Âm thanh mà từ láy trong thơ Nguyễn Duy biểu hiện rất phong phú, gồm âm thanh có thật, cụ thể của tiếng gió, tiếng hát, tiếng nói, tiếng mưa, tiếng con vật,… và còn có cả những âm thanh trìu tượng chỉ tồn tại trong cảm giác của riêng Nguyễn Duy.
a/ Từ láy biểu hiện âm thanh có thật, cụ thể
Từ láy biểu thị âm thanh của các sự vật cụ thể cũng phong phú và độc đáo. Nguyễn Duy sử dụng những từ tượng thanh mô phỏng âm thanh của vật chân thật như nó vốn có.
Chán đời oăng oẳng gâu gâu biết thân biết phận gối đầu lên chân
(Biết thân biết phận, Tr 187) Bên cạnh các từ láy mô phỏng âm thanh trực tiếp, Nguyễn Duy còn dùng cả những từ láy đã được chuyển nghĩa theo biện pháp hoán dụ để biểu trưng cho sự vật, hiện tượng hay quá trình phát ra âm thanh: khe khẽ, dịu dàng, ào ạt, tình tang,...
Mùa xuân trở dạ dịu dàng
Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay.
(Dịu và nhẹ, Tr 378)
Mùa xuân tươi vui với những thanh âm rộn rã như khơi gợi, thúc giục lòng ta khát khao tận hưởng cuộc sống và niềm say mê yêu đời. Mùa xuân đến, mọi vật như được khoác lên mình tấm áo mới, tươi đẹp và đầy sắc màu.Từ bên trong, tạo vật đều như đang căng tràn sức sống. Âm thanh của con người và tự nhiên hòa quyện, đan cài vào nhau khiến cho cảnh vật thêm sinh động, rực rỡ. Ít ai có thể nghe thấy âm thanh của hương hoa khi bay nhưng Nguyễn Duy đã quan sát rất tinh tế. Từ “khe khẽ” là từ để chỉ hoạt động êm nhẹ, không gây tiếng động không ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung.
Âm thanh “khe khẽ” là âm thanh khó có thể nghe thấy vậy mà tác giả đã tả được âm thanh của hương bay đồng thời từ láy này còn nằm trong lô gic của hai từ láy khác là “dịu dàng và nhẹ nhàng”. Điều đó thể hiện khả năng tưởng tượng của tác giả là không có giới hạn.
Hay để nói về âm thanh của búa và máy, tác giả viết:
Tôi muốn được làm tiếng hát của em tiếng trong sáng của nắng và gió tiếng chát chúa của máy và búa tiếng trần trụi của lưỡi cuốc lang thang
khắp đất nước hát bài hát
đánh thức tiềm lực
(Đánh thức tiềm lực, Tr 228) Từ láy “chát chúa” là một sự sáng tạo mới lạ của Nguyễn Duy. Trong tình yêu không ai nói tiếng của búa và máy bởi khi nói đến nó thì ta chỉ hình dung được một âm thanh đó là “chan chát, inh ỏi”… Còn ở đây tác giả viết
“chát chúa” nghe rất nặng nề, khó chịu. Âm thanh chát chúa không chỉ đơn thuần là âm đập vào thính giác mà còn chứa cả cảm giác tâm trạng.
b/ Từ láy biểu hiện âm thanh trừu tượng
Trong thơ Nguyễn Duy, ngoài loại âm thanh có thật, cụ thể dùng để miêu tả các sự vật thì còn có loại âm thanh trìu tượng. Trìu tượng là những âm thanh không cụ thể chỉ tồn tại trong cảm nhận của nhà thơ, hoặc để nói đến các khái niệm sự trìu tượng như từ trường nhiễu sinh học, những điều vô thường.
Em ạ vũ trường mặt đất thùng thình nhộn không độc quyền ai không loại trừ ai veo véo từ trường nhiễu sinh học
khoan nhặt vô thường ríu rít tít mù loảng xoảng (Khiêu vũ, Tr122)
Những âm thanh thùng thình, ríu rít, loảng xoảng là những âm thanh quen thuộc. Thế nhưng nguyễn Duy đã làm mới chúng ở đối tượng, ở sự kết
hợp trong dòng thơ. Từ trường nhiễu sinh học mà cũng phát ra âm thanh, những điều vô thường mà cũng phát âm thanh như âm thanh của tiếng nói chuyện, âm thanh của xoong nồi va vào nhau thì thật là độc đáo. Còn veo véo là một âm thanh của riêng Nguyễn Duy. Trong tiếng Việt chỉ có vèo vèo để mêu tả âm thanh nhẹ, nhanh của một vật bay lướt qua tai rất nhanh. Veo véo vừa có cả âm thanh vừa có cả hình ảnh thể hiện sự nhộn nhạo, inh ỏi, khó chịu. Các từ ấy đều có âm điệu gồ ghề, trúc trắc. Bằng những từ láy như thế này, Nguyễn Duy đã thực sự tạo nên một đợt sóng ngôn từ mà nói như Vương Trí Nhàn “chỉ trong âm nhạc hiện đại mới thấy” với “những trái khoáy ngang phè, những nghịch phách tương phản”. Nó mang tính trừu tượng vì trong thực tế chẳng có thứ đàn nào tạo ra loại âm thanh như vậy. Nó chỉ có trong thế giới cảm nhận của Nguyễn Duy.
Không chỉ là các từ láy lạ thể hiện âm thanh mà cách sử dụng trùng phức những từ láy tượng thanh như thế này còn đem đến cho thơ Nguyễn Duy một nhạc điệu thật lạ, các âm các từ như dính vào nhau, ngân theo một âm hưởng chủ đạo.
Có khi say trong hứng thú, tác giả lại dùng kiểu từ láy trùng điệp để tạo âm thanh trừu tượng.
Đàn kêu tinh tỉnh tình tinh
cái tâm xúc phạm cái hình vô tâm ...
Đàn kêu tang tảng tàng tang
nàng chơi đẹp xúc phạm chàng xấu chơi
(Xẩm ngọng, Tr 160) Xanh xanh đỏ đỏ phường phừng
tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời (Cung văn, Tr 47)
Các từ láy tư, láy sáu rất độc đáo tang tảng tàng tang, tứng từng tưng tửng từng tưng miêu tả âm thanh của tings đàn rất lạ. Chỉ có Nguyễn Duy mới nghe tiếng đàn như thế này. Các từ láy bậc hai mô phỏng âm thanh này như một sự trùng điệp biến các câu thơ thành một dòng âm thanh kết dính, phá vỡ nhịp điệu hài hòa vốn có của thể lục bát nhưng lại diễn tả tài tình trạng thái phấn khích của nhân vật trữ tình. Diễn tả được thứ âm thanh của một trí tưởng tượng phong phú.
Nguyễn Duy đã thực sự mang đến cho bạn đọc những màn thưởng thức âm thanh độc đáo, mới lạ bằng sự quan sát, trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo tuyệt vời trong cách dùng từ láy và cách diễn đạt của ông.