CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
2.1. Cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy
2.1.1. Từ láy bậc một trong thơ Nguyễn Duy
Kết quả khảo sát cấu tạo từ láy bậc một trong thơ Nguyễn Duy được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.2. Các dạng từ láy có cấu tạo gồm hai tiếng (từ láy bậc I) Kiểu láy Dạng láy Số từ láy Tỉ lệ (%) Ví dụ
Hoàn toàn
Láy nguyên khối 56 52,8 Ròng ròng, run run, ào ào, bay bay
Láy đối thanh 50 47,2 Đom đóm, thăm thẳm, len lén, cuồn cuộn
Cộng 106 100
Bộ phận
Láy phụ âm đầu 394 71 Bèo bọt, vu vơ, nhắm nháp, lấp lánh
Láy phần vần 161 29 Lếch thếch, lôi thôi, lóc nhóc
Cộng 555 100
2.1.1.1 Láy hoàn toàn
Ở từ láy hoàn toàn, các tiếng được lặp lại toàn bộ, nhưng cũng có một số trường hợp tiếng trước biến đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối để tạo ra sự hài hòa về âm thanh, giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo nhưng khác nhau về trọng âm.
Khảo sát thơ Nguyễn Duy, chúng tôi thống kê được 661 từ láy bậc I, chiếm tỉ lệ 96,5%. Dạng láy hoàn toàn chia làm hai loại: láy nguyên khối và láy đối thanh. Trong đó, có 56 từ láy nguyên khối chiếm tỉ lệ 52,8%, có 50 từ láy đối thanh chiếm tỉ lệ 47,2%.
a/ Láy nguyên khối
Trong loại từ láy hoàn toàn thì láy nguyên khối có tần số xuất hiện nhiều hơn loại láy đối thanh. Từ láy nguyên khối trong thơ Nguyễn Duy bao gồm các từ như: Ròng ròng, run run, ào ào, bay bay, xăm xăm, bồng bồng, xanh xanh, đỏ đỏ, phừng phừng, lăm lăm, hoe hoe, song song, chang chang, căm căm, mãi mãi, đêm đêm, rưng rưng, vuông vuông, lớp lớp, êm êm, oa oa, vui vui, buồn buồn, ngáp ngáp, nhong nhong, vù vù, rơi rơi, thình thình, gâu gâu, nghiêng nghiêng,phơ phơ, chiều chiều, đăm đăm, tà tà, đều đều, cong cong, ầm ầm, lù lù, se se, hiu hiu, vỗ vỗ, hu hu, phì phì, trừng trừng, xèo xèo, còng còng, hây hây, ù ù, cười cười, tồ tồ, bạc bạc, xiêu xiêu, rung rung, phăm phăm, từ từ, ngà ngà…
Bạch dương ga xép buồn hun hút
buồn song song chạy suốt mấy hàng ray gió thổi nghe như tiếng người thở dài
(Giã từ Arêkhôvơ, Tr 262)
Ở đây, Nguyễn Duy dùng từ láy “song song” là từ láy nguyên khối để nói về cái buồn. Cách nói này rất lạ.
Hay ở câu thơ sau, tác giả viết:
Se se một chút lạnh lùng
mình sang với bạn, sang cùng thu sang
(Chút thu vàng)
Để gợi tả cái lạnh, Nguyễn Duy cũng dùng từ láy nguyên khối se se.
Không cần tô vẽ ồn ào cái chớm thu, cái heo may xứ bắc đã ở trong câu trong từ và trong cách cảm nhận của ai đã từng sống với mùa thu.
Hay nói về nỗi niềm nhớ nhung trong xa cách, tác giả viết:
Mặt trời là trái tim anh
mặt trăng vành vạnh là tình của em thức là ngày ngủ là đêm
nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa
(Bầu trời vuông, Tr 67)
Bao nhiêu nhớ thương được tác giả viết bằng một từ láy nguyên khối nghiêng nghiêng. Diễn tả trạng thái chênh vênh khi cặp đôi yêu nhau không được sống gần nhau, Nguyễn Duy không cần nói nhiều mà người đọc vẫn cảm nhận được tình anh nghiêng về bên em còn tình em thì nghiêng về bên anh.
Viết về thời tuổi thơ và nỗi tiếc nuối khi người bạn gái tuổi thơ đi lấy chồng trong bài “Áo trắng má hồng”, tác giả cũng sử dụng từ láy nguyên khối để gợi tả một người bạn thuở nhỏ đang dậy thì, thưởng thành.
Thướt tha áo trắng nói cười để ta thương nhớ một thời áo nâu tóc hoe hoe cháy trên đầu
ta và bạn gái cưỡi trâu học bài ...
long lanh ngọn cỏ giọt sương
song song chân đất con đường xa xa ...
Áo trắng là áo trắng à
một hôm ta thấy bạn ta thẹn thùng
vở che ngực nhú ngượng ngùng ta ngơ ngẩn ngó má hồng hây hây”
(Áo trắng má hồng, Tr49)
Đang hồn nhiên cùng nhau tóc “hoe hoe” chưa biết làm duyên làm dáng đôi bạn vẫn “song song” trên con đường “xa xa” bỗng một ngày bạn ấy “hây hây” má hồng thế là thẹn thùng, xa cách và rồi một ngày kia bạn ấy đi lấy chồng. Một đoạn thơ mà tác giả dùng đến bốn từ láy nguyên khối kết hợp với năm từ láy đôi để diễn tả cái nguyên sơ của tình bạn tuổi thơ.
Tong bài “Tết Nam nhớ Bắc”, tác giả cũng viết:
Nắng chang chang cũng thịt mỡ dưa hành cũng có một mùa đông trong tủ lạnh
(Tết Nam nhớ Bắc, Tr53)
Từ “chang chang” là từ láy nguyên khối có tác dụng gợi tả cái nắng miền Nam trong dịp tết gợi cảm giác nóng bức oi nồng, từ cái nắng ấy để nhớ để thương cái se lạnh của tết mùa đông xứ Bắc. Đây là nỗi lòng vọng ngóng quê xa của những đứa con đất Bắc. Từ láy nguyên khối này không chỉ có tác dụng để tả nắng mà còn có vần ang ngân vang kéo dài như nỗi nhớ mênh mang trong lòng tác giả.
Như vậy, trong thơ Nguyễn Duy từ láy nguyên khối xuất hiện tương đối nhiều. Trong đó từ láy nguyên khối thường dùng để tả cảnh và diễn tả tâm trạng là nhiều nhất.
b/ Láy đối thanh
Từ láy đối thanh trong thơ Nguyễn Duy chiếm 47,2%, như vậy tần số xuất hiện của chúng cũng không phải là ít. Qua khảo sát, từ láy đối thanh trong thơ Nguyễn Duy có đủ cả hai dạng là đối thanh bằng- thanh trắc và đối âm vực cao - âm vực thấp.
b1/ Từ láy đối thanh: bằng - trắc.
Kết quả khảo sát cho thấy loại từ láy này xuất hiện cũng khá nhiều, gồm có các từ như: Đom đóm, thăm thẳm, len lén, lay láy, cuồn cuộn, leo lẻo, ngồn ngộn, thoang thoảng, vành vạnh, lơ lớ, lay láy, mai mái, loang loãng, sang sảng, trăng trắng, quàu quạu, mong mỏng, rười rượi, he hé, tưng tửng, loang loáng, lẳng lặng, oăng oẳng, âm ấm, đăm đắm, chầm chậm, sừng sững, ngai ngái, điên điển, nho nhỏ, dìu dịu, dửng dưng, rờn rợn, lành lạnh, hơn hớn, thum thủm, mằn mặn, ưng ửng, mòng mọng. v.v...
Đối với từ láy đối thanh, khi yếu tố gốc mang thanh trắc thì yếu tố còn lại phải mang thanh bằng theo quy luật hài thanh và ngược lại. Cụ thể, một tiếng mang dấu ngang (không dấu) phải kết hợp liền trước hoặc liền sau với một tiếng mang dấu sắc hoặc dấu hỏi, một tiếng mang dấu huyền phải kết hợp với một tiếng mang dấu nặng hoặc dấu ngã.
Ví dụ khi miêu tả cảm giác, Nguyễn Duy viết:
Lụa chi mà nõn mà nà
thò tay lành lạnh yêu ma quỷ thần
(Bạch, Tr 333)
Ở đây, tác giả dùng từ láy đối thanh “lành lạnh” để miêu tả cảm giác khi sờ tay vào tấm lụa. Cách bày tỏ cảm giác tiếp xúc là “lành lạnh” chứ không phải “lạnh lạnh” hay “lạnh” vừa thể hiện mức độ nhẹ của “lạnh” vừa thể hiện được cảm xúc.
Hay một câu thơ khác trong bài Hồ Tây, tác giả viết:
Bánh xe xào xạo trên đường
nghe tiêng tiếc một ngày thường đang qua (Hồ Tây, Tr 153)
Để gợi tả thời gian đang trôi qua cuộc đời mỗi con người, Nguyễn Duy dùng hai từ láy đối thanh “xào xạo, tiêng tiếc”. “Xào xạo” để chỉ quy luật
khắc nghiệt của thời gian âm thanh nghe khô khốc vô tình, còn “tiêng tiếc” lại gợi cảm giác tiếc nuối ngày trôi. Cách viết của Nguyễn Duy vô cùng mộc mạc nhưng ai đọc câu thơ này cũng nghe nhói trong lòng. Nhất là cách dùng từ láy
“xào xạo”, ông không dùng từ xình xịch để nói âm thanh bánh xe đang di chuyển. Cách nói rất mới của tác giả đã cho người đọc một cảm giác lạ.
Thêm một câu thơ nữa, tác giả cũng dùng từ láy đối thanh:
Dìu dịu gió hát bài ca êm ái
sống yên vui và nằm xuống yên lòng...
(Thăm nghĩa trang Talin, Tr 251) Thông thường khi đến nghĩa trang con người sẽ có cảm giác buồn hay sợ hãi, đau thương. Nhưng Nguyễn Duy lại khác, ông mang đến cho người đọc cảm giác bình yên của một tâm hồn thư thái như kẻ đã trả xong món nợ cuộc đời. Từ láy đối thanh dìu dịu đã thổi vào lòng người cảm giác yên tâm khi ta đã sống những ngày trọn vẹn và ta chết như người hoàn thành xong xứ mệnh cuộc trần gian. Thanh bằng trước thanh trắc sau như khẳng định một điều rõ ràng rằng ta sẽ thanh thản yên vui giữa hư không cõi bên kia cuộc đời.
Để viết về những lam lũ vất vả của người lao động, tác giả có câu:
Rơm rạ ơi ta trở về đây
nắng lóng lánh trong veo mầm mạ trắng lưng trần ứa giọt sương người mằn mặn tiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầy
(Về đồng, Tr 311)
Nguyễn Duy dùng từ láy đối thanh mằn mặn để gợi nỗi cực nhọc của người nông dân. Chất muối mặn thấm giọt mồ hôi rơi mà mùa màng thất bát.
Qua sự xuất hiện của hàng loạt từ láy đối thanh bằng trắc, chúng tôi thấy từ láy đối thanh bằng và thanh trắc trong thơ Nguyễn Duy rất đa dạng, xuất hiện đều ở các bài thơ. Dạng từ láy này chủ yếu để dợi tả cảm giác, biểu đạt cảm xúc của tác giả.
b2/ Từ láy đối âm vực: cao - thấp
Qua khảo sát, loại từ láy này xuất hiện không nhiều trong thơ Nguyễn Duy nhưng chúng cũng góp một phần quan trọng trong việc bộc lộ cảm xúc của tác giả, có thể kể đến những từ sau: tất tật, tất bật, khe khẽ..v..v.
Ví dụ:
Nén nhang khấn không khí trong vắt
cầu Chúa cầu Phật cầu tất tật Thánh Thần xin chư vị cứ ngôi nào việc ấy
ban phát Đức Tin và Điều Thiện thật nhiều càng tốt lành
(Thắp nhang và khấn, Tr 358) Từ láy đối âm vực cao và thấp “tất tật” nghe có cảm giác nặng trúc trắc lại được dùng trong bài thơ không vần nên rất ấn tượng.
Trong bài “Mời vợ uống rượu”, tác giả cũng dùng loại từ láy này để gợi cái lam lũ của vợ:
Gót chân ăn vẹt bậc thềm
quanh năm tất bật đi tìm ngày xuân
(Mời vợ uống rượu, Tr 377) Nỗi lòng thương vợ của Nguyễn Duy thật dáng trân trọng, ông nhìn thấy gót chân vẹt mòn của vợ, mưa nắng thời gian trên bậc thềm ngôi nhà ấy là bao nhiêu ngày tần tảo của vợ. Từ láy đối âm vực cao và thấp “tất bật” thể hiện sự vất vả lo toan của người vợ. Nếu như tác giả dùng từ “vất vả”thì sức nặng của câu thơ sẽ giảm hẳn.
Như vậy, qua hai loại từ láy đối thanh bằng - trắc và láy đối âm vực cao - thấp trong thơ Nguyễn Duy, ta thấy loại từ láy đối thanh bằng - trắc xuất hiện nhiều hơn loại láy đối âm vực cao - thấp. Đặc biệt, Nguyễn Duy dùng một số từ láy đối thanh rất mới lạ để lột tả hết các đặc điểm của sự vật, hành động, trạng thái... Điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn cho thơ Nguyễn Duy.
2.1.1.2. Láy bộ phận
Qua khảo sát, từ láy bộ phận trong thơ Nguyễn Duy có đủ hai loại là láy phụ âm đầu và láy vần.
a/ Từ láy phụ âm đầu
Láy phụ âm đầu là loại từ láy được sử dụng nhiều nhất trong các loại từ láy. Khảo sát thơ Nguyễn Duy, với từ láy bậc 1, chúng tôi thống kê được 394 từ láy phụ âm đầu chiếm tỉ lệ 71%, gồm các từ: Bèo bọt, lập lòe, lấm láp, vu vơ, nhắm nháp, say sưa,dấm dúi, chấp chới, lấp lánh, cồn cào, quang quác, le lói, lặng lẽ, nghễnh ngãng, mịt mù, chích chòe, mong manh, chập chờn, xơ xác, gày gò, mộc mạc, nhễ nhãi, nhá nhem, xó xỉnh, lọ lem, xoa xít, hít hà, mặn mòi, run rẩy, thều thào, gấp gáp, ngậm ngải, ngất ngưởng, mải mê, ngán ngẩm, nhằng nhịt, thình thịch, nhẹ nhàng, nhập nhoàng, thanh thản, ngoằn nghèo, xa xôi, xa xăm, hổn hển, ngúng ngoẳng, mấp mé, lủng lẳng, ngấp nghé, nườm nượp, mộng mị, thướt tha, phơ phất, long lanh, thẫn thờ, mong manh, lững lờ, ngơ ngác, mùa màng, hun hút, dập dờn, nhức nhói, phì phọp, phờ phạc, xào xạc, chuếnh choáng, đung đưa, thiêm thiếp, rôm rả, phơn phớt, ngơ ngác, lông lốc, gai góc, ngo ngoe, lập lòe, cồn cào, nhùng nhằng, nhỏ nhẻ, rả rích, khuya khoắt, tí tách, bồng bềnh, ngân nga, rung rinh, nhẹ nhàng, ngang ngược, chói chang, ngẹn ngào, man mác, tấm tức, vất vả, dành dụm, trẻ trung, rờn rợn, lạnh lùng, phăng phắc, nhùng nhằng, bập bùng, nhăn nhó, nhọc nhằn, heo hút, thùng thình, hùng hục, nặng nề, nhễ nhại, tí tởn, dớ dẩn, núng nính, nõn nà, hừng hực, run rẩy,veo véo, ríu rít, mềm mại, lặn lội, nhảy nhót, chập chờn, sạch sẽ, nhậu nhẹt, nhấm nháp, thủng thỉnh, te tua,, sằng sặc, nhẹ nhõm, ngỡ ngàng, chăm chút, miệt mài, cặm cụi, lăng lặc, gật gù,, mịt mờ, ngọt ngào, bồng bềnh, dịu dàng, vòng vèo, xào xạc, tan tác, ngêu ngao, ngọng nghẹo, chắt chiu, vấp vểnh, xối xả, ngơ ngác, kẽo kẹt, mềm mại, gập ghềnh, dùng dằng,, lập lờ, thấp thoáng, mơ mảng, lửng lơ, hững hờ, lỏng
lẻo, ngổn ngang, lau lách, khẳng khiu,, lẳng lơ, chông chênh, thấm tháp, khấp khểnh, mặn mà,, xào xạc, nhấp nháy, nhọc nhằn, chòng chành, thon thả, lêu lỏng, xót xa, thủng thẳng, nồng nàn, phất phơ, thênh thang, chứa chan, chông chênh, ngớ ngẩn, ngất nghểu, lạnh lẽo, đen đủi, lặn lội, hầm hập, lúc lắc,, lỡ làng, dập dềnh, day dứt, sột soạt, hớ hênh, thong thả, biêng biếc, bàng bạc, mỏng mai, thèm thuồng, kẽo kẹt, nghênh ngang, mềm mại, bập bùng, chuếnh choáng, lung linh, xót xa, trơ trụi, chói chang, lóng lánh, huy hoàng, nhỏ nhoi, nhẹ nhàng, gật gù, mỏng manh, tuồn tuột, bập bùng, lênh láng, phơi phóng, tung tăng, phong phanh, lạ lùng, ngả ngớn, dằng dặc, gần gũi, phảng phất, thình thịch, nhồm nhoàm, ngùn ngụt, nhỏng nhảnh, phập phồng, nhập nhòa, xương xẩu, lỡ làng, lửng lơ, thơm tho, nhồi nhét, xơ xác, may mắn, ngọ nguậy, loe loét, đú đởn, nhấp nhánh, ngo ngoe, lêu lổng, khành khạch, lả lơi, thõng thẹo, nồng nàn, đờ đẫn, ngơ ngác, rì rào, sõng soài, nhập nhằng, thất thiểu, toe toét, bồng bềnh, san sát, sống sít, chim chóc, sùng sục,vắt vẻo, hí hoáy, man mác, ngổn ngang, ngật ngưỡng, thòm thèm, lấp ló, lúng liếng, tình tang, trong trẻo, đủng đỉnh, vòng vèo, luễnh loãng, xênh xang, ươn ướt, tan tành, vênh vang, ngắc ngoải, thùng thình, chòng chành, lêu lổng, dông dài, ríu rít, dấp dính, mê mẩn, xủng xẻng, dễ dàng, lỡ
làng,, thanh thoát, bịt bùng, trằn trọc, ngất ngưởng, khấn khứa, tòng teng, tao tác, nhặt nhạnh, bạn bè, lả lơi, nhếch nhác, xanh xao, mỏng manh,, vất vả, rong ruổi, ngân nga, nhăn nhó, dịu dàng, khấp khểnh, thập thễnh, nhọc nhằn, ngập ngụa, phập phèo, bì bọp, mấp mé, móm mém, hâm hấp, lầm lì, thủng thẳng, thảnh thơi, bập bềnh, ngoằn nghèo, tả tơi, thắc thỏm, ngọt ngào, nợ nần, ngót nghét, rụng rời, choang choác, thong thả, lấp ló, nhạt nhèo, tong teo, rắc rối, nhộn nhạo, lủng lẳng, thiêm thiếp, nhảy nhót, chia chác, thoi thóp, nhố nhăng, quàng quạc, phảng phất, nghêu ngao,, đắm đuối, ngạo nghễ, phấp phới, đú đởn, mơ mòng.
Các phụ âm đầu được dùng để láy trong thơ nguyễn Duy được thể hiện ở bảng 2.3 sau.
Bảng 2.3. Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các phụ âm đầu
Phụ âm đầu Số từ Ví dụ
B 11 bồng bềnh, bập bùng, bồng bềnh, biêng biếc, bàng bạc…
C 5 cồn cào, chập chờn, cặm cụi…
CH 20 chích chòe, chấp chới, chập chờn, chuếnh choáng,…
D 17 dấm dúi,dành dụm, dớ dẩn, dập dờn, dịu dàng,…
Đ 7 đung đưa, đú đởn, đờ đẫn, đen đủi, đủng đỉnh,…
G (GH) 7 gày gò, gấp gáp, gật gù, gập ghềnh, gai góc,…
GI 2 gióng giả…
H 20 hổn hển,heo hút, hùng hục, hừng hực, hun hút,…
K 1 kẽo kẹt
KH 10 khẳng khiu, khuya khoắt,khấp khểnh, khành khạch,…
L 45 lập lòe, lấm láp, lấp lánh, le lói, lặng lẽ…
M 29 mịt mù, mong manh, mải mê, mặn mòi,...
N 8 núng nính, nõn nà, nặng nề, mềm mại,…
NH 41 nhắm nháp, ngúng ngoẳng, ngấp nghé, ngậm ngải, ngất ngưởng,…
NG 30 ngoằn nghèo, ngơ ngác, ngo ngoe, ngọt ngào,…
NGH 4 nghễnh ngãng, nghênh ngang, nghêu ngao,…
PH 12 phơ phất, phờ phạc, phất phơ, phì phọp,phơn phớt, phăng phắc,…
Q 2 quang quác, quàng quạc,
R 12 run rẩy,rôm rả, rả rích, rung rinh, run rẩy, ríu rít, rờn rợn,…
S 10 say sưa, sạch sẽ, sằng sặc,sột soạt, sõng soài,…
T 13 tí tách, tí tởn, te tua, tấm tức,tan tác,tung tăng,…
TH 38 thều thào,thình thịch, thướt tha…
TR 3 Trắng trẻo, trăng trắng…
V 9 vu vơ,vòng vèo, vấp vểnh, veo véo, vất vả,vắt vẻo,…
X 20 xơ xác, xó xỉnh, xoa xít, xa xôi, xa xăm,xào xạc, xối xả,…