CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2. Thơ và ngôn ngữ thơ
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của thơ
Có hàng trăm định nghĩa khác nhau về thơ. Trong Từ điển văn học, Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Thơ là hình thức sáng tác phản ánh cuộc sống qua những tâm trang, những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu rõ ràng”
[54,tr169]. Trong Giáo trình Lý luận văn học, tác giả Lê Tiến Dũng quan niệm: “Thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt” [18,tr170]
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Trong lịch sử, để khẳng định mối quan hệ thơ ca với cuộc sống, có lần Biêlinxki nêu câu hỏi: “Thơ là gì?” và ông trả lời: “Thơ là sự sống, là cái mỉm cười của sự sống đang reo vui và thoăn thoắt biến hóa… thơ là ánh tươi hồng trên môi thiếu nữ, là tiếng cười hiền lành, trong trẻo của trẻ thơ… ”.
Nhưng ở chỗ khác, khi đánh giá Puskin thì Biêlinxki lại nói: “Thơ là nghệ thuật, là tài nghệ, là sáng tạo có tính chất nghệ sĩ, nghĩa là rút cuộc thơ phải được sáng tạo trong ngôn từ. Cuộc sống tự nó tuy đẹp nhưng chưa phải là thơ ca.”
Có thể chia thơ thành 2 loại: thơ tự sự và thơ trữ tình.
Thơ trữ tình bộc lộ tình cảm thông qua chủ thể trữ tình (nhân vật trữ tình), khi ấy nhân vật trữ tình có đôi khi biểu hiện cái tôi nghệ thuật của tác
giả.Ngoài ra, còn có các nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng đích của những xúc cảm mà tác giả muốn gửi gắm, tâm sự.Họ là khởi nguyên cho mọi sự căng trào của tình cảm, của đam mê và nhiệt hứng nơi người viết.
Thơ tự sự có cốt truyện hoàn chỉnh được diễn tiến trong không gian, thời gian nghệ thuật với sự xuất hiện của những nhân vật, sự kiện và phản ánh đời sống thông qua suy nghĩ, tình cảm của nhân vật, sự kiện. Người đọc quan tâm và cảm nhận nhiều đến cảm xúc của nhân vật hơn nội dung và diễn biến của câu chuyện được kể. Cảm xúc trong thơ muốn chạm đến trái tim của đọc giả, khiến họ rung động và thổn thức chỉ khi cảm xúc ấy được phát xuất từ một trái tim đồng điệu đang tràn đầy nhiệt hứng khi đã và đang cố nén chặt, phải là những nỗi niềm riêng mang tính nhân văn, là khát khao, là động lực thúc đẩy con người hành động để vươn tới mục tiêu. Cảm xúc trong thơ không phải là thứ cảm xúc mang tính khách quan như trong văn xuôi mà tùy thuộc vào cái chủ quan chủ chủ thể trữ tình và của đối tượng tiếp nhận, trong từng hoàn cảnh tâm trạng cụ thể. Chẳng thế mà Hoài Thành đã từng viết:
“Thích một bài thơ là thích một con người đồng điệu”.
Đặc trưng của thơ về mặt nội dung gồm 4 ý chính. Thứ nhất, thơ là sự bộc lộ tình cảm một cách mãnh liệt đã được chủ thể trữ tình ý thức. Tình cảm trong thơ bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, “thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy” (Tố Hữu). Tình cảm trong thơ là tình cảm mạnh mẽ, đó có thể là sự giày vò của nội tâm, sự phản tỉnh của ý thức hay sự rung động tế vi của tâm hồn. Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những hoàn cảnh, sự kiện làm chấn động tâm hồn nhà thơ. Tình cảm trong thơ là tình cảm siêu thăng, soi chiếu dưới lý tưởng thời đại: tình cảm lớn, tốt đẹp, cao thượng, thấm nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa. Thứ hai, thơ - nghệ thuật của trí tưởng tượng, thơ xây dựng hình tượng của bản thân dòng ý thức, cảm xúc đang diễn ra.Tưởng tượng khi ấy chủ yếu là liên tưởng; huyễn tưởng. Liên tưởng là từ
việc này nghĩ đến việc khác. Khi liên tưởng, nhà thơ sẽ vận dụng linh hoạt các biên pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản… để thể hiện nội dung.
Huyễn tưởng là mượn giấc mơ, ảo giác để thể hiện cảm xúc, đó là cách để tác giả vượt thoát khỏi thực tại trong hiện thực, dùng trực cảm và lý tưởng để hiện thực khát khao của riêng mình. Đặc trưng thứ ba về nội dung là tính cá thể hóa tình cảm trong thơ. Thơ bao giờ cũng biểu hiện cái tôi tác giả của nó, dù tác giả có ý thức hay không.Cái tôi trong thơ và cái tôi thường thống nhất nhưng không đồng nhất.Cảm xúc trong thơ không chỉ là cảm xúc cá nhân, mà là cảm xúc của một lớp người, của một thế hệ, của một thời đại, của một xã hội. Để tạo nên được phong cách riêng, nhà thơ trước hết phải có vốn từ phong phú, kế đến là khả năng gạn lọc, chưng cất, lựa chọn, sắp xếp, vận dụng các con chữ và đặt để chúng vào đúng vị trí khi sáng tác. Một người viết bình thường chỉ có thể trở thành nhà thơ khi họ biết sử dụng đúng lúc, đúng chữ vốn từ của mình một cách hiệu quả.Đặc trưng cuối cùng về mặt nội dung thơ là chất thơ trong thơ, chất thơ nằm ở ý ngoài lời.“Thơ là ý tại ngôn ngoại”. “Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó, thì có những tiếng dội rất đa dạng và tinh tế” (Tố Hữu). Cảm xúc khi ấy như những lát cắt nhanh, mỏng không miêu tả một cách trọn vẹn mà chỉ ánh lên một cung bậc rung cảm mãnh liệt nhất có thể có khả năng bao quát trạng thái cảm xúc và tình cảm của chủ thể trữ tình.
Về mặt hình thức, thơ mang tính họa, thơ biểu hiện bằng biểu tượng, ý tượng.Thơ biểu hiện bằng những hình ảnh mang nghĩa, bằng những ý tượng, hình ảnh ngụ ý. Biểu tượng trong thơ không liên tục, có nhiều khoảng trắng để người đọc suy nghiệm, nhờ đó, cảm xúc trong thơ có khả năng lan tỏa và gợi mở. Biểu tượng giúp người nghệ sĩ nắm bắt trực tiếp các cảm xúc, ý niệm;
không cần phải kể lể dông dài, đảm bảo tính hàm súc.Thật vây, mỗi loại thơ khác nhau sẽ có những biểu tượng khác nhau và các biểu tượng này không lặp
lại ở những nhà thơ khác nhau.Chính điều này đã tạo nên đặc trưng riêng cho từng thể loại và phong cách riêng cho mỗi nhà thơ.
1.2.2. Ngôn ngữ thơ
Ấn tượng thẩm mỹ của một tác phẩm được tạo nên trước hết nhờ lớp ngôn từ.Ngôn ngữ là vỏ bọc của tư duy, bởi thế khi nhà thơ biết phối hợp giữa cảm xúc và sử dụng hợp lý ngôn từ thì giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ sẽ đạt đến mức tối đa.Ngôn từ trong thơ có cấu tạo đặc biệt, đó là ngôn từ có nhịp điệu, thể hiện ở việc ngắt dòng thơ.Thi tứ và nhịp điệu thơ đan cài chặt chẽ trong nhau.Thơ là tiếng lòng, nhịp điệu của thơ cũng chính là cung bậc của cảm xúc.Bởi thế, nhịp thơ, tiết tấu thơ thường mềm mai, uyển chuyển, lúc tha thiết du dương, lúc cuộn trào căng thẳng.Thơ là tiếng nói của cảm xúc, thơ giàu nhạc điệu khi và chỉ khi nhà thơ có một đời sống nội tâm phong phú, nhạy cảm và tinh tế trước những biến chuyển, đổi dời của thế thời.Charles Hartman khẳng định: "Nhịp điệu đóng góp toàn bộ ý nghĩa của bài thơ và phép làm thơ là chuyển nó thành ý nghĩa".Bên cạnh đó, ngôn từ có tính nhảy vọt, gián đoạn, để tạo nhiều tầng nghĩa. Khi đó, ý tưởng giữa các dòng thơ không theo mạch logic, mà đứt đoạn theo mạch tình cảm. Thơ tìm tòi tiết tấu,hướng tới sự gián đoạn trong chuỗi ngữ lưu liên tục. Theo Denida Levertop: " việc chia thơ ra thành dòng chính là một sự bắt đầu cần thiết cho toàn bộ đời sống của nó". Việc phân tách các dòng thơ không nhất thiết phải dựa trên mạch ngưng nghỉ của cảm xúc mà còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức, vần, nhịp trong thơ. Ý nghĩa của một bài thơ có khi không hiện diện trên bề mặt câu chữ mà ẩn tàng nơi các khoảng trống còn bỏ dở, khơi gợi quá trình đồng sáng tạo khi tiếp nhận tác phẩm từ bạn đọc, cũng từ đó làm cho ý nghĩa thơ thêm phong phú. Thơ gây ấn tượng bằng việc lệch chuẩn, phá cách nhịp điệu.Ngôn từ thơ không tuyến tính mà phức hợp (đa nghĩa).Thơ phá huỷ tính chất tuyến tính của thời gian. Thơ hướng về ấn tượng ban đầu, nên tìm tới các hình thức chuyển nghĩa. Ngôn từ thơ dùng nhiều ẩn dụ, hoán dụ, tỉnh
lược ngôn ngữ. Ngôn từ thơ có nhiều sự kết hợp bất ngờ theo nguyên tắc lạ hóa. Bên cạnh tính họa, ngôn từ của thơ ca còn thơ giàu nhạc tính. Nhạc tính biểu hiện ở cách phối nhịp, phối thanh, hiệp vần, cách kết hợp các âm vang, khép… Tính nhạc của thơ là tính nhạc của cảm xúc. Thơ thường có vần điệu.
“Vần là sự lặp lại những khuôn âm giống nhau (gọi là vần chính) hay tương tự nhau (gọi là vần thông) giữa các câu thơ, hay trong cùng một dòng thơ”.
[27,tr174]. Thơ thường ngắn gọn, cảm xúc được cô nén trong một dung lượng ngôn từ có giới hạn giúp cho bài thơ không trở nên dài dòng, nhàm chán. Làm được điều đó, mỗi nhà thơ phải là một nghệ sỹ ngôn từ, mà nói như nhà thơ Lê Đạt thì trước nhất “Nhà thơ phải nhọc mệt, phải là phu chữ.”. Công việc ấy thật khó khăn và đòi hỏi mỗi nhà thơ phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo.
Cũng bởi thế mà Maiakôpxki đã từng viết rằng “Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ”. Mỗi nhà thơ để có thể viết được những bài thơ hay, những vần thơ “đắt” đã phải làm công việc khó nhọc của một nghệ nhân giàu nhiệt tâm với nghề.