1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngắn trần kim trắc

156 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, chúng tôi mong muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn toàn diện hơn về truyện ngắn Trần Kim Trắc cũng như vị thế của nhà văn trong nền văn xuôi Nam Bộ.. Hy vọng với việc làm này

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ THANH HÀO

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ THANH HÀO

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp mới của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 HÀNH TRÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN KIM TRẮC 7

1.1 Vài nét tiểu sử và con người Trần Kim Trắc 7

1.1.1 Vài nét về tiểu sử 7

1.1.2 Con người Trần Kim Trắc 10

1.2 Trần Kim Trắc trong làng văn Nam Bộ 14

1.2.1 Những điều kiện đưa đến sự hình thành của vùng văn xuôi Nam Bộ trong văn xuôi Việt Nam hiện đại 14

1.2.2 Một vài đặc điểm nổi bật của văn xuôi Nam Bộ từ 1945 đến nay 19

1.2.3 Trần Kim Trắc - một “ông già Nam Bộ” trong văn chương 22

1.3 Các sáng tác của Trần Kim Trắc 24

1.3.1 Quan niệm sáng tác của Trần Kim Trắc 24

1.3.2 Mối quan hệ giữa văn và đời trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 28

1.3.3 Những tập truyện đã xuất bản và các giải thưởng văn học đã đạt được 38

Chương 2 CÁI NHÌN VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI SỰ KIỆN, NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC 42

2.1 Cái nhìn về con người trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 42

2.1.1 Xuất phát điểm của cái nhìn về con người trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 42

Trang 4

truyện ngắn Trần Kim Trắc 51

2.1.3 Một vài đối sánh 61

2.2 Thế giới sự kiện trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 64

2.2.1 Khái niệm sự kiện trong tác phẩm tự sự 64

2.2.2 Sự kiện trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 68

2.2.3 Một vài đối sánh 77

2.3 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 79

2.3.1 Khái niệm nhân vật 79

2.3.2 Nhân vật đời thường với số phận éo le 81

2.3.3 Nhân vật chiến sĩ với những lí tưởng cao đẹp 86

2.3.4 Nhân vật loài vật 88

2.3.5 Một vài đối sánh 93

Chương 3 NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC 99

3.1 Nghệ thuật kể chuyện 99

3.1.1 Nghệ thuật dắt dẫn, tạo tình huống 99

3.1.2 Nghệ thuật “luyến láy” - phẩm bình 103

3.1.3 Nghệ thuật kết thúc câu chuyện 106

3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 112

3.2.1 Ngôn ngữ 112

3.2.2 Giọng điệu 126

3.3 Yếu tố dục tính nhìn từ góc độ tổ chức nghệ thuật 136

3.3.1 Liều lượng yếu tố dục tính trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 136

3.3.2 Quan hệ giữa yếu tố dục tính với tình huống truyện 138

3.3.3 Quan hệ giữa yếu tố dục tính với ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện 140

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Kể từ sau 1954, trong số những nhà văn Nam Bộ có nhiều đóng

góp cho văn học nước nhà, Trần Kim Trắc là một cây bút không thể không được nhắc tới Trong khi các nhà văn khác như Sơn Nam, Bình-nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Văn Thảo, Nguyễn Ngọc Tư… rất được giới phê bình quan tâm tìm hiểu, đánh giá, thì Trần Kim Trắc lại hầu như bị “bỏ quên” Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về sự nghiệp văn học khá phong phú của ông Rõ ràng ở đây có một sự bất cập cần được khắc phục

1.2 Sáng tác của Trần Kim Trắc đa phần là truyện ngắn Đó chủ yếu là

những mẩu chuyện nhỏ, được viết từ thời kháng chiến chống Pháp hay vào khoảng thời gian đất nước đã thống nhất, lấy bối cảnh chủ yếu là miền sông nước Nam Bộ và chốn phồn hoa đô hội Sài Gòn… Truyện ngắn của ông có một sức hút riêng, rất lạ Nó kéo con người về với thế giới nội cảm ẩn sâu trong mỗi con người Ông từng gác bút đến 30 năm để đi theo tiếng gọi của tình yêu, lên tận Tuyên Quang làm thợ sơn tràng, nuôi ong lập nghiệp và sống cần mẫn với ruộng đồng như bao người nông dân nhân hậu ở Chợ Gạo - Tiền Giang quê mình Thế nhưng, văn chương như một cái nghiệp đeo đẳng khiến ông trở lại với trang viết, sau một thời kỳ dài tưởng như quên nó Văn chương ông thâm trầm với lối kể chuyện nhẩn nha, chậm rãi của ông già Nam Bộ Dường như ông đã thấu hiểu mọi lẽ đời nên cách lí giải sự việc trong các sáng tác luôn “nhẹ bỗng” với hai chữ “nhân tình”… Tìm hiểu đề tài này thực sự là một công việc đầy hứng thú Qua đó, chúng tôi mong muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn toàn diện hơn về truyện ngắn Trần Kim Trắc cũng như vị thế của nhà văn trong nền văn xuôi Nam Bộ

1.3 Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của Trần Kim Trắc, chúng tôi

không có tham vọng đánh giá ông trong phạm vi rộng mà chỉ đặt nhà văn này

Trang 6

trong vùng văn học Nam Bộ để thấy được những nét riêng biệt, độc đáo Hy vọng với việc làm này, chúng tôi có thể góp phần nhỏ bé vào việc lấp đầy dần những mảng còn thiếu của bức tranh nghiên cứu - phê bình về văn học Nam

Bộ và tự trang bị thêm kiến thức để dạy học phần truyện ngắn cũng như phần văn học địa phương Nam Bộ trong nhà trường phổ thông được tốt hơn

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trần Kim Trắc là một trong ba nhà văn Nam Bộ được Nhà xuất bản Trẻ

ký kết tác quyền trọn đời, sau nhà văn Sơn Nam và Trang Thế Hy Tài sản văn chương của ông hiện có tới gần 200 truyện, dự kiến sẽ được in thành 19 tập (Nxb Trẻ quyết định ký kết tác quyền trọn đời với nhà văn tính từ tháng 11- 2015) Nhân dịp này, Nxb Trẻ cho ra mắt 5 tập sách, được làm mới từ nội

dung đến diện mạo trình bày, bao gồm 4 tập truyện ngắn: Khúc hát trái tim

gà; Chuyện riêng tư chốn sơn tràng; Kẻ ma làm; Ông thối, bà thiu và 1 tập

tản văn là Lý lắc Nam Bộ

Có thể nói, Trần Kim Trắc đã có những cống hiến không nhỏ cho việc

tô đậm bản sắc văn chương Nam Bộ Tuy nhiên, giới nghiên cứu văn học lại chưa quan tâm nhiều đến ông Tính đến hiện nay, đáng chú ý nhất phải kể đến

nhà văn Nguyễn Khải với bài viết Cái mỉm cười với chính mình, được dùng làm Lời bạt cho tập tản văn Lý lắc Nam Bộ Ở bài viết này, Nguyễn Khải đã

dẫn lời của nhà văn: “Tôi đã sống tức là tôi đã viết” và “Cách mạng với tôi là một ân huệ, cuộc đời chiến sĩ, cuộc đời làm rừng, những năm tháng sống phiêu bạt, đói rách, những thành kiến và đủ loại trở ngại với tôi đều là may mắn để tự tước bỏ mọi lớp vỏ, để được sống nguyên vẹn với cái lõi trần trụi của anh Cái lõi ấy không tầm thường đâu, là gỗ tốt đấy, gỗ quý đấy” [79, 182] Đồng thời, khi đọc các truyện của Trần Kim Trắc, Nguyễn Khải đã nhận xét rằng: “Một đời người không may mắn mà không có một truyện nào hàm chứa sự bất bình, nỗi oán hận hoặc những nhận xét chua chát, cay nghiệt Câu văn thật nhẹ, thật thanh thoát và tươi tắn Và rất vui, không phải là cái vui hồn

Trang 7

nhiên, thơ ngây của tuổi trẻ Mà là cái vui của người đã trải đời, đã nếm đủ mùi tân khổ, dầu là thế được sống trọn vẹn một đời người vẫn là vui lắm, cái tình giữa người với người vẫn là ấm áp lắm Người cũng đáng yêu mà những con vật sống kề cận với người cũng đáng yêu Cái thương và cái yêu cứ thấm vào từng truyện, từng câu văn, từng chữ dùng Văn chương như đã thoát khỏi mọi ràng buộc, mọi khen chê của thế tục để chỉ viết cho mình thôi, như một tự

sự dài về một đời trầm luân nhưng không chịu để mất tấm lòng bao dung, nhân hậu của mình” [79, 183]

Bên cạnh đó, rải rác có một vài bài viết ngắn nhắc về ông, đáng kể như

Nhà văn Trần Kim Trắc lí lắc tuổi 86 của Hòa Bình, Nhà văn Trần Kim Trắc sống thật và cảm xúc thật của Hà Đình Nguyên hay bài phỏng vấn Trần Kim Trắc một đời… tự cười do Tô Hoàng thực hiện Hà Đình Nguyên trong bài

viết kể trên đã nhận xét: “Văn học cần cái cảm xúc thật, nhất là tình cảm yêu

thương dễ đi vào lòng công chúng” [41]… Có lẽ, với Trần Kim Trắc, những

gì trải qua trong đời tự nó đã thành tác phẩm rồi, và việc của ông chỉ là chép lại những ký ức từng trải ấy thôi

Ngô Kinh Luân trong bài viết Nhà văn Trần Kim Trắc - Ở ẩn thị thành

cho rằng: “Truyện ngắn của Trần Kim Trắc luôn có vai trò riêng biệt mang nét đặc trưng của vùng đất Nam Bộ”, “Văn của ông trong trẻo, hồn hậu mà

ngẫu nhiên ám ảnh đến kỳ lạ” [29]

Gần đây, có một luận văn nghiên cứu văn chương của Trần Kim Trắc nhưng đi theo một hướng tiếp cận khác Đó là luận văn tốt nghiệp của tác giả Trần Diệu Tâm với đề tài “Trần Kim Trắc cuộc đời và tác phẩm”, bảo vệ năm

2010 Trong luận văn này, tác giả Trần Diệu Tâm “chỉ mới dừng lại ở việc tìm hiểu những nét chính trong cuộc đời của nhà văn Trần Kim Trắc cùng quan điểm nghệ thuật, cảm hứng, thể loại sáng tác và đặc điểm về giọng điệu, ngôn ngữ trong tác phẩm của ông”, “đem đến cho người đọc cái nhìn từ bao quát đến cận cảnh về cuộc đời và tác phẩm của Trần Kim Trắc” [52, 80]

Trang 8

Chúng tôi cảm thấy thật tiếc cho một cây bút xuất sắc, giàu chất văn nhưng chưa được chú ý nhiều Trân trọng tài năng của ông, chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu Hy vọng càng ngày văn chương của Trần Kim

Trắc và những đóng góp của ông cho văn chương Nam Bộ càng được chúng

ta cảm nhận rõ hơn, đánh giá đầy đủ và thỏa đáng hơn

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm truyện ngắn Trần Kim Trắc trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Chúng tôi nghiên cứu Trần Kim Trắc qua các tập truyện đã được Nxb Trẻ tập hợp và in thành sách vào cuối năm 2015, bao gồm 4 tập truyện ngắn:

Chuyện riêng tư chốn sơn tràng; Kẻ ma làm; Khúc hát trái tim gà; Ông thối,

bà thiu và 1 tập tản văn là Lý lắc Nam Bộ (trên thực tế, rất khó phân định sự

khác nhau giữa truyện ngắn và tản văn Trần Kim Trắc) Ngoài ra, để có tư liệu đối sánh, chúng tôi còn mở rộng diện khảo sát ra nhiều tập truyện ngắn của các tác giả Nam Bộ khác như Bình-nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy,

Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Ngọc Tư…

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn Trần Kim Trắc nhằm làm sáng tỏ những đóng góp riêng của nhà văn cho truyện ngắn Nam Bộ nói riêng và truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói chung

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2.1 Dựng lại hành trình sáng tác văn chương của Trần Kim Trắc 4.2.2 Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Trần Kim Trắc

4.2.3 Bước đầu chỉ ra những đóng góp của Trần Kim Trắc đối với văn chương Nam Bộ

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống

Đây là phương pháp hữu hiệu có thể giúp người nghiên cứu nhìn ra mối liên hệ giữa sáng tác với trải nghiệm cuộc đời của nhà văn; nhìn ra cấu trúc tổng thể của phong cách văn chương, phong cách truyện ngắn Trần Kim Trắc

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Để tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn Trần Kim Trắc, trước hết cần phải phân tích chính những tác phẩm của nhà văn này trên các phương diện nội dung và nghệ thuật, sau đó, tổng hợp lại để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về những đóng góp đáng chú ý của tác giả

- Phương pháp so sánh

Bên cạnh việc phân tích, chúng tôi cố gắng so sánh các chặng đường sáng tác của Trần Kim Trắc trước và sau năm 1975 với nhau để thấy được sự biến đổi về bút pháp cũng như nội dung thể hiện của nhà văn Đồng thời, chúng tôi cũng so sánh văn chương của ông với những nhà văn Nam Bộ khác

để thấy được những nét riêng trong phong cách nghệ thuật Trần Kim Trắc cũng như vị trí của nhà văn trong nền văn học Nam Bộ

- Phương pháp thống kê, phân loại

Trong quá trình tìm hiểu truyện ngắn của Trần Kim Trắc, có những đặc điểm phải được làm rõ dựa trên sự phân tích, tổng hợp, và hiển nhiên, sự thống kê, phân loại luôn cần thiết cho công việc này

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn bước đầu chỉ ra những đóng góp của Trần Kim Trắc cho nền văn chương Nam Bộ, đồng thời phân tích những nét đặc trưng của phong cách truyện ngắn Trần Kim Trắc Luận văn sẽ giúp người đọc thấy rõ hơn chất Nam Bộ đậm đặc, rất riêng trong ngôn ngữ văn chương của tác giả

Trang 10

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong 3 chương

Chương 1 Hành trình văn học của Trần Kim Trắc

Chương 2 Cái nhìn về con người và thế giới sự kiện, nhân vật trong

truyện ngắn Trần Kim Trắc

Chương 3 Nghệ thuật truyện ngắn Trần Kim Trắc

Trang 11

Chương 1 HÀNH TRÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN KIM TRẮC

1.1 Vài nét tiểu sử và con người Trần Kim Trắc

1.1.1 Vài nét về tiểu sử

Trần Kim Trắc sinh ngày 14-6-1929, quê ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo (Mỹ Tho), tỉnh Tiền Giang Hiện nay, ông sống tại số nhà 458/12 đường 3 Tháng 2, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài tên khai sinh Trần Kim Trắc thì NT và Trần Kim là hai tên khác được ông chọn làm bút danh sáng tác

Trần Kim Trắc sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống nho học Ông nội là người ăn chay trường, tu tập tôn giáo, thờ cả đạo Phật và đạo Cao Đài Cha ông là người rất nghiêm khắc, từng là một nhà giáo nên luôn đề cao việc học, một huấn luyện viên thể dục, một hướng đạo sinh, tôn sùng chủ nghĩa duy tâm và từng tham gia cách mạng giết giặc bảo vệ quê hương đất nước Trần Kim Trắc rất kính trọng, ngưỡng mộ người cha của mình và chính ông đã thừa hưởng từ người cha, cũng là người thầy, rất nhiều điều về phong cách sống

12 tuổi, Trần Kim Trắc phải gánh chịu nỗi mất mát lớn trong đời Mẹ mất sớm, ba tục huyền, ông phải sống cảnh mẹ ghẻ con chồng Tuổi thơ vui ít, buồn nhiều nhưng Trần Kim Trắc rất ham học Sau khi học hết lớp 9 ở trường làng, ông được chuyển lên tỉnh học trường sơ đẳng Nhìn bảng kết quả học tập của cậu con trai kém hơn so với những năm trước, cha ông không hài lòng nên đã quyết định lên xin Ban giám hiệu nhà trường cho ông lưu lại lớp học một năm nữa Dẫu lúc ấy, so với mặt bằng chung của lớp đệ nhị thì Trần Kim Trắc vẫn đạt loại khá, được xếp thứ 18 trên 45 và được lên lớp nhất Kể từ đó

về sau, năm nào ông cũng đứng ở vị trí nhất nhì lớp

Ngày 9/ 3/ 1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn Đông Dương Tình hình đất nước rối ren, nhân dân lâm cảnh khốn cùng Trần Kim Trắc đang

Trang 12

theo học trường Tây thì phải chứng kiến sự tàn ác, hống hách của giặc nên chàng thanh niên ấy tham gia vào cách mạng, cùng đi tranh đấu trong đội trừ gian Trong khoảng thời gian 1945 - 1946, ông hoạt động nội thị, rải truyền đơn và giấu vũ khí Giặc phát hiện, ông bị giặc bắt giam, việc học hành đành gác lại nửa chừng Ra tù, chàng thanh niên sớm giác ngộ được lý tưởng cách mạng ấy tìm vào với chiến khu, khi vừa tròn 17 tuổi Trước sự lựa chọn đi theo con đường cách mạng của con trai mình, cha ông cũng tìm đến với Cách mạng ở Đồng Tháp Mười Sau đó, mẹ kế của ông cũng dẫn con thơ theo chồng làm cách mạng Bọn giặc tràn vào, chúng đốt cháy ngôi nhà của gia đình mà cha ông đã mất bao mồ hôi, công sức để gây dựng nên Ngọn lửa căm thù giặc trong ông một lần nữa lại bùng lên mãnh liệt, ông vào chiến khu VIII làm ở Ban tuyên truyền lưu động, rồi đi bộ đội phục vụ tại Tiểu đoàn 307 nổi tiếng thời kháng chiến chống Pháp Chính thời gian này, anh bộ đội Trần Kim Trắc bước chân vào địa hạt văn chương và đã nhanh chóng lừng danh khi đoạt giải thưởng Văn Nghệ Cửu Long năm 1952 với truyện ngắn đầu tay

Cái lu

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, sau đó trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957) Ngày vui ngắn chẳng tày gang, chàng trai đa tài thời điểm ấy đang ấp ủ trong mình bao nhiêu

dự định và hoài bão lớn lao thì gặp phải một biến cố Ông đã bị kỷ luật, buộc thôi việc Cuộc đời của ông từ đó rẽ sang một hướng khác, cắt rời với đời sống văn chương Ông đi theo tiếng gọi của tình yêu phiêu bạt giang hồ, làm

đủ nghề để kiếm sống như thợ sơn tràng (khai thác gỗ), phu bốc vác, làm nông sản, chế biến thực phẩm… và cả làm rừng nuôi ong lấy mật, lập nghiệp

ở tận Tuyên Quang Hành trang mang theo trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc của Trần Kim Trắc vào những năm cuối của thập niên 1960 và những năm đầu thập niên 1970 chỉ có một gói nấm mốc làm men nước chấm và một cái thùng gỗ nuôi ong Mười năm nơi đất khách đầy vất vả ấy, ông sống trong

Trang 13

ngôi nhà nhỏ cạnh hồ Nông Tiến bằng nghề sản xuất nông sản Hồi đó, nước chấm của ông được làm rất ngon, cứ ba ngày là cho ra sản phẩm một lu và được bao nhiêu bán hết bấy nhiêu Một thời gian sau, ông chuyển sang nuôi ong lấy mật, từ một thùng gỗ làm giống ban đầu, Trần Kim Trắc đem thuần dưỡng ong rừng thành ong nhà và đã thành công với nghề nuôi ong này Cứ ngỡ từ đây ông có thể sống cần mẫn suốt đời với biệt danh mà mọi người biết đến là “vua ong” ở bến đò Bình Ca lịch sử Thế nhưng, vào tháng 7 năm 1975

vợ chồng nhà văn để lại sản nghiệp cho họ hàng, người thân; chỉ mang theo

20 đàn ong làm vốn liếng tiến vào phương Nam Cuộc sống của ông và gia đình khá thảnh thơi, vẫn gắn bó sống với nghề nuôi ong lấy mật rất có tiếng tại nhà riêng số 306, đường Nguyễn Thị Minh Khai, Sài Gòn Có điều, chữ nghĩa như vẫn còn đeo đẳng, bủa vây lấy cuộc đời ông Cũng chính tại nơi này, được sự động viên của những đồng đội 307, Trần Kim Trắc trở lại với trang viết như chưa từng ngừng nghỉ Ngót 30 năm đằng đẵng ngược xuôi, trải nghiệm bao vất vả, gian truân của cuộc đời, ông đã gom nhặt được nhiều chất liệu, vốn liếng cần thiết cho việc viết văn

Văn chương của ông phản ánh những gì diễn ra trong cuộc sống một cách chân thật, hóm hỉnh… Ở đó có cái sự lí lắc, chất tếu riêng và đặc tính của con người Nam Bộ Tác giả dù phải trải qua một cuộc đời đầy bầm dập ra Bắc, vào Nam nhưng văn ông vẫn hồn hậu, thấm đẫm tình nhân ái, không một lời oán trách, thở than Mọi điều được nhắc đến trong các trang viết của ông đều được quy chiếu về cái nhìn đạo đức, hướng thiện, khiến cho người đọc thấy yêu cuộc sống hơn Đọc văn ông, ta cảm nhận được một nguồn tình cảm dạt dào, một ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến của bậc minh triết

Trần Kim Trắc là gương mặt văn chương được xếp vào nhóm những nhà văn Nam Bộ tiêu biểu như Bình-nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Ngọc Tư, Tháng 11- 2015, ông là một trong số

ít nhà văn được Nxb Trẻ chọn mời ký kết hợp đồng tác quyền trọn đời như

Trang 14

Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Huy Thiệp Nhà văn Trần Kim Trắc cũng

là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh

1.1.2 Con người Trần Kim Trắc

Trần Kim Trắc xuất hiện khá sớm trên văn đàn nhưng lại thành danh rất muộn Ngã rẽ cuộc đời đã khiến ông có khoảng thời gian dài xa rời những trang viết Mãi đến ngày đất nước thống nhất, Trần Kim Trắc mới viết lại Văn ông có vẻ nở hậu Càng cuối đời, ông lại càng có những tác phẩm đầy hương vị, mang phong cách văn chương độc đáo Truyện ngắn của Trần Kim Trắc “giống hệt” cuộc đời, con người của ông Dường như những phần dư thừa đã được gạn lọc hết để cái còn lại là phần cốt lõi, tinh túy nhất của một cuộc đời nhiều thăng trầm

Trước hết, Trần Kim Trắc là con người có tuổi thơ bất hạnh, khổ đau với bao mất mát, thiệt thòi Ông từng viết về tuổi thơ đáng thương của mình khi không còn có mẹ, nỗi nhớ mẹ thường trực theo vào cả trong giấc chiêm bao:

“Tôi 12 tuổi, mồ côi mẹ

Đêm đêm nằm nghe ông sư tụng kinh, giật mình thức giấc, mắt nhòe lệ, gối thấm ướt, mới hay mình đã khóc mẹ trong cả giấc chiêm bao

Mùa me chín không ai hái, tôi lại hồi tưởng đến cảnh các con quân quần bên mẹ chích hạt me để dành ăn dần cả năm Nghe tiếng chày nhà ai quết bánh, lại nhớ mẹ bồng bột bẻ phơi ra nong lúc nào cũng sẵn làm bánh cho con trẻ Giờ đây mái ấm đâu còn như xưa Trưa trưa thèm bánh không có gì ăn đành lục lọi nồi cơm, nhai dề cơm cháy mà nước mắt ngắn dài” [77, 220-221]

Sau đây, xin điểm qua một số tư liệu viết về nhà văn, chúng ta dễ dàng nhận ra Trần Kim Trắc là con người giàu nghị lực, biết vượt lên số phận Nỗi bất hạnh cuộc đời không khiến ông nản lòng Trần Kim Trắc vẫn ham học và quyết tâm được đi theo cách mạng, phục vụ kháng chiến diệt trừ bọn gian Bao nhiêu biến cố cứ ập đến với ông như bị giặc bắt giam, rồi gặp chuyện không may trong cuộc sống, bị kỷ luật, buộc thôi việc,…song lúc nào ông

Trang 15

cũng thể hiện niềm lạc quan, tin yêu con người và cuộc sống Dường như sống trong cái khổ, người ta cũng quen khổ rồi Ông bảo: “Tôi vốn là người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc điểm của vùng này là sống chung với lũ Đã là lũ thì trong cái hại vẫn có cái lợi (nước lũ đem phù sa về bồi đắp

cho đất đai thêm màu mỡ, cây cối xum xuê)…” [29]

Ở nhà văn Trần Kim Trắc luôn có những nét riêng không trộn lẫn vào đâu được đó là tâm lý và tính cách của con người Nam Bộ Đã có lần nhà văn

trải lòng tâm sự trong bài viết Nhà văn Trần Kim Trắc: khi viết, tôi hay tự

giễu mình của tác giả Tô Hoàng rằng: “Tôi là một người viết quê Nam Bộ, mà

người Nam Bộ - như đã nói với anh, bản chất vốn lạc quan Cái làm nên giá trị này là quan hệ giữa con người với con người Muốn vậy phải đồng cảm trong lý tưởng sống, “đồng lõa” trong khoái cảm Những người đồng cảm với nhau nhất là những người có “tật”, những người như vậy rất thành thật với nhau Và cái khó nhất chính là thắng được bản thân mình” Dường như từ thời trai trẻ, Trần Kim Trắc đã xây dựng những quan niệm sống cho mình! Có lẽ quan niệm đó cũng xuất phát từ phẩm chất đẹp đẽ của người con Nam Bộ: hào sảng, nghĩa khí, nghĩa hiệp, trọng tình,… Bởi thế cho nên: “Nếu vấp ngã thì đứng dậy, phủi quần, tiếp tục đi nữa Chứ không nằm vạ, không khóc than Còn là tâm lý trọng nghĩa khinh tài, coi đồng tiền không quan trọng Xuống đồng mò cua, bắt óc cũng đủ cái ăn Trực tính nữa Dân ấp, dân lân mà! Tự phiêu dạt, tự khai khẩn, mở mang mà tồn tại đã tạo nên tính cách đó Cũng hết

sức thương người, nhân hậu, độ lượng” [22]

Trần Kim Trắc là người luôn thẳng thắn, dám đối diện với những biến động trong cuộc sống Ông là người biết được cái tài, cái tật của mình; biết nhận lỗi và sửa lỗi: “Tôi muốn nói những thăng trầm của cuộc sống bản thân tôi là do tại tôi chứ không phải bởi một định mệnh nào cả Như thế thì sao lại

đổ thừa bởi thân phận? Bể khổ ta không qua, ai qua?” Phật nói thế mà! Dân

gian còn có câu rất hay “dám chơi, dám chịu!” [33]

Trang 16

Cho nên, Trần Kim Trắc đã từng dặn lòng những điều răn dạy của nhà Phật: “…tôi thề với mình: Quay lưng lại với cái buồn, không phải nói như người ta là làm lại cuộc đời - ai sinh ra cho mình lần nữa mà bảo là làm lại -

mà tiếp tục sống với kinh nghiệm quãng thời gian đã qua

Tôi không theo tôn giáo nào nhưng qua tự kiểm, tôi thích chữ “thoát”

của nhà Phật

Thoát khỏi danh vọng

Thoát khỏi tiền tài

Thoát khỏi dục tính thái quá

Ba thứ này không có nó không có hạnh phúc cuộc đời và cũng là ba thứ làm khổ đời nhiều nhất

Tôi không mất thì giờ vào những ao ước vinh quang

Tôi không mất thì giờ vào những ao ước xin cho

Tôi cũng không thụ động ăn chay niệm Phật

Chỉ vì tui muốn tiếp tục sống, thế thôi!” [78, 144-145]

Có lẽ những gì đã trải qua trong cuộc đời đã giúp Trần Kim Trắc có một quan niệm sống chịu ảnh hưởng tư tưởng nhà Phật Với ông, “Sống là để yêu và được yêu” [75, 81] Thế nên, lúc nào nhà văn cũng có cái nhìn phóng khoáng, lạc quan của con người vùng sông nước Ở ông luôn hiện lên hình ảnh một con người với nụ cười “Lý lắc Nam Bộ” chứ không phải là nỗi buồn

và giọt nước mắt: “Bản tính của tôi là thích nhìn ra cái lý lắc của cuộc đời Tức là những cái chéo ngoe, cắc cớ, không suôn sẻ từ đầu Nhưng là những lý lắc vui, đáng nhớ, mang lại sự ấm áp cho nhau và dẫn tới một kết cục có

hậu…” [22]

Chúng tôi đã đến thăm nhà văn trong căn nhà riêng của ông tại Sài Gòn Trần Kim Trắc đã khiến chúng tôi thật sự xúc động Tuổi già, sức khỏe ngày càng yếu đi, cách đây bốn năm ông lại phải trải qua cú sốc quá lớn khi

cô con gái duy nhất (chị Vân Anh) mà ông rất mực yêu thương đã vĩnh biệt

Trang 17

gia đình vì căn bệnh ung thư quái ác Nỗi mất mát quá lớn đó đến tận bây giờ nhà văn vẫn chưa thể nguôi ngoai Tuy nhiên, vợ ông (cô Hoàng Minh Nguyệt) lúc nào cũng bên cạnh ân cần chăm sóc chu đáo và cùng ông chia sẻ lúc tuổi già… Có lẽ vì thế nên trông nhà văn vẫn giữ được sắc diện hồng hào, thông tuệ với đôi mắt sắc sảo tinh tường, nụ cười hóm hỉnh Khi được hỏi về quãng thời gian mà nhà văn đã “đi qua” trong cuộc đời từ Nam ra Bắc, rồi lại vào Nam, dường như, trong ký ức của nhà văn, kỉ niệm về mấy chục năm dài rong ruổi lại hiện về Nhớ nhất là khi ra Hà Nội tập kết năm 1954, ông không chỉ là lính biên chế Tiểu đoàn 307 mà còn giữ vai trò quan trọng trong Tiểu đoàn này như biên tập bài vở và sáng tác phục vụ lính Ông mang trong mình nhiều khát vọng và hoài bão Thế nhưng, lúc an toàn nhất lại là lúc biến cố cuộc đời xảy ra… Dường như đến tận bây giờ nhà văn vẫn còn băn khoăn với lỗi lầm thời tuổi trẻ đó Có chuyện nhiều khi muốn quên nhưng thật không dễ

vì “Hành vi lưu giữ trong bộ nhớ, ký ức lúc nào đó lại sống dậy, xỉa xói vào người cho thẹn để mà vui, mà buồn, làm sao quên được? Tưởng đâu đã quên phứt đi như nước chảy qua cầu, đâu ngờ sự thật cứ quanh quẩn trong ta như

dấu vết hình sự, chạy đâu cho thoát?” [75, 71] Phải chăng, đó cũng là lí do

một thời gian dài nhà văn vắng bóng trên văn đàn Thì ra, ông gác bút để tự sửa mình: “Không viết một thời gian dài vì tui lầm lỗi; tui mất việc, “đóng

cửa” để tự sửa mình” [80] Nhưng rồi, tính ông hay cười, giọng Nam Bộ rặt

Khóe mắt nhà văn ánh lên niềm tự hào bởi mình từng là lính thuộc Tiểu đoàn

307 - tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên tại Nam Bộ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp

Với Trần Kim Trắc, sự trải nghiệm đã giúp ông biết nhân tình thế thái

mà giữ mình, giữ khoảng cách để nhìn thấu và tìm được điều hay mà sống Cho nên, người ta vẫn nhìn thấy ở Trần Kim Trắc - “một ông già Nam Bộ” thấu thị mọi lẽ đời với cái nhìn nhẹ bỗng như không, đầy lạc quan, yêu đời…

Quả vậy, có lần nhà văn Nguyễn Khải khi đọc Ông Thiềm Thừ đã phải tìm

Trang 18

gặp Trần Kim Trắc và nói: “Anh Trắc, bao nhiêu năm rồi, bao nhiêu biến cố rồi mà sao anh vẫn thư thái, tự tại đến vậy Tôi đọc văn ông không thấy ông

oán than gì” [29] Có thể nói rằng, ở cái tuổi xưa nay hiếm, với một sản

nghiệp văn chương để đời đáng tự hào, Trần Kim Trắc được nhiều đồng nghiệp, độc giả mến mộ và kính trọng về tác phẩm cũng như nhân cách sống

1.2 Trần Kim Trắc trong làng văn Nam Bộ

1.2.1 Những điều kiện đưa đến sự hình thành của vùng văn xuôi Nam Bộ trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

Văn học miền Nam nằm trong dòng chảy chung của văn học cả nước

Do điều kiện lịch sử đặc biệt của đất nước và điều kiện địa lý ngăn trở cùng với cả những khác biệt về văn hoá, về cảm quan nghệ thuật của từng vùng

miền… nên nền văn xuôi Nam Bộ được hình thành có tính chất đặc thù

* Về điều kiện về lịch sử, xã hội

Văn xuôi Nam Bộ hình thành trong một điều kiện lịch sử xã hội có nhiều biến cố: miền Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đất nước trải qua nhiều chặng đường chống xâm lăng Từ năm 1861, đồn Kỳ Hòa thất thủ; sau đó một năm, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông (1862) rồi thâu tóm hết lục tỉnh Nam Kỳ (1867) Đến năm 1884, sau hiệp ước Patenôtre, Việt Nam hoàn toàn mất độc lập, chủ quyền Từ đó nhiều biến chuyển quan trọng trong xã hội Nam Kỳ đã nảy sinh…

Thời kỳ này, hiện tượng lịch sử nổi bật nhất là cuộc nổi dậy của nghĩa quân miền Nam dưới sự chỉ huy của các tướng lãnh, các quan lại, sĩ phu yêu nước không phụng mệnh triều đình như: Trương Định ở Gò Công; Nguyễn Trung Trực ở Long An - Rạch Giá - Hà Tiên; Thủ Khoa Huân ở Mỹ Tho; Đốc binh Kiều ở Đồng Tháp; Trần Thiện Chánh, Lê Huy, đốc binh ở vùng Cần Giuộc, Rạch Kiến Thực dân Pháp bằng mọi cách đàn áp các cuộc khởi nghĩa của quân nhân dân ta như dùng sức mạnh quân sự, sử dụng Việt gian, khét tiếng nhất là các tên như Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn,… Trong các cuộc

Trang 19

nổi dậy đó, nhân dân ta đã đồng sức, đồng lòng quyết tâm chiến đấu chống lại

kẻ thù xâm lược

Năm 1885, cuộc khởi nghĩa Mười tám thôn Vườn Trầu do 2 ông Phan Công Hớn và ông Nguyễn Văn Quá lãnh đạo đã nổ ra, nghĩa quân tấn công vào huyện lỵ Bình Long (Hóc Môn), giết chết tên Đốc phủ sứ gian ác Trần Tử

Ca, tay sai đắc lực của Thực dân Pháp Đến đầu thế kỷ XX vẫn còn liên tiếp hai cuộc khởi nghĩa nữa vào năm 1913 và 1916 Khi phong trào Cần Vương lụi tàn thì phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân được khởi xướng và chí

sĩ Nam Kỳ hưởng ứng sôi nổi như Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc Liêng, Lương Khắc Ninh… Các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp trên các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị vẫn diễn ra ở Nam Kỳ Năm

1903 Phan Bội Châu đến vùng Thất Sơn Châu Đốc gặp một nhà sư họ Trần

để kiểm điểm lực lượng Cần Vương còn sót lại và gặp gỡ các nhà Duy Tân Nam Kỳ Nhiều phương tiện truyền thông đại chúng cổ vũ cho phong trào này

như các tờ báo Nông cổ mín đàn, Lục tỉnh tân văn Các phong trào đã thể hiện

một bước trưởng thành trong ý thức của nhân dân Nam Kỳ trên con đường giải phóng đất nước Và quá trình đô thị hoá ở Sài Gòn diễn ra nhanh chóng với sự xuất hiện nhiều tầng lớp, giai cấp Bến cảng, các ngành công nghiệp liên quan được chú ý phát triển Các chính sách thực dân về chính trị và kinh

tế đã gây ra một sự phân hoá sâu sắc trong các tầng lớp xã hội ở Nam Kỳ Nhiều thành phần, tầng lớp, nghề nghiệp mới đã xuất hiện như công nhân, thông ngôn, bồi bếp và cả trí thức nho học, Tây học,…bên cạnh những những người nông dân truyền thống

Về mặt lịch sử, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, miền Nam, mà đặc biệt là Sài Gòn Gia Định, đã dần dần trở thành trung tâm chính trị quan trọng của Việt Nam Nơi đây tiếp nhận nhiều ảnh hưởng tư tưởng cách mạng: tư tưởng phản đế, phản phong của Trung Hoa và nhiều học thuyết chính trị như chủ nghĩa Tam dân, chủ nghĩa dân chủ đại nghị Âu Tây… Vì vậy, các phong

Trang 20

trào bạo động vũ trang, đấu tranh chính trị ngày càng có nhiều màu sắc đa dạng như công khai, bí mật, biểu tình, Tất cả các giai cấp, các tầng lớp, tổ chức chính trị đều muốn thể hiện các chương trình hành động về chính trị, xã hội, văn hoá của mình Lúc bấy giờ, nổi bật nhất vẫn là ý chí giành độc lập tự

do được thể hiện trên mọi bình diện sinh hoạt của dân tộc

* Về điều kiện về văn hóa, thẩm mĩ

Nam Bộ là vùng đất hội nhập nhiều luồng văn hóa Đông - Tây khác nhau Nơi đây có sự giao lưu với văn hoá Trung Hoa, Chăm, Khơme từ hồi cha ông ta mới khẩn hoang lập ấp cho đến khi có sự giao lưu với văn hoá phương Tây vào đầu thế kỉ XIX Nam Bộ cũng trở thành không gian gặp gỡ và cùng sống chung của nhiều tộc người như Chăm, Khơ me, Hoa, Mạ , trong đó người Việt đóng vai trò chính Những người Việt đầu tiên đến định cư ở vùng đất mới đều từ miền Bắc và miền Trung Họ đến và mang theo vốn văn hoá gốc

rễ của mình vào Nam làm cho ngôn ngữ Nam Bộ đa dạng về màu sắc văn hoá

và ngữ điệu Ngôn ngữ ở vùng đất này dần dần đã chứng tỏ được sự uyển chuyển và mềm mại để dung nạp nhiều yếu tố ngoại lai, làm mạnh mẽ thêm nội lực sẵn có của nó Từ khi diễn ra cuộc tiếp xúc với văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, các nhà văn Nam Bộ đã cố công vận dụng những kỹ thuật viết văn của phương Tây vào tác phẩm của mình Tuy mới chỉ là những tác phẩm ở dạng đơn sơ, mộc mạc về nội dung và hình thức nhưng chính những tác phẩm như vậy đã mở đầu cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

Những tờ báo đầu tiên của đất nước ta như "Gia Định báo" (1870),

“Thông loại khóa trình” (1888), “Nông Cổ Mín Đàm” (1906)…xuất hiện ở miền Nam Chính những tờ báo này đã tổ chức những cuộc thi sáng tác

truyện, tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ đầu tiên ở nước ta như Quốc Âm thí

cuộc… Nam Bộ trở thành mảnh đất ươm mầm cho nền văn học hiện đại

Việt Nam phát triển Đây là nơi sản sinh ra đội ngũ nhà văn đi đầu, làm nhiệm

vụ “khai sơn phá thạch” cho nền văn xuôi nước nhà

Trang 21

Học tập văn học phương Tây, hiện đại hóa các bình diện hoạt động khác nhau của văn học Việt Nam là con đường dẫn đến sự toàn thắng của văn học quốc ngữ hiện đại Xu hướng này đã xuất hiện sớm nhất ở miền Nam trong lĩnh vực biên khảo, dịch thuật hoàn toàn theo phương pháp Tây phương (Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của…) Đặc biệt, trong số những sáng tác khởi đầu cho văn xuôi tự sự quốc ngữ miền Nam, chúng ta phải kể đến

Truyện thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản Bên cạnh đó, hình

thức truyền bá văn chương mới cũng phổ biến sớm nhất ở miền Nam như nhà

in, nhà xuất bản, truyện đăng báo, tổ chức các cuộc thi viết tiểu thuyết

Đầu thế kỷ XX trên các báo quốc ngữ ở Nam bộ đã xuất hiện những tác phẩm còn mang dấu vết của kiểu truyện kể đơn giản, chưa có yếu tố gia công

về kĩ thuật cao Bùi Đức Tịnh đã nhìn nhận đó là “những bài theo lối chuyện

ngày xưa, chuyện kể dân gian” Theo lối này, ở miền Nam có Chuyện hai anh

khùng, Chuyện anh hà tiện (Trần Phục Lễ 1903); Làm khôn cả Phồn sinh dại

(1903), Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn (1902) của Nguyễn Chánh

Sắt,… Tuy có những thành tựu như vậy nhưng trong một thời kỳ khá dài, vai trò của nền văn xuôi Nam Bộ không được các nhà nghiên cứu đánh giá một cách thỏa đáng

Tuy nhiên, nhờ mối quan hệ với văn học Hán Nôm trong suốt nhiều thế

kỷ, mà trực tiếp là văn học Hán Nôm thế kỷ XIX, văn học quốc ngữ Việt Nam nói chung và Nam kỳ nói riêng vẫn kế thừa các truyền thống yêu nước, nhân đạo, nhân văn, kế thừa các thành tựu về thi pháp của truyền thống Sau khi Pháp đã đặt nền đô hộ, các nho sĩ của Bạch Mai thi xã đất Gia Định đã dùng văn học làm vũ khí trong phong trào bút chiến chống tay sai thân Pháp, thể hiện âm vang của luồng cảm hứng yêu nước, anh hùng đã được dấy lên trong văn học dân tộc từ nhiều thế kỷ trước Cảm hứng này sau đó còn hiện diện trong mảng văn chương bằng chữ quốc ngữ đã xuất hiện rất sớm và rất phong phú trên báo chí miền Nam trong thập niên đầu thế kỷ XX Ngoài ra, chúng ta

Trang 22

cũng thấy có sự tiếp nhận cảm hứng nhân đạo, nhân văn truyền thống trong mảng văn chương sáng tác ở miền Nam

Trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử miền Nam, việc tiếp nhận ảnh hưởng phương Tây trong văn học quốc ngữ là một quá trình phức tạp và tế nhị Thái độ của văn chương miền Nam đối với cái cũ và cái mới không ồ ạt, quyết liệt Đề tài, cảm hứng, thể loại, ngôn ngữ văn chương đều được thay đổi triệt để Những dấu hiệu hiện đại hóa diễn ra một cách ôn hòa trong cả hai phương thức vừa nêu, thể hiện trong quá trình cách tân và chuyển đổi sâu sắc

về cảm hứng và đề tài sáng tác, bên cạnh các yếu tố khác như ngôn ngữ văn chương, cách xây dựng nhân vật Văn học quốc ngữ Nam bộ còn ra đời trong nhận thức về mối quan hệ giữa Việt Nam với thế giới và các nước trong khu vực Nền văn học này đã dần được hình thành trong những cao trào cách mạng, cao trào văn chương hướng về mục đích canh tân đất nước và hiện đại hóa văn học Nhiều bộ phận có liên quan đến sự phát triển của văn học như dịch thuật văn học Đông Tây, báo chí, cải lương Bộ phận sáng tác là thành phần chính thức với văn xuôi chính luận, bút chiến bằng chữ quốc ngữ trên báo chí xuất hiện sớm nhất trong cả nước

Như vậy, Nam Bộ là vùng đất được tiếp thu nhiều luồng văn hóa Đông

- Tây khác nhau nên cốt cách con người và nền văn học cũng hấp thu những tinh hoa sắc thái và "linh khí" của văn hóa các dân tộc Và lẽ tự nhiên, nền văn xuôi Nam Bộ trở thành một bộ phận không thể thiếu của văn học Việt Nam Nó tạo ra một khí quyển riêng, một vùng thẩm mĩ riêng, một diện mạo riêng Văn xuôi Nam Bộ hình thành đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của bộ phận văn học quốc ngữ ở vùng đất này, đưa văn học Nam Bộ tiến vào con đường hiện đại hóa Ở Nam Bộ, các nhà văn khá nhạy bén trong việc tiếp thu sáng tạo thể loại mới Sống ở vùng đất mới, họ ít bị níu kéo bởi những hình thức văn học trung đại, do vậy họ dễ dàng tiếp thu cái mới Sự ra đời của văn xuôi Nam Bộ đã mở ra một thời kì mới cho nền văn học dân tộc, đưa nền văn

Trang 23

học nước nhà từng bước thoát khỏi những quy phạm của văn học truyền thống Văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ xứng đáng được ghi nhận là một trong những viên gạch đầu tiên xây đắp nền văn học hiện đại Việt Nam

1.2.2 Một vài đặc điểm nổi bật của văn xuôi Nam Bộ từ 1945 đến nay

Văn học luôn vận động và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với hiện thực đời sống Chất liệu văn học lấy từ đời sống và văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực Nhà văn muốn thành công trước hết phải có vốn sống, vốn hiểu biết sâu rộng về thế giới xung quanh Tuy nhiên, hiện thực khi đi vào tác phẩm nó không rập khuôn máy móc mà đã được lọc qua lăng kính của nhà văn Mặt khác, đời sống thì luôn vận động biến đổi không ngừng nên nhà văn cũng phải không ngừng nắm bắt thời cuộc một cách nhạy bén Văn xuôi Nam Bộ cũng vậy, qua mỗi thời kì lịch sử, văn học có sự chuyển biến vận động khác nhau, đồng thời những biến cố lịch sử cũng để lại dấu ấn rõ nét trong từng giai đoạn

Văn xuôi Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt - đất nước có giặc và phải chống giặc Mấy mươi năm trường kỳ kháng chiến, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam, văn học tập trung thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc Vì vậỵ, một trong những cảm hứng cốt lõi của Văn học Việt Nam thời kỳ này là cảm hứng yêu nước Văn học mang đến khuynh hướng sử thi, thể hiện chức năng tuyên truyền, cổ động cách mạng, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ chính trị Do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt như vậy nên một số nhà văn sáng tác công khai

ở Nam Bộ đã thể hiện nỗi niềm đối với đất nước qua những truyện ngắn viết

về thiên nhiên, quê hương, con người trong một đất nước đang có chiến tranh, loạn lạc

Truyện ngắn của lớp nhà văn này vẫn giữ được bản sắc Nam Bộ, gắn

bó với chất liệu Nam Bộ Đọc văn xuôi Nam Bộ, chúng ta thấy hiện lên một

xã hội trong buổi đầu tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây về mọi mặt Có

Trang 24

thể nói luồng gió văn hoá mới phương Tây đã làm chao đảo nhiều giá trị văn hoá, tinh thần của con người Việt Nam Cây tư tưởng Nho học bám rễ bao đời trong tâm thức con người Nam Bộ cũng lay chuyển theo từng cơn lốc Tây học Thế nhưng đặc điểm nổi bật của văn xuôi thời kỳ này là tái hiện đặc trưng không gian sông nước - một vùng không gian riêng biệt, đồng thời nhấn mạnh con người Nam Bộ vô tư, cởi mở song vô cùng hảo hớn, nghĩa khí và trọng tình Chúng ta có thể kể đến các tác giả như: Bình-nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Văn Thảo…

Bình-nguyên Lộc là cây bút quen thuộc với độc giả miền Nam Ông viết nhiều thể loại nhưng nổi trội và thành công nhất là truyện ngắn Đây là nơi thể hiện tập trung tư tưởng và phong cách của nhà văn Người đọc thích

thú nhất với các tập truyện ngắn đặc sắc như: Nhốt gió (1950), Ký thác

(1960), Cuống rún chưa lìa (1969)… Văn chương Bình-nguyên Lộc thể hiện

sự giao lưu văn hóa, sự giao thoa văn hóa Bắc - Nam trong tâm thức, cách nhìn đời sống và giọng điệu văn chương Ông thường miêu tả đời sống con người ở vùng đất mới trong cuộc chiến đấu với thiên nhiên, thể hiện tấm lòng với quê hương đất nước, hướng về cội nguồn Nhiều truyện của ông mang không khí liêu trai như người trở về từ cõi âm, nhân vật hồ li…

Nhà văn Lý Văn Sâm thường viết về cuộc sống cơ cực của tầng lớp tiểu

tư sản, người dân nghèo thành thị, những kẻ dưới đáy xã hội như Lạc loài,

Mưa Sài Gòn, Ngoài mưa lạnh, Thèm một ngọn đèn….Nhân vật của ông

không chỉ chật vật kiếm sống mà còn khốn khổ vì chuyện bắt bớ, bố ráp thường xuyên Ngoài ra, ông còn viết một số truyện đường rừng, trong đó có những con người cô đơn, thất vọng về cuộc đời, trốn chốn phồn hoa đô thị để tìm về chốn rừng xanh hoặc quê hương sông nước

Sơn Nam là một tài năng khác của văn chương Nam Bộ Ông sáng tác trên nhiều thể loại Về truyện ngắn, được biết đến nhiều nhất là các tập

Trang 25

Hương Rừng Cà Mau và Biển cỏ miền Tây… Nhân vật của Sơn Nam thường

là những con người Nam Bộ thẳng thắn, bộc trực, can đảm, luôn biết vượt lên số phận, đấu tranh với thiên nhiên, với hoàn cảnh để sống hòa mình với thiên nhiên Trong hoàn cảnh sống khắc nghiệt, nhân vật của ông đã bộc lộ các phẩm chất tốt đẹp của mình: dũng cảm, gan góc, kiên cường, hào hiệp, nghĩa khí…

Sau 1975, lịch sử dân tộc mở ra một thời kì mới - thời kì độc lập, tự do

và thống nhất đất nước nhưng lại đứng trước muôn vàn những khó khăn thử thách bởi hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại Văn học lúc này cũng đứng trước thời cơ và thách thức mới Tuy nhiên, trước cuộc sống mới, văn học lại loay hoay khi chưa biết nên đổi mới thế nào cho phù hợp với hiện thực và với thị hiếu công chúng Sự nỗ lực của một số cây bút vẫn không đem lại hiệu quả

vì văn học vẫn đi theo quán tính sử thi Sự lệch pha giữa văn học và hiện thực khiến nhiều nhà văn rơi vào tình thế khôi hài Sau này, nhà văn Nguyễn Khải

có chia sẻ: “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại có cái yên tĩnh, giản dị của nó, hòa bình mà lại chứa chất những sóng ngầm, những gió xoáy ở bên trong”

Đến năm 1986 trở đi, văn học đã thực sự bước vào quỹ đạo đổi mới - đổi mới về quan niệm con người, về đời sống và bản thân văn học nghệ thuật Điều đó đã mở ra trước mắt các nhà văn một chân trời sáng tác mới Nhiều nhà văn đi sâu khám phá cuộc sống một cách đa diện nhiều chiều, tiêu biểu như Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Đoàn

Lê, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Hà… Họ đã góp phần làm cho văn học ngày càng phong phú, đa dạng

Truyện ngắn Nam Bộ trong giai đoạn này có những bước chuyển biến mạnh mẽ về các mặt như kết cấu, bố cục, xây dựng nhân vật, tao dựng không gian nghệ thuật đặc thù và trường ngôn ngữ riêng… để từng bước khẳng định mình Các nhà văn như Dạ Ngân, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Tư… là những người có nhiều tác phẩm được độc giả văn học cả nước mến mộ

Trang 26

Đọc văn xuôi Nam Bộ, người đọc nhận ra nét độc đáo của tính cách con người và bản sắc văn hóa một vùng đất Nhận thấy, văn xuôi Nam Bộ sử dụng nhiều phương ngữ và đây chính là một trong những điều làm nên nét đặc thù của nó, góp phần làm cho nền văn học dân tộc thêm phong phú, đa dạng

1.2.3 Trần Kim Trắc - một “ông già Nam Bộ” trong văn chương

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, văn xuôi Nam Bộ xuất hiện thêm nhiều cây bút có cá tính và giọng điệu riêng Trần Kim Trắc cũng là một trong

số những nhà văn đó Ông đã kế thừa và phát huy thành quả của những nhà văn thế hệ trước như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, cùng với tài năng và tấm lòng của mình đối với quê hương, xứ sở; sự trải nghiệm cuộc đời phong phú, ông đã tạo cho mình một phong cách riêng, khó lẫn vào đâu được

Trần Kim Trắc không chỉ được nhắc tới như một người lính của Tiểu đoàn 307 nổi tiếng, một nhà văn, một “vua ong” mà còn được gọi là “ông già Nam Bộ” với tất cả lòng kính trọng và yêu quý của các đồng nghiệp và nhiều thế hệ độc giả Trên văn đàn, ông được xếp vào nhóm các nhà văn có giọng Nam Bộ tiêu biểu cùng với Sơn Nam, Bình-nguyên Lộc và Trang Thế Hy

Vốn là người con được sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam Bộ nên ông được thừa hưởng nhiều nguồn văn hóa, văn học dân gian mang đậm sắc thái Nam Bộ Nơi đây đã nuôi dưỡng nên người con của quê hương luôn có tinh thần yêu nước nồng nàn từ lúc còn tấm bé, có phẩm chất quý giá của người dân Nam Bộ như: hồn nhiên, chất phác, hào sảng và tình nghĩa Vì vậy, các tác phẩm của ông có phong cách rặt ròng Nam Bộ

Ngay từ khi mới bước chân vào địa hạt văn chương, Trần Kim Trắc đã

để lại ấn tượng sâu sắc bằng truyện ngắn Cái lu (1954) với giải thưởng văn

chương danh giá - giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam Qua tác phẩm này, Trần Kim Trắc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ với lí tưởng cao đẹp, hào khí, nghĩa hiệp, sống trọng nghĩa tình Truyện thể hiện tình cảm quân dân như

Trang 27

cá với nước bằng lối hành văn giản dị, dùng nhiều phương ngữ Nam Bộ Nhưng sau truyện ngắn đầu tay ấy, ông xa rời đời sống văn chương đi phiêu bạt giang hồ theo tiếng gọi của tình yêu và để kiếm sống Cuộc đời từng trải

đó cho ông vốn sống quý báu để viết văn Với ông, đã sống tức là đã viết Vấn

đề là có viết ra giấy hay không mà thôi Thế nên trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử, sau này khi được đồng đội cũ ở Tiểu đoàn 307 động viên viết lại thì nhà văn cho ra đời một loạt tác phẩm khiến cho đồng nghiệp không

khỏi bất ngờ và độc giả ngạc nhiên như Cái bót, Con cá bặt tăm, Ông Thiềm

Thừ, Các tác phẩm của ông được đánh giá cao, cho thấy rõ một phong cách

Trần Kim Trắc rất ấn tượng Và phong cách đó được nhà văn hoàn thiện hơn

khi liên tiếp ông cho ra đời các tác phẩm: Hoàng đế ướt long bào, Học trò

già, Trăng đẹp mình trăng, Con trai ông tướng, Chuyện nàng Mimô,… đặc

biệt nhất là các tập truyện Tự cười, Nụ cười và 5 tập sách được Nxb Trẻ ấn

hành vào tháng 11 năm 2015 như chúng tôi đã nói ở trên

Tác phẩm của ông có dấu ấn đặc trưng bởi cái sự lí lắc, dễ thương, hào

sảng kiểu Nam Bộ, tạo nên sự bất ngờ cho người đọc Dường như các sáng

tác của nhà văn đều có từ nguyên mẫu ngoài đời, chân thật đến bất ngờ Những truyện ngắn của ông viết rất có tình, rất tự nhiên mà ám ảnh đến lạ kỳ Trần Kim Trắc viết ra các câu chuyện không chỉ để kể về một cuộc đời, một con người, một số phận nào đó quanh ta, mà còn để gửi gắm nhiều bài học nhân sinh sâu sắc

Cuộc đời nhà văn Trần Kim Trắc là một chuỗi những chuyến đi Ông

đã rong ruổi khắp nơi từ Nam chí Bắc, làm đủ nghề để kiếm sống nhưng theo ông, đi là một kiểu tìm kiếm vốn liếng cho việc viết văn Đi để trải nghiệm, để hiểu, để cảm nhận cảnh vật, con người từ hơi thở của cuộc sống tới ngôn từ để rồi gửi gắm cảm xúc rất thật của mình vào những trang văn

Việc Trần Kim Trắc được Nxb Trẻ ký tác quyền trọn đời như chúng tôi

đã nói ở trên đã khẳng định vị thế đáng nể trọng của nhà văn trên văn đàn

Trang 28

1.3 Các sáng tác của Trần Kim Trắc

1.3.1 Quan niệm sáng tác của Trần Kim Trắc

Trần Kim Trắc có quan niệm về sáng tác thật nhẹ nhàng, nhưng điều này không khiến ông thiếu coi trọng nghề văn của mình mà ngược lại

Thứ nhất, ông quan niệm văn chương là duyên nợ, là cái nghiệp chứ không phải nghề Trần Kim Trắc đến với nghiệp văn cũng tự nhiên như theo cách mạng vậy! Ông bảo: “Cách đây hơn thế kỷ, tôi là anh bộ đội đánh Pháp tuổi hai mươi ở Tiểu đoàn 307 Nhờ có học chút ít văn vẻ, tôi được giao nhiệm vụ trưởng ban tuyên truyền của tiểu đoàn Thời đó cuộc sống hào hùng, sinh động nên viết cái gì cũng sướng Chữ nghĩa ở đâu cứ tuôn ra ào ào, mình chỉ việc sắp xếp lại cho nó có lớp lang, trật tự thôi Nhưng lúc đó chủ yếu là

viết báo, viết tin, viết động viên chiến sĩ mình chiến đấu” [80] Và rồi đúng vào giai đoạn nước sôi lửa bỏng, ông cho ra đời truyện ngắn Cái lu Sau đó,

ngã rẽ cuộc đời khiến ta cứ ngỡ Trần Kim Trắc đã chôn vùi tài năng văn chương của mình ở “chốn sơn tràng” với biệt danh “vua ong” Thế nhưng, khi đồng đội cũ ở Tiểu đoàn 307 tìm đến động viên ông viết lại, câu chữ cứ tuôn

ra đầy hào hứng như thời còn ở lính

Thứ hai, ông quan niệm, văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống, được viết bằng thực tế cuộc sống và từ xúc cảm thật Có như thế thì văn chương mới có thể đi vào lòng người được Nhà văn từng thú nhận: “Tôi viết văn do thôi thúc từ những cảm xúc thực tế cuộc sống Thấy cái gì hay hay về

tình đời - tình người thì viết về hiện thực đó” [79, 71] Nhà văn Trần Kim

Trắc từng nói với nhà văn Nguyễn Khải: “Tôi sống tức là tôi đã viết Còn viết

ra giấy là sau… sau đó” Quan niệm này có phần ngược lại với nhiều nhà văn:

“Chúng tôi đã viết tức là chúng tôi đã sống” [79, 182] Với Trần Kim Trắc, sống tức là đã có tác phẩm rồi, phần còn lại của ông là ghi ra giấy, chép sạch lại những kí ức mà ông từng trải qua Theo ông: “Cuộc đời này thật đẹp, thật đáng sống, thật vui và tôi kể hầu quý anh chị những chuyện thật đẹp, thật

Trang 29

đáng sống, thật vui ấy” [22] Vì vậy, văn ông luôn có cảm xúc thật, nhất là

tình cảm yêu thương dễ đi vào lòng công chúng

Thứ ba, ông đề cao cái đẹp trong văn chương Ông quan niệm, viết văn cũng là một hành trình khám phá, lao động nghiêm túc Nó đòi hỏi người cầm bút phải có sự trải nghiệm, tìm tòi và đầy trách nhiệm chứ làm văn chương không phải là trò chơi chấp nhận viết cẩu thả được Ngày chập chững viết, ông đã từng phải: “…tập cách quan sát theo lối riêng, quan sát những chi tiết bình thường Quan sát đó rồi lưu lại đó trong ký ức để khi cần lại lấy ra sử dụng “Mình viết văn thì phải lí lắc (nghĩa là linh hoạt, chữ lí lắc là chữ của nhà văn sử dụng), phải ví đầu mình như quả chuông vậy Cứ có ai gõ vào là tự

nhiên lại vang ra” [29] Thế nên, cần phải viết thận trọng, kĩ lưỡng, thường

phải bóc tách, loại bỏ những phần dư thừa Trần Kim Trắc đã có cách so sánh

về nghề viết văn rất lạ Ông cho rằng: “Viết văn cũng như chơi hoa Có nhiều hoa, nhiều màu sắc không đủ, mà phải biết nghệ thuật cắm hoa mới cho ra một bình hoa đẹp Muốn đạt đến nghệ thuật thì phải có thời gian Viết văn cũng vậy Có trình độ, sự hiểu biết không thôi chưa đủ, còn phải có óc quan

sát và kinh nghiệm sống” [83] Và quan trọng hơn “viết văn là công việc tìm ngọc trong đời Ngọc là vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong mỗi người” [6] Tuy nhiên,

“không phải cứ làm nhà văn thì phải có nhiều gian khổ, phải bị ngược đãi mới viết hay mà đó chỉ là một điều kiện Cuộc sống luôn tồn tại những mặt tốt xấu, thiện ác, bên trong, bên ngoài Văn học có trách nhiệm khơi dậy hai mặt tồn tại đó Con người dù có bị nhiều thứ che lấp đi, nhưng bên họ tính thiện vẫn còn tồn tại Nhiệm vụ của nhà văn là phải nhìn cho ra chất ngọc trong đá

đó Nhà văn phải là người đi khai phá những mảnh đất vỡ hoang, tìm từng chi tiết để tạo cho nhân vật của mình tính cách riêng biệt.” Nên “Đừng cố “rặn” theo kiểu ý thức đi trước, tình cảm đi sau, nó sẽ đi ngược lại với tự nhiên và

khó thấm vào lòng người đọc” [83] Vì vậy, theo ông: “Không viết thì thôi,

mà đã viết thì phải cứ viết cho đàng hoàng, vắt tim óc ra mà viết để hậu sinh

Trang 30

đừng nhìn tác phẩm mình ngán ngẩm Nhưng quan trong hơn là tác phẩm của mình phải có hơi thở cuộc sống, tui viết mà tưởng tượng người đọc cùng cười

cùng khóc với nhân vật của mình thấy mới đã!” [80]

Thứ tư, ông quan niệm, để nhà văn và công chúng gần gũi nhau thì nhà văn phải là người hiểu đời, hiểu mình, hiểu người và đặc biệt là phải “đầy ứ

tình thương” và trung thực Hay nói cách khác, nhà văn phải hiểu độc giả cần

gì để có thể tiến gần đến họ bằng những tác phẩm của mình Và ông cho rằng đôi khi người viết cần phải hóa thân thành một nhà văn thứ hai để quan sát nhân vật mà mình viết ra được trung thực nhất Có lẽ, văn chương của Trần Kim Trắc tiến gần với độc giả hơn cũng bởi: “Cái độc đáo của nhà văn có khi phải hóa thân làm một anh nhà văn thứ hai để quan sát lại nhân vật là chính mình đang viết rất trung thực không giấu giếm Bởi cuộc đời của mỗi người ít

ra cũng bằng một quyển tiểu thuyết tồi” Nhà văn đặt mình vào vị trí người đọc, người thưởng thức tác phẩm để mà viết: “tôi viết cái gì mình thích và cảm nhận độc giả cũng sẽ thích” [33]

Việc so sánh Trần Kim Trắc với các nhà văn Nam Bộ khác cùng thế hệ

sẽ giúp chúng ta nhận rõ hơn quan niệm sáng tác của ông Trước hết, hãy nói

về Sơn Nam, người đã rong ruổi “trên từng cây số” ở mảnh đất Nam Bộ để nhặt những “bụi vàng” của cuộc đời làm nên tác phẩm cho mình Con người

đã dành cả đời để “viết về khẩn hoang Nam Bộ” tâm niệm: “Viết văn để viết văn, để yêu nước chứ không nhằm một mục đích nào khác Văn nghệ khác với văn hóa thông tin Muốn viết văn tốt, cần phải khảo cứu Miền Nam chưa có lịch sử, cho nên tôi phải khảo cứu về con người và vùng đất Nam Bộ

thì mới có thể viết về con người và vùng đất đó ” [53] Sơn Nam có một

niềm tin mãnh liệt, kì bí vào quê hương của mình Truyện ngắn của Sơn Nam

đi vào lòng độc giả cũng nhờ một phần vào niềm tin kì bí ấy Nhà văn thật sự

đã khiến cho người đọc rung động và có một cảm tưởng ngậm ngùi trước những thân thế tàn phai, một nỗi buồn man mác trước những đổi thay của thời

Trang 31

cuộc Trang Thế Hy là một trường hợp khác Ông viết văn là để bênh vực những con người bất hạnh cho nên điểm tựa tin cậy của người cầm bút là nỗi đau khổ của số đông thầm lặng Ông luôn thấu hiểu và ưu ái họ Văn ông tôn thờ cái đẹp với hi vọng “cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới” (Dostoievsky) Bởi thế, ngòi bút của Trang Thế Hy luôn chú trọng vào những vấn đề nhân bản của cuộc sống Cũng là nhà văn Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư xem viết văn là một nhu cầu bức bách, kiểu như đói ăn khát uống Một quan niệm nhẹ nhàng nhưng không hề cẩu thả với cảm xúc và dễ dãi với nghề văn Trả lời phỏng vấn trên báo Tiền Phong, Nguyễn Ngọc Tư hồn nhiên tự nhận: “Tôi là một cây bút nghĩ thế nào, viết thế ấy, nghĩ sao viết vậy” Thế nhưng chị ý thức công việc viết văn là “một lựa chọn khó, đầy nhọc nhằn, nặng nề, dằn vặt” [19] Chị không cường điệu sứ mệnh văn chương, nhưng chị cũng không coi

đó là một cuộc dạo chơi Chị chỉ cố gắng “chọn viết những gì mà người đi trước không viết thôi Với những gì người đi trước viết rồi, nếu mình đi lại con đường ấy, hoặc mình phải tránh qua một bên, hoặc là mình phải vượt trội hơn Nhưng vượt trội thì khó quá, ví dụ như để vượt qua Vũ Trọng Phụng thì

thôi…đi, Tư không tự làm khó mình mà chọn cái mình làm được” [84] Trong

khi viết, chị vẫn nhận ra tính đặc thù của nghề viết so với những nghề nghiệp khác, nhưng không vì thế mà chị sùng bái văn chương như cái gì cao cả hơn cuộc sống Bởi vậy truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư thấm đẫm sự hồn nhiên, chất phác Nhưng nếu chỉ có hồn nhiên thì nhà văn trẻ như chị đã không đứng vững cho đến bây giờ mà văn chương của chị đau đáu ân tình, đầy tinh thần trách nhiệm của một công dân với xã hội, của một con người biết sống nhiệt huyết và tận tụy với mình, với người Chỉ có điều, chúng được cất lên bởi một giọng hồn nhiên, có phần “tưng tửng” nhưng thật ra đằng sau

nó là cả một sự nghèn nghẹn, chua xót khó có thể thốt nên lời…

Như vậy, so với các nhà văn Nam Bộ khác như Sơn Nam, Trang Thế

Hy và cây bút trẻ sau này là Nguyễn Ngọc Tư thì Trần Kim Trắc đến với văn

Trang 32

chương đầy duyên nợ và cũng tự nhiên như hơi thở cuộc đời ông vậy Con đường sáng tác của ông không liền mạch như những nhà văn khác, quan niệm văn chương của ông không cầu kì nhưng mỗi tác phẩm ra đời lại tạo được dấu

ấn độc đáo và lôi cuốn người đọc đến lạ kỳ

1.3.2 Mối quan hệ giữa văn và đời trong truyện ngắn Trần Kim Trắc

1.3.2.1 Dấu ấn của những trải nghiệm thời làm lính cụ Hồ

Trần Kim Trắc đã tham gia hoạt động cách mạng lúc vừa tròn 16 tuổi Cậu con trai trẻ tuổi ngày ấy hoạt động nội thị với việc rải truyền đơn, giấu vũ khí, phục vụ cách mạng Bị giặc bắt giam ba tháng và một năm tù treo Vừa ra

tù được vài ngày, Trần Kim Trắc lại tìm đến chiến khu VIII làm ở ban truyên truyền lưu động Từ đây, ông chính thức đi theo con đường cách mạng, vào

bộ đội trong biên chế Tiểu đoàn 307 Anh lính Trần Kim Trắc đã đi suốt dặm dài 9 năm kháng chiến chống Pháp Đó là khoảng thời gian “không một người cầm bút Việt Nam nào chưa một đôi lần viết về người lính, hướng về người lính như một đối tượng tìm hiểu, phát hiện, ngợi ca” [54, 9] Nhà văn Ngô Thảo đã nhận định như thế về sự chiếm lĩnh của đề tài người lính - một mảng văn học không thể thiếu trong suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến của dân tộc

ta Với Trần Kim Trắc, cuộc sống người lính là khoảng thời gian đẹp nhất trong đời đối với ông Đây là khoảng thời gian Trần Kim Trắc tràn đầy sức lực nhất với ham muốn tìm tòi những cái mới để cống hiến cuộc đời Nhớ về thời còn là lính, ông bảo “Cách mạng với tôi là một ân huệ” [79, 182], cuộc đời chiến sĩ ấy đã cho ông những trải nghiệm đáng quý để ông có đủ vốn liếng viết về người lính một cách chân thật và gần gũi

Trong truyện ngắn Cái lu, Trần Kim Trắc viết: “Bộ đội về đóng quân

đã năm năm rồi Tình quân dân thật là khăng khít Bộ đội ngoài công tác tăng gia sản xuất, học tập, không khi nào quên bốn điều trong “tứ quân bất khứ” nghĩa là nếu chưa quét nhà, chưa xách nước, chưa nói chuyện kháng chiến, chưa kiểm thảo với nhân dân là chưa có dời đi nơi khác được” [75, 140] Thế

Trang 33

nên, trong lúc anh em đang nghỉ trưa thì anh bộ đội tên Danh tranh thủ xách nước đổ vào lu cho dân dùng nhưng trong lúc trút nước kê tĩn vào miệng lu, anh không may để tuột tay làm vỡ nó Dù sau đó bà Tư chủ nhà không phiền trách gì nhưng anh đã lặng lẽ đi phát cỏ cuốc đất, trồng khoai để lấy tiền mua

lu bồi thường cho dân Bởi anh nghĩ rằng “Mượn phải trả, làm hư hỏng phải bồi thường” [75, 141], nên “thà mệt còn hơn để cho đồng bào còn phiền” Lính là vậy đấy! Họ sống đầy trách nhiệm và rất nghiêm khắc ngay cả với bản thân mình “Tôi làm lỗi, tôi hải tự lo” [75, 143], vì theo họ “Làm lỗi mà không dám nhận lỗi là hèn, nặng tội hơn làm lỗi Nhận tội rồi để đó không sửa chữa

là nói dối, nặng tội hơn là sự hèn nhát nữa” [72, 62] Câu chuyện thật cảm động đã làm hiện lên kỉ niệm cuộc sống của người lính vô cùng đẹp đẽ Dù cuộc sống còn vất vả, thiếu thốn đủ đường nhưng quan trọng hơn hết vẫn là tình thương Tình cảm đồng đội dành cho nhau, tình quân dân dành cho nhau

để cùng nhau sát cánh vượt qua những khó khăn gian khổ, làm nên sự thành công cho cuộc kháng chiến Những người lính trẻ ấy luôn tuân thủ ý thức kỷ luật quân đội, đó là những nét đẹp trong phẩm chất của người lính cụ Hồ

Hình ảnh cậu bé làm liên lạc trong Lính “nhí” đã gợi lên cho người đọc

sự liên tưởng về bóng dáng của nhà văn vào những ngày bắt đầu cuộc hành

trình tìm đến lí tưởng cách mạng và được giác ngộ Anh lính nhí khi mới 12 tuổi đã đi theo bộ đội, sau 2 năm làm liên lạc, được ông Kim Thể trung đội trưởng Đại đội 1 đề nghị cấp giấy khen và làm thủ tục nhập ngũ khiến anh sung sướng như chính cảm xúc của Trần Kim Trắc trong những ngày đầu tìm đến chiến khu Câu chuyện phần nào thể hiện khát vọng được đi theo cách mạng, phục vụ kháng chiến như đã ăn sâu vào trong tâm khảm của người con đất Việt Để rồi, ngoài những lần đổ máu trên trận mạc, cuộc sống của những người lính trẻ ấy có lúc cũng rất vô tư, hồn nhiên và tinh nghịch ngay cả trước tình huống nguy cấp: “Đời chiến sĩ quần áo chỉ có một bộ nghiêm bộ nghỉ Lội băng đồng mùa nước nổi, ba lô ướt, quần áo dính bùn Tất cả phải cùng

Trang 34

lúc giặt phơi, trong khi chờ quần áo phơi khô để mặc tiếp, các anh đành phải làm “con nhộng lộ thiên” [73, 13] Nào ngờ, đang lúc chờ đợi, các anh tranh thủ nấu cơm, lau súng, cả đoàn nhộng đang “lộ thiên” thì bỗng nhiên có đoàn chị em phụ nữ tới thăm, các anh không còn có thể giấu mình vào đâu được, đành phải nhảy “ùm xuống ao” để nấp mình và hiển nhiên họ bị lũ cá vồ đâm

vào “vật gì thừa ra chúng cũng ngoặm” đau đến thấu trời Thế nhưng tâm hồn

họ vẫn sống với những phút giây lãng mạn, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc của những người lính trẻ

Bạn đọc thích thú câu chuyện Mua heo về nuôi, nhà văn có nhắc đến

món quà anh lính tân binh tặng nàng thật đặc biệt, rất lính Anh vào chợ tìm mua bằng được chú heo sữa để tặng người yêu nuôi làm giống Anh phải cho heo uống rượu và bế heo như bế em ở trên xe để mang về nhà nàng Món quà tặng người yêu có một không hai này rất thực tế nhưng đã nói hộ tấm lòng chân thành của anh lính với người con gái mình yêu

Câu chuyện Khăn thơm tặng chàng cũng đã để lại cho người đọc một

ấn tượng sâu sắc về người lính trên con đường hành quân, anh rất hạnh phúc khi được cô gái dân quân trao tặng chiếc khăn đội đầu Thế rồi, “Chiếc khăn này anh không đem ra dùng mà xếp rất kỹ, cất trong ba lô Suốt cuộc hành trình chín năm, đêm đêm anh lấy ra thưởng thức mùi tóc thơm hoa sứ” [73, 16] Món quà của cô gái trao tặng anh trước khi tiếp tục cuộc hành trình đã khiến người chiến sĩ ấy hằng đêm thao thức Cảm động hơn bởi trong suốt cuộc hành trình chín năm anh vẫn trân quý kỷ vật ấy

Cái kính trở quẻ viết về chuyện anh Năm Hỉ với thói quen đi ngủ ít khi

tự mắc mùng Bởi thế, có lần anh chui nhầm mùng phụ nữ mà cứ ngỡ là văn phòng tiểu đoàn nên ngủ ngon lành, lại còn để quên “xắc - cốt” phải làm “đặc công” trở lại nhà, không may gặp con mực xồ lên… khiến bà chủ nhà “cười đến phun cổ trầu” Câu chuyện làm hiện lên những năm tháng đầy gian khổ nhưng vô cùng dí dỏm trong những cuộc hành quân thầm lặng của người lính

Trang 35

năm nào Cũng có lúc cuộc sống đời lính tráng đẩy họ vào tình huống dở khóc

dở cười như trong truyện Xương gãy cốt còn Kỉ niệm khó quên trong đời của

anh tiểu đội phó tên Cón đêm khuya khó ngủ, chui nhầm vào giường con gái

người ta, bị ban chỉ huy gọi lên kiểm điểm… Hay anh lính trẻ Nam Tân phải

nhận kỷ luật của cấp trên sau một lần hẹn hò với con gái ông chủ nhà, không

dám nhìn bạn bè trong câu chuyện Nhớ làm cửa hậu đã mang lại nụ cười hóm

hĩnh, hài hước cho người đọc Cuộc sống đời lính thật giản dị “tối đâu là nhà ngã đâu là giường”, thế nhưng trong lòng mỗi người chiến sĩ đều mang một quyết tâm chung vì nhiệm vụ cách mạng Thật đáng tự hào!

Rất nhiều kỉ niệm đầy thú vị về cuộc sống của người lính một thời đã được Trần Kim Trắc dựng lại đầy chân thực và sinh động trong phần một của

tập truyện Nụ cười 307 (2006) Chúng ta phải kể đến các truyện ngắn như: Ó

đâm, Yếu tố bất ngờ, Chiến công đầu tiên, Lại tư tây, Nhường trận địa

Ngoài ra, dấu ấn đời lính ấy cũng in đậm trong các truyện ngắn: Chuyện học

trò đi làm lính, Đồng đội, Dầu Hồng Lạc, Tạ Văn Bang, Tiếng đàn kìm, Đi ba

về bốn, Anh Ba Đô, Trinh sát viên một mắt, Mấy sông cũng lội, Con trai ông tướng, Trận đánh chưa ghi vào lịch sử, Sức sống một bài ca,…

Thời đạn bom khói lửa, người lính cách mạng luôn sống trách nhiệm với cộng đồng Ta nhận ra tình yêu cách mạng, tình yêu Tổ quốc, đất nước trong họ thật mãnh liệt Những câu chuyện về tình quân dân như cá với nước, những kỉ niệm khó quên… đã được nhà văn miêu tả thật sinh động Dường như ông viết “để mọi người thương anh bộ đội hơn thì phải” [73, 6]

1.3.2.2 Dấu ấn trải nghiệm thời kỳ mưu sinh trên đất Bắc

Sau thời kì làm người lính nặng ân tình với cách mạng ấy, một sai lầm nhỏ trong sinh hoạt của tuổi trẻ buộc ông xa rời bạn bè và văn đàn Mọi người không khỏi tiếc nuối cho một tài năng văn chương đang mở ra nhiều hứa hẹn Vậy mà, Trần Kim Trắc ngưng cầm bút cho mãi đến tận mấy chục năm sau này Cuộc sống mưu sinh chật vật khiến ông không còn thời gian để viết, để

Trang 36

trải lòng mình trên trang giấy nữa Thế nhưng cuộc sống trải nghiệm ấy lại chính là vốn liếng quý giá để giúp ông viết văn sau này

Những chuyến đi mà Trần Kim Trắc gọi là “trường đời” đã tạo cho ông những nguồn cảm hứng bất tận và những kho tư liệu quý giá để sau này “tư liệu như để sẵn trong ngăn kéo rút ra là có” [66, 171], để rồi lúc nào ông cũng có thể lấy ra được từ kho riêng hàng xâu chi tiết tươi nguyên sự sống đưa vào truyện ngắn Đó cũng là lí do mang đến sự thành công trong sáng tác của nhà văn khi

ông cho ra đời một loạt các truyện ngắn như: Chuyện riêng tư chốn sơn tràng;

Ông Thiềm Thừ; Nhà chim; Con ong đực; Cây đắng; Ông thối, bà thiu,…

Lẽ hiển nhiên, là một người từng làm nghề sơn tràng, Trần Kim Trắc hiểu cuộc sống vùng núi rừng một cách tường tận Cuộc sống nơi núi rừng ấy

đã để lại dấu ấn rất đậm trong các sáng tác của nhà văn Ở truyện ngắn

Chuyện riêng tư chốn sơn tràng, ông viết “Mỗi lần tháo ách sau phiên kéo gỗ

về, chủ dẫn con Mẫm theo con đường mòn vượt qua tà luy bên kia đường tàu hỏa, xua nó tuôn lên miền núi Trên ấy có nhiều cỏ non, và lại gió ngàn không thể để cho mùi hương của cô nàng Cưỡng lên, làm cho chàng quên gặm cỏ, sút chân uể oải lúc kéo những khúc gỗ lớn” [77, 50] Từng con đường mòn vào rừng, từng bãi cỏ non, từng ngọn gió ngàn và cả “mùi hương của cô nàng Cưỡng” (cách ông gọi tên cho con trâu cái) cũng như bản năng chuyện riêng

tư đi tìm ý trung nhân của con Mẫm (con trâu đực) đều được nhà văn miêu tả một cách tỉ mỉ, tường tận Và có lẽ, cuộc đời của nhân vật Sáu Bổn trong câu chuyện trên phần nào đã phản ánh được một cuộc sống sinh hoạt chốn sơn tràng của nhà văn một thời lang thang nơi đất Bắc Đó là khoảng thời gian

“tuổi chưa đến băm, nhưng đã trải qua thời kỳ mười năm Khi ra tập kết va chạm gì đó trong nội bộ đơn vị, anh buồn lòng bỏ lên rừng nhập với tổ sơn tràng làm tiều phu đẵn gỗ” [77, 53] Cuộc sống mưu sinh đầy vất vả ngày mới lên đất Bắc thật thảm hại đến nỗi “Rời tàu, đói đến chua miệng, anh đành xin đồng bào dân tộc củ sắn nướng ăn, rồi tìm đến với một số anh em đồng cảnh

Trang 37

đã lên trước làm rừng trong tổ sơn tràng Nghèo đến mức ấy đâu có tiền để mua nổi lưỡi rìu, may có anh em cho mượn làm ngày nào ăn ngày ấy” [77, 53-54] Thế mới hiểu Trần Kim Trắc một đời dường như đã vắt kiệt sức mình

để sống, để yêu và cũng để tìm kiếm tư liệu cho chặng đường viết văn về sau

Những chuyến đi bao nhiêu năm gió bụi nhưng đầy lí thú đã giúp ông tạo nên tác phẩm chân thật, sinh động về cuộc sống trên đất Bắc Mỗi con người gắn liền với một cuộc đời, một số phận nhưng họ đều có điểm chung bởi tình người và tấm lòng nhân hậu Thời gian ông phiêu bạt giang hồ, làm

đủ nghề để sống, để đi theo tiếng gọi của tình yêu cũng đủ khiến cho bao nhịp đập trái tim của bạn đọc bồi hồi xao xuyến, cảm phục Hành trình tìm kiếm tình yêu đích thực của Trần Kim Trắc lắm gian nan, trắc trở Sau hai lần dang

dở, ông gặp được người đàn bà từ Tân Đảo trở về Tổ quốc sống cùng thị xã nhỏ xíu như một cái làng ở Hưng Yên Đồng cảm bởi bà cũng từng là nữ sinh của trường Tây, đam mê văn chương và ham đọc sách Nhưng thương yêu hơn bởi người đàn bà ấy có cảnh ngộ riêng của cuộc đời Bà trẻ lại rất xinh đẹp nhưng đã qua một đời chồng và có một đứa con gái Ở cái thời còn nhiều thành kiến, người đàn bà hồi hương không chồng ấy không khỏi tránh khỏi những cái nhìn thiếu thiện cảm của mọi người xung quanh Thế nhưng, Trần Kim Trắc không vì những điều đó mà bỏ lỡ tình yêu của đời mình Sau cái ngày trái tim mình thổn thức, ông biết rõ một cách chắc chắn rằng hai người phải là của nhau”, họ đã tìm thấy ở nhau sự đồng cảm, đồng điệu trở thành tình nhân nhưng phải trải qua cuộc hành trình dài suốt 12 năm đằng đẵng vượt

qua mọi ngăn cách, họ mới chính thức sống với nhau Truyện ngắn Bố dượng

là câu chuyện nhà văn viết về chính hoàn cảnh cuộc đời của mình và tình yêu với người bạn đời, cũng là bà nhà của ông bây giờ Câu chuyện in đậm dấu ấn của cuộc trải nghiệm mưu sinh nơi đất Bắc trong suốt thời kỳ dài Hình ảnh

ấy đã được nhà văn ghi lại trong kí ức đứa con riêng của vợ, cũng là đứa con duy nhất của vợ chồng ông mà suốt đời nhà văn yêu thương hết mực: “Nghe

Trang 38

nói trước kia bác là văn sĩ, nhưng vì lẽ gì đó bác gác bút đi làm công nhân và năm tháng dài, tuổi càng trưởng thành tôi càng hiểu hồi ấy khi nhờ bạn bè và những nơi quen biết lo cho tôi thi vào trường Âm nhạc, bác muốn tôi bước tiếp vào con đường nghệ thuật mà vì hoàn cảnh bác phải dang dở, mong ước tìm cái hình bóng dĩ vãng của bác, trong những bước chập chững vào đời của tôi qua tiếng đàn vì cung đàn xưa lỗi nhịp

Vì vậy, từ tấm bé, thương má tôi, tự trong con tim non nớt, tôi coi bác như bác mà là ba, bác coi tôi như con mà là cháu

Gia đình tôi đi đâu, thay đổi chỗ ở, sơ tán, chuyển vùng, không mấy ngày lại thấy bác lẽo đẽo theo ở gần, làm đủ thứ nghề để mua bữa sống hàng ngày, để gom góp lại làm một trời yêu thương” [76, 5-6]

Phải là người trải nghiệm, quan sát tỉ mỉ và có tâm hồn nhạy cảm đến

“dễ đau” thì mới có thể miêu tả được tường tận về cuộc sống sinh tồn của con cóc tía và các loài ong nơi núi rừng để hoàn thành một cách xuất sắc truyện

ngắn Ông Thiềm Thừ, đánh dấu sự trở lại của cây bút tài năng khi giành được

giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Ông viết: “Từ trên cao lăn xuống, miệng ông thiềm thừ còn ngậm con ong lỗ đen thui to bằng ngón tay út Nửa thân con ong lỗ nằm gọn trong mồm cóc, đầu, chi trước và một phần cánh còn

ở ngoài ngo ngoe chưa hết hẳn Ai cũng biết, nọc độc của loài ong lỗ này nguy hiểm vô cùng, to như trâu, cổ bị ong lỗ chích một mũi thôi đã phải rống” [77, 29] Có lẽ nhà văn hiểu rất rõ về hoạt động sinh sống của chúng cũng vì

có những năm tháng đi hạ gỗ ăn ngủ tại núi rừng Hình như những ngày vào rừng là thêm một ngày giúp ông nhận ra nhiều bài học giá trị của cuộc sống Ông đã từng nghe “gan cóc tía” nhưng “đến bây giờ, thấy tận mắt tôi mới hiểu được người trước chọn ong thiềm thừ làm biểu tượng của tính gan lỳ” [77, 31] Câu chuyện làm hiện lên bức tranh núi rừng đầy thú vị nhưng cũng hàm chứa nhiều ẩn ý về mối quan hệ giữa thiên nhiên và cuộc sống, về cách sống của con người

Trang 39

Mảnh đất Tuyên Quang từng một thời gắn bó ngày nào giờ đã là kỉ niệm, nhưng lại khiến cho nhà văn nhớ nhung da diết, đặc biệt là hình ảnh đứa

cháu gái tên Quỳnh được Trần Kim Trắc nhắc đến trong truyện ngắn Cây đắng

Nhà văn nhớ “Nhà cháu túp lều vách đất, mái lá gồi khép nép chân đồi chè, trèo lên đỉnh trông thấy phố chợ bên kia sông, xuống thấp dân sơn cước trông thấy núi Tản Đà” [78, 162] Hoàn cảnh hụt hẫng tình cảm của cháu bé ngày chưa đầy 2 tuổi vì mẹ cháu sinh em bé đã khiến Trần Kim Trắc không khỏi ngậm ngùi Được cái, cháu bé càng lớn, càng xinh, đến tuổi đi học Quỳnh rất chăm học, ham làm phụ giúp bố mẹ Lại ngặt nỗi, nhà nghèo vì nghề xây của cha, nghề đóng gạch thuê của mẹ không bao nhiêu, nhưng khổ hơn là cha mẹ cháu ham mê cờ bạc, nợ nần chồng chất… Bất ngờ thay, một ngày sống ở miền Nam, ông nhận được lá thư của mẹ cháu Quỳnh báo tin giờ đây cả nhà cháu đều ngoan, bố mẹ cháu bỏ luôn thói ham mê cờ bạc, cháu Quỳnh học rất giỏi

và vừa đạt giải nhì cấp tỉnh môn ngoại ngữ… Thì ra, chính hành động của bé Quỳnh ngày đi học đã đánh thức tinh thần trách nhiệm của bậc làm cha, làm

mẹ Nhà văn có một thời gắn bó với mảnh đất núi rừng Tuyên Quang từng gắn

bó với bao kỉ niệm nên “khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” Cũng dễ hiểu tại sao Trần Kim Trắc hơn một lần khát khao chia sẻ nỗi niềm mong ước: “Tôi mong được một ngày trở lại Tuyên Quang, tận mắt nhìn được nụ cười giải thoát của cháu Quỳnh xinh đẹp, uống trà mạn để cảm nhận câu thơ:

Rừng uống trăng thanh, người uống trà trong bầu trời Tuyên ai dát men Đông Thanh” [78, 168]

Hơn 20 năm dài sống trên đất Bắc, dù vất vả lắm, đắng cay cũng nhiều nhưng nhà văn có quyền tự hào về những tháng ngày rong ruổi lúc thì ở Tuyên Quang, khi thì ở Lào Cai, lúc lại Hưng Yên, Hòa Bình,…hành trình đầy trải nghiệm đáng quý giúp ông trở thành một nhà văn thực thụ với sức viết càng về sau càng bền bỉ, dẻo dai Hơn nữa, chính nơi đây đã giúp ông gặp được tình yêu đích thực của đời mình để bây giờ về già ông bà vẫn rất hạnh phúc cùng nhau bên những trang văn nồng hậu, ấm áp tình người

Trang 40

1.3.2.3 Dấu ấn trải nghiệm thời kỳ về Nam

Sau chặng đường dài phiêu bạt để mưu sinh, cuối cùng nhà văn cũng tìm về phương Nam, tìm về với ngọn nguồn, nơi chôn nhau cắt rốn của mình Ông đã sống lăn lộn, bầm dập khắp đó đây nhưng dường như nỗi đắng cay, muộn phiền không có chỗ bám rễ trong tâm hồn nhà văn Nam Bộ đầy lạc quan Trần Kim Trắc Có lẽ vì thế mà nhà văn Nguyễn Khải đã từng nhận xét

về ông một cách chân thật: “bốn chục năm qua anh sống gian nan lắm, gian nan nhất trong số những người cầm bút mà tôi quen biết” [66, 163] Đoạn trường lưu lạc đã qua, cái mất dường như được tìm lại Chính nơi này, ông vui mừng khi được gặp lại đồng đội cũ của Tiểu đoàn 307 năm xưa Được sự động viên của bạn bè, đồng chí, ông bắt đầu viết lại sau thời gian dài gác bút

mà ông bảo đó cũng là thời gian ông “tự sửa mình” cho cái lầm lỗi thời tuổi trẻ Cũng không khó khăn gì khi viết, ông cảm thấy mình cần phải trả nợ xương máu đồng đội nên thôi thúc nhà văn viết thôi Ông bảo: “Là nợ phải trả thôi Nợ xương máu đồng đội ở tiểu đoàn 307, nợ một người cầm bút với cuộc đời, nợ với bản thân Payer les dettes socials (trả nợ xã hội) Nợ cuộc đời

là nợ cơm áo, nợ văn chương là nợ ký ức” [22] Thế nên, trang văn là trang đời Có điều, thú vị hơn là cuộc đời ấy được ông tái hiện trên một hình hài mới trong từng trang viết, để lại dấu ấn với nhiều suy ngẫm, ưu tư; khác hẳn

với truyện ngắn Cái lu của những ngày ông còn là anh lính cụ Hồ

Nhà văn là người con được sinh ra ở miền Tây Nam Bộ, đi suốt dặm dài 9 năm kháng chiến chống Pháp, hơn 20 năm mưu sinh trên đất Bắc và cuối cùng sống tại miền Đông Nam Bộ Lộ trình cuộc đời ông đã trải qua, đã chiêm nghiệm đều để lại dấu ấn trong những trang viết của một con người luôn thiết tha tình yêu con người và cuộc sống Giờ đây, không gian sông nước, vườn tược miền Nam Bộ hiện về hầu hết các tác phẩm của nhà văn

Tiêu biểu phải kể đến những truyện ngắn như: Ông và cháu; Nước phèn ngọt;

Vạn sự bất thành; Mối tình của Bao Công; Rước dâu mùa lũ; Vai thủ diễn

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ái (chủ biên) - Nguyễn Văn Đức - Nguyễn Công Khai (1994), Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Ái (chủ biên) - Nguyễn Văn Đức - Nguyễn Công Khai
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. M. Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư (dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
4. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
5. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn lí luận tác giả và tác phẩm, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn lí luận tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
6. Hòa Bình (2015), “Nhà văn Trần Kim Trắc lí lắc tuổi 86”, http://ongbachau.vn/tinh-yeu-khong-co-tuoi/nha-van-tran-kim-trac-li-lac-tuoi-86- 981a20151108071134231.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Trần Kim Trắc lí lắc tuổi 86”
Tác giả: Hòa Bình
Năm: 2015
7. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
8. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
9. Đặng Anh Đào (2006), “Vai trò của cái kì ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu văn học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cái kì ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam"”, Tạp chí nghiên cứu văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2006
10. Anh Đức (1997), Tuyển tập Anh Đức, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Anh Đức
Tác giả: Anh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
11. Anh Đức (1997), Tuyển tập Anh Đức, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Anh Đức
Tác giả: Anh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
12. Anh Đức (2008), Những tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội 13. Anh Đức (2010), Hòn Đất, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác phẩm chọn lọc", Nxb Văn học, Hà Nội 13. Anh Đức (2010), "Hòn Đất
Tác giả: Anh Đức (2008), Những tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội 13. Anh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
14. I.R. Galperin (1987), Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Tác giả: I.R. Galperin
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1987
15. Văn Giá (2014), Giáo trình sáng tác truyện ngắn, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sáng tác truyện ngắn
Tác giả: Văn Giá
Năm: 2014
16. Trần Thanh Giao (2008), Văn học thời gian 1975 - 2005 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thời gian 1975 - 2005 ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Thanh Giao
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
18. Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan (2008), Văn học thời kỳ 1945 - 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thời kỳ 1945 - 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
19. Lê Thị Thái Hòa (2007), “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Là phụ nữ, rất dễ nuôi cô đơn để viết”, https://www.nxbtre.com.vn/diem-tin/nha-van-nguyen-ngoc-tu-la-phu-nu-rat-de-nuoi-co-don-de-viet-1123.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: "Là phụ nữ, rất dễ nuôi cô đơn để viết"”
Tác giả: Lê Thị Thái Hòa
Nhà XB: nxbtre.com.vn/diem-tin/nha-van-nguyen-ngoc-tu-la-phu-nu-rat-de-nuoi-co-don-de-viet-1123.html
Năm: 2007
20. Nguyễn Thái Hòa (1999), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
21. Tô Hoài (1996), Một số kinh nghiệm viết văn của tôi, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w