CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
3.2. Ngữ nghĩa từ láy trong thơ Nguyễn Duy
3.2.1. Từ láy biểu hiện màu sắc
Qua khảo sát, màu sắc mà từ láy biểu hiện trong thơ Nguyễn Duy rất phong phú.
Về hệ thống màu sắc, từ láy thể hiện đầy đủ các màu sắc: xanh, trắng, hồng, bạc, tím, vàng, đỏ....Trong số đó, từ láy chỉ màu trắng, màu xanh, màu hồng có tần suất xuất hiện nhiều hơn cả. Từ láy về màu sắc có thể có sắc thái nghĩa nhấn mạnh, tô đậm thêm: tím rịm, cũng có thể làm giảm sắc thái nghĩa, làm giảm độ đậm đặc của màu sắc theo ấn tượng về sự loang rộng trên bề mặt:
đo đỏ, tim tím, trăng trắng, xanh xanh, hoe hoe, phơ phơ, bạc bạc, ngà ngà, phơn phớt, trăng trắng, biêng biếc, bàng bạc, hồng hào, đen đủi, lốm đốm…
a/ Từ láy biểu hiện màu trắng
Từ láy biểu thị màu trắng trong thơ Nguyễn Duy khá đa dạng với các sắc thái khác nhau như: trăng trắng, phơ phơ, bạc bạc.
“Trăng trắng” là từ láy mà Nguyễn Duy dùng để tả khúc nhạc ve:
Nghe trăng trắng khúc nhạc ve Cơn mê trắng xóa bốn bề hoa lau.
(Giấc mộng trắng - Nguyễn Duy, Tr 93)
Khúc nhạc ve mà nghe “trăng trắng” thì chỉ có Nguyễn Duy nói bởi vì
“trăng trắng” là từ chỉ màu sắc của sự vật như tờ giấy, màu da, vải,… với mức độ trắng giảm nhẹ. Nhưng khúc nhạc ve mà màu trắng thì rất độc đáo mới lạ. Nguyễn Duy là người lần đầu tiên nhìn thấy và cả nghe thấy được màu sắc trang trắng của khúc nhạc ve. Đây là khúc nhạc tiễn đưa các bạn tuổi hai mươi nằm lại đường Chín Nam Lào. Đây là một sự sáng tạo rất độc đáo của tác giả.
Nguyễn Duy không chỉ sáng tạo trong sử dụng từ láy mà cả từ ghép để chỉ màu trắng cũng được ông sáng tạo rất độc đáo. “Trắng xèo” là màu trắng mà Nguyễn Duy dùng để chỉ màu trắng của cát:
Bom đạn đỏ một mùa hè Quảng Trị Cát trắng xèo từng giọt máu rơi
(Ám ảnh cát, Tr 91)
Trong tiếng Việt khi nói đến màu trắng của cát thì chỉ có các màu như nâu, trắng, vàng, xẩm, nếu nói đến cát trắng thì chỉ có trắng xóa, trắng tinh chưa bao giờ có cát trắng xèo. Từ “trắng xèo” có lẽ bao gồm cả màu sắc và hình khối, chỉ có con mắt rất tinh tế của nhà thơ mới nhìn thấy điều đó.
Không chỉ thế, màu cát trắng trong thơ Nguyễn Duy còn rất khác lạ được biểu hiện qua từ láy tư mới mẻ.
Sao cát trắng bên ni trắng lạnh trắng lùng Trắng đất, trắng tay, trắng một vùng đai trắng ấp chiến lược như nấm mồ câm lặng
cát tím bầm- lở loét vết giày đinh mồ hôi chảy thấm vào trong cát máu người chảy thấm vào trong cát chiều nay tôi về Gio Linh
vốc nắm cát soi
cát trắng ánh lên màu đỏ
(Cát trắng, Tr 89)
Cả đoạn thơ ngập một màu trắng của cát của chết chóc, tang thương trong chiến tranh khu vực vành đai trắng Quảng Trị. Cát còn có màu đỏ thấm máu người, có màu lạnh lùng của những kẻ xâm lăng. “Trắng lạnh trắng lùng” là một từ láy được tạo bởi từ láy gốc lạnh lùng, Nguyễn Duy tách ra tạo thành một từ láy mới. Vẫn là kiểu từ láy vừa tả màu sắc vừa gợi cảm giác, cái cảm giác đau đớn chết chóc mà kẻ thù đã gây ra cho đồng bào ta. Nguyễn Duy quả là người luôn cố gắng “đãi cát tìm vàng”.
Màu trắng trong thơ Nguyễn Duy còn là màu “phơ phơ” của lau lách chốn hoang vu:
Đèo cả
phơ phơ lau lách
gió lạo xạo tiếng nhám ráp cọ xát chiếc xe reo ì ạch thở dốc
Hòn Chông lởm chởm đá nhọn hoắt Vũng Rô thẳm sâu mắt người xa nhà
(Đèo Cả, Tr 197)
Từ “phơ phơ” là từ láy hoàn toàn có tác dụng vừa gợi hình vừa gợi màu sắc. Đây cũng là một biến thể khác của màu trắng trong thơ Nguyễn Duy. Vì trong hệ thống từ láy tiếng Việt từ “phơ phơ” dùng để tả tóc bạc phơ còn ở đây, tác giả dùng “phơ phơ” để chỉ màu trắng của những bông lau lách hai bên đường Đèo Cả. Cách sáng tạo này cũng mang đến cho người đọc những cảm nhận lạ về thiên nhiên.
Hay trong bài “Xuồng đầy”, tác giả cũng viết về màu trắng bằng một từ gần nghĩa:
Lau già râu tóc lơ phơ
Khói sương biêng biếc mấy bờ sông xa
Chiều xanh như nỗi nhớ nhà Mây bàng bạc sóng bao la bốn bề
(Xuồng đầy, Tr 221, 222)
Chúng ta từng nghe mây trắng như bông, hay trên trời mây trắng, mây như màu bạc và giờ đây lại thấy một màu trắng khác có độ trắng giảm dần và gợi chút cảm xúc mênh mang trong lòng khi đọc đến mây “bàng bạc”. Yếu tố gốc “bạc” được cấu tạo thêm yếu tố láy đứng trước “bàng” tạo cảm giác giảm nhẹ. Đặt từ láy vào toàn đoạn thơ ta mới thấy hết được sự sáng tạo của Nguyễn Duy.
Không chỉ có vây, màu trắng trong thơ Nguyễn Duy còn được tả bằng một từ láy khác:
Ối giời ơi… nõn nà chưa
bột trinh bạch đấy - trời vừa rây xong hình như gò trắng phập phồng
bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày Ối giời ơi… nõn nà thay
………
Ối giời ơi… nõn nà ghê
………
Ối giời ơi… nõn nà sao
bàn chân lóng ngóng đặt vào nơi đâu trắng tinh- trắng toát- trắng phau ngó qua thấy đẹp ngắm lâu rơn người
(Trắng… và trắng…, Tr 271) Từ láy “nõn nà” trong từ điển từ láy tiếng Việt dùng để chỉ nước da trắng đẹp mịn mượt của con người, nó là một tính từ. Nhưng trong con mắt của Nguyễn Duy, với khả năng sáng tạo vô tận của ông, “nõn nà” là từ láy để
biểu thị màu trắng của tuyết. Lần đầu tiên thấy tuyết trắng ông liên tưởng đến làn da trắng “nõn nà” của các cô con gái.
Trong bài Muối trắng, tác giả cũng có một màu trắng thật đặc biệt:
Muối nắng lung linh trắng lấp cái nhìn nhắm mắt lại trong đầu còn trắng xóa màu trắng ấy lại đi về trăm ngả
hòa tan trong sự sống muôn loài
(Muối trắng, Tr 22)
Không chỉ dừng lại ở việc khéo léo tạo nên những từ láy mới lạ, Nguyễn Duy còn sử dụng phối hợp phép trùng điệp ở nhiều cấp độ. Tiêu biểu cho đặc điểm độc đáo này là dòng thơ. Cả dòng thơ gồm mười một chữ, nhưng từ láy “lung linh” được sử dụng hai lần, phụ âm “l” được lặp lại năm lần, khi đọc lên, sự trùng điệp ấy như lần lượt hắt lên cái lấp lánh của muối dưới ánh mặt trời, giúp người đọc chợt nhận ra nét duyên thầm của muối cái màu trắng ánh bạch kim kết tinh từ nước mắt mồ hôi. Và hình như khi ngòi bút đã nhuần nhuyễn ông không ngần ngại bước vào một cuộc “chơi chữ”
theo cách riêng của mình. Một hình thức phổ biến trong dân gian là dùng từ láy phụ âm đầu để thiết lập nên những phát ngôn có nghĩa.
Như vậy, từ láy chỉ màu trắng trong thơ Nguyễn Duy rất đa dạng, độc đáo, mới lạ. Điểm mới lạ nằm ở chỗ nó dùng chỉ màu sắc của một sự vật rất khác không hề quen thuộc sáo mòn. Điều đó thể hiện hành trình tìm “ngọc trong đá” của ông vô cùng nghiêm túc, cần cù. Chính sự cố gắng tạo ra cái mới ấy khiến thơ của Nguyễn Duy không bao giờ cũ với thời gian.
b/ Từ láy biểu hiện màu đỏ, màu hồng
Qua khảo sát hệ thống từ láy trong tập Nguyễn Duy thơ, chúng tôi nhận thấy số từ láy chỉ màu đỏ và màu hồng tương đối nhiều. Trong đó màu hồng được nói đến nhiều hơn với nhiều cách thể hiện khác nhau.
Để gợi màu đỏ, tác giả dùng từ láy hoàn toàn nguyên khối “đỏ đỏ”.
Xanh xanh đỏ đỏ phừng phừng tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời phím dây từng bậc lên trời
rủ nhau quên tóc rối bời cỏ rơm
(Cung văn, Tr 47)
Cách tả màu đỏ của Nguyễn Duy không phải đỏ “lòm lom” như Hồ Xuân Hương, hay láy “đo đỏ” như ta thường thấy trong từ láy tiếng Việt. Tác giả đặt liên tiếp các từ láy trong một dòng thơ mang tính tăng tiến để mang cảm giác của mình đến với độc giả “xanh xanh đỏ đỏ phừng phừng”, đang từ màu xanh mát dịu bỗng đỏ và nhạc tăng lên độ nhanh mạnh tăng lên khiến người nghe cảm thấy rạo rực trong người tất cả đều được diễn tả bằng từ láy.
Cảm giác về âm nhạc được chuyển đổi thay vì nghe bằng thính giác nay chuyển qua nghe bằng cảm giác và nhìn bằng màu sắc. Nhạc được cảm nhận bằng màu sắc, đây chính là tài năng sáng tạo tuyệt vời của Nguyễn Duy.
Một màu đỏ đặc biệt nữa được Nguyễn Duy gọi tên trong bài thơ sau:
Bia lon thỗn thện người lon
ễnh ềnh ệch hỏn hòn hon thùi lùi trắng vàng đen láng cóng đùi
ngo ngoe ngứa nỗi buồn vui không màu
(Boston, 21.6.1995 Tr 283)
Thông thường dân gian ta hay gọi là đỏ, đỏ lòm, đỏ hỏn… nhưng Nguyễn Duy còn dùng một từ láy ba có cấu tạo đặc biệt với trọng âm ở âm tiết đầu, còn yếu tố láy “hòn hon” đứng sau có tác dụng nhấn mạnh cho yếu tố gốc mang ý nghĩa gợi liên tưởng nhiều hơn là tả. Từ láy này vừa mang tính chất gợi hình vừa mang tính gợi màu sắc đỏ hỏn.
Bên cạnh màu đỏ là màu hồng, màu này được nói đến nhiều hơn trong thơ Nguyễn Duy và màu hồng cũng có nhiều sắc thái.
Khi miêu tả lũ của sông Mê kông, tác giả viết:
Ta về hạ giới rong chơi
lim dim con mắt mặt trời trăng sao Lũ Mê kông đổ hồng hào
chạc ba nào biết khúc nào nông sâu
(Hàng Châu, Tr 225)
Ta cũng đã nghe đến từ láy “hồng hồng”, để gọi tên màu sắc nhưng lấy màu hồng để tả lũ thì chỉ có Nguyễn Duy. “Hồng hào” thường để tả cho sắc da của con người không ai đem tả lũ vậy mà tác giả tả màu nước lũ sông Mê kông nhuận sắc như mặt người. Một cảm giác tươi mới cho từ khi đặt từ láy vào trong câu thơ.
Cũng là hồng nhưng từ láy chỉ màu hồng trong bài thơ sau lại hoàn toàn khác:
Cái tên thương đến là thương
quýt làm cam chịu lẽ thường xưa nay lòng thì ngọt vỏ thì cay
má thì cứ đỏ hây hây chết người
(Cam, Tr 315)
Từ láy “hây hây” này không phải để chỉ màu đỏ mà nó để gợi tả màu má hồng của những cô con gái. Nhưng ở đây Nguyễn Duy không dùng để tả người mà dùng nó mang tính nhân hóa tả má hồng của quả cam.
Hay một từ láy khác chỉ màu hồng trong bài “Hồng”:
Quả hồng ưng ửng chín cây ủ cho đỏ thắm cái ngày tất niên xin đừng chê phận vô duyên
hồng ngâm xanh lét cũng tên là hồng.
(Hồng, Tr 313)
Quả hồng đương nhiên đã gợi màu hồng nhưng để tránh nhàm, lặp Nguyễn Duy đã tả màu quả đang chín bằng một từ láy vô cùng độc đáo đó là
“ưng ửng”. Quả chín không phải đã chín mõm mòm như quả trong thơ Hồ Xuân Hương, hay chín muồi, chín rụng mà hồng mới chỉ băt đầu chín. Đọc câu thơ với từ láy “ưng ửng” hẳn trong lòng bạn đọc không chỉ nghĩ đến trái hồng mà còn gợi nhiều liên tưởng khác.
c/ Từ láy biểu hiện màu vàng
Từ láy biểu thị màu vàng trong thơ Nguyễn Duy không nhiều như màu trắng và màu hồng, tuy nhiên cũng rất ấn tượng.
Màu vàng không thực sự được gọi tên trực tiếp bằng hình vị gốc vàng nhưng bạn đọc vẫn nhận ra qua từ láy.
Thướt tha áo trắng nói cười để ta thương nhớ một thời áo nâu tóc hoe hoe cháy trên đầu
ta và bạn gái cưỡi trâu học bài
(Áo trắng má hồng, Tr49)
Từ láy “hoe hoe” rõ ràng là một biến thể của màu vàng. Đây là từ láy nguyên khối, nó dùng dợi tả tóc vàng do cháy nắng.
Hay một từ láy khác gợi màu vàng theo một kiểu rất lạ, đó là kiểu Nguyễn Duy:
Bia lon thỗn thện người lon ễnh ềnh ệch hỏn hòn hon thùi lùi trắng vàng đen láng cóng đùi
ngo ngoe ngứa nỗi buồn vui không màu
(Boston, 21.6.1995 Tr 283)
Từ “ễnh ềnh ệch” vừa gợi hình nhưng cũng gợi một màu vàng trong liên tưởng trừu tượng vì ta vẫn thường nghe nói vàng ệch. Như vậy đây là kiểu gọi tên màu sắc vô cùng đặc biệt của Nguyễn Duy.
d. Từ láy biểu hiện màu xanh
Từ láy chỉ màu xanh cũng xuất hiện trong thơ Nguyễn Duy. Có từ láy gọi đích danh màu xanh cũng có từ gợi lên màu xanh: xanh xanh, biêng biếc.
Xanh xanh đỏ đỏ phừng phừng tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời phím dây từng bậc lên trời
rủ nhau quên tóc rối bời cỏ rơm
(Cung văn, Tr 47)
“Xanh xanh” là từ láy hoàn toàn, gọi tên màu xanh một cách chính danh. Nhưng trong câu thơ sau màu xanh không được gọi tên mà chỉ gợi người đọc nghĩ đến màu xanh.
Lau già râu tóc lơ phơ
khói sương biêng biếc mây mờ sông xa
(Xuồng đầy, Tr 221)
Từ “biêng biếc” trong câu thơ trên rõ ràng khiến ta nghĩ đến màu sắc xanh của mây trời, sông nước cả hai quyện vào nhau. Màu xanh ấy còn gợi trong ta một nỗi buồn mênh mang trước sự chảy trôi của thời gian và của kiếp người.
đ/ Từ láy biểu hiện màu đen
Qua khảo sát, số từ láy biểu hiện màu đen trong thơ Nguyễn Duy không nhiều như từ láy chỉ các màu khác nhưng được tác giả dùng rất độc đáo.
Xa khơi hơi nước phủ mờ con trâu ở tít tận bờ tre xanh bắt con tép giữa bãi sình
cái chân đen đủi cái mình trắng phau
(Lời ru con cò biển, Tr 211, 212) Từ láy phụ âm đầu “đen đủi” vốn là để chỉ những xui rủi, không may của con người trong cuộc đời. Nhưng tác giả không dùng với nghĩa đó mà
dùng với một nghĩa khác: “đen đủi” được dùng để chỉ màu da, hay chân người lội dưới bùn đen. Rõ ràng là do ý thức luôn tìm tòi sáng tạo nên từ láy dù có quen thuộc nhưng khi đi vào trang thơ của Nguyễn Duy thì nó lại có một màu sắc khác mới lạ.
Thêm một từ láy nữa nói về màu đen:
Bia lon thỗn thện người lon ễnh ềnh ệch hỏn hòn hon thùi lùi trắng vàng đen láng cóng đùi
ngo ngoe ngứa nỗi buồn vui không màu
(Boston, 21.6.1995 Tr 283)
Từ “thùi lùi” đặt trong hệ thống của cả bài thơ cho phép ta hiểu nó dùng để chỉ màu đen. Đây là từ láy vần có yếu tố nhấn mạnh phía sau yếu tố chính. Nếu nói “đen thui, đen đúa, đen ngòm” thì hoàn toàn khác với đen
“thùi lùi”. Một ấn tượng thật mạnh mẽ khi đọc đến những từ láy này của Nguyễn Duy.
Rõ ràng từ láy là phương tiện chỉ màu sắc rất hữu hiệu, rất độc đáo trong thơ Nguyễn Duy. Từ láy trong thơ Nguyễn Duy biểu hiện nhiều màu khác nhau, trong đó có những màu quen thuộc nhưng cũng có những màu hoàn toàn mới lạ chưa từng xuất hiện trong hệ thống chỉ màu sắc của tiếng Việt. Như màu trắng gắn liền với sự vật rất mới lạ của khúc nhạc ve “trăng trắng”, màu “đỏ đỏ” của nhạc khiêu vũ, màu “trắng xèo” của cát, màu “trắng lạnh trắng lùng”của cát… Điều đó cho thấy Nguyễn Duy là người luốn có ý thức sáng tạo ông luôn tìm “ánh vàng trong muối mặn mồ hôi” của mình. Có được ý thức này chỉ có thể là một người vô cùng yêu thơ, hết lòng với nghề như con tằm rút tuột nhả tơ. Chính những nỗ lực ấy khiến thơ Nguyễn Duy luôn có chỗ đứng trong lòng độc giả và luôn mang đến cho bạn đọc sự hấp dẫn mới lạ. Đọc thơ ông tưởng đang đọc những điều rất cũ nhưng kì thực lại là một ngữ nghĩa hoàn toàn mới trong những điều quen thuộc.