Cấu tạo của từ láy tư

Một phần của tài liệu Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy (Trang 58 - 67)

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY

2.1. Cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy

2.1.2. Từ láy bậc hai trong thơ Nguyễn Duy

2.1.2.2. Cấu tạo của từ láy tư

Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong thơ nguyễn Duy, từ láy tư chiếm số lượng nhiều nhất trong số các từ láy bậc hai, gồm có những từ sau: ngứa nga ngứa ngáy, thấp tha thấp thoáng, vằn vằn vèo vẹo, lắt la lắt lẻo, lươn lươn lẹo lẹo, tinh tỉnh tình tinh, tang tảng tàng tang, ngấp nga ngấp ngoáng, phấp pha phấp phới, thất tha thất thểu, xất bất xang bang, kẽo cà kẽo kẹt, tưng tửng từng tưng, chót va chót vót, yêu lăn yêu lóc.

Từ láy tư trong thơ Nguyễn Duy vừa nhiều về số lượng vừa đa dạng về kiểu loại. Sau đây là các kiểu láy tư trong thơ ông:

a/ Láy qua vần a hoặc ơ

Kiểu láy này được cấu tạo bằng cách lặp lại phần gốc kèm theo việc biến đổi vần trong tiếng thứ hai của vần gốc thành vần a (à) hoặc vần ơ trong tiếng thứ hai của phần láy. Trong đó, từ láy đứng trước phần gốc:

Ví dụ:

Thấp thoáng thấp tha thấp thoáng Lắt léo lắt la lắt léo

Ngấp ngoángngấp nga ngấp ngoáng Phấp phớiphấp pha phấp phới

Thất thểuthất tha thất thểu Kẽo kẹtkẽo cà kẽo kẹt Chót vót - chót va chót vót Ví dụ:

Áo trắng là áo trắng bay

thấp tha thấp thoáng tháng ngày mong manh

(Áo trắng má hồng, Tr 49)

Nguyễn Duy dùng từ láy tư “thấp tha thấp thoáng” với yếu tố gốc là vần “a” sau đó biến đổi ở tiếng thứ ba và thứ tư. Cách viết này gây được hứng thú và chú ý của người đọc. Tháng ngày mong manh đã một phần được thể hiện trong ngữ nghĩa của từ láy “thấp tha thấp thoáng”.

Hay trong bài Gặp ma, tác giả viết:

Ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma hóa ra ta gặp bóng ta trên tường

(Gặp ma, Tr 311)

Người bình thường hay người yếu bóng vía khi gặp ma đều có chút hoảng sợ bối rối. Nguyễn Duy đã dùng một từ láy tư để nói lên cảm xúc tâm trạng khi mình gặp chính mình mà hoảng loạn tưởng ma, ấy là lúc thần trí không minh mẫn. Từ láy “ngấp nga ngấp ngoáng” rất đặc sắc trong câu thơ này, nếu viết “ngấp ngoáng” thì không có gì đáng chú ý, nhưng “ngấp nga ngấp ngoáng” thì lại khác nó gợi nhiều hơn tả một trạng thái con người thần hồn nát thần tính trong cái này thành cái kia, không chỉ thế nó còn gợi một

liên tưởng khác về người dang nhìn nhầm ấy hình như đã già. Viết chân thực và gợi hình như thế thì chỉ có Nguyễn Duy.

Trong bài thơ “Đỏ”, tác giả cũng dùng từ láy tư:

Phấp pha phấp phới nhiễu điều ái ân phần phật tình yêu không thành

(Đỏ, Tr 33)

Bài thơ chỉ hai câu tổng cộng mười bốn chữ nhưng hầu hết là từ láy.

Dáng hình tấm vải lụa đỏ được gợi bằng từ láy tư “phấp pha phấp phới”.

Thêm một ví dụ nữa về láy tư:

Áo trắng là áo trắng này

ngứa nga ngứa ngáy cỏ may trong lòng bỗng dưng bạn ấy lấy chồng

bỏ ta lại giữa mùa đông xám trời

(Áo trắng má hồng, Tr 49)

Từ “ngứa nga ngứa ngáy” được cấu tạo theo phương thức đặc biệt dùng yếu tố gốc “ngứa” để thêm yếu tố láy “nga” và cộng từ láy gốc “ngứa ngáy” tạo cảm giác khó chịu, bứt rứt trong lòng khi người bạn gái tuổi thơ cảu mình đi lấy chồng. Thương đấy, thầm nhớ đấy mà không như nỗi buồn thăm thẳm như Nguyễn Bính mà là nỗi khó chịu không yên.

Như vậy, hầu hết từ láy tư trong thơ Nguyễn Duy luôn có thanh trắc nhiều hơn, chính điều đó tạo được ấn tượng riêng của bạn đọc với thơ ông.

b/ Láy bằng tách xen và láy toàn bộ. Hai tiếng của phần gốc và hai tiếng của phần láy tách rời ra và xen kẽ nhau với trật tự láy-gốc.

Ví dụ:

Vằn vèovằn vằn vèo vẹo Lươn lẹolươn lươn lẹo lẹo

Nhà thơ lơ mơ nhìn cuốc hóa gà nhà nhiếp ảnh nhìn vằn vặn vèo vẹo

Nhà báo nhìn lắt la lắt léo

nhà buôn nhìn lươn lươn lẹo lẹo

(Hoa hậu vườn nhà ta, Tr 119) Bài “Hoa hậu vườn nhà ta” được Nguyễn Duy viết nhân cuộc thi hoa hậu tháng 9 năm 1992, khi mà nền kinh tế thị trường đã chi phối đời sống xã hội nước ta, làm nảy sinh nhiều hiện tượng mới lạ trong sinh hoạt văn hóa dân tộc. Bằng lối tư duy dí dỏm, nắm bắt cái thuận lý và cái nghịch lý, đối lập chúng khi thể hiện, Nguyễn Duy đã vẽ lên một bức tranh thi hoa hậu vừa nghiêm túc, vừa nực cười, bộc lộ nhiều khía cạnh của nền kinh tế thị trường sôi động: Người thi người còn ta thì thi nhìn…

Chỉ với bốn dòng thơ nhưng cũng ít nhiều khẳng định được tài năng của tác giả. Bốn dòng có đến ba từ láy bốn “vằn vặn vèo vẹo, lắt la lắt léo, lươn lươn lẹo lẹo” những từ láy trên vừa có tác dụng tạo hình vừa có tác dụng miêu tả thái độ đánh giá cách nhìn của từng nghề nghiệp đối với cuộc thi hoa hậu. Kiểu láy như vậy tạo nhịp điệu và tăng tính nhạc cho câu thơ. Làm cho giọng điệu thơ giàu tính hài hước được bộc lộ qua việc tác giả sử dụng ngôn ngữ thể hiện sự mâu thuẫn bên trong của các tầng lớp người: nhà khoa học, nhà chức sắc, nhà phê bình, nhà đạo đức, nhà thơ… trong thời kì kinh tế thị trường- thời mở cửa.

c/ Láy hoàn toàn và biến đổi thanh điệu Ví dụ: tinh tỉnh tình tinh, tang tảng tàng tang Trong bài “Xẩm ngọng”, tác giả viết:

Đàn kêu tinh tỉnh tình tinh

cái tâm xúc phạm cái hình vô tâm ...

Đàn kêu tang tảng tàng tang

nàng chơi đẹp xúc phạm chàng xấu chơi

(Xẩm ngọng, Tr 160)

Kiểu láy tư nhằm miêu tả tiếng đàn “tinh tỉnh tình tinh, tang tảng tàng tang” các từ láy hoàn toàn chỉ khác nhau ở thanh điệu đem đến cho người đọc một âm thanh lạ tai, tuy nhiên những từ láy này không chỉ gợi tả âm thanh nó còn có tác dụng vắt dòng tạo nhịp điệu và hiệp vần với câu trên. Trước đây chúng ta mới chỉ nghe “đàn kêu tích tịch tình tang”, nhưng đến Nguyễn Duy thì là một kiểu đàn độc đáo tang tảng tàng tang.

Qua các từ láy tư kể trên đây ta thấy ngoài những từ láy quen thuộc thì Nguyễn Duy còn sáng tạo một số từ láy rất mới lạ như: ngấp nga ngấp ngoáng, tinh tỉnh tình tinh, tang tảng tàng tang, tưng tửng từng tưng...Cách viết ấy khiến những tác phẩm thơ của Nguyễn Duy dù viết về những điều bình dị, quen thuộc nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả.

2.1.2.3 Từ láy năm và láy sáu

Thực tế từ láy năm và láy sáu rất ít nhưng trong thơ Nguyễn Duy vẫn có xuất hiện với tư cách láy rất mới lạ, thể hiện sự dí dỏm của người viết như:

thòm thèm thòm thèm thòm,tứng từng tưng tửng từng tưng.

Nỗi nhớ ngứa cả mũi

Thòm thèm thòm thèm thòm.

(Sầu riêng, Tr 316) Xanh xanh đỏ đỏ phường phừng

tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời (Cung văn, Tr 47)

Từ “thòm thèm” là từ láy đôi, từ này không thể láy ba, bốn, năm, sáu nữa. Còn từ “tưng tửng” có thể cấu tạo láy ba như “tửng từng tưng” nhưng không thể cấu tạo láy bốn láy năm, sáu nữa vậy mà Nguyễn Duy vẫn tạo ra từ láy năm, láy sáu trên cơ sở những từ này. Từ láy năm “thòm thèm thòm thèm thòm” để diễn tả cảm giác nhớ thèm một thức quả sầu riêng của tác giả thật

khó có ai viết được như thế. Còn để miêu tả điệu đàn trong một cung hát chầu văn tác giả lại dùng từ láy sáu khiến bạn đọc cứ nghe ngân nga giai điệu của tiếng đàn kéo mãi ra, ngân mãi lên “tứng từng tưng tửng từng tưng”.

2.2. Nhận xét chung

Qua hai dạng từ láy bậc một và bậc hai trong thơ Nguyễn Duy chúng tôi có một số nhận xét chung như sau:

Về số lượng: Nếu như trong tiếng Việt chủ yếu là từ láy bậc một, từ láy bậc hai chỉ có một số trường hợp thì trong thơ Nguyễn Duy từ láy bậc hai cùng xuất hiện tương đối nhiều.

Về tính đa dạng trong cấu tạo: Từ láy bậc một và bậc hai trong thơ Nguyễn Duy đều rất đa dạng. Trong đó, các từ láy bậc một xuất hiện gồm cả hai mức độ: láy hoàn toàn và láy bộ phận. Số lượng từ láy hoàn toàn là 106 từ chiếm 16% tổng số từ láy. Số lượng từ láy bộ phận là 555 từ chiếm 84 % tổng số từ láy. Từ láy bậc II chiếm 3,5% tổng số từ láy, có cả láy 3, láy 4 và láy 5, láy 6.

Trong mỗi loại cũng rất đa dạng. Chẳng hạn như láy hoàn toàn đối thanh thì có các dạng láy nguyên khối và láy đối thanh. Láy nguyên khối có 56 từ chiếm 52,8 % tổng số từ láy hoàn toàn. Láy đối thanh có 50 từ chiếm 47,2 % tổng số từ láy hoàn toàn

Điều đặc biệt là Nguyễn Duy luôn có ý thức tạo các từ láy mới lạ bằng cách kết hợp một hình vị của từ này và một hình vị của từ khác, hoặc kết hợp bất thường giữa khuôn vần này và một phụ âm khác. Chúng ta có thể thấy qua một số từ láy bậc một tiêu biểu như bè tõe, ngậm ngãi, mỏng mai, lênh phênh, veo véo, vấp vểnh…

Người đi ngậm ngãi tìm trầm

Hiện hồn trong tiếng cọp gầm lạnh lưng (Dòng sông mẹ)

Veo véo từ trường nhiễu sinh học

Khoan nhặt vô thường ríu rít tít mù loảng xoảng (Khiêu vũ)

Hoa đào cũng đẹp như đời vậy Nhớ dáng cành cây vấp vểnh cong

(Hoa đào)

Với các từ láy bậc hai cũng vậy, bằng cách phối thanh, cách tách và chêm xen các yếu tố trong từ, Nguyễn Duy cũng đã tạo ra hàng loạt từ láy ba, láy tư, láy năm, láy sáu rất đặc biệt, độc đáo. Đó là các từ: nõn nòn non, ễnh ềnh ệch, mòm mom móm, dửng dừng dưng, ngứa nga ngứa ngáy, xất bất xang bang, ngấp nga ngấp ngoáng, thòm thèm thòm thèm thòm, tứng từng tưng tửng từng tưng… Nếu như láy ba trong tiếng Việt ta thấy âm tiết thứ ba thanh không là chủ yếu thì trong thơ Nguyễn Duy lại có nhiều âm tiết thứ ba không phải là thanh không: ễnh ềnh ệch, mòm mom móm… Nếu như trong tiếng Việt, láy tư với các từ láy quen thuộc như: khập khà khập khiễng, lập cà lập cập,… thì trong thơ Nguyễn Duy không có những từ đó mà có những từ rất mới lạ: ngấp nga ngấp ngoáng, chót va chót vót, xất bất xang bang, tang tảng tàng tang,tứng tửng từng tưng… Nếu như trong tiếng Việt, từ láy năm, láy sáu rất hiếm thì trong thơ Nguyễn Duy vẫn xuất hiện một cách độc đáo. Nhà thơ có cách láy năm, láy sáu rất đặc biệt thòm thèm thòm thèm thòm,tứng từng tưng tửng từng tưng.

Bằng sự sáng tạo không mệt mỏi, Nguyễn Duy đã vận dụng những từ láy thông thường để sáng tạo thành những từ láy mới lạ nhằm bày tỏ, bộc lộ cảm xúc theo cách riêng của mình, đem đến một diện mạo mới cho thơ ca hiện đại. Mỗi một từ láy của Nguyễn Duy đều mang màu sắc cách tân, sáng tạo riêng của ông.

Không chỉ có ý thức sáng tạo các từ láy mới lạ mà khi dùng từ láy

Nguyễn Duy cũng rất có ý thức trong kết hợp từ để làm mới nghĩa của từ láy, làm mới cách diễn đạt.

Mùa mưa gõ trống mái tăng

Lưỡi trời trắng xóa mây giăng cõi người Giọt thương nhớ nhỏ nhẻ rơi

Giọt mong rả rích nhão lời tha hương Giọt vui lốp bốp ồ tuôn

Sau mưa bộp một giọt buồn vĩ thanh (Mưa)

Nhỏ nhẻ là từ láy nói về giọng nói của người khi nói chuyện, nhưng Nguyễn Duy không dùng như vậy. Nhỏ nhẻ của Nguyễn Duy là để miêu tả âm thanh của động từ rơi. Người Việt nói nói nhỏ nhẻ, không ai nói rơi nhỏ nhẻ, chỉ có nguyễn Duy nói như vậy. Tương tự như vậy, từ láy lốp bốp cũng được Nguyễn Duy dùng rất lạ để bổ nghĩa cho động từ tuôn. Trong tiếng Việt, từ láy này dùng để mô phỏng âm thanh tiếng mưa rơi trên những vật mỏng như lá chuối, mái tôn. Nếu bổ nghĩa cho động từ tuôn thì người Việt dùng từ láy xối xả. Nguyễn Duy lại rất khác người, dùng lốp bốp để bổ nghĩa miêu tả âm thanh của tuôn: lốp bốp ồ tuôn. Và rất nhiều trường hợp như vậy nữa.

Nhà báo nhìn lắt la lắt léo

Nhà buôn nhìn lươn lươn lẹo lẹo

(Hoa hậu vườn nhà ta) Tuổi thơ lơ lớ da trời

Áo em phơn phớt xanh chồi thần tiên (Người con trai)

Một điều rất đặc biệt nữa trong thơ Nguyễn Duy là ông ít dùng đơn lẻ từng từ láy mà thường dùng trùng điệp một chuỗi các từ láy với cấu tạo khác nhau. Điều này đã làm cho thơ ông rất ấn tượng, rất hấp dẫn. Bởi qua những

từ láy ấy đem đến cho người đọc một vốn sống phong phú, một hồn thơ không đơn điệu. Qua đó nhà thơ còn bộc lộ cảm xúc của mình đối với cuộc sống một cách đa dạng. Ta có thể thấy qua một số bài thơ sau.

Xanh xanh đỏ đỏ phừng phừng tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời phím dây từng bậc lên trời

rủ nhau quên tóc rối bời cỏ rơm

(Cung văn, Tr 47)

Tác giả kết hợp hàng loạt từ láy hai và láy láy sáu để gợi tả tiếng đàn, một cách nói đặc biệt. Các từ láy nối dài liên tiếp nhau tạo âm hưởng vừa vui nhộn vừa thể hiện chất hài hước của tầm hồn người viết.

Hoặc như:

Cả trần gian tí tởn

đón xuân sang tưng bừng có một thằng dớ dẩn ngồi làm thơ rưng rưng

(Pháo Tết, Tr 116)

Bốn câu thơ ngắn mà có đến bốn từ láy gồm cả láy hoàn toàn, láy phụ âm đầu và láy vần. Nó có tác dụng rất lớn không chỉ trong việc hòa âm liên kết câu thơ mà giá trị gợi tả cao và buộc người đọc phải chú ý vì độ lạ và độc đáo trong cách dùng từ láy của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy luôn thử tài sáng tạo của mình trong việc sáng tạo từ láy mới tạo nên một lớp ngữ nghĩa mới cho từ. Ở mỗi loại từ láy Nguyễn Duy đều có những cách tân cho phù hợp với cảm xúc riêng tư của mình và xu hướng chung của thời đại. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Duy là một cây bút không ngừng sáng tạo, luôn đi tìm cái mới để có được một phong cách riêng trong nền thơ ca Việt.

Một phần của tài liệu Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy (Trang 58 - 67)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)