CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
3.2. Ngữ nghĩa từ láy trong thơ Nguyễn Duy
3.2.2. Từ láy biểu hiện hình dáng đường nét
Qua khảo sát, hình dáng đường nét mà từ láy trong thơ Nguyễn Duy biểu hiện rất phong phú, gồm các từ như: vành vạnh, chập chờn, mấp mé, nhẹ nhàng, liêu xiêu, dịu dàng, lang bang, lúng liếng, nhồm nhoàm, ngấu nghiến, lang thang, lèo tèo, lổn nhổn, loạng quạng, lững thững, cuống muống, ngoằn ngoèo, nhấm nháp, thủng thỉnh,… Từ láy trong thơ Nguyễn Duy chủ yếu biểu hiện hình dáng đường nét của con người, đồ vật, cây cối, con đường và những hiện tượng tự nhiên.
a/ Từ láy biểu hiện hình dáng đường nét của cây cối
Trong thơ Nguyễn Duy, hình ảnh cây cối xuất hiện tương đối nhiều, đó là cây tre, cây điên điển, cấy bằng lăng, cây hồng, cây nhãn, cây bần, cây hồng, cây lau,cây lách…
Hình ảnh cây tre là hình ảnh quen thuộc trong thơ Nguyễn Duy. Cây tre trong thơ ông hiện lên như con người, cây tre là biểu tượng của con người Việt Nam. Khi tả cây tre Nguyễn Duy dùng nhiều từ láy để thể hiện.
Thân gầy guộc lá mong manh Mà sao nên lũy nên thành tre ơi ở đâu tre cũng xanh tươi
cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
(Tre Việt Nam, Tr 37)
“Gầy guộc” là từ láy mô phỏng hình dáng gầy gò khắc khổ của con người đã được Nguyễn Duy dùng để nói cây tre, “mong manh” là từ láy biểu thị đặc điểm nhẹ, dễ vỡ được tác giả dùng để nói về lá tre. Hai từ láy này đã lột tả cả chân dung của cây tre Việt Nam, đó cũng chính là biểu tượng của con người Việt Nam.
Ngoài cây tre, trong thơ ông còn xuất hiện nhiều cây khác như cây điên điển, cây bằng lăng. Nguyễn Duy cũng dùng từ láy để nói về chúng.
Có gì cháy giữa hai hàng điên điển
lập lòe hoa hay đốm nắng cuối ngày khóm bằng lăng tím hay chiều tím áo trắng chập chờn hay bướm bay?
(Gửi lại Long Hưng, Tr 209) Từ láy “lập lòe” để gợi tả ánh sáng nhưng ở đây tác giả dùng để tả hoa điên điển, hoa này vốn màu vàng nó mọc bên sông len vào giữa loài cây khác.
Hoa nở lẫn vào cây lá ven sông do vậy vừa có màu vàng vừa có ánh của nước.
Hình ảnh hoa điên điển lập lòe rất mới rất ấn tượng. Còn “chập chờn” vốn để tả hình dáng không rõ nét. Tác giả cũng dùng nó để tả hình dáng của cánh hoa bằng lăng tím như những con bướm vì giữa chúng có nét tương đồng rất rõ.
Cánh con bướm thì mỏng manh như cánh hoa bằng lăng. Cách tả này thật sự mới và người đọc tha hồ liên tưởng.
b/ Từ láy biểu hiện hình dáng đường nét của các hiện tượng tự nhiên Các hiện tượng tự nhiên cũng xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Duy như ánh trăng, gió, mây, sấm chớp… Để miêu tả hình dáng đường nét của các hiện tượng này, Nguyễn Duy thường dùng từ láy.
Nói về trăng, tác giả viết:
Thình lình đèn điện tắt Phòng buynđinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình
(Ánh trăng, Tr 100)
Vẻ đẹp của ánh trăng hiện ra trong sự bất ngờ, tuyệt mĩ, ánh vàng dịu êm rải đều khắp mọi vật, chảy tràn và soi chiếu cả đến những khoảng trống vô
tâm của con người. Điều ấn tượng trong đoạn thơ là cách tả trăng. Đặc điểm tròn của trăng Nguyễn Duy dùng từ láy “vành vạnh” đây là một từ láy quen thuộc trong tiếng Việt. Còn khi trăng im lặng thì tác giả dùng “phăng phắc”.
Trong tiếng Việt, từ láy “phăng phắc” dùng để nói sự im lặng của con người hay của một cảnh tĩnh lặng chứ không dùng để nói ánh trăng. Thế mà Nguyễn Duy lại dùng để nói về ánh trăng. Trăng chính là người có tâm trạng cảm xúc như con người. Trăng “im phăng phắc” có lẽ do con người đã làm tổn thương đến nó. Trăng “im phăng phắc” là một sự nhắc nhở cảnh tỉnh con người đừng quên quá khứ.
Còn nói về gió thì tác giả viết:
Trời đâu cũng rộng như nhau
mưa đâu cũng ướt nắng đâu cũng vàng Gió đâu gió cũng lang thang
người đâu yêu cũng nồng nàn như yêu
(Chỉ khác nhau cái nhìn, em ạ…, Tr 289) Mượn thể thơ lục bát truyền thống, Nguyễn Duy đã viết nên những câu thơ về gió thật độc đáo. Gió là một hiện tượng tự nhiên không dừng lại một chỗ luôn chuyển động. Từ láy “lang thang’’ để chỉ hình dáng của gió đến chỗ này rồi lại đi chỗ khác không có một hình dạng cố định nào.
Hay viết về sông, về mây, Nguyễn Duy dùng những từ láy có khả năng nhấn mạnh, tô đậm sắc thái nghĩa để miêu tả.
Mặt Đanuýp đỏ nhừ như say khướt
sóng nhồm nhoàm nhai ngấu nghiến cả hoàng hôn mây ngùn ngụt đùn lên từ thành Pét
một thời ai hát Đanuýp xanh…
(Đanuýp đỏ, Tr 268)
Ba từ láy trong bốn câu thơ được tác giả dùng để tả cảnh sông Đanuýp hùng vĩ nhưng có vẻ hung hãn và rất giống con người. Sông cũng như người
ấy có khi vui buồn mà chỉ có tình yêu sâu nặng với thiên nhiên mới có thể thấy. Con sông có khuôn mặt đỏ nhừ như say khướt như con người trong cơn giận dữ. Cách tả sóng của sông đang dâng mạnh mà như đang “nhồm nhoàm nhai ngấu nghiến cả hoàng hôn” thì đúng là tới Nguyễn Duy mới có cách đánh giá như vậy. Không chỉ dừng lại ở đó, mức độ giận dữ của sông được tăng lên khi tác giả thêm một từ láy thứ ba “ngùn ngụt” của mây đang đùn lên. Cảnh vừa hùng vĩ vừa gợi cảm giác sợ hãi của con người trước sức mạnh của thiên nhiên.
Là một thi sỹ có trái tim nhạy cảm, giàu yêu thương, tình yêu trong thơ Nguyễn Duy là những lời tâm tình thiết tha, ngay khi bông đùa cũng vẫn đắm đuối, ngọt ngào. Mượn chất liệu và cách nói ý nhị của ca dao dân ca, Nguyễn Duy đã trao gửi tâm tình qua lời thơ bằng chính những tình cảm mà các liền anh liền chị xưa đã dìu nhau đi suốt mùa quan họ. Nhưng những tình cảm ấy lại hiện lên qua đặc điểm của một con sông, của một cơn gió.
Ai làm ra lúng liếng sông
để đưa tu hú sổ lồng sang ngang Ai sinh ra thói tình tang
để ai hoá gió lang bang quên nhà
(Vải thiều, Tr 320)
Từ láy “lúng liếng” vốn để tả hoạt động của mắt nhưng Nguyễn Duy dùng nó để tả sông. Hình ảnh con sông lấp lánh dưới nắng như ánh mắt của liền chị quan họ đưa tình còn gì đẹp hơn hình ảnh này khi nói về sông. Bạn đọc luôn phải bất ngờ với khả năng sáng tạo liên tưởng của tác giả. Còn gió trong câu thơ cuối cũng được tả như đã nói ở trên “lang bang” không có một dáng hình cố định.
Hay nói về mưa, tác giả cũng có những từ láy đặc biệt gợi hình.
Thơ cứ rắc mưa sương tình tứ
Mưa thật mưa ngập ngụa cả con đường
Đồng nhuận bút phập phồng bong bóng nước Mẹ Đốp đi làm bì bọp lội mà thương.
Áo mưa vợ giăng cánh buồm giữa phố Chồng với con mấp mé một thuyền đầy.
Năm tháng bão giông sang sông lũ đổ Một tay em chèo chống ngày ngày ngày
(Nợ nhuận bút, Tr 370,371) Tả mưa, tác giả không nói mưa rây, mưa rợ, mưa giăng mắc, mưa ào ào mà tác giả dùng một từ láy gợi hình gợi bao nhiêu liên tưởng mưa“ngập ngụa”. “Ngập ngụa” là từ láy dùng để tả mưa nhiều đến nỗi ngập đầy, tràn đầy nước mà là nước trơn và bẩn. Để nhấn mạnh thêm cảnh mưa nhiều, tác giả còn dùng thêm hai từ láy “phập phồng, bong bóng.”
Còn nói về gánh nặng chồng con, Nguyễn Duy dùng chồng với con mấp mé một thuyền đầy. Chồng con mà Nguyễn Duy nói như nước. “Mấp mé”
là nước sắp ngập, sắp tràn. Chồng con mấp mé một thuyền đầy thật hài hước ấn tượng.
Như vậy, từ láy để chỉ đường nét hình dáng của các hiện tượng tự nhiên trong thơ Nguyễn Duy thật phong phú và độc đáo.
c/ Từ láy biểu hiện hình dáng đường nét của con người
Hình ảnh con người là hình ảnh không thể thiếu trong thơ Nguyễn Duy.
Con người trong thơ ông cũng đa dạng. Từ những người lam lũ, đến những nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, từ trẻ con đến người già, từ phụ nữ đến đàn ông… đều được Nguyễn Duy nói đến.
Nhẹ nhàng tiếng bóng liêu xiêu Em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng Má hồng về xứ hồng hoang
Tóc rơi mỗi sợi nghe ngàn lau rơi
Dịu dàng vang tiếng mắt cười Bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm Bỏ qua tội tháng nợ năm
Tự nhiên giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng".
(Dịu và nhẹ)
Như một sự minh chứng cho việc tình yêu không hề có giới hạn về tuổi tác, Nguyễn Duy đã viết lá thư tình để gửi đến người “tóc muối tiêu”. Để tả một người phụ nữ đã luống tuổi nhưng vẫn còn nguyên nét đáng yêu, tác giả dùng hàng loạt từ láy chỉ dáng vẻ, hình ảnh như: nhẹ nhàng, dịu dàng, liêu xiêu. “Liêu xiêu” là một từ láy dùng để tả dáng người hơi đổ hơi xiêu đi như sắp ngã. Ở đây Nguyễn Duy dùng nó để gợi tuổi già, dù già nhưng vẫn giữ được phong thái “nhẹ nhàng” và đặc biệt là dáng vẻ “dịu dàng”. Tuy nhiên từ láy “dịu dàng” ở trong đoạn thơ này không dùng để nói về tính cách mà là để nói về dáng vẻ của đôi mắt.
Hay để tả hình dáng cánh tay trần mềm mại của cô gái trong điệu múa, Nguyễn Duy cũng dùng từ láy.
Ápxara - nữ thần hóa thân thành tượng đá lại trở về người - mềm mại cánh tay trần
(Ápxara - người múa và điệu múa, Tr 240) Từ láy “mềm mại” vốn là để gợi cảm xúc mềm mại dễ chịu khi tiếp xúc, hay gợi cảm giác đẹp đầy uốn lượn, uyển chuyển. Nguyễn Duy đã dùng nó để tả cánh tay mà cánh tay này đang múa.
Tả hình dáng một cô gái nhí nhảnh hồn nhiên, tác giả cũng dùng từ láy.
Em nhỏng nhảnh đi qua thời ảo ảnh ta uể oải đi qua vườn địa đàng
(Gửi lại trường Lômônôxốp, Tr 269) Trong từ điển từ láy tiếng Việt “nhỏng nhảnh” là để chỉ người có điệu bộ cử chỉ, lời nói như không cần biết đến ai. Còn “nhỏng nhảnh” trong cách
dùng của Nguyễn Duy là sự vô tâm, hồn nhiên của cô gái trẻ, gợi dáng vẻ nhanh nhẹ vụt qua, lại như thâu tóm được cả sự đỏng đảnh, nhí nhảnh, vô tư hồn nhiên của cô gái trẻ. Không chỉ thế, từ láy “nhỏng nhảnh” còn có tác dụng hiệp vần tăng tính nhạc cho câu thơ khi phối hợp với từ láy “ảo ảnh”.
Đối lập với sự nhanh nhẹn của em là ta “uể oải”, từ láy này nhằm diễn tả đáng vẻ chập chạp của một người đang mệt mỏi.
Trong bài “Vợ ốm”, tác giả viết:
Cái lưng em sụm bất ngờ
tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời
………
Nghìn tay em việc không tên
mình em là cõi bình yên nhẹ nhàng thình lình em ngã bệnh ngang
phang anh xất bất xang bang sao đành (Vợ ốm, Tr 380)
Từ láy “lõng thõng” ghi được trọn vẹn cảm giác hốt hoảng đến rụng rời cả tay chân của nhà thơ khi nghe tin vợ ốm. Từ láy “xất bất xang bang” là từ láy tư có thanh đối lập nhau lại gợi lên rất rõ hình ảnh nhà thơ đang tất bật ngược xuôi, xơ xác, tơi tả vì thường ngày “thượng giới rong chơi” nay phải thay vợ gánh cả “việc thiên, việc địa, việc nhà”…
d/ Từ láy biểu hiện hình dáng đường nét của các đồ vật, con vật gần gũi Các đồ vật, con vật xũng xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Duy. Đó là cây cầu, mái nhà, đó là con trâu, con bò..v..v.
Lênh phênh cầu mới Thăng Long chiều mận chín tím mọng dòng phù sa biến dần cồn bãi bao la
còn li ti lắng lòng ta với mình
(Chiều mận Hậu, Tr 321)
Trong tiếng Việt có từ láy lềnh phềnh dùng để chỉ vật nhẹ trôi nổi trên mặt nước chứ không có từ lênh phênh. Ở đây, Nguyễn Duy dùng “lênh phênh”là một từ láy rất mới lạ, nó không chỉ có nghĩa trôi nổi trên mặt nước mà còn thể hiện cả sự thênh thang của chiều dài chiều rộng. Cây cầu mới Thăng long được nhà thơ nhìn bằng con mắt rất riêng. Lênh phênh cầu mới thăng long có cả hình ảnh và cảm giác với cách nói hài hước vui vẻ.
Còn viết về làng thì:
Làng ta ở tận làng ta
mấy năm một bận con xa về làng gốc cây hòn đá cũ càng
trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay Cha ta cầm cuốc trên tay
nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa
(Về làng, Tr 322)
Những từ láy “đủng đỉnh” gợi tả dáng vẻ không có gì vội vã của đàn trâu gặm cỏ trên đê, còn từ láy “xơ xác” dùng để gợi hình ảnh về ngôi nhà thân thương của tác giả. Đọc đoạn thơ, chúng ta có cảm giác buồn đau. Chính các từ láy tượng hình đã gây cho ta cảm giác đó.
Kể cả một vật là con bù nhìn được bà con nông dân làm để đánh lừa các loại động vật phá hoại hoa màu, tác giả cũng nói đến trong bài Mùa nước nổi.
Em đi vớt vát lúa trời
Áo hình nhân dán thân người mỏng mai
………
Một cơn lũ động âm binh
Để em trắng toát một mình loay hoay
(Mùa nước nổi, Tr 223)
Từ láy “mỏng mai” là từ láy không có trong từ điển từ láy tiếng Việt.
Nếu nói về dáng vẻ mỏng thì ta thường dùng “mảnh mai, mỏng manh, mong manh” chứ không ai nói mỏng mai. Nguyễn Duy đã sáng tạo từ láy này bằngcách kết hợp hai yếu tố của hai từ láy khác nhau, một yếu tố của từ láy
“mảnh mai” và một yếu tố gốc của từ láy “mỏng manh” và tạo nên một ngữ nghĩa mới cho từ. Hình ảnh con bù nhìn vừa mong manh vừa dễ thương trên những cánh đồng trở nên đáng yêu và chính sự mỏng manh đó làm cho nó khó có thể chống đỡ được cảnh mưa lũ nên “loay hoay” một mình.
Rõ ràng, lớp từ láy biểu hiện hình dáng đường nét trong thơ Nguyễn Duy cũng rất phong phú, với cách diến đạt lạ, với cách sáng tạo một số từ láy mới, Nguyễn Duy đã làm mới từ láy tiếng Việt, đã cung cấp nhiều sắc thái nghĩa mới cho từ láy. Do vậy, từ láy trong thơ Nguyễn Duy có khả năng thể hiện hình dáng đường nét của sự vật rất đa dạng, rất độc đáo và không kém phần tinh tế.