Phân loại từ láy

Một phần của tài liệu Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy (Trang 22 - 29)

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Từ láy trong tiếng Việt

1.1.2. Phân loại từ láy

Có nhiều tiêu chí phân loại từ láy, nhưng nhìn chung khi phân loại từ láy, các nhà Việt ngữ học dựa vào hai căn cứ chủ yếu là cấu tạo và ý nghĩa.

1.1.2.1 Dựa vào cấu tạo

Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã phân loại từ láy dựa trên 3 phương diện: bậc láy, số lượng tiếng trong từ láy và kiểu láy, hay cơ chế láy. Còn theo tác giả Đào Thản, từ láy xét về cấu tạo gồm 2 loại: từ láy hoàn toàn (các âm tiết giống nhau về cả âm đầu, phần vần và thanh điệu), từ láy gần hoàn toàn (gồm nhóm biến thanh và biến vần). Nói chung xét về cấu tạo thì các tác giả đều dựa vào phương thức láy và bộ phận được láy. Sau đây chúng tôi xin trình bày tiêu chí phân loại từ láy dựa vào cấu tạo.

a. Căn cứ vào phương thức láy

Theo phương thức láy tức là căn cứ vào số lượng âm tiết, hay số lần láy. Căn cứ vào số lượng âm tiết của từ láy, có thể chia từ láy thành 2 loại:

- Từ láy bậc I (láy đôi) là các từ láy có 2 tiếng. Trong cấu tạo của từ láy bậc I, tiếng gốc được nhân đôi 1 lần sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hoà phối ngữ âm thể hiện quy tắc điệp và đối.

Ví dụ: loảng xoảng, chầm chậm, sừng sững, ngai ngái, dìu dịu, dửng dưng, rờn rợn,…

- Từ láy bậc II (láy ba, láy tư...) là các từ láy gồm từ 3,4 tiếng trở lên.

Trong cấu tạo của từ láy bậc II, tiếng gốc được nhân đôi 2 lần trở lên sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hoà phối ngữ âm thể hiện quy tắc điệp và đối.Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng. Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu. Từ láy ba là kết quả của hai bước nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc điệp và đối. Có thể chia ra làm các loại nhỏ hơn theo quy tắc điệp phụ âm đầu, đối khuôn vần, nhờ chuyển đổi phụ âm cuối và thanh điệu

Ví dụ: Xỉnh xình xinh, toác toàng toang, phấp pha phấp phới, thất tha thất thểu…

b. Căn cứ vào mức độ láy:

Có thể chia từ láy ra 2 kiểu: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận.

b1.Từ láy hoàn toàn

Từ láy hoàn toàn là loại từ láy trong cấu tạo của nó, tiếng gốc được lặp lại toàn bộ ở tiếng láy. Trong từ láy hoàn toàn chia ra 3 trường hợp:

- Trường hợp láy toàn bộ âm và giữ nguyên thanh điệu (nguyên khối).

Ví dụ: đùng đùng, đoàng đoàng, xanh xanh, xa xa, tà tà, hao hao, gườm gườm, xinh xinh, rào rào....

Từ láy hoàn toàn các thành tố giống hệt nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và độ kéo dài đối với mỗi thành tố. Trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ láy. Tuy nhiên láy

không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn, mà lặp lại âm thanh có sự biến đổi theo quy tắc hoà phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa. Điều này thể hiện ở trường hợp từ láy hoàn toàn sau:

- Trường hợp láy toàn bộ âm và thanh điệu biến đổi (đối thanh). Loại từ láy này điệp phụ âm đầu và khuôn vần, thanh điệu được chuyển đổi để tạo thế đối. Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở phụ âm đầu nên có thể xẩy ra hiện tượng biến thanh theo quy tắc chặt chẽ. Nguyên tắc đối thanh điệu ở đây là:

Thanh bằng đối thanh trắc, thanh bằng gồm có thanh ngang, thanh huyền;

thanh trắc gồm có thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng; Đối âm vực cao với âm vực thấp theo quy tắc cùng âm vực, thuộc âm vực cao có thanh không dấu (thanh ngang), hỏi, sắc; thuộc âm vực thấp có thanh huyền, ngã, nặng. Và bằng trước, trắc đứng sau.

Âm vực cao a ả á

Âm vực thấp à ã ạ

Theo quy luật hài thanh nhằm tạo nên sự trôi chảy, êm ái khi kết hợp các âm tiết theo phương thức láy, hai tiếng có thể láy được với nhau khi một tiếng mang dấu ngang phải đi liền trước hoặc liền sau một tiếng mang dấu sắc hoặc dấu hỏi. Ngược lại, khi một tiếng mang dấu huyền thì tiếng kết hợp theo phương thức láy còn lại phải mang dấu nặng hoặc dấu ngã.

Bằng Trắc

Ngang Hỏi Sắc

Huyền Ngã Nặng

Ví dụ: vẩn vơ, chói chang, thấp thỏm, buồn bã, lẳng lơ, nhẹ nhàng, gần gũi, tim tím, mơn mởn, lành lạnh, đằng đẵng, phảng phất, ầm ĩ,…

Tuy nhiên, có một số ngoại lệ như: loang loãng, khít khịt, tất tật, sát sạt, dửng dưng, cuống cuồng, ngoan ngoãn, tan tành...

- Từ láy hoàn toàn đối vần là điệp phụ âm đầu và đối khuôn vần nhờ sự biến dạng theo quy tắc chuyển đổi chính âm hoặc phụ âm cuối.

+ Theo quy tắc chuyển đổi chính âm.

Trong tiếng Việt, hai loại nguyên âm chính là nguyên âm đơn (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, e, ê, i/y) và nguyên âm phức (ia (iê), ưa (ươ), ua (uô)). Từ láy phần vần chủ yếu được kết hợp bởi các tiếng có cùng độ mở, theo sự phân loại sau:

 Nguyên âm rộng: e, a, o

 Nguyên âm vừa: ê, ơ, ô

 Nguyên âm hẹp: i, ư, u

 Nguyên âm hẹp mở qua vừa: iê, ươ, uô

Ví dụ: thủ thỉ, đủng đỉnh, ngô nghê, xồ xề, ngông nghênh, thỏ thẻ, ngo ngoe, đù đừ, tung tăng,...

+ Theo quy tắc chuyển đổi phụ âm cuối.

Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng khác nhau về âm cuối. Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên có thể xảy ra hiện tượng biến vần theo quy luật chặt chẽ: Các phụ âm tắc vô thanh - p, -t, - k sẽ chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp -m, -n,- ŋ

Bộ vi cấu âm

PP phát âm Môi - môi Đầu lưỡi -

răng

Gốc lưỡi - Ngạc mềm

Vang - mũi - m - n - ŋ

Tắc - vô thanh - p - t - k

Ví dụ:

 m - p: rậm rạp, răm rắp, cầm cập, nơm nớp, hâm hấp, đèm đẹp, thiêm thiếp,…

 n - t: nhàn nhạt, sền sệt, san sát, phơn phớt, hun hút, thơn thớt...

 ŋ - k: chênh chếch, thinh thích, đành đạch, bàng bạc,anh ách, phăng phắc, vằng vặc,..

Lưu ý: Các phụ âm cuối p, t, ch, c chỉ đi với thanh điệu sắc hoặc nặng, còn gọi là tử vận.

Sự chuyển đổi về thanh điệu giữa các tiếng trong từ láy tuân theo quy tắc đối bằng - trắc cùng âm vực. Đây được xem là hệ quả tất yếu của sự chuyển đổi phụ âm cuối khi cấu tạo từ láy.

b2. Từ láy bộ phận

Từ láy bộ phận là loại từ láy trong cấu tạo của từ tiếng gốc chỉ được lặp lại một phần ở tiếng láy. Phần lặp lại giữa các tiếng nếu là phần khuôn vần thì được gọi là từ láy phần vần. Phần lặp lại giữa các tiếng nếu là phụ âm đầu thì được gọi là từ láy phụ âm đầu.

- Từ láy vần: Với từ láy phần vần, phụ âm đầu có sự kết hợp đa dạng với các phụ âm khác, ví dụ trong thơ Nguyễn Duy, phụ âm “l” có thể được kết hợp với các phụ âm khác liền trước hoặc liền sau để tạo thành từ láy bộ phận:

l/th: lếch thếch, lôi thôi, lẩn thẩn, tu hú, lòng thòng, loáng thoáng, lướt thướt,lang thang, lững thững,,lòng thòng, lê thê, lõng thõng, lần thần,…

l/c: lập cập, lũn cũn, lởm chởm,…

l/b: lốp bốp, long bong, lang bang, lục bục,…

l/đ: lênh đênh, lận đận, lốm đốm, lảo đảo, la đà, lộp độp, lờ đờ, lao đao,…

l/t: lấm tấm, lăn tăn, li ti, loang toàng, lèo tèo,…

l/nh: lóc nhóc, lúc nhúc, lếch nhếch, làng nhàng, lằng nhằng, láo nháo, lổn nhổn,…

l/v: lảng vảng, lởn vởn,…

l/q: loạng quạng, loanh quanh,…

l/ph: lún phún, lơ phơ, léng phéng, liêu phiêu, lênh phênh, lềnh phềnh,…

l/kh: lỏng khỏng, lòng khòng, lởm khởm, leo khoeo,…

l/m: lơ mơ,lờ mờ,…

l/x: liêu xiêu, lọc xọc, lao xao, loảng xoảng, lò xo, lạo xạo, lô xô, loay xoay, lộn xộn, lăng xăng,…

l/k: lép kẹp, lỉnh kỉnh,…

l/ng: loằng ngoằng, lóp ngóp, lóng ngóng, lơ ngơ, lông ngông, lổm ngổm,…

l/r: lai rai, líu ríu,…

l/b: lép bép

l/kh: lom khom

th/l: thiêng liêng, thình lình, thùi lùi,…

kh/l: khét lẹt

- Từ láy phụ âm đầu: Với từ láy phụ âm đầu, sự thay đổi khuôn vần khá da dạng, đảm bảo quy luật vừa điệp vừa đối trong cấu tạo từ.

+ Đối xứng âm chính theo đặc điểm cấu âm của từng cặp nguyên âm.

Ví dụ:

 Đối xứng u/i: cũ kĩ, xù xỡ, hú hí, khúc khích, thin thít, mũm mĩm…

 Đối xứng ô/ê: xồ xề, hổn hển, ngô nghê, xộc xệch,…

 Đối xứng o/e: thũm thèm, mon men, móm mém, vo ve, ho he,…

 Đối xứng u/ơ: vu vơ, mù mờ, nhu nhơ,…

 Đối xứng ê/a: kề cà, lê la, kềnh càng, khề khà, lênh láng,…

 Đối xứng i/a: hỉ hả, xí xóa, hí hoáy, rỉ rả…

 Đối xứng u/ă: tung tăng, hung hăng, vùng vằng, thủng thẳng…

+ Đối xứng âm cuối theo đặc điểm cấu âm của từng cặp phụ âm cuối.

Ví dụ:

 Đối xứng m/p: nườm nượp, nơm nớp, chằm chặp, hầm hập,…

 Đối xứng n/t: ngùn ngụt, thơn thớt, xoen xoét,…

 Đối xứng ng (nh)/ c (ch): nhếch nhác, xềnh xệch, khanh khách, phành phạch,…

+ Đối xứng thanh điệu: Theo tiêu chí khu biệt bằng tính chất âm học, xét trường hợp đối xứng thanh điệu, cụ thể chia thành 2 nhóm: bổng hoặc trầm.

Ví dụ:

* Các tiếng cùng mang thanh bổng: lủng lẳng, phá phách, hấp tấp, lẩn thẩn, gây gỗ, nhúc nhích, ngơ ngáo,…

* Các tiếng mang thanh trầm: nũng nịu, nhộn nhịp, lẩn thẩn, lũng thũng, chần chừ, ngậm ngùi

1.1.2.2 Dựa vào ngữ nghĩa

Căn cứ vào đặc điểm của hình thái biểu trưng hóa ngữ âm của từ láy, ta có:

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản là từ láy mô phỏng trực tiếp, tương tự với âm thanh của tự nhiên. Lớp từ này có giá trị biểu cảm và khả năng gợi tả cao, góp phần tái hiện sự vật trở nên sống động hơn. Bên cạnh mô phỏng âm thanh của tiếng nói, tiếng cười, lớp từ láy này còn cho thấy độ mở của khuôn miệng, qua đó có thể nắm bắt thái độ của đối tượng được nhắc đến.

Lớp từ này còn có chức năng gọi tên sự vật dựa trên sự mô phỏng âm thanh tự nhiên. Từ tượng thanh nằm trong lớp từ này.

Ví dụ: ầm ầm, rào rào, gâu gâu, róc rách,...

+ Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu

Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu là từ láy biểu thị sự vật hoặc thuộc tính của sự vật, không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, không có cơ sở chắc chắn từ nghĩa bộ phận để chứng minh nghĩa của toàn bộ từ.

Ví dụ: buâng khuâng, đủng đỉnh, thình lình, linh tinh…

+ Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa là từ láy bộ phận có sự hòa phối ngữ âm nhằm tạo nghĩa và mang sắc thái biểu

cảm, tượng trưng cao độ cho sự vật. Hòa phối ngữ âm là sự kết hợp hài hòa giữa thành phần của một từ với một từ khác để tạo thành sự cân đối nhịp nhàng. Hòa phối ngữ âm giữa hai thành phần của một từ kép gọi là từ láy.

Ví dụ: vui vẻ, xinh xắn, khô khan, đẹp đẽ..

Một phần của tài liệu Đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy (Trang 22 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)