Trong số những người anh hùng được nhân dân Thanh Hóa tôn kính, phụng thờ có Bà Triệu – Triệu Thị Trinh, một kiệt nữ, một nữ anh hùng của lịch sử dân tộc.. Tuy nhiên, cho đến nay, việc n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới GS TS Nguyễn Xuân Kính người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn PGS TS Trịnh Thị Minh Đức người đã truyền đạt cho em những kiến thức giá trị và bổ ích, là hành trang để em thực hiện luận văn này
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn Ban lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau đại học, Trường Đại học văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để chúng em học tập và thực hiện luận văn
Luận văn cũng được hoàn thành nhờ sự động viên, giúp đỡ của Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp ở Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa cùng gia đình và bạn
bè Bằng lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin được cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
HỌC VIÊN LÊ THUỲ DUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến khoa học được đề cập trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Lê Thuỳ Dung
Trang 4MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÔNG GIAN VĂN HÓA XỨ THANH VÀ CÁC HỆ THỐNG TƯ LIỆU, TRUYỀN THUYẾT, THẦN TÍCH VỀ BÀ TRIỆU 7
1.1 Không gian văn hóa xứ Thanh 7
1.1.1 Xứ Thanh - vùng đất lịch sử 7
1.1.2 Xứ Thanh – vùng đất của những nét văn hóa đặc sắc 13
1.2.Tình hình sưu tầm, nghiên cứu về Bà Triệu 21
1.2.1 Những công trình sưu tầm, nghiên cứu trước năm 1945 21
1.2.2 Những công trình sưu tầm, nghiên cứu sau năm 1945 đến nay 25
1.3 Hệ thống tư liệu, truyền thuyết, thần tích về Bà Triệu 32
1.3.1 Bà Triệu trong sử sách 32
1.3.2 Hệ thống truyền thuyết, thần tích về Bà Triệu 39
Tiểu kết 50
Chương 2: VIỆC PHỤNG THỜ BÀ TRIỆU QUA DI TÍCH VÀ LỄ HỘI 52
2.1 Hệ thống di tích gắn với việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa 52
2.1.1 Các di tích gắn với việc phụng thờ bà Triệu ở vùng thờ tự chính 60
2.1.2 Các di tích gắn với việc phụng thờ bà Triệu các vùng thờ tự khác 66
2.2 Việc phụng thờ Bà Triệu qua các nghi thức, nghi lễ 81
2.2.1 Lễ hội đền Bà Triệu làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc 81
2.2.2 Lễ hội tại vùng thờ tự khác 93
Tiểu kết 97
Trang 5Chương 3: BẢN CHẤT CỦA VIỆC PHỤNG THỜ BÀ TRIỆU Ở THANH HOÁ
VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHỤNG THỜ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ, XÃ HỘI
HIỆN NAY 99
3.1 Bản chất của việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa 99
3.1.1 Thờ nhân thần, phúc thần 99
3.1.2 Thờ anh hùng dân tộc 104
3.2 Việc phụng thờ Bà Triệu trong mối quan hệ với các tín ngưỡng khác 110
3.2.1 Thờ Thần Núi – lớp tín ngưỡng cổ xưa 110
3.2.2 Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng 112
3.2.3 Tục thờ nữ thần và tín ngưỡng thờ Mẫu 113
3.3 Ý nghĩa của việc thờ phụng Bà Triệu trong đời sống văn hóa - xã hội 119
3.3.1 Việc phụng thờ Bà Triệu thể hiện truyền thống đạo lý hướng về cội nguồn 119
3.3.2 Việc phụng thờ Bà Triệu thể hiện tinh thần cố kết cộng đồng 121
3.3.3 Việc phụng thờ Bà Triệu có ý nghĩa trong việc cân bằng đời sống tâm linh 123
3.3.4 Ý nghĩa trong việc sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 124
Tiểu kết 128
KẾT LUẬN 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤ LỤC 141
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nxb: Nhà xuất bản UBND: Uỷ ban nhân dân Sau CN: Sau công nguyên GS: Giáo sư
PL: Phụ lục Tr: Trang
Trang 7bí mà đôi khi con người chỉ cảm nhận mà khó giải thích cặn kẽ, rõ ràng Tín ngưỡng đặc biệt là tín ngưỡng dân gian là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất
những đặc trưng của văn hóa dân tộc, thấm đượm đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, củng cố và tăng cường ý thức cộng đồng Tín ngưỡng còn là môi
trường nảy sinh, tích hợp, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá của dân tộc Một trong những hình phổ biến của tín ngưỡng dân gian là tín ngưỡng thờ cúng các danh nhân, các anh hùng dân tộc - những con người có thật trong lịch sử Các vị ấy, khi sống đã là những người con ưu việt của đất nước, khi mất đi họ được hậu thế nhớ ơn, tin tưởng và đặc biệt linh thiêng hóa tôn là thần là thánh và thành tâm thực hành việc thờ phụng Ở Thanh Hóa, việc phụng thờ những vị anh hùng có công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc mang những nét chung nhưng cũng có màu sắc riêng góp phần tạo nên sự phong phú của tín ngưỡng dân gian Việt Nam Trong số những người anh hùng được nhân dân Thanh Hóa tôn kính, phụng thờ có Bà Triệu – Triệu Thị Trinh, một kiệt nữ, một nữ anh hùng của lịch sử dân tộc
1.2 Xứ Thanh – vùng đất địa đầu của “Khúc ruột miền Trung” được
biết đến với những thắng tích kỳ tú lay động lòng người cùng những giá trị văn hóa được đúc kết từ nghìn năm, trải qua bao biến đổi của thời cuộc đến nay đã trở thành những nét đặc trưng riêng có của mảnh đất này Không chỉ là
vùng đất “địa linh” nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử, Thanh Hóa còn tự hào với những “nhân kiệt” góp phần làm nên lịch sử Trong số những gương mặt
lịch sử quê Thanh, Bà Triệu là một trường hợp đặc biệt
Trang 8Bà Triệu (Triệu Thị Trinh, Triệu Trinh Nương) là người vùng Quan Yên, quận Cửu Chân (nay thuộc xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) Theo sử cũ, Bà là người có tướng mạo khác thường, tính tình cương trực, giỏi
võ nghệ Bà từng nói: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách
nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!" Với chí khí và
tinh thần ấy, năm 246 khi vừa tròn 20, Triệu Thị Trinh cùng anh trai là Triệu
Quốc Đạt dựng cờ khởi nghĩa quyết đánh đuổi quân Ngô để “giành lại giang san, cởi ách nô lệ” Sau khi anh trai chẳng may tử trận, Bà thay anh tiếp tục
lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu Dưới sự chỉ huy của Bà, nghĩa quân đã làm
nên nhiều trận thắng lớn khiến “toàn thể Châu Giao đều chấn động” Trước
thanh thế ngày càng lớn của người con gái họ Triệu, triều Ngô phải cử viên danh tướng Lục Dận làm Thứ sử Giao Châu và đem quân sang đàn áp Sau nhiều trận giao tranh quyết liệt với quân Ngô, nghĩa quân gặp nhiều bất lợi Ngày 21 tháng 2 năm 248, trên đỉnh Tùng Sơn, Bà Triệu đã tuẫn tiết với lời thề nguyện hy sinh vì nước
Khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại nhưng hình ảnh về người con gái kiên
trinh với ý chí quật khởi quyết nối gót Bà Trưng “giành lại giang san, cởi ách
nô lệ” cùng chiến tích của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu muôn đời rạng ngời cùng
non sông đất nước Con người ấy, tinh thần ấy đã, đang và sẽ mãi là biểu trưng cho tinh thần dân tộc nói chung và tinh thần anh hùng, bất khuất của phụ nữ Việt Nam nói riêng Sự linh thiêng, hiển ứng của Vua Bà qua bao thăng trầm biến đổi của lịch sử vẫn bền chặt trong tâm thức tâm thức của người dân xứ Thanh và được người dân nhiều thế hệ ngưỡng mộ phụng thờ
Sự phụng thờ này đã trở thành hạt nhân cố kết nhiều thành tố văn hóa, tạo ra một sinh hoạt văn hoá dân gian cho cư dân Thanh Hoá
1.3 Thân thế, cuộc đời, sự nghiệp và đặc biệt là cuộc khởi nghĩa mà Bà Triệu lãnh đạo đã được tìm hiểu, nghiên cứu trong suốt một thời gian dài
Trang 9Những di tích liên quan đến việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa cũng đã trở thành những địa điểm thu hút du khách thập phương về chiêm bái Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu sự phụng thờ Bà Triệu thông qua các tư liệu chính sử cũng như qua tâm thức dân gian và hệ thống các di tích có liên quan đến Bà trong phạm vi toàn tỉnh Thanh Hóa để từ đó nhận biết tín ngưỡng thờ Bà Triệu và nhận ra những nét đặc sắc trong việc phụng thờ đó vẫn chưa có một công trình cụ thể nào
Là người con của quê hương Thanh Hóa việc tìm hiểu về việc phụng thờ
Bà Triệu trước hết là để mở rộng thêm hiểu biết về những nét đẹp trong truyền thống lịch sử, văn hóa của địa phương mình Chúng tôi cho rằng, có hiểu có yêu thì mới biết cách chắt lọc những nét đẹp và giữ gìn nét đẹp đó đúng đắn và hiệu quả Đồng thời, đây cũng là một hướng nghiên cứu phù hợp
với chuyên ngành mà em theo học Do vậy, em chọn đề tài “Việc phụng thờ
Bà Triệu ở Thanh Hóa” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa qua các nội dung cơ bản tiếp cận nghiên cứu tín ngưỡng để nhận diện một hiện tượng văn hóa tín ngưỡng ở Thanh Hóa
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số nét cơ bản về truyền thống lịch sử, văn hoá xứ Thanh từ
đó có được những hình dung cụ thể về không gian văn hóa xứ Thanh – không gian tồn tại của sự phụng thờ Việc khái quát hệ thống tư liệu về Bà Triệu và các truyền thuyết, thần tích được lưu giữ trong dân gian và tại các di tích phụng thờ Bà phần nào minh chứng cho nhận định hình ảnh Bà Triệu - một nhân vật lịch sử tự bao đời đã trở nên sâu đậm trong tâm thức dân gian
Trang 10Thông qua việc tìm hiểu các di tích thờ Bà Triệu, các nghi thức, nghi lễ trong các lễ hội tại các cơ sở thờ tự để thấy rõ sự đa dạng trong việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa
Nghiên cứu việc phụng thờ Bà Triệu là nghiên cứu một khía cạnh của tín
ngưỡng dân gian Vì vậy, chúng tôi muốn làm rõ bản chất của việc phụng thờ
Bà Triệu tại Thanh Hóa, thấy được sự dung hội và hoà nhập của các hình thức tín ngưỡng trong các cơ sở phụng thờ Tìm hiểu sự phụng thờ cũng là tìm hiểu tâm thức dân gian về một loại hình tín ngưỡng, từ đó thấy được ý nghĩa hoạt
động đó đối với đời sống văn hóa, xã hội hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng liên quan đến Bà Triệu Chúng tôi tập trung tìm hiểu Bà Triệu với tư cách là một nhân vật lịch sử có thật qua các nguồn thư tịch cổ và nguồn sử liệu đương thời Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nghiên cứu về Bà Triệu xuất phát từ cảm quan dân gian qua truyền thuyết, thần tích Bà Triệu sau khi hoá
đã thâm nhập vào thế giới thần thánh trong tín ngưỡng về nhân thần của người Việt Việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa qua không gian và thời gian đã tạo ra một nét riêng biệt Điều đó thể hiện qua hệ thống các cơ sở thờ
tự, các nghi thức, nghi lễ phong tục liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của
Bà Bước đầu chúng tôi xác định các cơ sở thờ tự gồm: đền thờ Lệ Hải Bà Vương ở xã Định Công, huyện Yên Định; đền thờ Bà Triệu – phủ Tía làng Vân Cổn, xã Vân Sơn và đền Nưa – Am Tiên xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn; đền thờ Bà Triệu thôn Đông Yên, xã Trung Thành, huyện Nông Cống; cuối cùng là Khu di tích gồm đình – đền thờ – lăng mộ Bà Triệu tại làng Phú Điền,
xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc Bên cạnh các cơ sở thờ tự, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi cũng bao gồm các lễ hội diễn ra tại các cơ sở thờ tự đó
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: chúng tôi xác định đó là các địa phương có các cơ sở thờ
tự liên quan đến Bà Triệu ở Thanh Hóa đó là: xã Định Công, huyện Yên
Định; làng Vân Cổn, xã Vân Sơn và xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn; thôn Đông Yên, xã Trung Thành, huyện Nông Cống; làng Phú Điền, xã Triệu Lộc,
huyện Hậu Lộc
Về thời gian: Với các cơ sở thờ tự chúng tôi tập trung nghiên cứu các công
trình kiến trúc, các điện thờ từ khi xây dựng cho đến nay Đối với các lễ hội, chúng tôi nghiên cứu những lễ hội hiện nay Trong trường hợp có thể chúng tôi
sẽ so sánh các lễ hội xưa và các lễ hội nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong qua trình thực hiện, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Folklore, các phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hoá học như: lịch sử, dân tộc học, bảo tàng học
Phương pháp điền dã, phỏng vấn, ghi hình, tham dự, khảo sát tại các di tích Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích,
so sánh thống kê, đối chiếu… để xử lý các tài liệu có liên quan
6 Đóng góp của đề tài
Hệ thống hoá một cách tương đối hoàn chỉnh những tài liệu nghiên cứu về
Bà Triệu và những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng gắn với nhân vật lịch sử này Luận văn cũng là công trình nghiên cứu một cách hệ thống từ nhân vật,
di tích đến các lễ hội có liên quan đến Bà Triệu ở Thanh Hóa Kết quả nghiên cứu của luận văn góp thêm vào hệ thống tư liệu nghiên cứu về Bà Triệu – một
nữ anh hùng của dân tộc
Trên cơ sở tìm hiểu bản chất của việc phụng thờ Bà Triệu thấy được những ý nghĩa về văn hóa – xã hội của việc phụng thờ để có thái độ và những
Trang 12hành động đúng đắn góp phần giữ gìn và phát huy một nét đẹp trong truyền thống văn hóa của dân tộc
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Không gian văn hóa xứ Thanh và các hệ thống tư liệu, truyền thuyết, thần tích về Bà Triệu;
Chương 2: Việc phụng thờ Bà Triệu qua di tích và lễ hội;
Chương 3: Bản chất của việc phụng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa và ý nghĩa của việc phụng thờ trong đời sống văn hoá, xã hội hiện nay
Trang 13Chương 1 KHÔNG GIAN VĂN HÓA XỨ THANH VÀ CÁC HỆ THỐNG
TƯ LIỆU, TRUYỀN THUYẾT, THẦN TÍCH VỀ BÀ TRIỆU
1.1 Không gian văn hóa xứ Thanh
1.1.1 Xứ Thanh - vùng đất lịch sử
Trong mỗi bước đi của diễn trình lịch sử - văn hóa dân tộc, đất và người
xứ Thanh đã để lại những dấu ấn đậm nét Đó là xứ Thanh “của nghìn xưa vang vọng tiếng trống đồng Đông Sơn, của nghĩa quân Bà Triệu, của Lam Sơn tụ nghĩa bình Ngô Xứ Thanh của hùng khí Ba Đình, Mã Cao, Hùng Lĩnh, của bản anh hùng ca Hàm Rồng bất tử” [9, tr 6] Xứ Thanh đậm chất thơ với
những con thuyền xuôi ngược dòng sông Mã đong đầy tiếng hò khoan nhặt,
đậm chất trữ tình lãng mạn với khúc dân ca “ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng” Nhưng xứ Thanh cũng là xứ sở bao đời thẫm đẫm mồ hôi xương máu của lớp lớp thế hệ tiền nhân Vùng đất “địa linh nhân kiệt” là nơi diễn ra
những sự kiện lịch sử đặc biệt đến nỗi Le Breton - một học giả người Pháp
trong Le Thanh Hoa đã thốt lên: “Đây chính là sân khấu của một bản hùng ca
vĩ đại của nước Việt Nam”
Về vị trí địa lý, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều
Nguyễn viết::
Mặt Đông trông ra biển lớn, mặt Tây khống chế rừng dài Bảo Sơn châu chặn hiểm ở phía Nam (tục gọi là Eo Ống), giáp huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, núi Tam Điệp giăng ngang ở phía Bắc Ở trong thì sông Mã, sông Lương, sông Ngọc Giáp hợp nhau; ở bên ngoài thì núi Chiếc Đũa, núi Biện Sơn che trở, thực là một trọng trấn
có hình thế tốt [49, tr.241]
Trang 14Theo cách phân chia đất đai và địa vực, vùng đất này đã trải qua nhiều
lần biến đổi về qui mô và tên gọi ở mỗi thời kỳ lịch sử Vào thời các Vua Hùng nối nhau cai trị, nhà nước Văn Lang có 15 bộ Thanh Hoá, một phần đất Nghệ An và một phần đất phía nam Ninh Bình ngày nay là phần đất của Cửu Chân - một trong 15 bộ của nhà nước sơ khai đó Đời Đông Ngô, chia quận Cửu Chân, đặt thêm quận Cửu Đức Đến đời nhà Lương, Cửu Chân được đổi thành Châu Ái Đầu đời Tuỳ bỏ quận Cửu Chân chỉ gọi là Châu Ái, sau lại đổi
Châu Ái gọi là Cửu Chân, đời Đường gọi là Châu Ái [49] Từ đó cho đến đời
Lý, sử sách dùng tên gọi Châu Ái đề chỉ vùng đất xứ Thanh
Vào năm Thuận Thiên thứ nhất (1010), nhà Lý đổi 10 đạo trước đó
thành 24 lộ Thanh Hoá là một trong 24 lộ thời đó Cũng từ thời nhà Lý, tên
gọi Thanh Hóa bắt đầu xuất hiện Đến thời Trần, năm Quang Thái thứ 10
(1397) đời vua Trần Thuận Tông đổi Thanh Hoá phủ lộ làm trấn Thanh Ðô
Thời Lê, năm Thuận Thiên thứ nhất (năm 1428), nhà vua chia nước làm 5
đạo, Thanh Hoá thuộc Hải Tây đạo Từ năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466) đến năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) Thanh Hóa lần lượt là thừa tuyên Thanh Hoá sau lại đổi thành thừa tuyên Thanh Hoa Cho đến thời Nguyễn,
năm 1841 đời vua Thiệu Trị, thừa tuyên Thanh Hoa chính thức đổi tên thành
tỉnh Thanh Hoá và tồn tại tới ngày nay Như vậy, trải qua các triều đại,
Thanh Hoá có lúc là phủ, trấn, lộ, trại, thừa tuyên, tên gọi Thanh Hóa có từ thời Lý cũng được đổi thành Thanh Đô, Thanh Hoa rồi Thanh Hóa Mặc dù tên gọi trong từng thời kỳ lịch sử có khác nhau nhưng thực thể văn hóa xứ Thanh vẫn không có gì thay đổi
Qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, ngày nay Thanh Hóa là một tỉnh đất rộng, người đông Thanh Hóa tiếp giáp với các tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình về phía Bắc, Nghệ An về phía Nam, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông giáp biển Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng núi
Trang 15biển dài tới hơn 100 km với những dải "cồn cát duyên hải" - dấu tích các vụng
biển cũ mà nay châu thổ đã lấp đầy
Với vị trí địa lý đặc biệt như vậy, Thanh Hóa cũng từng đặt tiền nhân vào thế khó khi muốn cắt đặt cho rành mạch về mặt hành chính Đúng như cố GS Trần Quốc Vượng trong bài viết về lịch sử - văn hoá Thanh Hóa nhận định:
Bảo xứ Thanh là vùng đất địa đầu phía Bắc của miền Trung cũng được mà nhiều giáo sư địa học bảo xứ Thanh là sự nối dài của Bắc Bộ cũng đúng, khí hậu giống Bắc Bộ nhiều hơn Lại cũng có ông giáo sư địa học bảo miền núi xứ Thanh là sự kéo dài của cả hệ núi từ Tây Bắc hay thậm chí là từ Vân Quý (Vân Nam – Quý Châu – Trung Quốc) đổ
về Vậy nên từ núi đến biển, Thanh Hóa không phải là một xứ biệt lập hay cô lập mà “mở” theo nhiều hướng [82, tr 270]
Miền đất Cửu Chân xưa – Thanh Hóa nay là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử văn hóa đậm nét Hiếm có vùng đất nào lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử dân tộc từ tối cổ đến tận ngày nay như đất xứ Thanh
Thanh Hoá là nơi đã phát hiện được nhiều di chỉ khảo cổ học thuộc hầu
hết các thời đại khảo cổ học lớn của nước ta thời tiền sử và sơ sử Di chỉ núi
Đọ (huyện Thiệu Hoá) là nơi tìm được dấu tích con người thuộc thời đại đá cũ
Trang 16sơ kỳ Hang Con Moong (huyện Thạch Thành) chứa đựng những di vật tiêu
biểu cho ba nền văn hóa từ thời văn hoá Sơn Vi (hậu kỳ đá cũ) đến văn hóa
Hòa Bình – Bắc Sơn (sơ kỳ đá mới) xứng đáng là “Bảo tàng” về diễn tiến của
các nền văn hóa thời đại đá ở Việt Nam Các di chỉ được tìm thấy ở ven biển Thanh Hóa thuộc văn hóa Đa Bút, văn hóa Hoa Lộc cũng góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của các bộ lạc nguyên thuỷ sinh sống trên toàn cõi Bắc Việt Nam
Giai đoạn văn hóa Đông Sơn được đánh giá là giai đoạn phát triển rực
rỡ của văn hoá, văn minh Việt Nam trên cơ sở phát triển nông nghiệp ruộng nước, kỹ thuật đúc đồng, rèn sắt Từ cơ sở đó nhà nước cổ đại được hình thành đồng thời định hình cơ tầng của văn hoá Việt Nam cổ truyền Theo các tài liệu hiện có, cho đến nay, Thanh Hóa một trong những địa phương phát hiện ra nhiều di chỉ thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn nhất Các di chỉ của nền văn hóa này được phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh từ miền núi, trung
du đến ven biển đặc biệt dày đặc ở nơi có những doi, cồn, bãi đất cao ven vùng hợp lưu của của sông Mã, sông Chu và các chi lưu của hai sông này Không chỉ thế, hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn là trống đồng cũng tìm thấy nhiều ở đây với các kiểu dạng khác nhau Có thể nói, xứ Thanh có con đường riêng tiến tới sự hội tụ và kết tinh văn hóa Đông Sơn - nền văn
minh điển hình và độc đáo của người Việt cổ (Lạc Việt) [72] Cũng từ buổi ấy
cánh chim Lạc Việt và nhịp trống đồng Đông Sơn trầm hùng cứ thế dẫn dắt các thế hệ cháu con ở xứ Thanh đi theo guồng quay của lịch sử để góp phần
vào bà ca dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Thời đại Âu Lạc, An Dương Vương sau khi mất Cổ Loa, còn chạy về xứ Thanh để chiến đấu ở vùng Tĩnh Gia trước khi lao mình xuống biển Chính vì vậy, cùng với Cổ Loa (Hà Nội), Diễn Châu (Nghệ An) – Tĩnh Gia (Thanh Hóa)
là một bộ phận của “Vùng Ngọc Trai” - vùng huyền tích nói về Mỵ Châu và
vua Thục Phán [82]
Trang 17Thanh Hóa cũng được xác định là vùng cực nam của cuộc khởi nghĩa
Hai Bà Trưng (40 – 44 sau CN) và “Khi miền sông Hát im ắng vì Hai Bà Trưng tuẫn tiết thì miền Cửu Chân lại vẫn sục sôi chiến đấu dưới cờ của lão tướng Đô Dương (người làng Giàng) làm Mã Viện một phen kinh hồn bạt vía” [82, tr.275] Khoảng 200 năm sau, năm 248, Thanh Hóa lại trở thành
trung tâm của cuộc khởi nghĩa chống lại quân Ngô Dưới sự lãnh đạo Bà
Triệu cuộc khởi nghĩa đã làm "toàn thể Châu Giao đều chấn động"
Trong khoảng thời gian 50 năm sôi động của thế kỷ X, vùng sông Mã, sông Chu và dãy Tam Điệp là địa bàn quan trọng để Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh lấy làm căn cứ quét sạch quân xâm lăng, khôi phục và thống nhất quốc gia Đại Việt, mở ra một thời kỳ quan trọng mang tính bản lề
và phục hưng của văn hóa dân tộc
Từ đó, trong suốt ngàn năm tự chủ, vị trí của xứ Thanh lại càng được khẳng định là nơi nương náu khi đất nước lâm nguy, để rồi lại lấy đây làm bàn đạp toả ra giành chiến thắng quyết định Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Thát (1258 -1288), khi phần lớn đồng bằng Bắc Bộ đã
bị chiếm thì triều đình nhà Trần lại dựa vào miền Thanh - Nghệ Tĩnh để củng
cố lực lượng từ đó mở cuộc phản công ra Thăng Long đánh tan giặc Thát lấy lại nền độc lập quốc gia
Đầu thế kỷ XV nước ta bị giặc Minh chiếm đóng Từ rừng núi Lam Sơn, anh hùng dân tộc Lê Lợi đã tập hợp hào kiệt và nghĩa sĩ bốn phương phất cờ khởi nghĩa Sau mười năm nằm gai nếm mật, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi
hoàn toàn Giặc Minh bị quét sạch khỏi bờ cõi, “nền thái bình muôn thuở”
của dân tộc nhờ đó được mở ra
Năm 1788 hậu cứ xứ Thanh lại đón tiếp toàn bộ lực lượng nghĩa quân Tây Sơn từ Bắc Hà vào để tránh sự tấn công ồ ạt của bọn xâm lược Tại đây, phòng tuyến từ Tam Điệp đến Biện Sơn được thiết lập một cách nhanh chóng và vững chắc chờ ngày đại phá quân Thanh Sau lời tuyên ngôn bất
Trang 18hủ của Quang Trung trên đất Thọ Hạc (nay thuộc thành phố Thanh Hóa) nghĩa quân Tây Sơn đã thần tốc ra Bắc tiêu diệt 20 vạn quân Thanh để chúng
biết “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, hưởng ứng chiếu Cần Vương, Thanh Hóa trở thành một trong những địa phương có phong trào Cần Vương phát triển mạnh mẽ nhất với các căn cứ nổi tiếng một thời Ba
Đình, Mã Cao, Hùng Lĩnh, Điền Lư, Trịnh Vạn Nhưng chỉ một Ba Đình
cũng đủ để xứ Thanh được cả nước biết đến
Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứ Thanh là một địa bàn cách mạng trọng yếu và kiên cường Trong kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, Thanh Hóa được biết đến với vai trò là một hậu phương vững chắc Hậu phương đó đã dùng tất cả nhân tài vật lực, gom
cả ý chí và quyết tâm của mình trên những chiếc xe đạp thồ mà hùng dũng
tiến vào Điện Biên Phủ góp một phần quan trọng để làm nên thắng lợi “chấn động địa cầu” Công lao to lớn của nhân dân Thanh Hóa đã được Bác Hồ
nhắc đến trong bài nói chuyện nhân dịp Bác về thăm Thanh Hoá lần thứ hai
(13/6/1957) “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh
dự tới đó” Rồi đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xứ Thanh lại tiếp
tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến và bảo vệ vững chắc
Xã hội chủ nghĩa Năm 1965, tinh thần chiến đấu và chiến thắng của cả dân tộc dồn về Hàm Rồng - cây cầu sắt bắc qua sông Mã Và Hàm Rồng trở thành
“một thần tượng anh hùng đến mức huyền thoại, tượng trưng cho tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam” Phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương cùng với lý tưởng “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận truyến đánh quân thù” Thanh Hóa đã cùng với cả nước “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”, làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 thu giang sơn về một mối,
cùng cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội
Trang 191.1.2 Xứ Thanh – vùng đất của những nét văn hóa đặc sắc
Không chỉ có lịch sử hào hùng, xứ Thanh còn được biết đến như một vùng văn hóa đặc sắc với những sắc thái văn hoá đặc thù thể hiện qua nhiều mặt trong đời sống vật chất và tinh thần
Theo diễn biến của lịch sử vùng đất, Thanh Hóa là nơi có dấu tích con người từ rất sớm Vậy nên, Thanh Hoá là cái nôi ra đời của làng xã cổ và nền văn hoá truyền thống Chính các hình thức gọi tên cộng đồng dân cư khá cổ xưa còn tồn tại đến ngày nay ở Thanh Hoá đã làm rõ hơn nhận định này Tương đương với cơ cấu xã hội là làng, ở Thanh Hóa người ta còn dùng các
tên khác như: xá, trang, hương, phường và đặc biệt là kẻ Ví dụ ở huyện Hà
Trung có Phạm Xá, Ngô Xá, Mai Xá, Lê Xá ở huyện Đông Sơn có Dương
Xá, Doanh Xá, Triệu Xá Đó là dấu tích của các làng xưa có một dòng họ hay dòng họ lớn, dòng họ đầu tiên lập nên làng Ở các làng ven sông, biển ở
Thanh Hóa quen gọi là vạn, phường như: vạn Biện Thượng (huyện Vĩnh
Lộc), Vạn Ái Sơn (huyện Đông Sơn) Xét về nghề nghiệp và một số đặc trưng
xã hội, làng ở Thanh Hóa cũng khá đa dạng như: làng thuần nông, làng thủy
cơ chuyên nghề đánh cá hay kết hợp đánh cá với nông nghiệp, làng có nghề thủ công, làng khoa cử, làng có các trò diễn nổi tiếng
Về ngôn ngữ, Thanh Hóa có những nét đặc trưng mà GS Trần Quốc Vượng từng nhận xét:
Người Xứ Thanh có một cách phát âm tiếng Việt khó lẫn, không nhẹ lướt như tiếng Hà Nội - xứ Bắc, không nặng trầm như tiếng Nghệ - xứ Trung
Xứ Thanh là sự mở đầu của “ mô – tê – răng - rứa”, của miền Trung, dân Hà Nội phải nghe lâu và phải học thì mới biết được [72]
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, văn học dân gian xứ Thanh
cũng góp một phần nhỏ để tạo nên diện mạo phong phú của văn học nước nhà Ngoài những bài ca dao, dân ca, tục ngữ chung được lưu hành phổ biến
ở Thanh Hóa và được người dân nơi đây xem như là những giá trị tinh thần
Trang 20của dân tộc, của quê hương xứ sở thì hệ thống những câu chuyện đặc sắc về Trạng Quỳnh, Xiển Bột với những chi tiết gây cười thông minh nhưng sâu sắc được coi là đóng góp riêng của Thanh Hóa đối với văn học dân gian Việt Nam Nếu như người Ê đê tự hào với Đăm San, người Gia rai tự hào với Xinh
Nhã thì ở Thanh Hóa người Mường tự hào với “Đẻ đất đẻ nước”, người Thái
tự hào với “Khăm Panh” Đẻ đất đẻ nước là một áng Mo đồ sộ với trên 2 vạn
câu phản ánh quan niệm của người Mường về tự nhiên, xã hội, con người còn
Khăm Panh lại là trường ca tự sự của người dân tộc Thái mang nhiều yếu tố
thế sự và tập trung vào yếu tố đấu tranh xã hội Ở xứ Thanh còn lưu giữ rất nhiều những câu chuyện cổ từ thời hồng hoang lịch sử với các huyền thoại về ông khổng lồ đào sông cõng núi, mở xóm dựng làng, làm nên non sông đất Việt với những anh hùng có tên và không tên Truyền thuyết về Thánh Gióng, Sơn Tinh, về An Dương Vương và Mỵ Châu, truyền thuyết về Hòn vọng phu,
về thần Đồng Cổ của Bắc Bộ theo dòng chảy của văn hóa Việt đến xứ Thanh được dân gian hóa và in đậm trong tâm thức người dân nơi đây Minh chứng cụ thể là tục thờ thần núi Tản, thờ Thánh Gióng ở núi Sóc huyện Vĩnh Lộc, ở làng Ngô xã Thạch Lập huyện Ngọc Lặc; truyền thuyết và đền thờ An Dương Vương ở huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia; truyền thuyết và đền thờ thần Đồng
Cổ ở huyện Yên Định Câu chuyện Từ Thức gặp tiên tại động Bích Đào thì tương tự như câu truyện Trần Tú Uyên – Giáng Kiều tại Thăng Long Và có lẽ
ai cũng biết, huyền tích An Tiêm và sự tích dưa hấu là câu truyện diễn ra ở vùng ven biển huyện Nga Sơn của Thanh Hóa Ngoài ra, các vị Độc Cước, Thánh Cao Sơn Đại vương, Tứ Vị Thánh Nương, Thánh Lưỡng, Thánh Bưng cũng như hàng trăm vị Thành hoàng nửa huyền thoại, nửa lịch sử cũng được phản ánh trong hệ thống thần thoại, truyền thuyết của xứ Thanh
Mảnh đất “cuối khu ba, đầu khu bốn” là nơi hội tụ của nhiều làn điệu dân
ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật Từ trong lao động sản xuất tổ khúc dân
ca Đông Anh ra đời Đây là làn điệu dân ca gắn liền với vụ mùa cấy trồng, gắn liền với người nông dân vất vả một nắng hai sương song cũng rất đỗi lãng
Trang 21mạng, trữ tình “Lên chùa bẻ một cành sen, ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng” Hò sông Mã - điệu hò độc đáo của người Thanh Hoá được hình thành
trong lao động chống đò dọc sông Mã Hò sông Mã có 5 khúc điệu riêng ứng
với 5 cung đoạn chèo chống con thuyền là: Hò rời bến, Hò đò xuôi, Hò đò ngược, Hò mắc cạn và Hò cập bến Năm khúc điệu này phản ánh đầy đủ hành
trình của con đò từ khi rời bến cho đến khi cập bến Thanh Hóa còn có các hình thức nghệ thuật độc đáo là hát bội, hát ca trù và hát chèo Hát bội hay còn gọi là hát tuồng là loại hình nghệ thuật mang nhiều yếu tố dân gian được trình diễn ở cửa đình trong các dịp lễ hội tại các làng xã vùng hạ lưu sông Mã, sông Chu Trong khi đó, ca trù lại là một hình thức nghệ thuật tinh tế Ở Thanh Hóa, hát
ca trù còn được gọi là hát ca công, hát cửa đình Đến nay, Thanh Hóa vẫn còn những làng ca công bảo lưu vốn nghệ thuật độc đáo của cha ông như làng Ngọc Trung (huyện Thọ Xuân), làng Bái Thuỷ (huyện Yên Định), làng Hoa Trai (huỵên Tĩnh Gia) Các hình thức hát chèo ở Thanh Hóa cũng rất đa dạng Đó
là hát chèo thờ làng Mưng (huyện Công Cống); Hát chèo cạn Hoằng Phượng, Hoằng Phú (huyện Hoằng Hóa), hát chèo chải (huyện Đông Sơn, Thọ Xuân, Thiệu Hóa), hát chèo ma ở các huyện miền núi như Ngọc Lặc, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành Người Mường, người Thái cũng góp phần làm cho những điệu dân ca của Thanh Hóa thêm phần đặc sắc với Xường, hát Rang, Bộ Meẹng, Kin chiêng boọc mạy
Về tôn giáo tín ngưỡng, có thể nói không ngoa rằng trên đất nước Việt
Nam có bao nhiêu tôn giáo, tín ngưỡng thì ở Thanh Hoá có bằng ấy tín ngưỡng, tôn giáo được người dân ngưỡng vọng, chiêm bái Tôn giáo, tín ngưỡng ở Thanh Hóa có hai xu hướng chính Một là những phong tục nội tại phát sinh và phát triển ngay trên mảnh đất này Hai là, những tín ngưỡng từ nơi khác du nhập vào Dẫu vậy, trên đất Thanh Hóa người ta vẫn thấy nổi lên một số hiện tượng tín ngưỡng khá độc đáo, đó là việc thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thần Độc Cước và Đạo Đông
Trang 22Nếu Phủ Giầy (Nam Định) được coi là trung tâm của đạo Mẫu Tam phủ
và Tứ phủ của nước ta thì Thanh Hóa với Đền Sòng “thiêng nhất xứ Thanh” và
Phố Cát cũng được coi như một trong những nơi phát xuất hình thức tín ngưỡng dân gian này Thần Độc Cước (còn gọi là Thánh Độc, Độc Cước chân nhân) - vị thần một chân được thờ phụng nhiều ở Thanh Hóa Theo thống kê, Thanh Hóa đã có 53 điểm thờ thần Độc Cước, trong đó, Sầm Sơn là nơi hình thành huyền thoại về vị thần này và có đền thờ thần nguyên vẹn nhất Tục thờ thần Độc Cước là hình thức tôn giáo tín ngưỡng có sự pha trộn giữa tín ngưỡng
dân gian với Phật giáo và Đạo giáo Thanh Hóa là nơi phát tích “Nội Đạo Tràng” mà xưa nay ngươi ta vẫn gọi là Đạo An Đông, Đạo Đông và được
Vua Lê, Chúa Trịnh phong là “Nội đạo chính tông” Đạo Đông là tên gọi tắt
của “Đạo An Đông” hay Yên Đông An Đông là tên xã xưa nay là xã Quảng
Hải, huyện Quảng Xương Người khởi xướng dòng nội đạo này là Trần Lộc người làng An Đông Về bản chất, nội đạo An Đông là đạo phù thủy sử dụng các phép thuật điều khiển các âm binh để trừ tà chữa bệnh Điện thần của nội đạo gồm có Thượng Phật, Phật tổ Như Lai Trần Ngọc Lành (Trần Lộc), các thánh (là con trai của Phật tổ Như Lai Trần Ngọc Lành) Tả quan thánh Nhật Quang - Hữu quan thánh Nguyệt Quang - Tiền quan Thánh Ngọc Quang - Hậu quan Thánh (con trai của Tiền quan thánh), các thần tướng như Bát bộ kim cương, Thập nhị nguyên soái, Bạch xà thần tướng, Ngũ hổ thần tướng, Bạch
tượng cửu nha Hệ thống kinh sách có tên gọi là “Nội đạo Tam thánh linh ứng chân kinh” gồm 3 quyển Nội dung chủ yếu là ca ngợi công đức của các thánh,
cầu phong đăng hòa cốc, các bài khấn, ấn quyết giải ách trừ tà và các bài khấn, bài cúng, các ấn quyết Nơi hành đạo là chùa Mậu Xương (còn gọi là chùa Tuyết Phong) Nội đạo vừa có yếu tố Phật giáo và Đạo giáo, Đạo tổ của nội đạo khoác tấm áo của Phật Tổ Như Lai cũng như việc thực hành tín ngưỡng này trong phạm vi ngôi chùa thờ Phật, việc dùng các bộ kinh trong đó chứa đựng nội dung Phật giáo và Đạo giáo cho thấy sự hỗn hợp tôn giáo tín ngưỡng ở đây là khá sâu sắc, tạo nên một hình thức tín ngưỡng rất đặc thù ở
Trang 23Thanh Hóa trước kia cũng như hiện nay Ngoài ra, ở Thanh Hóa còn có nhiều
vị thần được tôn thờ như: vùng núi và trước núi thờ Sơn thần với nhiều danh
xưng khác nhau như: “Cao Sơn Tôn Thần”, “Sơn Tiêu Độc Cước”, “Cao Sơn Hiệp Linh Tôn Thần”, “Miêu Sơn Tôn Thần” Vùng biển phổ biến thờ
hai vị thần biển là Đông Hải Đại Vương và Tứ Vị Thánh Nương
Có thể nói, bức tranh tôn giáo, tín ngưỡng của người Thanh Hóa khá hoàn chỉnh, phong phú và đa dạng Bức tranh đó thể hiện sự giao thoa, tiếp biến về tôn giáo, tín ngưỡng song cũng mang đậm sắc thái riêng của mảnh đất
“cuối sông đầu núi” này Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cũng chứng tỏ
những mong muốn của người dân xứ Thanh đó là hướng tới một cuộc sống
ấm no, hạnh phúc, thanh bình
Lễ hội xứ Thanh là một phần của lễ hội truyền thống Việt Nam Ở Thanh
Hóa, từ miền núi, đồng bằng đến miền biển đâu đâu cũng có lễ hội Theo thống kê của Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa (nay là Sở Văn hóa, Thể
thao và Du Lịch Thanh Hóa) trên địa bàn toàn tỉnh Thanh Hóa có trên 1500 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và hàng trăm lễ hội trong đó có
hơn 73 lễ hội diễn ra trên quy mô lớn
Các lễ hội ở Thanh Hóa rất da dạng, phong phú về nội dung, hình thức và quy mô Có những lễ hội hội mang tính lịch sử gắn với các nhân vật lịch sử hay
đã được lịch sử hóa Có lễ hội gắn với tổ nghề, tổ nghiệp hoặc là những lễ hội
mà tính chất của tín ngưỡng phồn thực còn rõ nét Ngoài ra, ở Thanh Hóa còn
có các lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng khác như hội chùa, hội nhà thờ Thiên chúa giáo Đặc biệt là các lễ hội gắn với tín ngưỡng dân gian, như hội Đền Sòng, Phố Cát của Đạo Mẫu, lễ hội của Đạo Đông Đó là chưa kể đến một số lễ hội của đồng bào các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn Thanh Hóa như: hội Nàng Han của đồng bào Mường ở Bản Lùm Nưa, Mường Trịnh Vạn hoặc các lễ tục Pôồn Pôông, Kin Chiêng Boọc Mạy của đồng bào Thái, tục
Trang 24“chơi Hang Lãm”, chơi chợ tình duyên (Cẩm Thuỷ) vào các ngày đầu năm,
chơi Chợ Chuộng (Thiệu Hóa), Chợ Hoàng (Nga Sơn), Chợ Chìa (Tĩnh Gia)
Một số lễ hội lớn được nhắc đến nhiều ở Thanh Hóa là: Hội đền Mưng (xã Trung Thành, huyện Nông Cống), Lễ hội Nghè Sâm (làng Viên Khê, xã Đông Xuân, huyện Đông Sơn), Lễ hội làng Cổ Bôn (xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn), Hội làng Xuân Phả (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân), Lễ hội đền Bà Triệu (làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc), Lễ hội bánh chưng - bánh dày (thị xã Sầm Sơn), Lễ hội Cầu Ngư (làng Diêm Phố, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc), Hội Đền Sòng (thị xã Bỉm Sơn), Lễ hội Lam Kinh
(khu di tích Lam Kinh, huyện Thọ Xuân)
Lễ hội xứ Thanh diễn ra nhiều nhất và mùa xuân, không gian lễ hội chủ yếu là ở các làng nhưng cũng có một số lễ hội mở ra trong không gian lớn hơn
gồm nhiều làng Cá biệt, có lễ hội lấy “Tổng” làm không gian lễ hội như lễ
hội ở đền thờ Trần Nhật Duật ở Văn Trinh xưa thuộc tổng Văn nay thuộc xã
Quảng Xương Về thần tích, ở Thanh Hóa cũng có những bản thần tích chỉ
được truyền miệng nhưng cũng có những bản được ghi chép tỉ mỉ Các bản ghi chép tỉ mỉ như thế thường được chép từ thời Lê Thánh Tông, người ghi chép là Hàn Lâm Các Đại Học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn sau đó được Nguyễn Hiền
phụng sao Thần điện là nơi thần ngự trong năm khi có lễ hội thì rước thánh
thần ra để tế Ở miền núi, thần điện trong các lễ hội Kin Chiên, Pồn Pôông, Xằng Khàn chính là ngôi nhà của ông Ậu, bà Mạy Trong gian nhà chính của
ngôi nhà bày bàn thờ thần tổ và trước bàn thờ thần tổ là cây hoa để các “con
mày con nuôi” múa hát, hoà nhập với thần tổ Các lễ hội ở Thanh Hóa còn bảo
lưu kho tàng trò diễn dân gian điển hình và phong phú Được nhắc đến nhiều nhất là trò Xuân Phả (làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân); trò Rủn (xã Đông Anh, Đông Khê, huyện Đông Sơn); trò Chụt (làng Thiết Đanh,
xã Định Tường, huyện Yên Định); Trò Bôn (xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn); trò Triềng (làng Trịnh Xá, xã Yên Ninh, huyện Yên Định); Trò Sĩ –
Trang 25Nông – Công – Thương (xã Hoằng Đạo, huyện Hoằng Hóa) Nội dung của các trò diễn chủ yếu là phản ánh đời sống nông nghiệp, lịch sử, phong tục tập
quán của người dân tỉnh Thanh qua các thời kỳ lịch sử
Nói chung, lễ hội xứ Thanh cũng hoà chung với tinh thần lễ hội của dân tộc Việt Nam Phần lớn các lễ hội gắn liền với cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Các lễ hội dù khác nhau về thời gian, địa điểm và đối tượng phụng thờ nhưng vẫn có một điểm chung là mục đích mà các lễ hội hướng đến là tưởng
nhớ những lớp tiền nhân và cầu cho vụ mùa tươi tốt, cho “nhân khang vật thịnh”, xóm làng bình yên Từ các lễ hội đây toát lên tinh thần cố kết cộng
đồng, không phân chia thứ bậc Tình người, tình xóm giềng và niềm tin vào cuộc sống được đề cao và cộng hưởng khắp xóm làng Lễ hội ở xứ Thanh cũng
là dịp để thoả mãn nhu cầu thưởng thức và giao lưu văn hoá của nhân dân Đây cũng là dịp con người được thăng hoa về mặt cảm xúc, thoát khỏi những nhịp điệu cuộc sống hàng ngày và thoả mãn nhu cầu tâm linh của chính mình
Những di tích và danh thắng ở Thanh Hóa cũng chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử góp phần tạo nên “tài nguyên văn hóa” của tỉnh Thanh
Vốn là vùng đất được thiêng nhiên ưu ái với nhiều thắng cảnh nổi tiếng làm say lòng người Đất thiêng tạo nên những cảnh đẹp, cảnh đẹp lại được những bàn tay tài khéo của con em xứ Thanh đời này qua đời khác xây dựng tôn tạo nên trên mảnh đất này còn biết bao nhiêu những di tích lịch sử văn - hoá gắn với tên người với những sự kiện quan trọng
Nói về non nước xứ Thanh phải kể đến cảnh đẹp của Hàm Rồng“kỳ tú”
mà anh hùng đã làm rung động biết bao hồn thơ Nhà thơ Tản Đà đã viết:
“Ai xui ta nhớ Hàm Rồng Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khây”
Không chỉ đẹp, Hàm Rồng còn là nơi chứng kiến biết bao kỳ tích của nhân dân Thanh Hóa suốt chiều dài lịch sử Xứ Thanh còn có núi Bàn A với
những cảnh đẹp tựa bức tranh thuỷ mặc quanh núi tạo thành “Bàn A thập
Trang 26ngày vẫn khắc khoải chờ chồng rất mực thuỷ chung Núi non xứ Thanh không chỉ hùng vĩ mà còn được bao trùm bởi những sự tích huyền thoại khiến cho núi non đã đẹp càng thêm đẹp
Thắng cảnh Thanh Hóa còn có Động Hồ Công – “Thanh kỳ khả ái”, ở nơi đó có “cửa cao trong bầu trời rộng” và câu chuyện về Hồ Công từ vạn
dặm cũng hoà nhập vào con người xứ sở nơi đây để thành một động tiên Cửa
Hà dựng vách thẳng đứng bên bờ sông Mã Cảnh đẹp khiến cho tao nhân mặc khách động lòng mà khắc lên vách đá rằng:
“Du lãm chốn này bao du khách Bồng lai tiên giới chẳng đâu bằng”
Xứ Thanh có biển Sầm Sơn - một vùng cảnh trí nên thơ “phơi cát dưới nắng chiều, đón gió lộng qua hòn Trống Mái”, bãi An Tiêm với huyền tích dưa hấu thời Hùng Vương, động Bích Đào có “đường lên trời” và “hang xuống đất” chính nơi này chàng Từ Thức gặp nàng Giáng Hương Cảnh trí và
thiên nhiên xứ Thanh hài hoà và thơ mộng đến tuyệt diệu Đó chính là bức tranh sơn thuỷ khổng lồ hoàn hảo và lung linh đủ mọi sắc màu sinh động của đồng ruộng, núi sông – xóm làng - biển cả
Mảnh đất từng chứng kiến bao sự thăng trầm của lịch sử dân tộc, mảnh đất thang mộc, đất quí hương của các vương triều Lê, Nguyễn, chốn nương náu dấy binh của các triều đại còn ẩn chứa trong mình biết bao thành quách,
đền đài, lăng tẩm, đình chùa, miếu mạo Thành Tây Đô (An Tôn, Tây Giai)
Trang 27mà Phan Huy Chú đã miêu tả trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: là Điện
Lam Kinh, Vĩnh Lăng, Thiệu Lăng và các lăng của các nhà vua Lê mà lăng nào cũng có bia Có điện Vạn Thọ, có cầu nhỏ bắc qua lạch nước như Bạch Kiều ở Giảng Bình (Kinh đô Thăng Long) Những công trình kiến trúc như chùa Báo Ân (Đông Sơn), chùa Linh Xứng (Hà Trung), chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Hậu Lộc) được xây dựng từ thời Lý Chùa Hưng Phúc (Quảng Xương) được khởi dựng từ năm 1264, trong chùa hiện còn tấm bia nói về việc quân của Toa Đô bị hương binh Thanh Hóa đánh bại phải rút ra biển vào năm
Ất Dậu (1285) là những công trình kiến trúc tiêu biểu của Thanh Hóa
Một khối lượng lớn các đền thờ, đình, miếu phân bố ở hầu khắp các huyện thị trong tỉnh như: Đền Sòng, Phố Cát (Hà Trung), đền Bà Triệu (Hậu Lộc), đền thờ Lê Hoàn (Thọ Xuân), đền thờ Trần Khát Chân (Vĩnh Lộc), đền thờ Lý Thường Kiệt (Hà Trung), Đình Bảng Môn, Đình Phú Khê (Hoằng Hóa) còn lưu giữ nhiều tác phẩm điêu khắc đá, gỗ, đồng đậm màu sắc dân gian mà các nghệ nhân dân gian đã phải tốn biết bao thời gian, tâm sức để hoàn thiện chúng Nhưng cũng chính những tác phẩm ấy là dấu ấn văn hóa riêng không thể phai mờ của bao thế hệ người xứ Thanh Những ngôi chùa, đền thờ, đình, miếu này vừa là những nơi thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân đồng thời là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của xứ Thanh nói riêng và của Việt Nam nói chung
1.2.Tình hình sưu tầm, nghiên cứu về Bà Triệu
1.2.1 Những công trình sưu tầm, nghiên cứu trước năm 1945
Việc sưu tầm, nghiên cứu về Bà Triệu liên quan đến tín ngưỡng trong
đó có cả truyền thuyết, phong tục, lễ hội được tiến hành khá muộn
Trang 28Đầu tiên phải kể đến Chư Cát Thị một tác giả thế kỷ XVIII Trong phần
“Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập” đã viết cả một thiên “Lệ Hải Bà Vương ký” Số lượng trang sách tuy không nhiều nhưng qua đó chúng ta có
được một hình dung cụ thể và rõ nét về Lệ Hải Bà Vương Trước hết, Bà là một người người con gái;
Mặt hoa, tóc mây, mắt châu, môi đào, mũi hổ, trán rồng, đầu báo, hàm én, tay dài quá gối, tiếng như chuông lớn, mình cao chín thước, vú dài ba thước, vòng lưng rộng mười người ôm, chân đi một ngày năm trăm dặm, sức có thể khua gió bật cây, tay đánh chân
đá như thần, lại có sắc đẹp làm say lòng người [82, tr 119]
Không chỉ có sức khoẻ và sắc đẹp, Nàng Ẩu còn là người có chí khí nên khi
được khuyên nhủ về việc chồng con Bà đã khảng khái đáp “Em chỉ muốn cưỡi gió đạp sóng, chém cá kình lớn ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, cứu dân
ra khỏi cảnh chìm đắm há lại bắt trước người đời cúi đầu khom lưng làm tì thiếp kẻ khác” [82, tr 120] Mỗi khi đánh nhau với quân Ngô, Bà thường
“vắt vú ra sau vai, dùng lụa quấn chặt lưng, mặc áo vàng, đi guốc ngà, đứng trên đầu voi, thanh thế ầm ầm Chẳng có kẻ nào dám chống lại” [83, tr 122] Quân lính đặt tên hiệu cho bà là là “Nhụy Kiều tướng quân” Đương thời có
bài ca rằng:
“Kiều Kiều nữ tướng quân, Anh danh động phong trần Năng hàn Ngô tử đảm, Phiêu dục động nhân tâm”
Nghĩa là:
Bà nữ tướng xinh đẹp, Tiếng tăm chấn động phong trần
Có thể làm mất vía quân Ngô Sắc đẹp lại xúc động lòng người”
Trang 29Ngoài ra, bài ký cũng cho biết thêm một số chi tiết như việc Bà Triệu làm cho người Ngô mắc bệnh ngày càng ốm lăn ốm lóc Lục Dận lo quá bèn lập đàn tế cầu bảy ngày bảy đêm hay Bà hiển linh giúp Vua Lý đánh giặc Lâm Ấp Tác giả đã dựa theo những thông tin từ truyền thuyết dân gian để vẽ lại hình ảnh của Bà Triệu, qua đó, chúng ta cũng thấy được một người con gái tiêu biểu cho sức vóc vĩ đại của phụ nữ Việt Nam, dân tộc Việt Nam
“Triệu Ẩu truyện” bằng chữ Hán của Đạm Trai Nhữ Bá Sĩ soạn vào năm
Tự Đức thứ 10 là một tài liệu quí viết về Bà Triệu Tuy được viết từ năm 1858 nhưng mãi đến những năm 1970 tài liệu mới được ông Bùi Xuân Vỹ cán bộ phòng Bảo tồn Bảo tàng Ty Văn hoá Thanh Hóa sưu tầm Ông Vỹ cũng chính
là người phiên âm và dịch nghĩa “Triệu Ẩu truyện” thành “Truyện Bà Triệu” với phần hiệu đính của cụ Lê Văn Uông Trong “Triệu Ẩu truyện”, bên cạnh
các chi tiết đã được biết đến trong sử sách, cụ Đạm Trai đã đưa ra tình tiết
mới Cụ viết sau khi giết chết người chị dâu chẳng hiền,“thường lăng mạ tộc đảng”“Bà mới rời ra ở miền rừng núi Bồ Điền, tự sinh sống bằng sức của mình trong hai ba năm mà nhà cửa đất đai rộng rãi, của cải dư dật, kẻ ăn người ở ngày càng đông” [73, tr 94] Chi tiết này khác với phần lớn tài liệu
trước đó cho rằng Bà Triệu đã lập căn cứ tại vùng Ngàn Nưa (thuộc huyện Nông Cống và Triệu Sơn ngày nay) Ngoài ra, câu nói thể hiện khí phách của
Bà Triệu: “Vung lưỡi gươm ba thước chém con cá kình ở bể Đông để cứu dân chúng ra khỏi chỗ chìm đắm, anh mà làm được thì em xin cùng đỡ một tay Sao lại bắt chước người đời cúi đầu khom lưng làm tì thiếp người ta cam tâm hầu hạ bọn quan lại trong nước hay sao!” cũng là một chi tiết khá mới so với
các tài liệu trước đó
Đầu thế kỷ XX, trong sách Thanh Hóa kỷ thắng tác giả Vương Duy
Trinh có chép: Bà Triệu quê ở làng Sơn Trang ở chân núi Nưa, Bà vốn dòng dõi gia đình hào trưởng, hay giúp đỡ kẻ giang hồ và tập hợp được nhiều môn khách Về diện mạo, sức vóc, khí phác của Bà Triệu được tác giả mô tả khá tỉ
Trang 30mỉ Ngoài việc cho rằng quê Bà Triệu ở làng Sơn Trang ở chân núi Nưa là khá mới so với các tài liệu, còn lại những chi tiết mà tác giả Vương Duy Trinh đưa ra, theo chúng tôi tìm hiểu, phần lớn xuất phát từ các truyền thuyết trong
dân gian Sau đó khoảng 15 năm, Le Breton một học giả Pháp trong tập Những
danh nhân quê ở Thanh Hóa cũng giành cho Bà Triệu được mươi dòng Những
ghi chép của Le Breton phần lớn phỏng theo Vuơng Duy Trinh trong Thanh Hóa kỷ thắng [73, tr 47]
Bố chánh sứ tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Văn Mại đã viết trong Việt Nam phong sử như sau:
Trong khoảng niên hiệu Vĩnh An nhà Đông Ngô, viên thú mục người Tàu tham bạo vơ vét, chiếm đoạt tài sản của người bản xứ, nhân dân sống không yên tụ hợp nhau làm trộm cướp, thường nương tựa vào Bà Triệu để trốn tránh Bà thành thật tin dùng, họ
đều mến phục [45, tr 52]
Từ bài ca dao:
“Ru con con ngủ cho lành Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voi Muốn coi lên núi mà coi Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng”
Tác giả cũng cho rằng việc Bà Triệu dấy quân là rất được lòng người nên phần đông dân chúng đều ủng hộ Thế nên mới có cảnh đàn ông con trai thì phụng sự
trong hàng ngũ, đàn bà con gái thì làm việc giúp đội quân Xem ra “Lời hát có vẻ vui tươi xua nhau làm việc mà không có lòng oán hận” [44, tr 53]
Sách Đại Nam dật sử của Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố cũng đề cập đến
“Bà Triệu Ẩu” trên cơ sở so sánh một số tài liệu của“sử ta” và “sử tàu”
Trong sách cụ Nguyễn Văn Tố cũng đưa ra nhận xét câu nói của Bà Triệu
từng được dẫn từ Việt Nam phong sử: Người ta sinh ra ở trong đám hồng trần,
vô luận là con trai hay con gái, phải lập nên công lớn, để tiếng thơm nghìn
Trang 31năm Việc gì phải cúi đầu cong lưng làm tôi tớ người ta Điều này chứng tỏ vào thời kỳ đó trình độ của dân ta cũng đã tiến bộ, một người con gái còn biết xấu hổ khi phải làm tôi tớ, huống chi đàn ông [65]
1.2.2 Những công trình sưu tầm, nghiên cứu sau năm 1945 đến nay
Trong các ngày từ 17 đến 19 tháng 11 năm 1971 Ty Văn hóa Thanh Hóa
đã tổ chức hội thảo nghiên cứu những vấn đề xung quanh cuộc khởi nghĩa của
Bà Triệu Trong hội thảo này, ngoài lời khai mạc và bế mạc của đồng chí Võ Quyết – Trưởng Ty Văn hóa còn có các bài tham luận của một số tác giả như Nguyễn Xuân Lênh, Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Tuấn Phổ, Cao Huy Đỉnh, Lê Văn Lan, Nguyễn Duy Hinh Các tham luận trong hội thảo đã đề cập đến các vấn đền như: Tình hình xã hội Việt Nam buổi đầu công nguyên để soi vào cuộc khởi nghĩa; Thời gian, địa bàn hoạt động của cuộc khởi nghĩa; Quá trình diễn biến và phát triển của cuộc khởi nghĩa; Tính chất và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa trong quá trình đấu tranh của nhân dân ta trong suốt hơn một nghìn năm chống ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc; Vai trò của nhân dân quận Cửu Chân trong cuộc khởi nghĩa, một đôi điều về Bà Triệu Cũng nhân dịp hội thảo này, một số tài liệu văn học dân gian hay và qúy cũng đựơc công bố Kết luận chung của hội thảo, các tác giả đều nhìn nhận cuộc khởi
nghĩa của Bà Triệu là cuộc khởi nghĩa lớn nhất vào thế kỷ III S.CN “Đó là một đòn lớn giáng vào đầu bọn đô hộ, một bước tiến mới trong cả một quá trình dài hàng mấy trăm năm liên tục đấu tranh để đi đến giành thắng lợi hoàn toàn, giành quyền độc lập, tự chủ cho dân tộc” [ 73, tr 9] Hình ảnh bà Triệu
qua bao thế kỷ vẫn không hề phai nhạt trong tâm trí nhân dân, đời này qua đời
khác người ta truyền ngôn về “người con gái quận Cửu Chân” và lập đền thờ
Bà Xung quanh cuộc đời và cuộc khởi nghĩa mà Bà lãnh đạo vẫn còn rất nhiều truyền thuyết, nhiều vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Năm 1977, GS Trần Quốc Vượng trong bài viết “Tiểu sử thân thế và sự nghiệp đấu tranh giữ nước của Bà Triệu” [80] có một số chi tiết đáng chú ý
Trang 32như sau: Lệ Hải là chỉ cửa biển Trường Lệ thuộc quận Cửu Chân xưa nay là
vùng Ngã Ba Bông rộng lớn mênh mông “Lệ Hải Bà Vương là Vua Bà ở vùng biển Cửu Chân” [80, tr 5] Ngoài ra, tài liệu cũng xác định rõ “Bà Triệu sinh
ra ở vùng núi Quân Yên, hiện nay là hợp tác xã nông nghiệp Định Công, vùng đồng Nấp Bắt, giáp xã Định Thành” Núi Quân Yên cũng là một trong những địa điểm “có sự tiến hoá trước của nền văn minh loài người”
Năm 1998, GS Trần Quốc Vượng cho ra mắt cuốn sách Việt Nam cái nhìn địa văn hóa Đây là một công trình nghiên cứu viết về văn hóa vùng dưới góc độ tiếp cận địa văn hóa – địa chính trị Qua bài viết “Xứ Thanh vài nét về lịch sử - văn hóa”, thế núi - dáng sông – văn hóa – con người Thanh
Hóa hiện lên một cách sinh động, chân xác và tỉ mỉ Trong bài viết này, Giáo
sư cũng đã giành một phần nhất định để nói về cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu
và kết luận “Dù quê hương Bà Triệu còn là vấn đề tranh luận song Bà Triệu chắc chắn là một nữ kiệt xứ Thanh từ thế kỷ thứ III” [81, tr 76]
Viết về con người, dòng dõi xuất thân và sự nghiệp của Bà Triệu còn phải kể đến rất nhiều các cuốn sách dưới dạng truyền thuyết lịch sử, tiểu
thuyết lịch sử, dã sử như: Đầu voi phất ngọn cờ vàng [74], Vua Bà Triệu Ẩu [52], Danh nhân đất Việt [3], Truyện dân gian Nông Cống [53], Bà Triệu -
Na Sơn động phủ [18], Lệ Hải Bà Vương [61], Những vì sao đất nước [40] Đại Nam Quốc sử diễn ca [15, tr 91 - 92] của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái
viết về Bà Triệu vừa có tính lịch sử lại mang đậm chất thơ ca:
“Cửu Chân có ả Triệu Kiều,
Vú dài ba thước, tài cao muôn người
Gặp cơn thảo muội cơ trời, Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang
Đầu voi phất ngọn cờ vàng Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà
Dù khi chiến tử còn là hiển linh”
Trang 33Hai cuốn sách Danh nhân Triệu Sơn [31], Danh nhân Thanh Hóa [6] là
hai cuốn sách vừa mang tính nghiên cứu lại vừa mang tính cung cấp, phổ cập tri thức về các nhân vật, sự kiện, địa danh ở Thanh Hóa Sách dựa trên lối văn
tự sự để miêu tả công lao, sự nghiệp của các danh nhân, diễn biến các sự kiện theo trình tự không gian và thời gian, địa điểm xưa và nay nhằm giúp người đọc dễ nắm bắt những nét cơ bản trong sự nghiệp của các danh nhân Phần viết về Triệu Thị Trinh cũng không nằm ngoài ý đồ đó
Các sách có tính chất sưu tầm, tra cứu về Bà Triệu có: Các triều đại Việt
Nam [18], Nữ Chúa Việt Nam [26], Thần nữ và liệt nữ Việt Nam [17], Nữ thần
và thánh mẫu Việt Nam [35], Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam tập 2 [67], Thống kê lễ hội Việt Nam [4], Đền Miếu Việt Nam [33], Địa chí huyện Hậu Lộc [29], Địa chí huyện Nông Cống [30], Địa chí huyện Triệu Sơn [32], Địa chí huyện Yên Định [30], Thanh Hóa - quê hương - đất nước - con
người [53], Di sản văn hóa xứ Thanh [24], Di tích thắng cảnh Thanh Hóa [66]
Nhân kỷ niệm 1759 năm ngày mất của Bà Triệu, tác giả Bảo Hưng đã
viết bài “Về Núi Nưa thăm đền Bà Triệu” đăng trên báo Đại Đoàn Kết số ra
ngày 11 - 4 - 2007 Bài viết không dài song thể hiện lòng biết ơn của tác giả - thế hệ con cháu đối với công lao cứu chống giặc cứu nước của Vua Bà Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu về ngôi đền Bà Triệu tại núi Nưa, xã Trung
Thành, huyện Nông Cống, Thanh Hóa và đề xuất ý kiến “xây dựng khu tưởng niệm vị anh hùng trên quê hương Nông Cống”[ 33 ]
Năm 2008, nhân dân Thanh Hóa vui mừng trước sự kiện đền thờ chính trong quần thể Khu di tích Bà Triệu được khánh thành đúng vào dịp kỷ niệm
1760 năm ngày mất của vị anh hùng Triệu Thị Trinh Nhân dịp này, Ban Quản lý Di tích và Danh thắng huyện Hậu Lộc cùng tác giả Mai Thị Hoan đã
cho ra mắt cuốn sách Lệ Hải Bà Vương và đền thờ Bà Triệu [27] Trong
khoảng 50 trang sách, tác giả Mai Thị Hoan đã nêu những nét khái quát nhất về
Trang 34cho ra mắt tập sách Thắng cảnh Ngàn Nưa với Đền Nưa và di tích Am Tiên cổ tích Đây là một công trình khảo cứu về di tích được viết ra bởi “thái độ trân trọng đối với văn hóa và con ngừơi vùng đất Kẻ Nưa ngày xưa với một tấm lòng hoài cổ” Tập sách - đúng như tên gọi là giành phần lớn nội dung để giới thiệu về Ngàn Nưa như “vùng đất thiêng; nơi rung động hồn thơ” và là địa
điểm du lịch của tỉnh Thanh Tập sách cũng giành một phần để giới thiệu về
Ngàn Nưa – “địa điểm căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu” [57, tr.8 -11]
Nghiên cứu về Bà Triệu ở mảng lễ hội là đề tài xuất hiện muộn hơn so với các mảng nghiên cứu khác song lại là đề tài thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa
Trong Thanh Hóa - quê hương - đất nước - con người xuất bản năm 1996
lễ hội đền Bà Triệu được đặt trong phần Tín ngưỡng – lễ hội Qua 5 trang sách,
các nhà nghiên cứu đã khảo tả một cách sơ giản lễ hội đền Bà Triệu được tổ chức tại làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc từ ngày 19 đến ngày 24 tháng 2 âm lịch Tuy nhiên trong nghiên cứu này các tác giả chưa đề cập đến phần hội với các trò chơi, trò diễn riêng có của lễ hội đền Bà Triệu
Năm 1997, tác giả Hà Hùng Tiến đã cho ra mắt công trình nghiên cứu
về Lễ hội và các danh nhân lịch sử Việt Nam Phần nghiên cứu về Bà Triệu
với tiêu đề “Bà Triệu sự tích và lịch sử Bà Triệu” được tác giả dựa vào các
tài liệu đã từng được công bố để cho chúng ta hình dung một cách khái quát
Trang 35Trước năm 2000, phần lớn các lễ hội ở Thanh Hóa mới chỉ được giới thiệu trong những phần, những mục của các cuốn sách viết về văn hóa – lịch sử Thanh Hóa nói chung Đến năm 2001, một cuốn sách nghiên cứu chuyên biệt
về lễ hội xứ Thanh mới được giới thiệu bởi hai tác giả Lê Huy Trâm và Hoàng
Anh Nhân Cuốn sách Lễ tục – lễ hội truyền thống xứ Thanh – như các tác giả
tự nhận được hình thành từ các công trình ghi chép, sưu tầm giới thiệu các trò diễn dân gian, các phong tục tín ngưỡng, các hội làng, hội bản của Xứ Thanh hoặc trong các tham luận khoa học của các tác giả folklore Thanh Hóa Mở đầu công trình nghiên cứu này, các tác giả đã cho công chúng một cái nhìn khái quát về lễ tục – lễ hội truyền thống ở Thanh Hóa Phần tiếp theo của cuốn sách giới thiệu một số lễ hội tiêu biểu của xứ Thanh như: lễ hội Lam Kinh, lễ hội làng Cổ Bôn, lễ hội Đền Độc Cước, lễ hội Nghè Sâm Lễ hội đền Bà Triệu trong công trình này được các tác giả giới thiệu theo kết cấu: địa phương (nơi giữ gìn và tiến hành các lễ hội truyền thống), thần tích, thần điện, tục lệ, tế lễ
Cuối phần nghiên cứu tác giả có đưa ra những nhận xét bước đầu – “là những
ý kiến cá nhân của các tác giả trong quá trình tiếp xúc với từng lễ hội” Theo
đó, lễ hội được hình thành trên cơ sở một sự kiện lịch sử có thật, nó là lòng ngưỡng mộ của người đương thời với ý chí kiên cường và tài năng xuất chúng
của Bà Triệu Cũng theo các tác giả: Lễ hội đền Bà Triệu “Là lễ hội quốc tế (chữ Quốc tế có nghĩa là tế ở cấp độ nhà nước, do triều đình chủ trì) trong thời gian dài nhưng dấu vết cung đình rất mờ nhạt” chính người nông dân Bồ Điền
mới là chủ nhân sáng tạo văn hóa lễ hội này [48, tr 23]
Trang 36Cũng viết lễ hội tại đền Bà Triệu, tác giả Hoàng Minh Tường trong sách
Văn hóa dân gian Thanh Hóa bước đầu tìm hiểu có bài “Bước đầu lý giải hiện tượng kiệu bà trong lễ hội đền Bà Triệu” Theo tác giả vì quãng đường đi rước
kiệu mấp mô, đường đi lên và xuống núi Tùng lại gập ghềnh nên dẫn đến hiện tượng trọng lực phân bố không đều Trọng lực không đều khiến cho kiệu bị nghiêng lệch kéo theo những người khiêng kiệu cũng không thể trong trạng thái cân bằng Vì cố giữ cho kiệu không bị đổ nên có người sẽ níu kiệu lại nhưng cũng sẽ có người bước nhanh hơn để tìm kiếm lại trạng thái cân bằng Những tác động đó tạo ra một lực xô đẩy tự nhiên diễn ra trong những người
rước kiệu nên dù “không ai chỉ huy nhưng kiệu vẫn tiến lên phía trước như có một ma lực nào đó dẫn dắt, người khiêng kiệu cũng không thể điều khiển và chi phối được ý nghĩ và định hướng trước của mình” [71, tr 203] Lý giải theo tín
ngưỡng tâm linh, tác giả cho rằng hiện tượng này là trạng thái tâm lý hưng phấn của những người rước kiệu trong một không gian thiêng cũng có thế coi
là “trạng thái “lên đồng” tập thể của những người rước kiệu” [71, tr 204]
Năm 2008, tác giả Hoàng Minh Tường còn có một bài viết với tiêu đề:
“Rước kiệu – nét đặc sắc trong lễ hội đền Bà Triệu” đăng trên báo Thanh Hoá
nhằm giới thiệu tới đông đảo độc giả trong và ngoài tỉnh về lễ hội đền Bà Triệu Trong bài viết, phần lễ hội được miêu thuật một cách giản đơn với các nghi thức, nghi lễ Phần trọng tâm của bài viết là chi tiết rước kiệu trong lễ hội
Cuối bài viết tác giả kết luận: “Lễ hội đền Bà Triệu là lễ hội cổ truyền hàm chứa nhiều giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc ”, “Rước kiệu là một “tục hèm”
có từ lâu đời thể hiện sự hiển linh của Bà, vừa là sự tôn vinh của nhân dân đối với người nữ anh hùng đã có công cứu dân, cứu nước” [72, tr 5]
Trong quá trình tìm hiểu đề tài, chúng tôi cũng tập hợp được một số ý kiến liên quan đến Bà Triệu như sau:
Nghiên cứu các dữ kiện lịch sử dưới góc độ thời gian, năm 1993, tác giả
Nguyễn Khắc Thuần cho ra mắt cuốn Thế thứ các triều vua Việt Nam Trong
Trang 37tập sách này Ông đã đưa ra ý kiến xem “bộ chỉ huy khởi nghĩa” do Bà Triệu đứng đầu là một “guồng máy chính quyền” bởi vì mặc dù cuộc khởi nghĩa chưa
đi đến thắng lợi cuối cùng, Bà Triệu chưa thể xưng đế, xưng vương nhưng rõ
ràng “guồng máy chính quyền sơ khai do Bà Triệu lập ra hoàn toàn biệt lập và đối nghịch sâu sắc với chính quyền đô hộ của quân Ngô” [60, tr 30]
Trong công trình nghiên cứu Thần, người và đất Việt, tác giả Tạ Chí Đại Trường khi viết về “Những chuyển biến về quan niệm thần linh trong thời kỳ Bắc thuộc” đã cho rằng sự tác động lịch sử văn hóa giữa Việt Cổ và Trung
Hoa là có thật và có dẫn chứng trường hợp huyền thoại nhân vật Bà Triệu Cụ
thể là : “Bà Triệu mang hình ảnh hai bà họ Tẩy trên vùng Nam Trung Hoa, một của thời Triệu Đà, một ở vào thế kỷ VI thuộc vào nửa phần phía bắc có
hệ thống người khổng lồ trong nền văn minh Man” [69, tr 76] Qua đây, tác
giả cũng cho rằng hình ảnh Bà Triệu huyền thoại trên vùng rừng núi trên đất Cửu Chân xa là dấu vết nguyên thuỷ bản xứ còn được giữ lại
Điểm lại các công trình sưu tầm, nghiên cứu về Bà Triệu và các vấn đề xung quanh việc phụng thờ Bà chúng tôi nhận thấy:
Những nghiên cứu trước năm 1945 đến những năm 1999 được viết chủ yếu dưới góc độ lịch sử Các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoàn cảnh, diễn biến của cuộc khởi, về xuất thân và vai trò thủ lĩnh của Bà Triệu Gần đây, một số công trình tập trung làm rõ quê hương của người con gái họ Triệu, một số công trình khác lại tìm hiểu vai trò của vùng núi Nưa – nơi bà dựng cờ khởi nghĩa Chiếm một số lượng lớn các bài viết liên quan đến
Bà Triệu là các bài giới thiệu về đền Bà Triệu tại xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc Cùng với khu lăng mộ Bà Triệu, đền Bà Triệu là một trong những di tích lịch sử văn hóa thu hút sự quan tâm của nhân dân trong tỉnh, đồng thời là một điểm hành hương về cội nguồn trên con đường di sản Miền Trung
Các công trình sưu tầm và nghiên cứu về lễ hội Bà Triệu xuất hiện muộn hơn rất nhiều so với mảng nghiên cứu về lịch sử và di tích Tuy nhiên, với
Trang 38những nhận thức mới về các giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta, lễ hội
Bà Triệu đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa Nhờ vậy, các công trình nghiên cứu, các bài viết về lễ hội xuất hiện nhiều hơn Dưới góc độ văn hóa tín ngưỡng, việc phụng thờ Bà Triệu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa gần như là một mảnh đất còn bỏ ngỏ mà các công trình nghiên cứu chúng tôi đã điểm ở trên là những nền tảng đầu tiên trên mảnh đất này Đó cũng là một trong những lý do chúng tôi mạnh dạn chọn hướng
nghiên cứu việc phụng thờ Bà Triệu trên quy mô “rộng hơn một địa điểm” để
từ đó thấy được một phần bức tranh phụng thờ các anh hùng dân tộc - một
truyền thống đáng tự hào thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người
Thanh Hóa nói riêng và người dân Việt Nam nói chung
Cũng qua việc tìm hiểu những tư liệu về Bà Triệu chúng tôi chắc rằng những tư liệu về Bà Triệu mang tính chính thống nếu so với những tư liệu của văn hóa dân gian về Bà Triệu thì hẳn không phong phú và đa dạng bằng Bởi
vì, ở mỗi địa điểm gắn với Bà Triệu tại các địa phương đều tồn tại rất nhiều những câu truyện dân gian Đó là chưa kể đến các loại thơ ca, hò vè, các trò chơi dân dã đã được hình thành, bồi đắp, lắng đọng qua rất nhiều lớp trầm tích thời gian Chúng tôi thiết nghĩ, những thể loại văn hóa dân gian đó chính
là những “công trình” đầy sáng tạo mà vẫn rất chân thực về một vị nữ anh
hùng Và cho dù các nhà sử học, các nhà nghiên cứu văn hóa vẫn đã, đang và
sẽ tiếp tục nghiên cứu về Bà Triệu thì từ lâu trong dân gian, nhân dân đã có
cho riêng mình những “công trình” lịch sử - văn hoá về Bà Triệu rồi
1.3 Hệ thống tư liệu, truyền thuyết, thần tích về Bà Triệu
1.3.1 Bà Triệu trong sử sách
1.3.1.1 Bà Triệu trong nguồn thư tịch cổ
Trước khi viết những dòng về “kiệt nữ xứ Thanh từ thế kỷ III” GS Trần
Quốc Vượng đã nhắc lại một câu thơ của một nhà thơ từ đời Đường “Tượng
Trang 39đầu man nữ mấn triền thân”(Ngồi đầu voi cô gái Man quấn váy quanh người) Hình ảnh đó ít nhiều gợi nhớ tới Lệ Hải Bà Vương – Bà Triệu trong
sách vở của người phương Bắc
Tài liệu sử của người Hán viết về Bà Triệu và cuộc khởi nghĩa do Bà
lãnh đạo đến nay còn được biết đến chủ yếu là các sách Nam Việt chí và Giao Châu ký Hai cuốn sách được viết vào thế kỷ thứ IV và thứ V này ghi lại
những nét khái quát về hình ảnh người con gái của quận Cửu Chân cài trâm
vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi chiến đấu ở trận tiền Sách Giao Chỉ chí chép:
Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các huyện trong quận, thường mặc áo ngắn sắc vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần [74] Sau đó, vào khoảng thế kỷ X, sách Thái Bình Hoàn vũ ký của
Nhạc Sử thời Tống cũng có chép sự tích Bà Triệu với nội dung tương tự Các cuốn sách trên đều có điểm chung là không ghi cuộc khởi nghĩa thành mục riêng với các chi tiết cần thiết mà chỉ điểm qua cuộc khởi nghĩa như là một trong những sự kiện nằm trong tình hình Giao Châu vào đầu đời Đông Hán Hình ảnh Bà Triệu cũng chỉ được ghi lại một cách sơ lược Đây là những sử liệu đầu tiên về Bà Triệu, qua đó, chúng ta đã có những hình dung đầu tiên về diện mạo của người nữ anh hùng, đặc biệt là dáng người khác lạ
với “Vú dài ba thước” và hình ảnh Bà Triệu “mặc áo ngắn sắc vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu”
Dưới thời nhà nước quân chủ của Việt Nam, người con gái họ Triệu được các nhà nho ghi chép tương đối sớm Tuy nhiên những ghi chép đó còn khá dè dặt
Đại Việt sử ký toàn thư của sử gia Ngô Sĩ Liên có đôi ba dòng
như sau: Mậu Thìn, [248], Hán Diên Hy năm thứ 11, Ngô Vĩnh An năm thứ 1 Người Cửu Chân lại đánh hãm thành ấp, châu quận rối động Ngô Vương cho Hành dương đốc quân đô uý làm Thứ sử
Trang 40kiêm hiệu uý Dận đến nơi lấy ân đức tín nghĩa hiểu dụ dân ra hàng phục đến hơn ba vạn nhà, trong châu lại yên Sau người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu Ẩu tập họp dân chúng đánh chiếm các huyện (Ẩu vú dài ba thước vắt lên sau lưng thường ngồi đầu voi
đánh nhau với giặc) Dận dẹp yên được [43, tr 29]
Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi gần giống như Đại Việt sử ký toàn thư nhưng có thêm phần lời
chua về Lục Dận và về Bà Triệu Trong phần lời chua về Triệu Ẩu, các sử gia
đã ghi lại theo sách Thái Bình hoàn vũ ký Ở phần lời phê, nhà vua – người
đứng đầu nhà nước phong kiến thế kỷ XIX đã sánh Bà Triệu với Hai Bà
Trưng “Con gái nước ta nhiều người hùng dũng khác thường Bà Triệu Ẩu cũng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng”.“ Há có phải chỉ ở Trung Quốc là có đàn bà nổi danh tiếng đâu” [50, tr 36]
Nếu như Lê Tắc trong An Nam chí lược coi Triệu Ẩu là một trong
“Những kẻ phản nghịch” và cho rằng việc Bà tập hợp binh sĩ là “tụ đảng trộm cướp bị Thứ sử Giao Châu là Lục Duệ giết” [58, tr 124] thì các nhà sử học triều Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí lại viết về Bà như một liệt nữ
của dân tộc Không chỉ có thế sách còn chỉ rõ quê hương và cả nơi thờ phụng
Bà cũng đều được đề cập rõ ràng “Nay xét, huyện Quân Yên xưa, tức là huyện Yên Định bây giờ và Bồ Điền xưa tức xã Phú Điền bây giờ (nguyên thuộc huyện Hậu Lộc, nay thuộc huyện Mỹ Hóa) đền thờ của Bà ở chân núi
xã ấy” [49, tr 379] Cùng quan điểm với các sử gia triều Nguyễn, trước đó,
sử thần Lê Tung trong phần Tổng luận của Đại Việt sử ký tiền biên đã gọi bà
là “người hùng tài trong nữ lưu” Sách còn viết Bà Triệu tụ họp đồ đảng ở
trong rừng núi, đánh phá thành ấp, các bộ lạc theo bóng gió, chóng như giở bàn tay, tuy chưa chiếm cứ được Lĩnh Biểu như Hai Bà Trưng, nhưng cũng là người hùng tài trong nữ lưu [80]