1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc phụng thờ bà đế ở đồ sơn, hải phòng

142 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 5,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ một truyền thuyết mang nhiều yếu tố liên quan đến người đi biển, phù hợp với niềm tin và tín ngưỡng thờ phụng dân gian của người Đồ Sơn nói riêng và đất Hải Phòng nói chung, tín ngưỡn

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

TRầN XUÂN HằNG

VIệC PHụNG THờ Bà Đế ở Đồ SƠN,

HảI PHòNG

Chuyên ngành: Văn hoá học Mã số: 60310640

LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học

Người hướng dẫn khoa học: gs.ts Lê Hồng Lý

Hà Nội - 2013

Trang 2

- Ban quản lý di tích đền Bà Đế cùng gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện cho việc học tập nghiên cứu, khai thác tài liệu trong quá trình viết bài

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các nhà nghiên cứu khoa học, các thầy cô giáo và bạn bè

Trân trọng cảm ơn!

Trần Xuân Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1:KHÔNG GIAN VĂN HÓA VÙNG ĐỒ SƠN, HẢI PHÒNG 11 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của thành phố Hải Phòng 11

1.1.1 Đặc điểm địa lý, địa hình 11

1.1.2 Lịch sử hình thành vùng đất và con người Hải Phòng 12

1.2 Khái quát về địa danh và con người Đồ Sơn 15

1.2.1 Đồ Sơn xưa và nay 15

1.2.2 Cư dân Đồ Sơn 20

1.3 Không gian văn hóa vùng đất Đồ Sơn 23

1.4 Vị trí của sự phụng thờ Bà Đế trong không gian văn hóa vùng Đồ Sơn 31

Chương 2:DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN BÀ ĐẾ 35

2.1 Di tích đền Bà Đế 35

2.1.1 Truyền thuyết dân gian về sự tích Bà Đế 35

2.1.2 Sự hình thành di tích đền Bà Đế 42

2.1.3 Khảo tả di tích 45

2.2 Lễ hội đền Bà Đế 55

2.2.1 Các nghi lễ trong năm của phường Ngọc Hải, quận Đồ Sơn, Hải Phòng 55

2.2.2 Lễ hội thờ Bà Đế 57

2.2.3 Vai trò của tục thờ Bà Đế trong quá khứ 73

Chương 3: VIỆC PHỤNG THỜ BÀ ĐẾ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN ĐỒ SƠN HIỆN NAY 76

3.1 Giá trị văn hóa trong sự phụng thờ Bà Đế 76

3.2 Bối cảnh hiện nay của đền Bà Đế 79

Trang 4

3.3 Sự linh thiêng của đền Bà Đế 82

3.4 Sự biến đổi trong tín ngưỡng thờ Bà Đế 88

3.4.1 Trong di tích 88

3.4.2 Trong lễ hội 91

3.5 Đề xuất giải pháp tổ chức, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa trong việc phụng thờ Bà Đế ở Đồ Sơn hiện nay 95

3.5.1 Sự khác biệt của đền Bà Đế 95

3.5.2 Vai trò của cơ quan chính quyền địa phương và ban quản lý di tích đền Bà Đế 99

3.5.3 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa trong sự phụng thờ Bà Đế 101

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 112

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nơi có nếp sống tín ngưỡng tôn giáo hết sức phong phú và

đa dạng Bên cạnh các tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào nước ta qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, nền văn hóa Việt nam có hệ tín ngưỡng dân gian phong phú tồn tại từ rất lâu đời Cho đến ngày nay, nó vẫn là một bộ phận quan trọng của đời sống tinh thần và tâm linh, góp phần làm nên cấu trúc và diện mạo văn hóa Việt Nam Trong đó có tín ngưỡng thờ nữ thần

Tín ngưỡng thờ nữ thần có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời ở nước ta Việc tôn thờ người phụ nữ là yếu tố chính của tín ngưỡng này trên cơ

sở truyền thống coi trọng vai trò của người mẹ trong gia đình và xã hội của người Việt Nam Cùng với tín ngưỡng thờ nữ thần, các công trình kiến trúc, các hình thức lễ nghi thờ cúng, lễ hội và các dạng sinh hoạt tín ngưỡng khác

có liên quan cũng được phát triển, góp phần tạo nên tính đa dạng của văn hóa Việt Nam Chính vì thế, nghiên cứu tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng thờ nữ thần nói riêng trên tất cả các mặt biểu hiện của nó, không chỉ phác họa nên đời sống tín ngưỡng mà còn bổ sung tư liệu cho việc nhận thức

về bản chất và sắc thái đa dạng của đời sống tâm linh người Việt

Nằm trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng dân gian Hải Phòng mà đặc biệt là tín ngưỡng thờ nữ thần phát triển mạnh mẽ ở đây, đã ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần cư dân Hải Phòng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Hải Phòng

Nhắc đến Hải Phòng, người ta nói về Đồ Sơn như một khu du lịch biển nổi tiếng của cả nước Không những thế, Đồ Sơn còn là một vùng đất có nhiều giá trị văn hóa lịch sử đặc sắc, trong đó có đền Bà Đế Ngôi đền có cửa hướng ra biển Đông, lưng tựa vào vách núi Độc, nằm trong địa phận phường

Trang 6

Ngọc Hải, quận Đồ Sơn, Hải Phòng Hàng năm, nhất là vào mùa xuân, du khách thập phương lại tấp nập về với đền Bà Đế với nhiều nỗi niềm nhân thế: người cầu tài, người cầu lộc, người xin được giải nỗi oan khuất mà bản thân hoặc gia đình phải gánh chịu

Từ một truyền thuyết mang nhiều yếu tố liên quan đến người đi biển, phù hợp với niềm tin và tín ngưỡng thờ phụng dân gian của người Đồ Sơn nói riêng và đất Hải Phòng nói chung, tín ngưỡng thờ Bà Đế chiếm vị trí quan trọng nhất trong tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Đồ Sơn

Trong những năm gần đây, các di tích, lễ hội, sinh hoạt văn hóa gắn kết linh thiêng với tín ngưỡng thờ nữ thần ở Hải Phòng ngày càng được nhân dân coi trọng, đặc biệt với đền Bà Đế Hơn nữa, với thực tế hiện nay, khi cả thế giới đang bước vào thời kỳ giao lưu hội nhập, văn hóa càng được chú trọng bởi nó được xem như là một nền tảng, động lực then chốt của sự phát triển Việc bảo tồn và phát huy giá trị của một di tích - một di sản văn hóa góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc

Sự chuyển biến đó đặt ra nhiều vấn đề cho các cấp chính quyền chú trọng, khôi phục và phát triển hơn các di tích thờ nữ thần tại nơi đây Chính vì

vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Việc phụng thờ Bà Đế ở Đồ Sơn, Hải Phòng”

làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Văn hóa học của mình Việc nghiên cứu tín ngưỡng sự phụng thờ Bà Đế ở vùng Đồ Sơn, Hải Phòng

là sự cần thiết để nhìn nhận, xem xét đến vai trò và ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư tại đây, cái gì nên phát huy, cái gì nên loại trừ để tín ngưỡng này có ý nghĩa hơn trong đời sống cư dân miền biển Hải Phòng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về nữ thần ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình của những người đi trước Đó là một số lượng công trình rất phong phú mà phần

Trang 7

tài liệu tham khảo trong luận văn này, chúng tôi mới chỉ dừng lại ở một số ít Các công trình này đã đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu trong cả nước, ở nhiều nơi và nhiều cấp độ cũng như các khía cạnh khác nhau Đó là những tài liệu

mà bất kể người nào quan tâm đến tín ngưỡng thờ nữ thần đều phải quan tâm đến Do khuôn khổ của luận văn, trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề này chúng tôi tập trung nhiều hơn vào hiện tượng phụng thờ Bà Đế ở Hải Phòng

Thời gian gần đây, những bài viết trên các tờ báo, tạp chí về đề tài tín ngưỡng dân gian Hải Phòng và tín ngưỡng thờ nữ thần ngày một nhiều Phổ biến nhất là trên các trang mạng tin tức, hay các diễn đàn bàn luận những vấn

đề tôn giáo, tín ngưỡng Trên website chính của Đạo Mẫu Việt Nam, tác giả

Ngô Đăng Lợi - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng có viết về Nữ thần

và lễ tục thờ nữ thần ở miền bể Hải Phòng Bài viết chính là sự phác thảo

bước đầu của tác giả về tín ngưỡng thờ thần linh nói chung và đặc biệt là tín ngưỡng thờ nữ thần ở Hải Phòng nói riêng

Về đền Bà Đế, theo tìm hiểu của người viết, từ trước tới nay chưa có một công trình khảo sát, nghiên cứu nào viết chi tiết, cụ thể về di tích này Thực sự cho đến nay, đền Bà Đế vẫn chưa được công nhận là một di tích “Lịch sử - văn hóa” mà chỉ mang tính chất một di tích danh lam thắng cảnh được nhiều người

biết tới Với luận văn “Văn hóa biển trong một số lễ hội dân gian vùng Đồ Sơn”,

tác giả Vũ Thị Thanh Hương chỉ khái quát một phần sơ lược về di tích này, chủ yếu chỉ đề cập đến trọng tâm yếu tố biển xuất hiện trong bài

Cũng như các câu chuyện viết về Bà Đế lần lượt được các tác giả, các nhà nghiên cứu quan tâm Phải kể đến các công trình đã viết về ngôi đền này

như trong cuốn Non nước Đồ Sơn của PGS.TS Trịnh Cao Tưởng do nhà xuất

bản Văn hóa phát hành vào năm 1978 Cuốn sách hoàn toàn chỉ khai thác câu chuyện truyền thuyết về Bà Đế được lưu truyền trong dân gian theo sưu tầm của chính mình và khía cạnh “Mẹ văn hóa”, ảnh hưởng của Bà Đế đối với

Trang 8

cuộc sống của người Đồ Sơn, hiện hữu trong bài viết của ông Tiếp theo là

sách Đồ Sơn thắng cảnh và du lịch do nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành vào

năm 1997 của hai tác giả Đình Kính và Lưu Văn Khuê viết về ngôi đền linh thiêng nằm trên vùng đất có ba con sông đổ ra biển này

Vào năm 2003, tác giả Đinh Phú Ngà cho ra đời cuốn Đồ Sơn - lịch sử

và lễ hội chọi trâu, mà theo ông Dương Trung Quốc - Tổng thư ký hội sử học

Việt Nam thấy rằng: đây là một cuốn sách rất bổ ích và đáng xem Cuốn sách

đề cập đến Bà Đế và câu chuyện về bà như một nhân vật được tôn vinh và thờ phụng lâu đời, rất quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người dân Đồ Sơn Đến tháng 9 năm 2006, nhà xuất bản Hải Phòng cho ra mắt bạn đọc cuốn

Du lịch văn hóa Hải Phòng của tác giả Trần Phương thuộc Hội văn nghệ dân

gian thành phố giới thiệu nhiều về các di tích thuộc khu vực Đồ Sơn, đặc biệt

có đền Bà Đế

Trên đây là những công trình, những tư liệu mà trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi đã tham khảo và kế thừa mặc dù có thể khẳng định rằng các bài viết vẫn mang tính chất giới thiệu một điểm du lịch, chủ yếu dừng lại ở dạng khảo tả sơ lược, chưa làm rõ được sự phụng thờ và các giá trị phụng thờ Bà Đế Riêng ở chương trình nghiên cứu cao học thì chưa có đề tài nào viết về việc phụng thờ Bà Đế ở Đồ Sơn, Hải Phòng Với những chứa đựng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, việc phụng thờ Bà Đế ở Đồ Sơn thể hiện đậm nét tín ngưỡng thờ nữ thần của cư dân miền biển Hải Phòng cần có sự nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn về mọi mặt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu, tập hợp các tư liệu thông tin về các thành tố văn hóa vùng

Đồ Sơn từ đó làm sáng tỏ những giá trị văn hóa lịch sử, những tác động tạo nên đặc trưng không gian văn hóa tại vùng đất Đồ Sơn, Hải Phòng Đồng thời, khái quát về vị trí phụng thờ Bà Đế trong không gian đó

Trang 9

- Qua điều tra, khảo sát thực trạng di tích và lễ hội đền Bà Đế hiện nay tìm hiểu được truyền thuyết sự tích cuộc đời Bà dẫn đến việc hình thành di tích, cũng như việc cấu thành nên lễ hội Đồng thời, xem xét đến vai trò, ý nghĩa của tục thờ Bà Đế trong quá khứ và giá trị của sự phụng thờ đó trong bối cảnh hiện nay Tìm hiểu sự biến đổi của việc thờ phụng đó trong xu thế đổi mới của đất nước, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị về việc bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích và lễ hội trong đời sống hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đền Bà Đế Liên quan đến di tích này chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu các truyền thuyết dân gian về nhân vật được thờ Từ đó dẫn đến việc hình thành di tích này và tín ngưỡng phụng thờ bà như thế nào

- Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào khu vực di tích thờ phụng Bà Đế tại phường Ngọc Hải, Đồ Sơn, Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này thuộc lĩnh vực nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn cho nên được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: quan trọng nhất là phương pháp nghiên cứu liên ngành: lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, văn hóa dân gian…

5.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Đây là phương pháp chủ yếu để thực hiện luận văn này, bao gồm tổng hợp nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trong quá trình tiến hành, tác giả đã thu thập các thông tin qua sách báo, các nguồn tin trên mạng internet, các công trình nghiên cứu khác về hoạt động tín ngưỡng tại di tích thờ Bà Đế ở Đồ Sơn, Hải Phòng làm cơ sở phân tích, đánh giá trong luận văn

5.2 Phương pháp khảo sát điền dã

Tiếp cận trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng cách thực hiện công việc quan sát tại các di tích, cùng với đó là miêu tả, phỏng vấn một số những

Trang 10

khách du lịch ngẫu nhiên khi họ đến tham quan di tích Đây là phương pháp quan trọng để tiến hành nghiên cứu nhằm góp phần cho kết qủa của luận văn mang tính xác thực

5.3 Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp

Từ những tài liệu đã thu thập được, kết hợp với kết quả khảo sát thực địa và từ các thông tin của những người được phỏng vấn, tác giả tiến hành xử

lí theo từng bước nhỏ, phân tích và đưa ra kết luận

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn tập hợp một cách có hệ thống những tư liệu liên quan đến

di tích và lễ hội đền Bà Đế tại phường Ngọc Hải, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

- Tìm hiểu sự phụng thờ Bà Đế qua di tích và lễ hội từ trong quá khứ và hiện tại để thấy rõ giá trị việc thờ Bà Đế trong bối cảnh hiện nay

- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, lễ hội phục vụ đời sống văn hóa tâm linh tín ngưỡng của nhân dân địa phương cũng như của thành phố Hải Phòng

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn được chia thành 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Ngoài ra còn có phụ lục và tài liệu tham khảo

Phần nội dung được kết cấu gồm có 03 chương:

Chương 1: Không gian văn hóa vùng Đồ Sơn, Hải Phòng

Chương 2: Di tích và lễ hội đền Bà Đế

Chương 3: Việc phụng thờ Bà Đế trong đời sống của cư dân Đồ Sơn hiện nay

Trang 11

Chương 1 KHÔNG GIAN VĂN HÓA VÙNG ĐỒ SƠN, HẢI PHÒNG 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của thành phố Hải Phòng

1.1.1 Đặc điểm địa lý, địa hình

Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc

Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là 1520,7 km2 (số liệu thống kê năm 2006) chiếm 0,45% diện tích tự nhiên cả nước bao gồm: phần đồng bằng ven biển và phần biển - hải đảo Về ranh giới hành chính: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương và phía Đông giáp biển Đông Thành phố có tọa độ địa lý: từ

20030'39" - 21001'15" vĩ độ Bắc, từ 106023'39" - 107008'39" Kinh độ Đông Hải Phòng còn có huyện đảo Bạch Long Vỹ nằm giữa vịnh Bắc Bộ, có tọa độ

từ 20007'35" - 20008'36" Vĩ độ Bắc và từ 107042'20" - 107044'15" Kinh độ Đông [7, tr 4]

Vùng đất ven biển Hải Phòng bao gồm 7 quận huyện đó là các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Cát Hải, Hải An và Đồ Sơn Các quận, huyện này đều có địa hình thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp Đây là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng núi ven bờ Đông Bắc, tạo nên một vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội với điều kiện giao thông thuận lợi

Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km trên 1 km2 Sông ngòi Hải Phòng đều là các chi lưu sông Thái Bình đổ

ra vịnh Bắc Bộ Bởi sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Văn Ôn ở độ cao trên 1.170 m thuộc tỉnh Bắc Kạn, về đến Phả Lại thì hợp lưu cùng sông Thương và sông Lục Nam, chính là nguồn của sông Thái Bình chảy vào đồng bằng trước

Trang 12

khi đổ ra biển với độ dài 97 km và chuyển hướng theo Tây Bắc - Đông Nam

Từ hợp lưu đó, các dòng chi chảy trên độ dốc nhỏ dần và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lưới các cấp chi lưu như sông Kinh Môn, Kinh Thầy, Văn Úc, Lạch Tray, Đa Độ… đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính

Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi, trải dài qua 7 quận huyện, tiếp giáp với Quảng Ninh phía Bắc và Thái Bình phía Nam, chiếm tỷ lệ 0,019 lần so với bờ biển Việt Nam Bờ biển

có hướng một đường cong lõm của bờ biển vịnh Bắc Bộ, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo Đây là điểm mút của dải đồi núi chạy từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa thạch) tuổi Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m , độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ưu thế về cấu trúc tự nhiên này đã tạo cho Đồ Sơn có một vị trí chiến lược quan trọng trên mặt biển, đồng thời cũng là một thắng cảnh nổi tiếng Dưới chân những đồi đá có bãi tắm, có nơi nghỉ mát và khu an dưỡng có giá trị Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất có đảo Bạch Long Vỹ Biển, bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành phố duyên hải Đây cũng là thế mạnh tiềm năng của nền kinh tế địa phương

1.1.2 Lịch sử hình thành vùng đất và con người Hải Phòng

Hải Phòng là một trong những cảng biển quan trọng nhất của miền Bắc, một vùng đất cổ nổi tiếng trong lịch sử do nữ tướng Lê Chân khai phá vào

những năm 40 của thế kỷ I với tên gọi Hải tần phòng thủ Vùng đất này trong

lịch sử đã từng nổi tiếng với nhiều chiến công oanh liệt gắn với sông Bạch Đằng như trận thủy chiến vào năm 938 của Ngô vương Quyền Tiếp đó là trận đánh do Lê Hoàn chỉ huy vào năm 981 Sau cùng là Trần Hưng Đạo lãnh đạo

Trang 13

quân dân nhà Trần đánh đuổi quân xâm lược vào năm 1288 Đến triều đại nhà Hậu Lê (giai đoạn Lê Sơ), vùng này nằm trong xứ Hải Dương (xứ Đông) Dưới thời nhà Mạc, Hải Phòng được xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh Sau đó, từ nhà Lê Trung Hưng đến nhà Nguyễn, vùng này đều thuộc trấn Hải Dương và sau này là tỉnh Hải Dương (1831) [2]

Năm 1870 - 1873, Bùi Viện, dưới sự tiến cử của Doãn Khê đã được vua

Tự Đức giao thực hiện việc xây dựng một bến cảng bên cửa sông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên, gọi là nha Hải Phòng sứ Một chiêu thương Cục của Nhà nước phong kiến triều Nguyễn cũng được thành lập, làm nhiệm vụ chuyên trách việc buôn bán với nước ngoài Theo đề nghị của Bùi Viện, từ châu thương cục đã mở thêm một chi điếm ở Ninh Hải Chi điếm này sau trở thành phố Chiêu Thương (khu vực nhà máy xi măng hiện nay) rất sầm uất Sau đó tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và thực dân Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý thương

mại ở vùng cảng này, gọi là Hải Dương thương chính quan phòng [35] Từ đó

cho thấy nguồn gốc địa danh Hải Phòng có thể là từ: Tên gọi rút ngắn trong

cụm từ Hải tần phòng thủ, của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỷ I Tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan thời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương

thương chính quan phòng Sau này, nơi đây mở cảng biển quốc tế thì các

thương buôn người Việt, người Hoa tụ họp cùng nhau sinh cơ lập nghiệp Họ buôn bán chủ yếu các mặt hàng cơ bản như nông, lâm, thủy và hải sản khiến cho bộ mặt phố xá ở khu vực này dần thay đổi Và từ đó, dần dà hình thành nên thành phố cảng Hải Phòng sầm uất [25]

Năm 1887, người Pháp tách vùng lân cận cảng Ninh Hải ra từ tỉnh Hải Dương để cho thành lập tỉnh Hải Phòng Ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hải Phòng Thành

Trang 14

phố Hải Phòng được tách ra từ tỉnh Hải Phòng, phần còn lại thành lập thành tỉnh Kiến An Đến năm 1962 thì tỉnh Kiến An được nhập về thành phố Hải Phòng [3]

Theo các tài liệu lịch sử và di chỉ khảo cổ học khai quật ở Việt Khê - Cái Bèo… thì vùng đất Hải Phòng đã có người sinh sống cách đây gần một vạn năm Theo các gia phả, sắc thần, qua điều tra điền dã cho thấy các dòng

họ của người Hải Phòng đa dạng, quần tụ cư dân từ bốn phía, trong ngoài Từ miền núi theo xuống đồng bằng, xuống biển thành nhiều đợt, vỡ hoang, lấn biển đến đâu lập nghiệp đến đó Cư dân Hải Phòng có nguồn gốc hình thành,

ra đời từ trang An Biên gắn với nữ tướng Lê Chân những năm 40 - 43 và ngày càng mở ra hướng biển đặt nền móng cho các thế hệ tiếp theo

Đầu thế kỷ 19, có rất nhiều thuyền bè, thương nhân của nước ngoài thường qua lại trao đổi hàng hóa và buôn bán ở vùng Cảng Hải Phòng ngày nay Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng đã biến nơi đây thành một hải cảng lớn có tiếng, còn được gọi là cảng sáu kho Bởi duy nhất ở khu vực cảng này có sáu kho bãi lớn được người Pháp xây dựng vào năm 1883 và hoàn thành năm 1888 [7, tr 158] Quá trình xây dựng Cảng cũng là quá trình kiến trúc Hải Phòng trở thành một công trình quy mô phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Khi đô thị Hải Phòng hình thành, tình hình dân cư ngoại thành tương đối ổn định nhưng nội thành có nhiều biến động Đại bộ phận dân cư ven biển đều sinh sống trong các cộng đồng cùng với những người làm nghề khác mà đặc trưng nhất vẫn là cư dân nông nghiệp

Lúc này, hầu hết cư dân sinh sống ở Hải Phòng đều bị thực dân Pháp bần cùng hóa từ những nông dân phá sản bị đẩy ra thành phố làm phu phen

Vì thế, dân Hải Phòng là dân từ các nơi đến buôn bán, làm ăn [7, tr 158] Có

lẽ chính bởi hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh xã hội và đặc điểm hình thành dân

Trang 15

cư đặc biệt đã tạo cho sự hình thành và phát triển tính cách của người dân Hải Phòng thật đặc biệt Bởi kẻ thù chung của dân tộc quá hung ác, thiên nhiên vô cùng ngiệt ngã, cuộc sống bi ai lại bị thực dân đô hộ khiến cho những người dân nơi đây tự tạo dưng cho mình một thứ vũ khí tinh thần Đó là sự đoàn kết đấu tranh và rất yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tạo thành thứ sức mạnh, khi cần, có thể hi sinh tất cả vì nghĩa lớn Để ủng hộ nghĩa quân rèn vũ khí, dân

Đồ Sơn đã đốt đình Bảng, một trong số những đình làng nổi tiếng lúc ấy để lấy than cung cấp cho quân của Quận He Nguyễn Hữu Cầu Bị áp bức bóc lột tàn tệ, họ đã đánh trả lại bọn cai lý Đặc biệt, những người lao động Hải

Phòng “làm việc trên cửa ngõ giao thông quốc tế và giao thông trong nước;

đồng thời họ cũng sớm tiếp nhận những trào lưu cách mạng quốc tế truyền vào Việt Nam bằng sách báo qua Cảng Hải Phòng Vì vậy, mọi hoạt động của

họ là sự thể hiện một cách rõ rệt tinh thần dân tộc với tinh thần quốc tế vô sản” Bởi vậy, lâu dần đã tạo nên tính cách người Hải Phòng: cần cù, xốc vác,

chịu đựng gian khổ, dám hy sinh, xốc nổi nhưng giàu lòng vị tha, dễ xí xóa thù vặt để cùng nhau đoàn kết, tiếp thu cái mới rất nhanh và đến với cách mạng cũng nhanh [7, tr 159]

1.2 Khái quát về địa danh và con người Đồ Sơn

1.2.1 Đồ Sơn xưa và nay

Đồ Sơn, miền đất “Sơn thủy hữu tình” với thế “Cửu Long chầu Ngọc”, quần tụ cộng đồng dân cư được hình thành khá sớm với những công trình văn hóa, lịch sử và tâm linh đậm đà bản sắc dân tộc; là địa bàn giữ vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của thành phố Cảng Hải Phòng

và vùng Đông - Bắc duyên hải Bắc Bộ, tự hào xứng danh “Pháo đài thép bên

bờ biển Đông” [3, tr 3] Lịch sử đã minh chứng, cùng với tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, ở thời kỳ nào, Đồ Sơn cũng được xác định là địa bàn chiến lược quan trọng trong thế trận phòng thủ chống lại các cuộc

Trang 16

xâm lược của kẻ thù Trải qua thăng trầm của lịch sử, miền đất “Nơi đầu sóng ngọn gió” này luôn là nơi tụ nghĩa, căn cứ của nhiều phong trào nông dân chống lại ách thống trị, cường quyền của chế độ thực dân - phong kiến

Đồ Sơn được biết đến là một vùng đất đậm nét văn hóa truyền thống và

là một địa danh du lịch nổi tiếng của Việt Nam Quận Đồ Sơn nằm về phía Đông Nam nội thành thành phố Hải Phòng và nối với khu nội thành bằng đường 353, dài 22 cây số Ba phía của bán đảo, phía Đông, phía Tây và phía Nam đều là biển Phần đất liền của bán đảo nối với huyện Kiến Thụy Quận

Đồ Sơn có 4.248,07 ha diện tích tự nhiên, có 22,5 km bờ biển và 45.650 nhân khẩu (tính đến ngày 31/12/2010), có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường Vạn Sơn, Vạn Hương, Ngọc Hải, Ngọc Xuyên, Bàng La, Hợp Đức và Minh Đức

Đồ Sơn nằm về phía Tây Nam đảo Cát Bà, Đông Nam cửa sông Lạch Tray, Đông Bắc sông Văn Úc

* Tên gọi Đồ Sơn

Có thuyết cho rằng xa xưa Đồ Sơn có tên là Nê Lê (có nghĩa là cây Lê mọc trên bùn) Bởi ở Đồ Sơn ngày nay vẫn còn có thứ dưa dại rất to, không rõ

có phải loại quả quý - “bách nhãn lê” được nhắc tới trong sách Đồng Khánh

địa dư chí lược Những người theo Claude Madroll (Le Tonkin ancien

BEFEO, XXXVII, 1937, 262-332), căn cứ theo tên thành Nê Lê, giải thích Nê

Lê là bùn đen [35] Từ đó cho rằng Nê Lê ở vùng Đồ Sơn - Hải Phòng, bởi

vùng này có nhiều bùn đen Theo cuốn “Thành Nê lê thời Ashoka”, tác giả

Trịnh Minh Hiên cho rằng, đây là nơi đầu tiên ở nước ta tiếp nhận Phật giáo

do các nhà sư Ấn Độ truyền vào và từ đây, đạo Phật được truyền qua Luy Lâu (Bắc Ninh ngày nay), rồi truyền sang Lạc Dương, Trung Quốc

Tuy nhiên, địa danh Đồ Sơn đã có từ rất lâu; có sách giải thích rằng sở

dĩ vùng này tên như vậy là vì nơi đây xưa kia vốn có những ngọn núi nhô lên

Trang 17

trên những vũng bùn lầy “Đồ” là bùn, “Sơn” là núi Lại có người bảo rằng núi ở đây nhấp nhô như trận đồ bát quái, nên dân quen gọi là Đồ Sơn Cũng

có sách nói núi non ở đây là địa đầu chống giặc, nên có tên Đầu Sơn (núi phía địa đầu), dần dà gọi chệch đi, thành Đồ Sơn

Thời Lê, thầy địa lý Tả Ao biết ở vùng núi này có huyệt phát tích đế vương nên đã tìm đến Khi ông tới chợ Nghi Dương vào quán nghỉ chân uống nước, hỏi thăm đường, bà hàng nước mách: “Ông cứ đi qua Cổ, rồi qua Họng

là đến Đầu” Thầy địa lý tưởng bà hàng nước nói lỡm Nhưng rồi trên đường

đi, ông thấy phải qua đất Cổ Trai, qua đò Họng mới sang được Đầu Sơn Chuyện Tả Ao đến Đồ Sơn là truyền ngôn Còn việc đầu thế kỷ XVI nhân có lời sấm truyền “phương Đông có khí sắc thiên tử” nên tháng 4 năm Tân mùi (1511) vua Lê Tương Dực sai Nghĩa Quốc Công Nguyễn Văn Lang đem thuật

sĩ ra Đồ Sơn để yểm bùa trấn áp thì Đại Việt sử ký toàn thư có chép Một số bản đồ địa lý thời Pháp cũng ghi đảo Hòn Dáu là Đầu Sơn Thư của lãnh sự

Hà Nội Kergaradec gửi Thống đốc Nam Kỳ ngày 30-5-1877 cũng nhắc đến

tên Đầu Sơn: “Tỉnh Hải Dương cách đây 3 năm từng là địa bàn của phong

trào (hải tặc) quan trọng nhất… Cách đây vài ngày, cũng bọn ấy đã cướp phá làng Đầu Sơn, cách Hải Đăng không xa…” Vậy có thể coi Đầu Sơn là tên

dân gian, còn Đồ Sơn là tên chữ [31, tr 15]

Trong thư tịch cũ nhất là Việt sử lược đời nhà Trần, thế kỷ XIII, nhân nói về việc xây tháp Tường Long của vua Lý Thánh Tông có ghi: “Năm Mậu

Tuất, niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ 5 (1058), mùa thu, tháng 9, vua ngự

ra cửa biển Ba Lộ, nhân đó ngự ra chỗ xây tháp ở Đồ Sơn…” Vậy nên, chí ít

tên gọi Đồ Sơn cũng có vào đời nhà Lý

Trải qua hàng triệu năm vận động của trái đất, vùng đất Đồ Sơn mới được ổn định về địa mạo Địa hình đa dạng, có vùng đất mới, có vùng đã

Trang 18

được hình thành từ lâu đời, đồi núi, đồng bằng kề nhau, chịu ảnh hưởng của địa hình bị ngập nước, có những dãy đồi núi diệp thạch và là loại bờ biển bồi tích phù sa Do đó, Đồ Sơn được coi là vùng được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều thế mạnh về kinh tế, đặc biệt về tài nguyên biển Người xưa đã hình tượng hóa Đồ Sơn như chín con rồng đang hướng về viên ngọc (Hòn Dấu)

Sách Đại Nam nhất thống chí, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên

soạn, khởi thảo năm 1864, hoàn thành vào năm 1882 gồm 28 tập, 31 quyển,

có ghi: “Núi Đồ Sơn ở cách huyện Nghi Dương 15 dặm về phía đông nam, sát biển, chu vi 30 dặm, cao 80 trượng, ở giữa có 9 ngọn, nên cũng gọi là núi Cửu Long, trong ấy có một ngọn lớn hơn cả gọi là Mẫu Sơn”, thơ Nguyễn Bỉnh

Khiêm có câu: “Trung lưu nhất đế trụ, Chướng đặc bách xuyên đông” (Một

cột đá đứng giữa dòng; ngăn phía đông trăm con sông), tức là chỗ này Dưới núi là ba xã Đồ Sơn, Đồ Hải và Ngọc Sơn, 2 ngọn núi thứ 7, thứ 8, có nước chảy quanh ôm lấy, tục gọi là Vụng Mát, rộng hơn 100 trượng, thủy triều lên sâu 1 trượng 5 thước, thủy triều xuống sâu 7 thước, thuyền bè qua lại đậu dừng, duy dưới chân núi có nhiều mầm đá, theo thủy triều khi ẩn khi hiện; thuyền không dám đến gần, một ngọn đằng sau về phía hữu, đứng sừng sững một mình, nên gọi là Độc Sơn, các núi ở phía tả, đối với đồi Song Ngư ở đằng

xa, tục gọi là cồn Dừa”

Cũng sách trên chép: “Trấn Đồ Sơn ở cách huyện Nghi Dương 15 dặm

về phía đông nam, rộng 75 trượng, thủy triều lên 7 thước 5 tấc, thủy triều xuống sâu 1 thước 5 tấc, đường thủy cách tỉnh (Hải Dương) một ngày rưỡi,

có đặt thủ sở”

Địa danh Đồ Sơn được ghi chép nhiều trong thư tịch cổ, gắn với huyện Nghi Dương (Kiến Thụy) và được các triều đình phong kiến coi là một điểm phòng thủ quan trọng của quốc gia Vào thời các vua Hùng dựng nước, Đồ

Trang 19

Sơn là đất của bộ Thang Tuyền, một trong 15 bộ của nước Văn Lang Các sử gia nhà Nguyễn ghi chép: “Đời Tần thuộc lộ Hải Đông, đến thời Nguyễn thuộc Minh là đất của phủ Tân An Đến thời Lê Quang Thận mới đặt vào phủ Kinh Môn lộ, trấn Hải Dương” Thời Tây Sơn Nguyễn Huệ, đất này được đổi

là trấn Yên Quảng Năm 1802, triều Nguyễn đặt lại tên gọi của thời Lê Năm

1820, bốn huyện Nghi Dương, An Dương, Kim Thành và An Lão hợp thành phủ Kiến Thụy Trong huyện Nghi Dương, thắng cảnh bậc nhất là vùng đất phía Đông Nam 15 dặm, sát biển, đó là Đồ Sơn [3, tr 11]

Vùng đất quận Đồ Sơn hiện nay là các phần địa danh xưa: Tổng Đồ Sơn gồm các xã Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Sơn (sau này được đổi là Ngọc Tuyền rồi Ngọc Xuyên); các xã Bàng Động, Phụ Lỗi thuộc tổng Nãi Sơn, Tiểu Bàng, Trung Lộc thuộc tổng Thiên Lộc (Bàng La - năm 1945), xã Đức Hậu, Nghĩa Phương, Tư Sinh thuộc tổng Tư Sinh và xã Quý Kim thuộc tổng Lão Phong, huyện Nghi Dương (từ năm 1945 thuộc xã Hợp Đức và nay là các phường Hợp Đức, Minh Đức)

Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm vùng đất Ninh Hải Trước yêu cầu của cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa, ngày 11/9/1887, tỉnh Hải Phòng được thành lập trên cơ sở các phủ, huyện An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Tiên Lãng của tỉnh Hải Dương Tỉnh lỵ đặt tại Ninh Hải Chỉ một năm sau, với tốc độ đô thị hóa nhanh, ngày 19/7/1888, thành phố Hải Phòng (nằm trong tỉnh Hải Phòng) được thành lập, được xếp là thành phố loại 1 ngang với Sài Gòn và Hà Nội Sau đó, triều đình Huế “nhượng” thành phố Hải Phòng cho người Pháp Mười năm sau, ngày 31/1/1898, thành phố Hải Phòng tách khỏi tỉnh Hải Phòng (tỉnh lỵ tỉnh Hải Phòng chuyển sang Phủ Liễn) Tổng Đồ Sơn, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy thuộc tỉnh Hải Phòng, sau đổi là Phủ Liễn và Kiến An

Trang 20

Thực dân Pháp xây dựng Hải Phòng thành cửa khẩu giao lưu quốc tế, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, đầu cầu quân sự trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương Chúng xây dựng đèn biển Hòn Dấu (Đồ Sơn), Long Châu (1884) dẫn đường cho tàu biển ra vào cảng Hải Phòng Vùng đất Đồ Sơn được triều đình nhà Nguyễn nhượng cho thực dân Pháp Ngày 18/5/1909, chúng thành lập thị trấn (Centre Urbain) Đồ Sơn gồm Đồ Sơn phố và Đồ Hải phố, còn Ngọc Xuyên chuyển thuộc tổng Nãi Sơn Từ đầu thế kỷ 20, với những bãi cát dài phẳng mịn, vịnh nước êm đềm, phong cảnh biển biếc non xanh hữu tình, Đồ Sơn đã trở thành khu du lịch nổi tiếng Các dinh thự, nhà hàng, khách sạn được xây dựng làm nơi nghỉ mát cho các nhà tư sản, quan chức trong chính quyền thực dân Khi đất nước được giải phóng, Đồ Sơn từng bước trở thành khu du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước [3]

1.2.2 Cư dân Đồ Sơn

Đồ Sơn còn là một trong những địa phương có nền văn hóa tiêu biểu của cư dân ven biển, được hình thành sớm, gắn liền với quá trình hội tụ dân

cư, hình thành cộng đồng làng xã và không ngừng được bồi đắp, phát triển qua các thế hệ Cư dân Đồ Sơn trải qua hàng ngàn năm lịch sử có nhiều thay đổi, nhất là về mặt cơ học Địa bàn này là vùng tiền tiêu bảo vệ vùng Đông Bắc của Tổ quốc, người ta thường coi là yết hầu Hầu hết các cuộc xâm lăng của phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp, phát xít Nhật đều nhằm vị trí Đồ Sơn Ngay cả các cuộc khởi nghĩa nông dân và bọn hải phỉ đều chiếm nơi đây làm căn cứ địa Những trận sóng thần, bão bể thiên tai kéo theo sau hàng ngàn hậu quả gây hại như đất nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, rồi dịch tễ…

Bởi vậy, dân ở đây thường phải sơ tán cho qua cơn hạn mới trở về quê

cũ Đó là những câu chuyện mà các cụ già thường truyền lại di ngôn: về Mã Viện sát phu dâm phụ, loạn Canh Thân, Tân Dậu (1740 - 1741), hay trận đại dịch khiến dân Đại Bàng chết đến nửa làng…

Trang 21

Mặt khác, vùng này khí hậu trong lành, lại sẵn nước ngọt, nhiều người làm nghề biển không may trôi dạt về đây, lại thấy cư dân bản địa cởi mở nên

đã ở lại Mấy chục năm trước, khi đắp xong đê Điện Biên từ cống Họng đến Quần Mục, hoàn thành cống Họng thì dân ở nhiều nơi về Bàng La định cư Khi Đồ Sơn trở thành khu du lịch lớn thì người tứ xứ, kể cả ngoại kiều đến làm ăn đông đúc, số lượng áp đảo cả dân đến định cư trước [31, tr 18]

Cư dân Đồ Sơn không rõ mốc thời gian có người định cư ở đây, nhưng

họ đều thống nhất thờ “Lục vị tiên công” - sáu vị đầu tiên đến khai sơn phá thạch mặc cho khó khăn, gian khổ Đời đời nhớ đến công lao của họ, người ở đây lập miếu thờ, song, trải qua nhiều biến cố lịch sử, miếu mạo đã không còn nên họ lập nghè thờ chung ở khu Vạn Hương Duệ hiệu của các ngài mang đậm huyền tích nhưng các dòng họ ở Đồ Sơn vẫn nhận là thủy tổ của mình:

- Họ Phạm là di duệ của Cao Sơn Thần Vương

- Họ Lê Bá, Lê Đình là di duệ của Hải Bộ Thần Vương

- Họ Nguyễn Khắc là di duệ của Thanh Sam Thần Vương

- Họ Lương gồm 7 chi đều là di duệ của Nuôi Nường Thần Vương

- Họ Hoàng là di duệ của Đại Hùng (hay Đại Hoàng) Thần Vương

- Họ Đinh là di duệ của Chàng (hay Tràng) Ngọ Thần Vương

Ngoài ra còn một số dòng họ khác như Nguyễn, Ngô, Phạm, Cao, Bùi, Trần…, một số họ chuyên làm muối thì cho rằng dòng họ gốc ở Đông Triều xuống lập làng khai thác thế mạnh của tài nguyên vùng ven biển Các họ đều

có gia phả, nhưng qua loạn lạc và cải cách ruộng đất đều đã mất hết Mấy năm nay, hầu hết các họ đều viết lại gia phả dựa theo ký ức hồi cố của các cụ già, các chí phái [31, tr 19]

Căn cứ vào tục chọi trâu tế thủy thần, sách Đại Nam nhất thống chí cho rằng dân tổng Đồ Sơn thuộc chủng Đản Nãi, bởi theo Lĩnh Nam chích quái,

Trang 22

người Đản sống ở gò dưới biển, chuyên nghề bắt cá, giao dịch với man dân

đổi lấy thóc gạo Còn sách Quảng Đông tân ngữ cho rằng đó là giống người

lấy thuyền làm nhà, rất giỏi bơi lặn, sống bằng nghề đánh cá… họ còn được gọi là “Đăm Man” hay “Long hộ” Ngư dân ở đây thuộc chủng tộc Đản tức

Mã lai cổ, họ dựa vào gió mậu dịch để đi đánh cá, rồi định cư ở ngư trường mới Xuất phát từ câu ca “Dân Trà Cổ, tổ ở Đồ Sơn”; người ta cũng nghĩ dân Trà Cổ ngày nay vốn là dân Đồ Sơn xưa chạy ra biên giới lánh nạn do triều đình nhà Lê - Trịnh khủng bố sau thất bại phong trào nông dân khởi nghĩa của Quận He (Nguyễn Hữu Cầu) Có nhiều truyền thuyết về cư dân cổ của vùng biển Đồ Sơn Người dân Đồ Sơn kể rằng họ Hoàng Gia là dòng họ đầu tiên, vốn có từ Mộ Trạch, Hải Dương, theo lời kêu gọi lập ấp của nhà Lý, đến vùng đất này khai hoang lập nghiệp [7, tr 41] Một số khác lại cho rằng họ Phạm ở Ngọc Xuyên mới là những người đến đây khai phá vùng đất Có ý kiến khẳng định, những ngư dân đầu tiên của Đồ Sơn là dân chài từ vùng Quảng Xương, Thanh Hóa bị bão trôi dạt đến đất này hoặc là dân trốn sưu dịch ở các nơi khác dồn về vào thời kỳ Lê Trịnh [8, tr 35] Đại bộ phận cư dân ven biển Đồ Sơn Hải Phòng đều sinh sống định cư trên đất liền thành các thôn làng, một hình thức tổ chức xã hội cơ bản như phần lớn cư dân nông nghiệp khác Làng ven biển là điểm tụ cư của ngư dân ở ngay trên bãi cát sát biển hay lùi xa vào phía trong bãi một chút Cư dân các làng này vẫn còn giữ lại hồi ức là họ từ một nơi nào đó tới lập cư ở đây, từ biển vào, có lẽ từ Thanh Hóa theo đường biển vào Đồ Sơn, có gia đình dòng họ lại từ Hải Dương hay các tỉnh đồng bằng khác đi ra [21, tr 211] Các sách địa chí cổ chép dân Đồ Sơn xưa thường mạnh tợn, uống rượu khỏe Việc hội hè ma chay cưới xin rất xa xỉ Ở vùng đất đầu sóng ngọn gió, thường xuyên phải đối mặt với bọn cướp bể, rồi giặc ngoại xâm, dân Đồ Sơn thường phải tự bảo vệ tính mạng, tài sản của mình [31, tr 20]

Trang 23

1.3 Không gian văn hóa vùng đất Đồ Sơn

Những sinh hoạt văn hóa cổ truyền gắn bó chặt chẽ với lao động sản

xuất, với nghề nghiệp, Đồ Sơn có “Bát vạn chài” thì cũng có “Bát vịnh” - tám

bài thơ nổi tiếng - cũng có những câu ca dao, câu hát giao duyên trữ tình, phản ánh tinh thần lạc quan trong cuộc sống và tình yêu quê hương xứ sở

Hiện nay ở Đồ Sơn chia làm 2 khu vực, khu nội thị có dân cư sinh sống

và khu nghỉ mát (khu I, khu II và khu III), bao gồm nhiều khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và các bãi tắm

Xưa kia, toàn bộ Đồ Sơn chỉ một cụm dân cư kéo dài từ khu nội thị hiện nay đến mút cùng con đường 14 (đường 353 hiện nay) , ở đỉnh ngọn Vạn Hoa và chia làm tám vạn (Bát Vạn) - những chỗ đỗ thuyền to người Đồ Sơn gọi là vạn, nhỏ gọi là vụng, nhỏ hơn nữa gọi là xó

Chỗ ngã ba gần Hang Dơi là Vạn Tác, kế đó là Vạn Bún (vị trí nhà nghỉ Công Đoàn, khách sạn Hải Âu, khách sạn Lâm Nghiệp) Nơi có rừng thông nhô ra sát biển là Vạn Ngang Qua Vạn Ngang, phía Tây là Vạn Hương, bên phía đông là Vạn Thốc (còn gọi là Vạn Thúc hay Vạn Thủ) Cuối cùng bán đảo là Vạn Hoa Vạn Lê và Vạn Lẻ ở chỗ ngang Vạn Bún, Vạn Ngang nhưng nằm trên bờ biển phía Tây

Tất cả các vạn trên đều là nơi tàu thuyền có thể neo đậu và giao lưu buôn bán Mỗi vạn lại có những đặc điểm khác nhau về dân cư, điều kiện địa

lý, cách sinh hoạt… nên hình thành tên gọi khác nhau

Vạn Thốc: là nơi bị thốc gió mạnh và trực tiếp khi có bão về hay chỉ là gió mùa Đông Bắc

Vạn Hoa: là nơi có chiều dài bãi cát lý tưởng cho tàu thuyền neo đậu nên việc giao lưu buôn bán tấp nập, có phong cảnh đẹp như một vườn hoa

ngát hương thơm, “Vạn Hoa cuối núi là miền cảnh tiên”

Vạn Lê: chính là vạn sầm uất nhất khi thuyền đánh cá cập bến, người buôn cá nặng nề kéo lê các bồ cá trên bãi

Trang 24

Vạn Hương: nằm cạnh Vạn Hoa, ở vị trí sâu kín hơn Vì hương thì thường đi với hoa nên người ta gọi luôn là Vạn Hương

Vạn Lẻ: một mình một vị trí riêng lẻ, núi non hiểm trở, cách biệt với các vạn chài khác nên được gọi như vậy

Vạn Tác: xưa kia, do giọng địa phương rất đặc trưng, người Đồ Sơn nặng tiếng không phát âm được âm “tr”, mà lại nói thành âm “t” Ví dụ: con trâu gọi thành con tâu, đi trước đọc ra đi tước… Cái tên Vạn Tác cũng từ đó

mà ra, bởi Vạn Tác vốn có tên là Vạn Trước, vì vạn chài này trước chùa Hang Song như thế, người Đồ Sơn sẽ nói thành Vạn Tước Để khỏi phạm húy với thần Điểm Tước - thành Hoàng Làng nên phải gọi chệch ra thành Vạn Tác [35, tr 83]

Dân Đồ Sơn có thơ tả cảnh đẹp tám vạn chài của mình như sau:

Đồ Sơn cảnh đẹp tuyệt vời Dưới chân sóng vỗ, trên đồi thông reo Vạn Lê vách núi cheo leo Vạn Lẻ đường lối quanh queo ghập ghềnh Vạn Ngang vách núi chênh vênh Vạn Tác tĩnh mịch u linh cảnh chùa Vạn Thốc nhộn nhịp bốn mùa Vạn Bún phẳng lặng như tờ ngày đêm Vạn Hương sóng vỗ êm đềm Vạn Hoa cuối núi là miền cảnh tiên [18, tr 11]

Nhận thức, khát vọng của người Đồ Sơn về thiên nhiên và xã hội được phản ánh qua những sự tích về sáu vị tiên công, thần Điểm Tước, Bà Đế, tục chọi trâu… Đó là những bản sắc văn hóa của cư dân ven biển được biểu hiện đậm nét rất riêng Đồ Sơn nhưng vẫn mang cái chung vốn có về tín ngưỡng của dân tộc Những khát khao, ước vọng của người đánh cá, làm muối, làm

Trang 25

ruộng… tập trung trong lễ hội, thành dấu ấn vật chất tồn tại bền chặt với sinh hoạt văn hóa cộng đồng Những ngày hội mùa, ngày “nước kém”, nam nữ tập trung trên bãi biển, trên sân nhà vừa đan lưới vừa hát say sưa Họ thể hiện tình yêu quê hương, đất nước qua từng câu hát, từng lời ca ngọt ngào cho đôi lứa bởi họ tin vào chính mình, lạc quan trong cuộc sống mới:

Hỡi cô đan lưới dưới trăng Anh xin một sợi, anh chằng ba cô

Và hơn hết, chọi trâu - một lễ hội văn hóa đặc sắc ở Đồ Sơn đã đi vào lòng người từ rất lâu đời Con trâu - biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp, được đưa vào hội hè, gắn bó với cuộc sống văn hóa của người dân vùng biển Đồ Sơn:

Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề Mồng chín tháng tám thì về chọi trâu [3, tr.14]

Vào hội, cả vùng tràn ngập không khí náo nhiệt sôi động, tứ phương đổ

về biết bao người mê Họ đến để thưởng thức, để khâm phục vẻ đẹp dũng mãnh cúa những “ông trâu” và tinh thần thượng võ của ngày hội

Cạnh dòng văn hóa dân gian ấy, Đồ Sơn hiện còn nhiều dấu tích vật chất cổ xưa phong phú Đó cũng chính là nói đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Đồ Sơn, là diện mạo tôn giáo tín ngưỡng với sự hiện diện sinh động và cụ thể của các di tích Đình, chùa, đền, miếu… mang ý nghĩa tôn giáo nhưng cũng là những công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo, có giá trị lịch

sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Trước đây Đồ Sơn có các đình: đình Công, đình Đông, đình Đoài, đình Nam, đình Ngân Hà, đình Ngọc và các đình, chùa, miếu của Phụ Lỗi, Bàng Động, Tiểu Bàng, Trung Lộc ở xã Bàng

Trang 26

La Đền có: Đền Nghè, đền Dáu, đền Bà Đế, đền Vừng, đền Vạn Ngang Chùa có: chùa Dộc, chùa Hang, chùa Đông, chùa Đoài, chùa Nam, đặc biệt tiêu biểu là tháp Tường Long và chùa Vân Bản… Trải qua những biến động của lịch sử, một số đình, chùa, miếu, đền nay không còn nữa Hiện tại, Đồ Sơn còn lại các đình, đền, chùa, miếu sau: đền Nghè, đình Ngọc, đền Bà Đế, đền Dáu, miếu Vừng (đền Mẫu), đền Vạn Ngang, chùa Hang, đền thờ ông tổ đánh cá của người dân Vạn Thốc và phế tích tháp Tường Long (còn nền móng tháp) Thời chống Pháp có di tích Bến Nghiêng, thời chống Mỹ có di tích Bến tầu không số (bến K15)… [31, tr 193]

Bàn tay của người thợ thủ công đã tạo nên những sản phẩm điêu khắc nổi tiếng, mang rõ bản sắc và ước vọng của cư dân miền biển Hàng trăm năm qua mà những chạm trổ ở các đình, chùa Vạn Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên, làng Đoài, Tiểu Bàng, Bàng Động… vẫn sống động Các công trình này có kiến trúc bề thế, đồ sộ như chùa Vân Bản, đình Bàng Tiêu biểu nhất là tháp Tường Long được xây dựng năm 1057 và chùa Vân Bản, nổi tiếng về kiến trúc, một thời trở thành trung tâm Phật giáo lớn của nước Đại Việt Tháp Tường Long được xây bằng gạch đất nung cao chót vót trên đỉnh Mẫu Sơn Đại Việt sử ký

toàn thư chép: Vua ngự ra vùng Đồ Sơn thấy rồng ở chỗ đó, liền cho xây tháp

Tường Long (nhìn thấy rồng) Sách Đại Nam nhất thống chí, mục cổ tích,

chép: “Tháp cũ Đồ Sơn ở xã Đồ Sơn huyện Nghi Dương cao trăm thước,

dựng từ thời Long Thụy Thái Bình triều Lý; năm Gia Long thứ 3, phá lấy gạch đá xây thành trấn Hải Dương”

Chùa Vân Bản, tương truyền được làm toàn bằng gỗ lim, viên đá tảng

có đường kính 0,80 mét Đặc biệt, chùa có một chuông đồng nổi tiếng đã từng nằm dưới đáy biển mặn mòi nhiều năm và hiện đang được trưng bày tại Viện

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Ngày nay vẫn truyền lại câu ca: “Lý gia truyền

lại mấy đời Chùa tan, tháp đổ, chuông rơi Lò Hầu” Đã hơn bảy trăm năm,

Trang 27

chuông chùa Vân Bản vẫn nguyên sắc, tiếng còn ngân vang, thể hiện tài năng sáng tạo của ông cha, là niềm tự hào của người dân Đồ Sơn

Như trên đã nói, từ lâu đã có thuyết cho rằng Đồ Sơn là cửa ngõ của các tăng sĩ Ấn Độ vào Luy Lâu thành lập trung tâm Phật giáo Từ hướng Tây Nam, nơi thương thuyền Ấn Độ sang Giao Châu phải qua một trong các cửa biển là Ba Lạt, cửa sông Thái Bình, cửa Văn Úc, cửa Đại Bàng, cửa Họng Giang, cửa Lạch Tray, cửa Cấm, cửa Nam Triệu

Trong tất cả các cửa biển trên chỉ có cửa Đại bàng, cửa Họng thuộc Đồ Sơn là có các di tích chùa tháp của đạo Phật Đó chính là chùa Hang (Cốc tự), theo tương truyền từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đã có nhà sư Ấn Độ đến trụ trì - được dân gian gọi là sư Bần, xây dựng vào khoảng năm 200 - 100 năm TCN

Bên cạnh sự tồn tại của tôn giáo du nhập thì nơi đây cũng như biết bao miền đất khác trên đất nước, còn tương truyền nhiều những tín ngưỡng địa phương, thờ nhân thần hiển linh… Như là truyền thuyết liên quan đến đền thờ

Bà Đế và câu chuyện xúc động về cuộc đời bà, cuộc đời của một cô gái xinh đẹp, hiền lành nhưng bất hạnh, bi ai Cái chết oan khuất của bà khiến cho biết bao con người có tâm linh thành kính hàng năm luôn về đây xin bà giải trừ mọi oan khuất Đó còn là đền Vừng, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Dân trong vùng kể rằng, sau một trận cuồng phong, có gốc cây vừng trôi mắc vào mỏm

đá ở khu vực đền Vừng ngày nay, rồi đâm chồi nảy lộc xanh tươi Thỉnh thoảng, người ta lại thấy một người con gái hiển linh, tự xưng là công chúa Liễu Hạnh Dân bèn lập đền thờ, cầu cúng rất được ứng nghiệm Đó còn là miếu Vạn Ngang, với câu chuyện tình đầy lãng mạn của một đôi trai gái Họ yêu nhau tha thiết dưới sự chứng kiến của biển khơi bao la Rồi người con trai phải ra nơi chiến trận Người con gái chung thủy ở nhà, thường ra mép biển ngóng đợi người con trai, nhưng chờ mãi, chờ mãi mà vẫn bặt tin Nghĩ rằng

Trang 28

người yêu mình đã tử trận, cô nhảy xuống biển để trọn đời trinh tiết với chàng Khi trở về, chàng trai cũng đã quyên sinh để hai người mãi mãi được bên nhau Thương đôi lứa thủy chung, dân vạn chài đã lập miếu thờ họ

Đặc biệt, cư dân cả vùng Đồ Sơn đều thờ chung một vị thành hoàng tại đền Nghè Thần Điểm Tước (thần Vết chân chim) đã trở thành thần bảo hộ cho những người đi biển Cách đây 18 thế kỷ, gió mùa Đông Nam đã đẩy ngư dân Thanh Hóa đặt chân lên núi Tháp thuộc bán đảo Đồ Sơn Bão tố, hạn hán nối tiếp diễn ra Những người này ngày đêm hướng lên trời cầu xin các vị thần gây ra thiên tai mà họ chưa từng biết tên Một đêm tháng Tám, dưới ánh trăng bạc, một người nhìn thấy có cụ già tóc bạc, tay cầm gậy dài ngồi trên phiến đá Trước mặt cụ có hai con trâu trắng đang chọi nhau, trong chốc lát hình ảnh này đã biến mất và một trận mưa rào tốt lành đổ xuống tưới mát đất đai Những người đánh cá nghèo khổ hiểu rằng đã có một vị thần hiển linh chốn này nghe được nguyện cầu của họ và đến che chở cho họ Họ liền tổ chức chọi trâu để làm vui lòng thần cũng bởi câu chuyện trên Sau nhiều lần tiến hành nghi lễ cầu cúng thành kính, để được biết tên vị thần tóc bạc, người

ta đặt một mâm gạo ở trong đền rồi đóng chặt cửa Sau vài ngày mở cửa đền chỉ thấy trên mâm có dấu chân chim Xóa đi, hôm sau lại thấy y như dấu cũ Người Đồ Sơn gọi đó là Điểm Tước Đại Vương (Grand Seigneur de

‘Iempreynte du Moineau) [36] Cũng có chuyện rằng năm ấy, thủy quái hoành hành dữ dội khiến không ai dám đi biển Sau khi dân làng cùng nhau làm lễ tế thần linh, mong mỏi sự cứu trợ, diệt thủy quái thì vào một đêm… Bỗng trời nổi cơn sấm sét, biển cuộn sóng dữ dội, bão tố cuồng phong cuộn ầm ầm Sáng ra, dân làng thấy xác các thủy quái chết dạt vào bờ, trên cổ có vết chân chim Cho rằng có vị thần đã nghe được thỉnh cầu của dân làng, ra tay cứu giúp, người dân đã tôn xưng duệ hiệu của thần Điểm Tước và tôn thần lên

Trang 29

thành Thành Hoàng Vì linh thiêng như vậy nên đền Nghè đã không chỉ là nơi cầu cúng của dân đi biển mà còn của cư dân cả vùng Đồ Sơn [16, tr 26]

Trong bản khai thần tích phố Đồ Sơn, phố Đồ Hải, xã Ngọc Xuyên,

tổng Đồ Sơn, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An năm 1938 có ghi: “Ba làng vẫn

thờ chung một vị tôn thần Điểm Tước…Thần là đức thiên thần, tên hiệu Điểm Tước Đền thờ ngài đến bây giờ không thờ chung với ai cả… thờ ngài

ở Nghè, chân núi Tháp Sơn (Ngọc Xuyên) và đình Công (Đồ Sơn) cùng đình

tư các xã, thôn (Đồ Sơn ba đình, Đồ Hải một đình, Ngọc Xuyên một đình), chỉ có Nghè chính là chân núi rậm, còn các đình đều ở đồng bằng cả Chốn Nghè chỉ để thờ cúng mà thôi, còn các đình ngoài sự thờ phụng còn họp bàn công việc nữa…” [9]

Sau này, cùng với thời gian, người ta còn đưa cả sáu vị tiên hiền đại diện cho 6 dòng họ có công khai sơn phá thạch vùng đất này vào thờ cúng ở đền Nghè

Cùng với công cuộc xây dựng quê hương, các thế hệ người Đồ Sơn còn phát huy tinh thần yêu nước, cùng dân tộc đứng lên chống ngoại xâm và chế độ phong kiến thối nát Khi đất nước bị ngoại xâm, trai tráng lại tạm biệt quê hương

để cầm vũ khí đánh giặc Các triều đại phong kiến đã lập căn cứ hải quân ở Đồ Sơn Tiêu biểu là trận thủy chiến ác liệt diễn ra ở vùng Tháp Nhĩ Sơn (Đồ Sơn) - cửa Đại Bàng vào đầu năm 1288 Quân xâm lược Mông - Nguyên bị đánh tan tác, hơn 200 chiến thuyền cùng binh lính bị chìm xuống đáy biển

Cùng với sự nghiệp chiến đấu giữ nước và giải phóng dân tộc, người

Đồ Sơn còn tích cực tham gia vào các cuộc khởi nghĩa chống triều đình phong kiến thối nát Dưới thời Lê - Trịnh xảy ra cuộc chiến tranh Nam - Bắc ngót 200 năm, làm cho dân tình đói khổ, đất nước điêu tàn Năm 1741, Nguyễn Hữu Cầu (còn gọi là Quận He) đã đứng lên tập hợp nông dân khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu quê ở làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, Hải Dương

Trang 30

Năm 1739, khi Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ dựng cờ khởi nghĩa ở Ninh Xá, ông đã hăng hái tham gia và lập được khá nhiều chiến công Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Hữu Cầu tiếp nối sự nghiệp của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và trở thành lãnh tụ mới của nông dân vùng đồng bằng châu thổ

sông Hồng Ông tự xưng là “Đông đạo Tổng quốc bảo dân đại tướng quân”

và chọn Đồ Sơn làm căn cứ Khi xưng danh, ông làm lễ tế cờ trên gò đất cao

ở cửa sông Lạch Tray Bỗng có một đàn cá he lớn từ biển khơi bơi vào, quân

sĩ và nhân dân cho là điềm lành, bèn tôn chủ soái là Quận He Ông chủ

trương: Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo, được nhân dân hưởng ứng

rất đông Nhiều trận đánh lớn đã diễn ra ở Đồ Sơn, Kiến Thụy… nhờ tài thao lược của mình, ông đã chiến thắng nhiều trận oanh liệt, đánh bại các tướng triều đình như Trịnh Bảng, Hoàng Công Kỳ, Hoàng Ngũ Phúc, Trương Khuông, Đinh Văn Giai… Thậm chí, Nguyễn Hữu Cầu còn bất ngờ đánh chiếm Kinh Bắc, khiến cả Thăng Long phải một phen hoảng loạn, sau đó ông còn táo bạo đánh vào Bồ Đề ngay sát kinh thành khiến Trịnh Doanh phải tự mình làm tướng, cầm quân đối địch [14, tr 11] Cuộc khởi nghĩa kéo dài mười năm, làm nghiêng ngả triều đình phong kiến lúc bấy giờ Sang đầu thế

kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa nông dân cho Phan Bá Vành lãnh đạo (1821 - 1827) cũng làm chấn động một thời kỳ lịch sử Nghĩa quân đã chọn Đồ Sơn là một trong những căn cứ kháng chiến Những trận đánh ở sông Họng, Cổ Trai còn được ghi mãi vào sử sách

Tinh thần yêu nước của người dân Đồ Sơn được thể hiện sâu sắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược Quân dân Đồ Sơn đã làm nên những chiến công vang dội: tập kích đảo Dấu, sân bay, kho xăng dầu và bắn rơi máy bay, bắn cháy tàu chiến Mỹ Ngày 13/5/1955, đội quân viễn chính Pháp rút khỏi Hải Phòng Người Đồ Sơn cũng thực sự bước vào một cuộc đổi mới Rồi khi Đế quốc Mỹ lại sang chiếm đóng miền Nam, những người con ưu tú nối bước nhau lên đường đánh giặc, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước [3, tr 17] Trong những năm

Trang 31

đánh Mỹ, người Đồ Sơn đã làm 33.780 căn hầm các loại, gần 17 km giao thông hào Riêng nhân dân tiểu khu Vạn Sơn đã dành 2 vạn ngày công xây dựng một hệ thống hầm ngầm kiên cố Khẩu hiệu của quân và dân Đồ Sơn

chính là “Coi thuyền là nhà, biển cả là quê hương, ruộng đồng là trận địa,

chắc tay cày, hay tay súng”

Quá trình nối tiếp xưa và nay ở Đồ Sơn xuyên suốt trong lịch sử là cơ

sở của sự hình thành cộng đồng, sự đoàn kết giữa lớp người trước và lớp người sau; giữa các vạn chài, làng xóm với nhau để chinh phục thiên nhiên, quai đê, lấn biển, chung tay lưới, tay cày, cùng đánh giặc Đó cũng là truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và anh dũng, kiên cường trong đánh giặc ngoại xâm tiếp tục được phát huy lên tầm cao mới từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.4 Vị trí của sự phụng thờ Bà Đế trong không gian văn hóa vùng

Đồ Sơn

Xưa kia, Hải Phòng có tên là “Hải tần phòng thủ” vì Hải Phòng là vùng cửa tiền tiêu, vùng phên dậu của đất nước Vùng cửa tiền tiêu đó chính là địa bàn quận Đồ Sơn hiện nay - một vị trí trọng yếu trong sự nghiệp bảo vệ đất nước Do có vị trí địa lý giáp biển mà Đồ Sơn là vùng đất đã từng chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, và đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng qua số lượng lớn các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội độc đáo nay trở thành tài nguyên

du lịch nhân văn có giá trị lớn

Đồ Sơn là thị xã mới lên quận theo nghị định 145/2007/NĐ-CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Quận được thành lập vào ngày 12 tháng 9 năm 2007 trên cơ sở toàn bộ diện tích của xã Đồ Sơn cũ Đồ Sơn là quận có nhiều di tích lịch sử văn hóa Các di tích văn hóa tôn giáo nhiều về số lượng, phong phú về thể loại Theo thống kê của Phòng Văn hóa, Thể thao và

Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn năm 2012 thì toàn quận có 14 di

Trang 32

tích, di sản gồm các đình, chùa, đền, miếu, và một số các di tích khác có liên quan đến cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước Bao gồm 1 di sản văn hóa phi vật thể, 5 di tích quốc gia và 8 di tích cấp Thành phố Trong đó các nhân vật được thờ cũng thật đa dạng Đó cũng là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn Đồ Sơn, hiện có thể chia thành 3 dạng: các di tích lịch sử văn hóa, di tích khảo cổ học và các lễ hội truyền thống

2 Từ đường họ

Nguyễn Văn Phường Bàng La

7 Đền Vạn Chài Phường Vạn Hương

8 Đình Quý Kim Phường Vạn Đức

9 Bến Nghiêng Phường Vạn Hương

DTLSVH Quốc gia

11 Đảo Hòn Dấu Phường Vạn Hương

12 Đình Ngọc Xuyên Phường Ngọc Xuyên

Trang 33

Ngoài ra còn có biệt thự Bảo Đại (phường Vạn Hương), đền Bà Đế (phường Ngọc Hải) và ở đảo Hòn Dấu có đền Dấu và ngọn hải đăng đều là những di tích danh lam thắng cảnh rất nổi tiếng Cùng với đó là lễ hội đảo Dấu, từ mùng 8 đến mùng 10 tháng 2 (âm lịch) và hội đua thuyền rồng trên biển thường được tổ chức khi kết thúc vụ cá Bắc mở đầu vụ cá Nam khoảng

4, 5 dương lịch

Đền Bà Đế là một di tích danh lam thắng cảnh khá độc đáo thuộc phường Ngọc Hải, quận Đồ Sơn Thuở xưa, đền Bà Đế chỉ là một ngôi miếu nhỏ, nay khuôn viên đã trở nên to rộng khác trước rất nhiều Muốn tới được ngôi đền phải men theo con đường đê hướng thẳng ra biển Dưới con đê là những bãi bồi nối tiếp nhau nơi mà người ta thường gọi là “cảng cá” Đó là một ngôi đền khang trang nằm sát vách núi Độc, lẻ loi với những bãi đá dưới chân đền rộng lớn, kề ngay cạnh biển

Với cảnh quan thiên nhiên đẹp, diện mạo mới mẻ, môi trường trong lành kết hợp với một truyền thuyết dân gian huyền bí có từ lâu đời, đền Bà Đế trở thành một điểm du lịch văn hóa hấp dẫn không chỉ với người dân thành phố Hải Phòng

Đền Bà Đế được xem như một địa điểm tâm linh, tín ngưỡng rất thu hút

du khách Ở đây, chúng tôi xem xét từ khía cạnh tâm linh tín ngưỡng của người dân Đồ Sơn, một vùng đất hội tụ khá nhiều di sản văn hóa quý báu Nơi đây đã xuất hiện và nuôi dưỡng nhiều sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và các lễ hội truyền thống cổ truyền đặc sắc trong các di tích lịch sử văn hóa Từ việc tôn thờ nữ tướng Lê Chân, vị thành hoàng có công khai phá lập ấp An biên xưa, có thể thấy rằng việc thờ nữ thần đã ăn sâu vào tâm tưởng của người dân Hải Phòng Cũng như tín ngưỡng thờ Mẫu trong Tứ phủ xuất hiện ở nhiều nơi trên vùng đất Đồ Sơn, cũng là thờ nữ thần song là thiên thần Hình ảnh đền

Trang 34

Bà Đế xuất hiện trong hệ thống các di tích, đền phủ khi đến tham quan cúng bái ở Đồ Sơn cũng là biểu tượng thờ nữ nhân thần, có điều sự phụng thờ Bà

Đế mang nhiều nét khác biệt với tất cả các di tích khác

Từ những thống kê trên đây, ta có thể nhận thấy, đền Bà Đế chỉ được xem như một di tích dam lam thắng cảnh, chưa được xếp hạng Nhưng đối với người dân Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh và các vùng khác thì sau dịp Tết Nguyên Đán, đền Bà Đế lại là một địa chỉ tín ngưỡng không thể không tới Dân làng ở đây thờ Bà Đế như một vị Thành Hoàng của vùng biển Đồ Sơn thể hiện tín ngưỡng biển vô cùng độc đáo của ngư dân vùng này

Trang 35

Chương 2

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN BÀ ĐẾ 2.1 Di tích đền Bà Đế

2.1.1 Truyền thuyết dân gian về sự tích Bà Đế

Trên đất nước Việt Nam từng ngọn núi, con sông đều chứa đựng những

sự linh thiêng, huyền ảo Chúng được thể hiện sống động qua từng câu chuyện, từng mẩu chuyện dân gian được truyền tụng về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử Truyền thuyết về Bà Đế đã được ghi chép lại trong nhiều cuốn sách, bài viết trên báo, tạp chí và các báo mạng

Tư liệu thành văn đầu tiên nhắc đến đền và truyền thuyết Bà Đế là bài

thơ chữ Hán “Đông Sơn thừa lương” (Hóng mát ở núi Đông) của Miễn Trai Hoàng Văn Hoàn (Gia phả họ Hoàng Xuân ở Đồ Sơn có ghi tám bài thơ vịnh

cảnh Đồ Sơn của Miễn Trai Hoàng Văn Hoàn, người họ này, sau di cư về làng Tri Yếu (nay thuộc xã Đặng Cương, huyện An Hải) được vua Minh Mạng ban cho biển ngạch Hiếu Tử, do đó lấy làm tên hiệu Dân làng thường gọi là ông ấm Hiếu, vì ông được tập ấm của cha, nhưng không ra làm quan, chỉ ở ẩn dạy học, bốc thuốc) đỗ Hương Cống cuối đời Cảnh Hưng, đầu đời

Minh Mạng, người quê Đồ Sơn

Bài thơ được khắc trong đền có những câu:

Đế bà hương tỏa phương lân cận Trịnh chúa xa luân cựu tích truyền Dịch:

Hương khói đền Bà Đế thơm nức vùng xung quanh

Dấu xe chúa Trịnh còn truyền tích cũ

Trang 36

Tương truyền, vào khoảng năm 1718, Đồ Sơn còn hoang vắng, biển còn ăn lẹm vào chân núi, cư dân thưa thớt Ở phía đông nam vụng Ngọc - Đồ Sơn, có đôi vợ chồng họ Đào hiếm muộn đã 20 năm Họ luôn một lòng cầu trời khấn Phật rủ lòng thương cho họ một mụn con Nhờ tu tâm tích đức nên ông bà được thần linh báo mộng ban cho họ ân điển Tròn ngày, tròn tháng, người vợ sinh hạ một cô bé đáng yêu, từ thân thể tỏa ra một mùi hương thơm ngát Vợ chồng họ Đào rất mừng, tạ ơn đất trời và đặt tên con là Đào Thị Hương

Lớn lên, Hương không chỉ nổi tiếng khắp vùng về sắc đẹp, mà còn siêng năng, khéo tay hay làm Ngày ngày, nàng xuống vụng Ngọc chăn trâu cắt cỏ, vừa làm vừa hát Giọng hát của nàng thật hay Tiếng hát vút cao lên bầu trời xanh bao la, âm vang và rung như tiếng ngọc, ngân nga cả núi rừng Người ta nói rằng mỗi lần nàng cất giọng, chim như thể ngừng hót, sóng ngừng vỗ và đất trời lặng phắc như muốn thẩm thấu hết tiếng hát của nàng

Cùng lúc ấy, vùng biển Đồ Sơn là cửa ngõ Đông Bắc rất quan trọng của Đại Việt, thời kỳ chúa Trịnh Doanh trị vì Năm 1736, khi về kinh lý Đồ Sơn, dạo cảnh bằng thuyền rồng trên biển vùng núi Độc, Chúa bỗng nghe thấy tiếng hát Giọng hát trong veo với những câu ca dân dã rung động lòng người đã khiến Chúa mê mẩn, truyền chỉ lính hầu đi tìm người ca

Diện kiến Chúa lúc ấy là một cô gái vùng quê nghèo, y phục tuềnh toàng nhưng vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết toát lên cùng mùi hương lạ phảng phất đã khiến người đắm đuối Chúa đem lòng yêu mến, quyến luyến không rời suốt cả tháng Đến ngày về kinh đô, ngài hẹn với nàng ngày trở lại thuyền hoa kiệu rước Rồi, nàng mang thai Trong lòng luôn lo lắng không yên, ngày ngày nàng chờ đợi thuyền hoa phủ Chúa, nhưng càng ngóng trông thì càng vô vọng Lời đồn, tiếng xấu ngày một lan xa khi cái thai trong bụng lớn dần lên Hoang thai là cái tội lớn lắm! Đó là nỗi nhục, là tiếng xấu để đời Bởi theo lệ làng, cái tội đó phải chịu hình phạt: gọt trọc đầu, bôi vôi, dẫn giải đi đầu làng

Trang 37

cuối chợ bêu riếu và còn phải nộp tiền phạt vạ Nhà vốn nghèo khó, không có tiền chịu phạt, hàng Tổng ép cô gái phải khai ra kẻ gian dâm, nhưng ai có thể tin một câu chuyện quá hoang đường Nàng bị khép vào hình phạt trầm hà (dìm chết) Họ Đào đem nàng xuống biển khu vực chân núi Độc, buộc vào cối

đá, dùng sào dìm người xuống

Biết sẽ chết, nước mắt oan ức tuôn rơi, nàng ngửa mặt lên trời khóc

than rằng: Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống,

nghĩa cha mẹ họ hàng tôi đâu dám quên Xin trời Phật chứng giám cho lòng con! Khi con bị dìm xuống nước, nếu con có oan ức Trời Phật cho con nổi lên ba lần, họ hàng hãy cho con được sống, nếu con dối trá thân này sẽ chìm xuống để làm gương cho đời

Nàng vừa dứt lời, sóng gồ lên, con thuyền như thể muốn lật Ba lần bọn hào lý ném nàng xuống biển, ba lần nàng nổi lên, mọi người ai nầy đều kinh

sợ Họ Đào cùng lũ cường hào, ác bá lấy dây thừng cối đá thủng buộc vào bụng nàng quấn vào cây sào cắm xuống biển Nàng đã ra đi oan khốc và thương tâm như thế

Dân làng Đồ Sơn kể rằng đêm đó, sóng to gió lớn, nước dâng lên vỗ vào chân núi Độc, trong một vòm hang cạnh đó, những người đi biển thấy trôi vào dây thừng cối đá và cây sào Đêm đêm, người ta vẫn nghe thấy tiếng nàng

vọng ra từ hang núi: “Khi nào dây thừng mục, cối đá tan mới cởi bỏ hận thù

này” Rồi những kẻ độc ác đã hãm hại nàng thay nhau lăn đùng ra chết Nhiều

người phải trốn đi biệt tích Tại kinh thành, một đêm Chúa nằm mơ thấy người con gái vùng biển về đòi nợ Chúa giật mình và chợt nhớ đến lời hứa trong đêm ân ái nơi vùng biển Đồ Sơn ngày nào, liền vội vã cho người về gấp nơi đó Khi ấy oan nghiệt đã tăng lên gấp bội Ông bà họ Đào phần vì thương con, phần vì không chịu nổi tai tiếng đã lần lượt ra đi Biết chuyện Chúa bèn

Trang 38

truyền Hàng Tổng cùng dân làng lập đền thờ dưới chân núi Độc giải oan cho nàng Trong đền thờ, người ta để vào đó chiếc cối đá và đoạn dây thừng, chứng tích của tội ác Chiếc dây thừng đó, hàng năm, những ngư dân nhuộm lại cho bền chắc, cho khỏi mục ải, để nhắc nhở câu chuyện về cái chết bi thảm của nàng không được mai một, không được lãng quên

Chúa Trịnh ân hận, phong nàng là Hậu Đế Từ đó, người ta tôn trọng gọi nàng là Bà Đế, đền thờ nàng có tên là đền Bà Đế Sau này, đền Bà được vua Tự Đức về thăm ban sắc trọng ban cho Đế Bà là:

ĐÔNG NHẠC ĐẾ BÀ - TRỊNH CHÚA PHU NHÂN [18, tr 79-85] Ngoài ra, điển tích Bà Đế còn được Paul Munier, một công chức người Pháp đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu, căn cứ vào lời nhân dân địa phương kể và nội dung tấm bia đá ở đền biên soạn thành sách “La légende de

Ba De”, nhà xuất bản IDEO, Hà Nội vào năm 1930 Dựa vào tài liệu của P.Munier, năm 1942, G.Specht soạn thành kịch bản phim và dựng thành phim câm và thuê người đẹp là con gái ông Chánh Tính ở xã Đồ Hải đóng vai Ruột tượng xanh hoa lý tay cầm liềm cắt cỏ ở bên bờ Suối Rồng để họ quay phim cùng với phim Cánh đồng Ma, Thúy Kiều Thời Pháp tạm chiếm Hải Phòng, đoàn Chuông Vàng soạn ca kịch cải lương, gần đây cũng có kịch bản chèo về

đề tài này và đều đã công diễn

Nội dung câu chuyện có diễn biến khác khi kể về một cô thôn nữ tên là

Đế, mang họ Ngô (có nơi lại nói cô họ Phạm), và vị chúa mà nàng gặp là Trịnh Giang, vị chúa nổi tiếng dâm đãng, là anh trai của Trịnh Doanh

Theo nhà nghiên cứu Trịnh Cao Tưởng, ông có nêu thêm về huyền thoại Bà Đế khi viết đến 2 câu chuyện khác biệt Câu chuyện thứ nhất là về nàng Đế xinh đẹp với chúa Uy nam vương Trịnh Giang Nhưng câu chuyện

Trang 39

thứ hai được cho là cổ hơn do người Đồ Sơn kể lại có sự xuất hiện của một thần linh - vua Thủy tề

Ngày xưa ở Đồ Sơn có một cô gái tên Đế xinh đẹp và hát rất hay Nàng thường lên núi cắt cỏ và hát:

Tay cầm bán nguyệt xênh sang

Muôn vàn cây cỏ lai hàng tay ta

Một lần, nàng cất giọng hát, thuyền của vua Thủy Tề vô tình đi ngang qua, ngồi dưới thuyền nghe tiếng hát, vua vội lên núi tìm người Thấy một cô gái đẹp đang cắt cỏ, trên đầu có mây vàng che phủ, biết không phải là người thường, Vua liền đón xuống thuyền Hai người ân ái với nhau suốt ngày hôm

đó, mãi đến tối mới chia tay Đế về nhà, thời gian sau nàng sinh một con trai Dân làng không biết cuộc tình duyên của Đế với vua Thủy Tề nên đã đuổi cô khỏi làng Ngày ngày Đế phải đi mót thóc, kiếm khoai về nuôi con… Nhưng rồi một số kẻ độc ác muốn được ăn uống, bèn kiếm kế phạt vạ, rồi mang Đế

ra biển dìm Câu chuyện Đế bị dìm chết cũng y hệt câu chuyện kể trên Nhưng khi chúng trói chặt Đế bằng dây thừng vào đá, rồi đẩy nàng xuống biển, thì lạ thay Đế vẫn nổi người lên Thấy lạ, bọn sát nhân hoảng hốt bỏ chạy Theo truyền thuyết Đế không chết, nhưng không bao giờ trở về quê hương xứ sở nữa Nàng đã được vua Thủy Tề - chồng nàng đón về thủy cung

Riêng ông Đinh Phú Ngà, một Đại tá an ninh về hưu ở Đồ Sơn, với cuốn sách “Đồ Sơn - lịch sử và lễ hội chọi trâu” lại kể về truyền thuyết Đế Bà với nhiều nét huyền ảo thêu dệt Một câu chuyện còn liên quan đến kiếp trước, kiếp sau, sự đan xen khó lý giải đó tưởng chừng vô cùng khó tin, nhưng lại khiến người đời sau thương cảm Tương truyền từ đời vua Lê Anh Tông (1545 - 1569), Bà Đế là nhi nữ của vua nhưng tài giỏi hơn người Bà học tài biết rộng, đỗ Thám hoa, Bảng nhãn rồi thi Đình đỗ Trạng Nguyên

Trang 40

Bảng vàng chói lọi cầm tay, Lọng dù che ngựa đến ngay sân Rồng Thấy Bà có nhan sắc tuyệt trần, lại có tài văn chương, Trịnh Kiểm đến

ép lấy làm vợ, nhưng bà không chịu Bà khinh con cháu họ Trịnh chỉ lo ăn chơi, học hành không đạt, lại hay ỷ thế ức hiếp dân lành Chúa Trịnh uất giận, cậy thế cưỡng hiếp bà có mang Ở vào thế đường cùng, con vua không thể hoang thai, Bà đành tự vẫn Trước khi chết, Bà nói với Vua cha:

“Cho con một tấm quan tài Vừa rộng, vừa dài, lại vừa cao

Nẻ hoa, bấc cỏ bỏ vào cho con”

Nghe lời trăng trối, Lê Anh Tông dặn con: “Làm con vua tủi phận thế,

kiếp sau nếu được đầu thai, con cứ vào nhà dân cũng được, nhà dân có khi còn cao quí hơn cung vua phủ chúa, nhưng vẫn phải phòng xa với những thói nhỏ nhen, bạc bẽo vẫn thấy từ lầu vàng gác tía tới lều tranh nhà cỏ Cha từ bình dân bị ép làm vua nên cha rất thấm thía…” Là vua, nhưng không có

thực quyền, người cha chỉ biết lặng lẽ đem con về khu vườn Cụ núi Ngọc Long (Đồ Sơn) chôn Sau đó, vua Lê cho xây đình Ngọc Tuyền và hàng năm ngự giá đến đây, tưởng nhớ con gái yêu

Nối tiếp là câu chuyện chưa đầy 200 năm sau, cũng tại vùng đất ấy, những diễn tiến xảy ra tương tự như truyền thuyết thường được nhắc tới về

Bà Đế Những nhà sưu tầm, nhà nghiên cứu đôi khi họ tìm hiểu những câu chuyện từ dân gian truyền miệng rồi đem cả vào đó một chút tâm tư và tình cảm, nhiều khi còn là sự huyễn hoặc bản thân đến với một thế giới liêu trai để khắc họa rõ nét về chế độ phong kiến hà khắc với những hủ tục nặng nề Mỗi một dị bản lại mang đến những nét riêng độc đáo, cũng trong cái cách nàng

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w