Do vậy, khi chúng ta tiến hành theo dõi đều đặn sự phát triển của các chỉ sốnày của nhiều cơ thể của cùng một lứa tuổi, thì có thể đa ra nhiều số liệu làmcơ sở so sánh, đánh giá sự phát
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trong chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội, nớc ta đã xem giáodục là quốc sách hàng đầu trong sự phát triển con ngời một cách toàn diện.Cùng với việc nâng cao chất lợng đào tạo của ngành giáo dục, việc chăm sócsức khoẻ cho học sinh cũng giữ vai trò hết sức quan trọng, giúp học sinh có đủcả đức và tài phục vụ đất nớc [3]
Trong xu thế hội nhập và phát triển, đời sống vật chất của ngời dân đợcnâng cao, kéo theo đó là tình trạng sức khoẻ đợc nâng lên Điều đó đợc đánhgiá thông qua các chỉ số hình thái nh: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực
Do vậy, khi chúng ta tiến hành theo dõi đều đặn sự phát triển của các chỉ sốnày của nhiều cơ thể của cùng một lứa tuổi, thì có thể đa ra nhiều số liệu làmcơ sở so sánh, đánh giá sự phát triển của các cơ thể trong từng giai đoạn
Tuổi mẫu giáo là tuổi mà trẻ bắt đầu bớc vào thời kỳ phát triển thể lực vàcác chức năng sinh lí ở thời kỳ này, các em bắt đầu tiếp xúc với những điềukiện thế giới xung quanh và hình thành dần hoạt động có ý thức Do đó, sựphát triển thể lực ở trẻ chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố nh di truyền, giới tính,chế độ dinh dỡng, điều kiện vui chơi…
Đã có nhiều đề tài đề cập đến các chỉ tiêu hình thái, thể lực ở trẻ em[4,5,6,7,13,15] Tuy nhiên, các chỉ tiêu hình thái này thay đổi theo hoàn cảnhkinh tế xã hội Để góp phần tìm hiểu sự phát triển hình thái, thể lực của các em
ở lứa tuổi mầm non, chúng tôi chọn đề tài: “Sự phát triển một vài chỉ tiêu hình thái, thể lực ở học sinh mầm non tại các trờng Đồng Tiến – Triệu Sơn – Thanh Hoá và Việt Lào – Vinh – Nghệ An ”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Bớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về hình thái, thểlực ở trẻ em (từ thu mẫu, xử lý số liệu, đến viết một công trình nghiên cứukhoa học)
- Cung cấp thêm những dẫn liệu làm cơ sở đánh giá các yếu tố ảnh hởng
đến các chỉ tiêu hình thái, thể lực, tố chất vận động làm tiền đề phân tích sự saikhác về các chỉ tiêu hình thái và phát triển thể lực ở những lứa tuổi khác nhautheo giới, giữa hai khu vực nông thôn và thành phố
- Có thể đa ra chế độ học tập, rèn luyện, dinh dỡng phù hợp với
từng giai đoạn phát triển và điều kiện cần thiết để nâng cao thể chất cho
trẻ mầm non
Trang 23 ý nghĩa của đề tài
Việc nghiên cứu về sự phát triển chỉ tiêu hình thái và thể lực ở con ngờiViệt Nam là công việc cần thiết, đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ban, ngànhkhoa học khác nhau Công việc này phải đợc tiến hành một cách thờng xuyên,liên tục, không giới hạn về không gian và thời gian Việc nghiên cứu này đa lại
ý nghĩa to lớn cho cuộc sống và sự phát triển của con ngời trong hiện tại và
t-ơng lai
Nghiên cứu về con ngời ở tất cả các lứa tuổi có ý nghĩa và tầm quan trọng
to lớn đối với việc xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục… Vìvậy nghiên cứu con ngời đợc xem là việc làm chiến lợc để ổn định và pháttriển kinh tế, chính trị và xã hội
Về thực tiễn, thông qua việc nghiên cứu hình thái, sinh lí con ngời có thểxác định và đa ra các chỉ số sinh học các quy luật phát triển thể lực, thể chất,
đánh giá sự phát triển các chỉ số thể lực, thể chất ở các độ tuổi khác nhau nhất
là lứa tuổi học sinh Qua đó xác định đợc sự phát triển thể lực, thể chất củahọc sinh, đề ra chế độ giáo dục, học tập, dinh dỡng, sinh hoạt phù hợp đối vớitừng đối tợng trong môi trờng sống cụ thể
Lứa tuổi mẫu giáo là một trong những mốc quan trọng trong sự phát triểncon ngời, ở đó có sự nhảy vọt cả về chất và lợng
Đứng trên góc độ sinh học, đây là giai đoạn cơ thể trẻ còn non yếu, cáccơ quan, bộ phận đợc hình thành có cấu tạo và chức năng cha hoàn thiện Vìvậy cơ thể trẻ rất dễ bị ảnh hởng bởi tác động của các yếu tố ngoại cảnh
Đứng trên góc độ xã hội, đây là thời kỳ mà các em bắt đầu tiếp xúc vớinhững điều kiện thế giới xung quang và hình thành dần những hoạt động có ýthức Vì vậy, chúng ta phải đi sâu nghiên cứu để hiểu rõ về đặc điểm cấu tạo,
đặc điểm phát triển của trẻ nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dụcgiúp trẻ phát triển toàn diện
4 nội dung nghiên cứu
4.1 Khảo sát chỉ tiêu hình thái nh cân nặng, chiều cao, vòng ngực của trẻ
từ 3 – 5 tuổi tại các trờng mầm non Đồng Tiến và Việt Lào
4.2 Khảo sát chỉ số thể lực BMI của trẻ từ 3 – 5 tuổi tại các trờng mầmnon Đồng Tiến và Việt Lào
4.3 Khảo sát các tố chất vận động nh tố chất nhanh, tố chất mạnh, tố chấtdẻo của trẻ từ 3 – 5 tuổi tại các trờng mầm non Đồng Tiến và Việt Lào
Trang 3Chơng 1Tổng quan nghiên cứu về thể chất học sinh
1.1 Lợc sử nghiên cứu thể chất trẻ em
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thể chất trẻ em trên thế giới
Xuất phát từ thực tiễn và lợi ích của con ngời, việc nghiên cứu các chỉ tiêuhình thái, sinh lí của con ngời nói chung và trẻ em lứa tuổi mầm non nói riêng
đã tiến hành từ lâu trên thế giới Nghiên cứu hình thái, thể lực của con ng ời
đ-ợc xem l bộ môn về cơ thể, có lịch sử tồn tại v phát triển hết sức phong phúvới các lĩnh vực nh: tăng trởng, phát triển với những đặc trng theo chủng tộc,lứa tuổi, giới tính
Nhân trắc học hiện đại ra đời với sự đóng góp to lớn của nh nhân trắchọc ngời Đức Rudauf Mantin, qua hai tác phẩm nổi tiếng: “ Giáo trình về nhântrắc học” (1919) v “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể v xử lý thống kê” (1924).Trong những công trình n y ông đã đề xuất một số phơng pháp, dụng cụ đo
đạc các kích thớc cơ thể, cho đến nay vẫn đợc sử dụng Pirher đã xây dựngmôn thống kê toán học và ứng dụng trong di truyền theo nhân trắc học mang
đầy đủ ý nghĩa v tính chính xác của nó
Khi khoa học kỹ thuật hiện đại ngày một phát triển thì lĩnh vực nghiêncứu thể lực ở học sinh đợc đẩy mạnh khắp thế giới Con ngời đã đi sâu nghiêncứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lí gắn liền với điều kiện tự nhiên xã hội, đặc
Trang 4điểm chủng tộc, chế độ dinh dỡng, quá trình rèn luyện thân thể và phát triểntheo lứa tuổi.
Bergon (1920) và Thondikee (1930), đã nghiên cứu về sự phát triển hìnhthái và trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi nhi đồng và thiếu nhi
Năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới và sức khoẻ cộng đồng ra đời Tổ chứcnày đã có công lớn trong việc đánh giá sự phát triển sức khoẻ trẻ em thông quahai chỉ số chiều cao, cân nặng
Năm 1960, ngời ta đã phát hiện ra hiện tợng “gia tốc” phát triển của cơthể trẻ em ở lứa tuổi học đờng, đã nhận thấy các chỉ số cân nặng, chiều cao ởtrẻ em tăng so với trẻ em cùng lứa tuổi ở các thế kỷ trớc đó Tiếp đó là hàngloạt các công trình nghiên cứu để giải thích hiện tợng “gia tốc” của nhiều tácgiả: Rock với thuyết “Phát quang”., Bennhold Thomson với thuyết “Chọn lọc”.,Len với thuyết “Dinh dỡng”., Rudder với thuyết “Thành thị hoá”.,… Các côngtrình này đã đi sâu nghiên cứu về sự chênh lệch chiều cao, cân nặng giữa trẻ
em thành thị và nông thôn [5]
Năm 1962, cuốn “Học thuyết về sự phát triển của cơ thể ngời” củaBarkirop đã đa ra quy luật phát triển cơ thể ngời dới ảnh hởng của điều kiệnsống
Năm 1969, Kabanop v Trabopxcaia đã tổng hợp nhiều công trình nghiêncứu của nhiều tác giả trong “Giải phẫu và sinh lí trẻ em” cho thấy rằng: “Trớckhi trở thành ngời lớn trẻ em phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quantrọng, nhiều năm cần sự giúp đỡ của ngời trởng thành Cấu tạo và hoạt độngcủa các cơ quan trong cơ thể cũng nh những nhu cầu cơ thể, những phản ứngcủa cơ thể đối với môi trờng sống và phát triển của trẻ em” Để dạy dỗ và giáodục trẻ em một cách đúng đắn thì cần phải nghiên cứu nắm vững đặc trngtừng giai đoạn phát triển của trẻ để có biện pháp tác động phù hợp nhằm nângcao sức khoẻ và giữ gìn sự phát triển một cách bình thờng
Năm 1971, Freedman cho thấy rằng sự phát triển trí tuệ, t duy của trẻ emkhông phải chỉ do yếu tố di truyền mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào chế độluyện tập, chăm sóc
Năm 1979, Kabanop nghiên cứu sự phát triển thể lực và thể chất trẻ emcũng cho thấy rằng ngoài sự quyết định bởi yếu tố di truyền thì nó còn liênquan chặt chẽ đến chế độ luyện tập, dinh dỡng, chăm sóc của gia đình, xã hội[9]
Luria (1973) và Blaykhe (1988) đã đi sâu nghiên cứu trí thông minh ở trẻ
em trớc tuổi đi học và tuổi học sinh tiểu học
Trang 5Bedisow và D.Hun, nghiên cứu về thể lực học sinh (cùng thời gian, cùnglứa tuổi) thấy học sinh nông thôn có chỉ số thể lực thấp hơn học sinh thànhphố
Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu ngời Pháp: Sempé, Gpédron
đã công bố tác phẩm “Tăng trởng phong phú và sự nối tiếp” Tác phẩm này đã
đề cập đến phơng pháp nghiên cứu thể lực và sự phát triển cơ thể trẻ Đây làmột trong những công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, mang tính chất thời sựnhất trong thời gian này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thể chất trẻ em trong nớc
ở Việt Nam, việc nghiên cứu các chỉ số hình thái, thể lực ở mọi lứa tuổi
đã bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX ở thời kỳ này đã tập trung nghiêncứu chỉ tiêu hình thái các bộ phận bên ngoài cũng nh bên trong: gan, não,thận, thần kinh của ngời Việt Nam Đặc biệt là kích thớc bộ xơng ngời ViệtNam hiện đại [8]
Năm 1945-1960, bộ môn nhân trắc học ở trờng Đại học Vinh đã nghiêncứu rộng rãi, bớc đầu đã đa vào giảng dạy ở các trờng đại học Hội nghị Hằng số Sinh học Việt Nam tổ chức vào năm 1968 v 1972 vớihàng trăm công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, đã đợc công bố và đúckết trong tập san: “ Hằng số Sinh học Việt Nam”., đợc bộ Y tế xuất bản năm
1975 Qua đó đã phản ánh những kết quả nghiên cứu toàn diện ở tầm cỡ quốcgia về lĩnh vực hình thái, giải phẫu, sinh lí, sinh hoá ngời Việt Nam Trong sốnày đáng chú ý là các tác giả: Phạm Năng Cờng (1967) có các công trìnhnghiên cứu: “Phơng pháp xác định giới hạn tuổi và tính tuổi”., “Chỉ số pháttriển trẻ em Việt Nam” Nguyễn Quang Quyền (1971), “Nghiên cứu các chỉ số
đánh giá thể lực học sinh Hà Nội” Chu Văn Tờng, Nguyễn Công Khanh(1972), đã đa ra “Hằng số Sinh học trẻ em Việt Nam” Nguyễn Quang Quyền(1974) đã công bố “Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên ngời ViệtNam” Nguyễn Mạnh Liên (1984), nghiên cứu về sự ảnh hởng của các yếu tốkhí hậu tới cơ thể con ngời
Từ năm 1980 - 1985, Nghiêm Xuân Thăng, Nguyễn Ngọc Hợi, Ngô Thị
Bê, Hoàng ái Khuê, đã nghiên cứu về các chỉ số hình thái, phát triển thể lực
và thể chất của trẻ em, học sinh đồng bằng, thành phố Vinh, miền núi Nghệ
An[7] Kết quả cho thấy các chỉ số trên ở học sinh tăng theo độ tuổi khảo sát,
có sự khác nhau giữa các khu vực nghiên cứu
Năm 1998, nhiều công trình nghiên cứu đợc Vụ Giáo dục Thể chất – BộGiáo dục và Đào tạo tổng hợp trong “Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dụcthể chất sức khoẻ trong trờng học các cấp”
Trang 6Những công trình điều tra thế hệ trẻ Việt Nam do giáo s Phạm Song –
Bộ trởng bộ Y tế chủ trì Qua đó phản ánh đợc kết quả điều tra sự phát triểnthể lực ở học sinh
Lê Nữ Vân Thắng (1999) nghiên cứu điều kiện môi trờng, chế độ dinh ỡng và sự phát triển thể lực trẻ em ở một số trờng mầm non trong thành phốVinh
d-Sang thế kỷ XXI, Đảng và Nhà nớc ta đã có những chính sách cũng nh kếhoạch, đề án có khả năng thực thi nhằm giữ gìn, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ,thể lực của thế hệ học đờng, chuẩn bị nguồn nhân lực quan trọng một cáchtoàn diện trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
ở Nghệ An đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái, sinh lí củahọc sinh các cấp [4,5,6,7,8,11,13,15,16,17] Tuy nhiên, các số liệu đa ra chỉmới dừng lại tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Khái niệm sinh trởng và phát triển
Sinh trởng và phát triển là một trong những dấu hiệu đặc trng cơ bản củacơ thể sống Sinh trởng là quá trình tăng về kích thớc của cơ thể do tăng số l-ợng và kích thớc tế bào Phát triển là quá trình biến đổi bao gồm sinh trởng,phân hoá tế bào và phát triển hình thái hình thành các cơ quan và cơ thể
Sinh trởng và phát triển là hai quá trình có liên quan mật thiết với nhau,tác động qua lại với nhau, đôi khi khó có thể phân biệt Sinh trởng là điều kiệncủa phát triển và ngợc lại phát triển làm thay đổi sự sinh trởng, có thể là thúc
đẩy hoặc kìm hãm sự sinh trởng tuỳ theo từng giai đoạn Ví dụ, ở giai đoạnphát dục thì sinh vật thờng lớn nhanh, biến đổi nhiều về hình thái chức năngsinh lí, đến giai đoạn trởng thành thì ngừng lớn hoặc giảm sinh trởng, khi bớcvào giai đoạn già thì cơ thể bắt đầu suy thoái Trong phát triển luôn kèm theo
sự sinh trởng để hình thành và hoàn thiện cấu trúc cũng nh chức năng Ví dụ,trong giai đoạn bào thai có sự lớn lên kích thớc phôi (thông qua quá trìnhnguyên phân) đồng thời có sự hình thành các cơ quan, bộ phận của cơ thể
1.2.2 Quy luật của sự sinh trởng của cơ thể
Theo Penxon (1978) và Satemicop (1968) đã chứng minh một số quy luật
về sinh trởng và phát triển ở ngời và động vật [8]:
- Tốc độ sinh trởng của các cá thể là không đều nhau, lúc nhanh lúcchậm, hay nói cách khác sinh trởng và phát triển của cơ thể ngời và động vậtdiễn ra và thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn của đời sống cá thể
Trang 7- Tốc độ sinh trởng và phát triển của các bộ phận, cơ quan, các mô, thậmchí cả các tế bào khác nhau trong cơ thể cũng không giống nhau.
Tỷ lệ kích thớc các phần của cơ thể có sự thay đổi theo lứa tuổi Ví dụ,chiều cao đầu so với chiều cao cơ thể ở trẻ sơ sinh bằng khoảng 1/4, 2 tuổi là1/5, 6 tuổi là 1/6, ở tuổi dậy thì và ngời lớn chiều cao đầu chỉ bằng 1/8 – 1/7chiều dài cơ thể Hay ở chi dới trẻ sơ sinh rất ngắn chỉ bằng 1/3 chiều dài cơthể, sau tuổi dậy thì và trởng thành thì chi dới dài khoảng 1/2 chiều dài cơ thể
Tỷ lệ khác nhau của các phần, các bộ phận trong cơ thể chứng tỏ có sự sinh ởng và phát triển không đồng đều qua các giai đoạn khác nhau
tr-Theo ớc tính tốc độ tăng trởng trọng lợng cơ thể ở tuổi trởng thành gấp 20lần so với trọng lợng trẻ sơ sinh, trọng lợng của các nội quan nh: tim, phổi,thận … cũng tăng lên khoảng 14 – 15 lần so với lúc mới sinh Một số cơquan, bộ phận khác lại khá phát triển trong giai đoạn phôi nh não bộ của trẻ sơsinh đã nặng 390 g so với ngời trởng thành nặng 1000 g, nh vậy chỉ tăng 3 –
4 lần, sau 10 tuổi trọng lợng não tăng không đáng kể
Trong đời sống phát triển cá thể tuỳ vào loài động vật mà có các giai đoạnsinh trởng và phát triển khác nhau Mỗi giai đoạn đều có đặc điểm về hìnhthái, sinh lí đặc trng riêng Với mục đích xác định những đặc tính quan trọng
đặc trng cho những giai đoạn tiếp diễn của sự sinh trởng và phát triển của trẻ
em nói riêng và con ngời nói chung thì ngời ta chia giai đoạn phát triển thànhnhiều giai đoạn và các thời kỳ khác nhau Cơ sở để phân chia là dựa vào nhữngdấu hiệu đặc trng phát triển khác nhau của các cơ quan nh: phát triển phôi,biệt hoá tế bào, hình thành các cơ quan trong phôi qua các tuần và các thángtuổi Sau khi sinh thì dựa vào sự mọc răng, sự cốt hoá của các phần khác nhaucủa bộ xơng, sự phát triển hoạt động thần kinh …
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, giáo dục và giáo dỡng, sự phát triển củacon ngời có thể chia làm các giai đoạn và thời kỳ với các mức độ phát triểnkhác nhau nh:
- Giai đoạn phát triển phôi: ở giai đoạn này chú ý tới sự hình thành vàphát triển của thai nhi Lúc này chất dinh dỡng cung cấp cho thai sẽ đợc lấy từcơ thể mẹ Do vậy, chúng ta phải chú ý chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cơ thể
mẹ, tránh những tác hại không tốt đến cơ thể bà mẹ nh: buồn bực, nhiễm độc, Đây là việc làm thiết thực và cần thiết cho việc chăm sóc và bảo vệ sức
…
khoẻ trẻ em
- Giai đoạn trẻ sơ sinh (một tháng sau sinh): lúc này trẻ bắt đầu làm quenvới môi trờng ngoài tử cung Các hệ cơ quan bắt đầu hoạt động và thích nghi
Trang 8dần Tuy nhiên, cơ thể còn rất non yếu dễ bị tác động trớc môi trờng sống Vìthế, phải tránh những tác động gây hại cho cơ thể trẻ.
- Giai đoạn bú sữa (1 – 12 tháng): cơ thể lớn nhanh cả về cân nặng vàchiều cao, vì vậy nhu cầu dinh dỡng là rất cao Đồng thời trẻ bắt đầu thành lậpcác phản xạ có điều kiện từ phản xạ không điều kiện Hệ xơng phát triểnnhanh, nên một tuổi các cháu đã biết đi Tuy nhiên hệ cơ lại phát triển chậm,chức năng còn yếu
- Giai đoạn nhà trẻ, mẫu giáo: chậm lớn hơn so với giai đoạn trớc, nhngcác hệ thống chức năng có sự hoàn thiện hơn, các chức năng vận động pháttriển mạnh, hệ thần kinh phát triển, các phản xạ phong phú hơn
- Giai đoạn nhi đồng, thiếu niên (7 – 15 tuổi): các hệ cơ quan đã gần nhhoàn chỉnh trong đó hệ cơ xơng phát triển tơng đối mạnh
- Giai đoạn dậy thì: có sự thay đổi tuỳ từng giới Cơ thể trởng thànhnhanh, cơ bắp phát triển (đặc biệt ở nam), sự biến đổi tâm – sinh lí phức tạp:
có khi trầm ngâm, khi vui, khi buồn, khi cáu gắt
ở ngời các giai đoạn sinh trởng và phát triển chịu sự chi phối của cácnhân tố bên trong: nh đặc điểm loài, tính di truyền, giới tính, chủng tộc… vàcác nhân tố bên ngoài nh môi trờng tự nhiên, xã hội, thời tiết, thức ăn,… Trongquá trình nghiên cứu chúng ta phải chú ý tới các yếu tố ảnh hởng đến sinh tr-ởng và phát triển của cơ thể
1.2.3 Các yếu tố ảnh hởng đến sinh trởng và phát triển của cơ thể
đặc điểm dễ nhận thấy nhất do nhân tố di truyền chi phối đó là tốc độ lớn vàgiới hạn lớn, ngoài ta còn thể hiện ở tất cả những tính trạng khác nh: đặc điểmhình thái, khả năng t duy, trí nhớ …
Đây là một trong những yếu tố có tính chất quyết định đến sinh trởng vàphát triển của cơ thể con ngời
- Yếu tố giới tính:
Do cấu trúc di truyền các yếu tố nam và nữ khác nhau đợc quyết địnhbởi nhiễm sắc thể giới tính đã làm xuất hiện nhiều tính trạng đặc trng cho giới,
Trang 9phân biệt nam và nữ nh: hình thái cơ thể, cơ quan sinh dục, tiếng nói, lớp mỡdới da, tốc độ phát triển,…
Trong cùng một loài, tốc độ sinh trởng và phát triển của sinh vật cũngkhác nhau về sức lớn, vòng đời,… Do giữ chức năng sinh sản nên con cái th-ờng lớn nhanh hơn con đực, đặc biệt là giai đoạn phát dục ở động vật và dậythì ở ngời Tuy nhiên sau khi phát dục ở động vật và dậy thì ở ngời thì hầu nhcon đực lại có tốc độ sinh trởng nhanh hơn
- Hoocmon sinh trởng và phát triển:
Sự sinh trởng và phát triển của sinh vật trong đó có con ngời chịu sự chiphối, tác động, điều khiển của các tuyến nội tiết Các hoocmon sinh trởng vàphát triển đợc tuyến nội tiết tiết ra có tác dụng chi phối trực tiếp đến sự sinh tr-ởng và phát triển theo từng giai đoạn Sự ảnh hởng của hoocmon sinh trởngbiểu hiện rõ rệt hơn cả là ở giai đoạn dậy thì, vì lúc này hệ thống tuyến nội tiết
đã tơng đối hoàn thiện về cấu trúc và chức năng điều hoà
1.2.3.2 Các yếu tố bên ngoài
Cùng với yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài cũng góp phần chi phối sựsinh trởng và phát triển ở ngời
- ảnh hởng của môi trờng sống:
Mỗi cá thể con ngời, sinh ra và lớn lên, hoạt động trong một môi trờngnhất định Môi trờng đó bao gồm rất nhiều các yếu tố có sự tác động qua lại
đối với cơ thể Đó có thể là môi trờng tự nhiên (đất, nớc, không khí,… ), haymôi trờng xã hội (chế độ kinh tế, chính trị, văn hoá,… ) Tất cả những yếu tốnày có thể ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sinh trởng và pháttriển của cơ thể Nếu môi trờng trong sạch, thuận lợi thì cơ thể sinh trởng vàphát triển diễn ra bình thờng, ngợc lại khi môi trờng bất lợi thì làm cho sự sinhtrởng và phát triển chậm lại
- ảnh hởng qua lại của các mối quan hệ xã hội:
Các mối quan hệ xã hội cũng ảnh hởng đến sự sinh trởng và phát triển củacon ngời Trong môi trờng sống luôn tồn tại rất nhiều mối quan hệ phức tạpkhác nhau Các mối quan hệ này có thể là có hại hoặc có lợi, dù có lợi hay cóhại thì nó đều có thể tác động lên sinh trởng và phát triển Trong các mối quan
hệ đó ta thấy đợc ảnh hởng của con ngời, của cộng động và xã hội lên sự sinhtrởng và phát triển của cơ thể là rất rõ
1.3 đặc trng khu vực nghiên cứu
Trang 10Đề tài đợc nghiên cứu tại các trờng Mầm non Đồng Tiến (nông thôn) –Triệu Sơn – Thanh Hoá v Việt L o (thành thị) – Vinh – Nghệ An.
1.3.1 Vị trí và điều kiện địa lý
- Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam (Nghệ An) đợc kiến tạo bởihai nguồn phù sa, đó là phù sa sông Lam và phù sa biển Địa hình bằng phẳng,cao ráo có diện tích 105 km2, dân số 238.000 ngời (số liệu năm 2008).Thành phố Vinh có toạ độ địa lý từ 18 38'50”.°38'50” đến 18 43’38”.°38'50” vĩ độ Bắc, từ
105 56’30” đến 105 49’50”.°38'50” °38'50” kinh độ Đông
Là thành phố nằm trên đờng quốc lộ 1A có tuyến đờng sắt Bắc Nam chạyqua, Vinh là thành phố loại một của tỉnh Nghệ An, đợc coi là trung tâm vănhoá, chính trị của vùng Bắc Trung Bộ Phía Nam và Đông nam giáp huyệnNghi Xuân – Hà Tĩnh; phía Tây và Tây nam giáp huyện Hng Nguyên; phíaBắc giáp huyện Nghi Lộc
- Đồng Tiến có diện tích tự nhiên 7,43 km2, dân số 7760 ngời (số liệunăm 2007), là một xã của huyện Triệu Sơn có diện tích 292,2 km2, dân số 216.489ngời Phía Bắc giáp huyện Thiệu Hoá và huyện Thọ Xuân; phía Nam giáphuyện Nông Cống và huyện Nh Thanh; phía Tây giáp huyện Nh Xuân vàhuyện Thờng Xuân; phía Đông giáp huyện Đông Sơn Triệu Sơn (Thanh Hoá)
đồi núi chiếm tỉ lệ cao Đất nông nghiệp chủ yếu là đất thịt, thích hợp với việctrồng cây lúa nớc
- ở khu vực Triệu Sơn (Thanh Hoá) thì công nghiệp chiếm 18%; nông– lâm – ng chiếm 55%; dịch vụ chiếm 27%; tăng trởng kinh tế chiếm 9,1%;mức thu nhập bình quân: 9 triệu/năm/ngời Cơ cấu kinh tế điển hình nôngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
1.3.3 Đặc điểm thời tiết, khí hậu
- Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt vàgiữa hai mùa thờng có biến động tơng đối lớn Nhiệt độ trung bình 24 C°38'50” Độ
ẩm trung bình 85 -90% Số giờ nắng trung bình 1.694 giờ Năng lợng bức xạdồi dào trung bình 12 tỷ Kcal/ha/năm, lợng ma trung bình hàng năm 2000
mm, thích hợp cho các loại cây trồng phát triển
Trang 11Có hai mùa, gió đặc trng là gió Tây Nam – gió khô xuất hiện từ tháng 5
đến tháng 9 và gió Đông Bắc – mang theo ma phùn lạnh ẩm ớt kéo dài từtháng 10 đến tháng 4 năm sau
Nghệ An có địa hình dốc, phức tạp, chủ yếu là đồi núi Phía Tây là dãyTrờng Sơn ngăn cách với nớc Lào, phía Đông tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ Bởivậy, khí hậu Nghệ An vừa mang đặc điểm khí hậu của vùng nhiệt đới (nóngẩm), vừa mang đặc trng của khí hậu Bắc Trung Bộ Với đặc điểm khô nóng,khí hậu thành phố Vinh (Nghệ An) có khi lên tới 39 C°38'50” – 40 C°38'50” Độ ẩm có thểgiảm thấp 45 – 50%, cờng độ bức xạ nhiệt cao làm cho nhiệt độ mùa hè rấtcao Sự biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp đã gây ảnh hởng trực tiếp đến sự tồntại và phát triển của các chỉ tiêu sinh lý, sinh thái của động vật, thực vật cũng
Đông Bắc và gió Tây Nam (khô, nóng) vào mùa hạ
Chơng 2 đối tợng và phơng pháp nghiên cứu2.1 Đối tợng, thời gian và phơng pháp nghiên cứu
2.1.1 Đối tợng nghiên cứu
Các chỉ số hình thái và thể lực ở học sinh mầm non (3-5 tuổi), của thành phố
và nông thôn Chúng tôi khảo sát trên 576 học sinh mầm non của hai trờng ĐồngTiến – Triệu Sơn– Thanh Hoá v Việt L o – Vinh – Nghệ An
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành từ tháng 9/2008 đến tháng 4/2009
2.1.3 Phơng pháp nghiên cứu
2.1.3.1 Phơng pháp thu mẫu:
- Chúng tôi tiến hành lựa chọn học sinh một cách ngẫu nhiên tại hai trờng
Đồng Tiến– Triệu Sơn – Thanh Hoá v Việt L o – Vinh – Nghệ An
- Chọn mẫu theo hệ thống: theo trờng, theo tuổi, theo giới, …
- Đo hàng loạt cùng một lúc các em ở tất cả lứa tuổi rồi sắp xếp theo từnglứa tuổi và thống kê các đặc tính của các kích thớc từng lứa tuổi Phơng pháp nàykhông cần thời gian theo dõi[6]
Trang 12- Phơng pháp xác định tuổi: tuổi đợc tính theo giấy khai sinh và tính mứcquy tròn tuổi theo Hội nghị Hằng số Sinh học Việt Nam (1975).
+ Chiều cao đứng (H): Tính bằng centimet (cm) Đo bằng thớc dây mềm
có sẵn vạch chia độ Dán cố định thớc dây lên mặt phẳng đứng (mặt tờng) Họcsinh tháo giầy dép, t thế đứng nghiêm trang, hai tay duỗi thẳng, mắt nhìn thẳng,gót chân chụm, với bốn điểm chạm tờng: gót chân, vai, mông, chẩm Tiến hành
đo từ gót chân lên đỉnh, chính xác đến milimet (mm)
+ Vòng ngực trung bình (W): Tính bằng centimet(cm) Đo bằng thớc dây
mềm có sẵn vạch chia độ Đo đờng kính ngực mà giới hạn phía trớc là mỏm ức,phía sau là bả vai Yêu cầu học sinh hít thở bình thờng, mặc áo mỏng Chính xác
17 BMI 18,4 : Suy dinh dỡng độ 1
16 BMI 16,9 : Suy dinh dỡng độ 2
BMI < 16 : Suy dinh dỡng độ 3
2.1.3.4 Phơng pháp đánh giá tố chất vận động
+ Tố chất mạnh (theo Sermeep, 1986): Đo bằng sức bật tại chỗ, không
vung tay Học sinh đứng cách tờng 10 cm (trên tờng đã dán thớc dây có sẵn vạchchia độ), yêu cầu học sinh đặt hai tay căng hết cỡ lên tờng, tay chạm thớc dây,chân không nhón, đo giá trị lúc cha bật Sau đó yêu cầu học sinh bật cao hết sức
đập tay vào dây (không vung tay lại phía sau), đo kết quả Cho học sinh tiến hành
ba lần sau đó lấy giá trị trung bình, chính xác đến milimet (mm)
+ Tố chất dẻo (theo Sermeep, 1986): Đánh giá bởi độ dẻo của cột sống,
bằng cách gập ngời về phía trớc Cho học sinh đứng lên ghế phẳng (chuẩn bị sẵn,
có vạch chia độ), mũi chân chạm mép ghế, cúi gập ngời về phía trớc một cách tối
đa Đo điểm mà ngón tay giữa chạm đến Nếu tay ở phía trên ghế lấy giá trị âm,phía dới ghế lấy giá trị dơng, chính xác đến milimet (mm)
+ Tố chất nhanh (theo Covalep, 1975): Phơng pháp này còn gọi là
“Tepping Test” Đánh giá thông qua độ nhanh nhạy của ngón tay, bằng cách tính
số lợng chấm, chấm đợc trên giấy trong thời gian 15 giây
P
H2
Trang 132.2 Phơng tiện nghiên cứu
+ Cân b n: xác định khối lợng
+ Thớc dây mềm: đo chiều cao, vòng ngực
+ Thớc gỗ hoặc bìa cứng có sẵn vạch chia độ: đo độ dẻo
+ Giấy, phiếu: đánh giá tố chất nhanh
Nếu P < 0,01 sự sai khác rất có ý nghĩa thống kê
Nếu P < 0,05 sự sai khác có ý nghĩa thống kê
Nếu P > 0,05 sự sai khác không có ý nghĩa thống kê
Chơng 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trang 143.1 Sự phát triển chỉ tiêu hình tháI của hs mầm non
3.1.1 Thể trọng (cân nặng) của trẻ nghiên cứu
Thể trọng là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển thể lực và sứckhoẻ con ngời Trọng lợng cơ thể biểu hiện mức độ và tỷ lệ hấp thụ và tiêu haotrong hoạt động sống của cơ thể Trọng lợng cơ thể biến đổi rõ rệt và phụ thuộcvào nhiều yếu tố Trong đó môi trờng dinh dỡng là quan trọng hơn cả [18]
3.1.1.1 Sự phát triển thể trọng theo khu vực
Sự phát triển thể trọng của trẻ từ 3 - 5 tuổi tại hai khu vực nghiên cứu đợcthể hiện qua bảng 3.1 và biểu đồ 3.1
Bảng 3.1 Sự phát triển thể trọng HS tại hai khu vực nghiên cứu
Cân nặng (kg)
Trang 15Biểu đồ 3.2 Sự phát triển thể trọng của HS theo giới
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy thể trọng của học sinh Việt Lào cao hơn
so với học sinh Đồng Tiến ở các độ tuổi Tức là trong cùng một độ tuổi, cùngmột giới thì học sinh ở thành phố có thể trọng tốt hơn so với học sinh nôngthôn Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), dao động từ 0,90 – 1,92
kg, trung bình khoảng 1,36 kg Cụ thể là ở 3 tuổi thì chênh lệch 1,44 kg ở trẻnam và 0,90 kg ở trẻ nữ, ở 4 tuổi mức chênh lệch là 1,54 kg ở trẻ nam và 1,92
kg ở nữ, ở 5 tuổi chênh lệch là 1,23 kg ở trẻ nam và 1,17 kg ở trẻ nữ
3.1.1.2 Sự phát triển thể trọng theo giới
Thể trọng của nam và nữ từ 3 – 5 tại hai khu vực nghiên cứu đợc thểhiện ở biểu đồ 3.2
Từ kết quả so sánh trọng lợng giữa nam và nữ ta thấy có sự tăng lên theo độtuổi ở cả hai giới, điều này phù hợp với quy luật phát triển của cơ thể Trong mỗikhu vực có sự gia tăng về cân nặng theo độ tuổi trong cả hai giới, mức tăng tơng
đối chậm, trung bình khoảng 1,7 - 2 kg/năm
Có sự khác nhau giữa trọng lợng nam và nữ, cân nặng nam cao hơn nữ, tuynhiên sự chênh lệch này không đáng kể ở trờng Mầm non Việt Lào có tốc độ giatăng cân nặng khá đồng đều, bởi vì chế độ chăm sóc và nuôi dỡng trẻ ở thành phốtơng đối ổn định
Việt Lào Đồng Tiến
0 5 10 15 20
Cân nặng (kg)
Trang 16Cân nặng ở cả hai giới có sự gia tăng theo độ tuổi Tại hai khu vực khảo sát
từ 3 – 4 tuổi tăng 1,83 kg ở nam và 1,31 kg ở nữ; từ 4 – 5 tuổi ở nam tăng 1,77
kg ở nữ là 1,96 kg Sự gia tăng này tơng đối đồng đều dao động từ 1,31 – 1,96 kg,tăng trung bình đạt 1,7 kg ở cả hai giới
Trong cùng một độ tuổi thì trọng lợng của nam thờng cao hơn trọng lợng củanữ Cụ thể, ở 3 tuổi học sinh nam nặng hơn học sinh nữ là 0,35 kg (không đángkể), ở 4 tuổi là 0,87 kg và 0,60 kg là sự chênh lệch ở nhóm 5 tuổi Các sai khác này
Khi so sánh kết quả nghiên với kết quả đa ra của Nguyễn Thị Chiên(1998) [6] và Bùi Bích Phơng (2008) [13] thì thể trọng của học sinh ở thời
điểm nghiên cứu cao hơn so với những giai đoạn trớc (bảng 3.2) So vớiNguyễn Thị Chiên thì trọng lợng cao hơn dao động từ 0,63 kg - 2,62 kg, so vớitài liệu của Bùi Bích Phơng là 0,53 kg đến 2,02 kg Điều này có thể giải thích
là do nhiều nguyên nhân nh các đối tợng nghiên cứu thuộc các địa bàn khácnhau, có điều kiện sống khác nhau, thời điểm tiến hành nghiên cứu khác nhau,tốc độ tăng trởng khác nhau Sự gia tăng về thể trọng của học sinh trong thờigian gần đây có thể do chế độ chăm sóc, dinh dỡng của trẻ ngày càng đợc gia
Trang 17Khi so sánh với tiêu chuẩn của Vụ GDMN đa ra về sự phát triển thể trọngcủa trẻ thì học sinh mầm non ở địa bàn nghiên cứu có thấp hơn về giá trị tuyệt
đối, nhng sự cách biệt không nhiều dao động từ 0,36 – 1,5 kg, trung bình là0,75 kg ở cả hai giới và cả 3 độ tuổi
Hiện nay, một bộ phận trẻ em Việt Nam đã đạt đợc mức tăng trởng này.Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ phận không nhỏ trẻ em (chủ yếu là khu vựcnông thôn) vẫn nằm trong diện còi cọc, suy dinh dỡng do thiếu dinh dỡng.Nếu không sớm kịp thời bổ sung dinh dỡng cho trẻ sẽ dẫn đến hiện tợng thấp
bé, nhẹ cân khi trởng thành
Kết luận, sự phát triển thể trọng của học sinh mầm non có sự khác nhau
theo giới cũng nh theo khu vực Điều này có thể giải thích là do sự phát triểnthể trọng của con ngời phụ thuộc vào hai nhóm nhân tố: nhân tố bên trong vàbên ngoài Trong đó nhân tố bên trong ảnh hởng đến sự phát triển thể trọngphải nhắc đến đó là yếu tố di truyền và giới tính Hai yếu tố này ảnh h ởng lớn
đến sự phát triển thể trọng của con ngời sau này, nhất là khi học sinh bớc vàogiai đoạn dậy thì ở lứa tuổi này sự phát triển thể trọng ở học sinh chịu ảnh h-ởng lớn bởi chế độ chăm sóc, dinh dỡng, khí hậu, vui chơi
Sự khác nhau về thể trọng giữa nam và nữ (không rõ rệt) có thể là do sựkhác nhau về giới, thể trạng, ngoài ra còn có sự chi phối do hoạt động của trẻ
ở trẻ nam các hoạt động vận động, vui chơi của các cháu phong phú hơn ở trẻnữ, thời gian và cờng độ hoạt động lớn hơn đòi hỏi sự tiêu tốn nhiều năng l-ợng Năng lợng đợc cung cấp, bổ sung cho cơ thể hoạt động thông qua các bữa
ăn, ở trẻ nam thờng ăn tốt hơn ở trẻ nữ, khả năng thèm ăn thể hiện cao hơn ởtrẻ nữ cùng tuổi, do đó năng lợng đợc tích luỹ nhiều hơn Đồng thời, qua hoạt
động vận động giúp cơ, xơng phát triển, góp phần phát triển thể trọng Từ đóchứng tỏ, sự phát triển thể trọng chịu ảnh hởng của chế độ dinh dỡng là rấtlớn
Khi nghiên cứu ta thấy có sự chênh lệch về thể trọng của học sinh trờng
Đồng Tiến và trờng Việt Lào Điều đó chứng tỏ ở hai khu vực nông thôn vàthành thị có điều kiện chăm sóc sức khoẻ, phát triển cân nặng ở trẻ có sự khácnhau ở thành phố học sinh có thể trọng cao hơn, chứng tỏ thành phố có điềukiện chăm sóc tốt hơn so nông thôn Điều mày phù hợp với kết quả nghiên cứucủa Nguyễn Thị Chiên (1998) [6], nhận định của Bedisow và Hun Do ảnh h-ởng của sự phát triển kinh tế xã hội, ở thành phố số lợng công nhân viên chức
và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao (55%), mức thu nhập cao, bình quân 17 triệu đồng/năm/ngời, khi đó họ có điều kiện chăm sóc con mình hơn ở nông thôn, nơi có
điều kiện kinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân 9 triệu đồng/năm/ngời,nghề nông giữ vai trò chủ yếu
Trang 18Khi thực tế chúng tôi thấy rằng: các trờng mầm non đều tổ chức theo hìnhthức bán trú, học sinh sẽ ở lại sinh hoạt tại trờng Thông thờng, khi ở trờng cáccháu sẽ ăn vào nhiều bữa khác nhau, vào những thời gian nhất định, nh bữasáng có thể ăn cháo thịt, bún cua, … vào bữa tra có thể ăn cơm cùng với thịt, cáxay… và ăn nhẹ khi ngủ dậy nh uống sữa, ăn hoa quả Khi tiếp xúc tìm hiểu,
về cơ bản thì các bữa ăn đã cung cấp đầy đủ các chất cần thiết nh: prôtêin, chấtbéo, gluxit, vitamin, … ợc lấy từ cá, thịt, trứng, rau quả Tuy nhiên, khiđ … tham khảo về chi phí cho một xuất ăn ở trờng dành cho trẻ thì ta thấy ở thànhphố có sự đầu t hơn cho mỗi bữa ăn, giúp nâng cao chất lợng khẩu phần bữa
ăn, cung cấp đầy đủ chất dinh dỡng cho trẻ
Đối với khu vực nông thôn, do điều kiện kinh tế còn hạn chế, các gia đình
ít chú trọng đến chế độ dinh dỡng riêng cho con trẻ ở đó các cháu đều ănchung khẩu phần với gia đình, không có chế độ, khẩu phần riêng, ít bữa ănphụ Trong khi đó, học sinh thành phố ngoài những bữa ăn ở trờng, ở nhà cáccháu còn đợc bổ sung dinh dỡng bằng những bữa ăn nhẹ với những thức ăn dễtiêu hoá vào đêm nh uống sữa, ăn bánh, hoa quả… đã đề cập ở trên.nh
3.1.2 Chiều cao của trẻ nghiên cứu
Chiều cao là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá sự phát triển thểlực của con ngời Sự tăng kích thớc chiều cao phụ thuộc vào sự phát triển củaxơng trong quá trình tăng trởng, thể hiện ở sự tăng trởng các đốt sống của cộtsống, của xơng dài nh xơng đùi, xơng cẳng chân Để đánh giá sự tăng trởngchiều cao của từng đối tợng chúng tôi khảo sát chiều cao đứng, là chỉ số phản
ánh sự tăng trởng của toàn cơ thể
3.1.2.1 Sự phát triển chiều cao của trẻ theo khu vực
Chiều cao của trẻ từ 3 – 5 tuổi tại hai khu vực nghiên cứu đợc thể hiện ởbảng 3.3 và biểu đồ 3.3
Bảng 3.3 Sự phát triển chiều cao của HS tại hai khu vực nghiên cứu
Chiều cao (cm)
Trang 19Từ kết quả nghiên cứu so sánh sự phát triển chiều cao của trẻ tại khu vựcnghiên cứu thì thấy học sinh trờng Việt Lào có chiều cao tốt hơn so với học sinh tr-ờng Đồng Tiến trong cùng một lứa tuổi, một giới Cụ thể là ở 3 tuổi thì chênh lệchtrung bình 2,10 cm ở trẻ nam và 2,64 cm ở trẻ nữ, ở 4 tuổi có mức chênh lệch là3,20 cm ở trẻ nam và 3,60 cm ở trẻ nữ, ở 5 tuổi chênh lệch là 1,14 cm ở trẻ nam và1,35 cm ở trẻ nữ Sự chênh lệch ở đây có ý nghĩa thống kê (P < 0,01).
3.1.2.2 Sự phát triển chiều cao của trẻ theo giới tính
Chiều cao của trẻ từ 3 – 5 tuổi tại địa bàn nghiên cứu đ ợc thể hiện ởbiểu đồ 3.4
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tăng lên theo độ tuổi ở cả hai giới,
điều này phù hợp với quy luật phát triển chung của cơ thể Sự phát triển chiềucao của học sinh hai khu vực là khác nhau, học sinh trờng Mầm non Việt Làocao hơn so với học sinh trờng Mầm non Đồng Tiến Mức chênh lệch chiều caogiữa nam và nữ của học sinh Việt Lào là không đáng kể, trung bình 0,5 cm.Trong khi đó mức chênh lệch giữa nam và nữ ở trờng Đồng Tiến là 0,89 cm
Biểu đồ 3.4 Sự phát triển chiều cao của HS theo giới
Biểu đồ 3.3 Sự phát triển chiều cao của HS tại hai khu vực