Chương 3: ý nghĩa, giá trị của việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh vμ việc phát huy những nét đẹp của tục thờ trong giai đoạn hiện nay vμ lễ hội thờ Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm giμng, tỉnh hải
Trang 1Trường Đại học văn hoá Hμ Nội
Khoa bảo tμng
***********
Hμ thị trang
Tìm hiểu việc phụng thờ đại danh y
tuệ tĩnh ở huyện cẩm giμng
Trang 2Lời Cảm ơn!
Trong quá trình thực hiện khoá luận, người viết đã gặp nhiều khó khăn Song, với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ nhiệt tình của Tiến Sĩ Nguyễn Việt Hương, các thầy cô trong khoa Bảo Tμng trường Đại học Văn Hoá Hμ Nội, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ trong ban quản lý các di tích, người viết đã hoμn thμnh bμi khoá luận của mình Nhân đây, người viết xin bμy tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới sự giúp đỡ quý báu đó
Tuy nhiên, với năng lực của một sinh viên chưa được tiếp xúc nhiều với thực tế, còn thiếu nhiều kinh nghiệm nên những khiếm khuyết trong khoá luận lμ không thể tránh khỏi Rất mong các thầy cô cùng các bạn đóng góp ý kiến để bμi khoá luận được hoμn chỉnh hơn vμ tiến bộ hơn
Trang 3Mục lục
Trang
mở đầu
1 Lý do chọn đề tμ: 1
2 Đối tợng vμ phạm vi nghiên cứu: 2
3 Mục đích vμ nhiệm vụ nghiên cứu: 3
4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 4
5 Phơng pháp nghiên cứu : 5
6 Bố cục khoá luận : 6
Chương 1: huyện Cẩm Giμng vμ đại danh y Tuệ Tĩnh 1.1 Lịch sử vùng đất Cẩm Giμng: 7
1.1.1 Sự hình thμnh vμ phát triển: 7
1.1.2 Vμi nét về truyền thống văn hoá: 7
1.1.2.1 Văn hoá vật thể: 10
1.1.2.2 Văn hoá phi vật thể: 11
1.2 Đại danh y Tuệ Tĩnh: 17
Chương 2 : những di tích vμ lễ hội phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh tại huyện cẩm giμng 2.1 Giới thiệu chung: 23
2.2 Đền Xa (Xã Cẩm Vũ – Huyện Cẩm Giμng – Tỉnh Hải Dương): 23
2.2.1 Di tích: 23
2.2.1.1 Niên đại khởi dựng vμ quá trình tồn tại: 24
2.2.1.2 Không gian cảnh quan vμ bố cục mặt bằng: 25
Trang 42.2.1.3 Kết cấu kiến trúc: 26
2.2.1.4 Tợng thờ vμ các di vật tiêu biểu: 31
2.2.1.5 Trang trí trên kiến trúc: 33
2.2.2 Lễ Hội: 34
2.2.2.1 Phần lễ: 35
2.2.2.2 Phần Hội: 38
2.3 Chùa Giám (xã Cẩm Sơn – huyện Cẩm Giμng – tỉnh Hải Dương): 40 2.3.1 Di Tích: 40
2.3.1.1 Niên đại khởi dựng vμ quá trình tồn tại: 40
2.3.1.2 Không gian cảnh quan vμ bố cục mặt bằng: 41
2.3.1.3 Kết cấu kiến trúc: 43
2.3.1.4 Tợng thờ vμ các di vật khác: 48
2.3.1.5 Trang trí trên kiến trúc: 51
2.3.2 Lễ Hội : 52
2.3.2.1 Phần Lễ:: 52
2.3.2.2 Phần Hội: 58
2.4 Đền Bia (xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giμng, tỉnh Hải Dương): 60
2.4.1 Di tích: 60
2.4.1.1 Niên đại khởi dựng vμ quá trình tồn tại: 60
2.4.1.2 Không gian cảnh quan vμ bố cục mặt bằng: 61
2.4.1.3 Kết cấu kiến trúc: 62
2.4.1.4 Tợng thờ vμ các di vật tiêu biểu khác: 68
2.4.1.5 Trang trí trên kiến trúc: 70
2.4.2 Lễ Hội Đền Bia : 70
2.4.2.1 Phần Lễ : 71
2.4.2.2 Phần Hội : 73
Trang 5Chương 3: ý nghĩa, giá trị của việc phụng thờ Đại
danh y Tuệ Tĩnh vμ việc phát huy những nét đẹp của
tục thờ trong giai đoạn hiện nay
vμ lễ hội thờ Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm giμng,
tỉnh hải dƯơng: 76
3.1.1 Điểm tương đồng: 76
3.1.2 Điểm khác biệt: 80
3.2 Bản chất ý nghĩa vμ giá trị việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Giμng: 83
3.3 Phát huy những nét đẹp của việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh trong giai đoạn hiện nay: 87
3.3.1 Bảo tồn, tôn tạo cụm di tích: 87
3.3.1.1 Bảo vệ cụm di tích: 87
3.3.1.2 Tôn tạo cụm di tích: 93
3.3.2 Khôi phục giá trị truyền thống của lễ hội: 94
3.3.3 Huy động các nguồn lực trong vμ ngoμi địa phương để bảo vệ vμ phát huy giá trị của di tích: 95 Kết luận
Trang 6mở đầu
1 Lý do chọn đề tμi
Trong suốt chặng đường dμi lịch sử hơn 4000 năm dựng nước vμ giữ nước của dân tộc Vịêt nam, ở bất kỳ nơi đâu chúng ta đều bắt gặp những di tích lịch sử văn hoá như : đình, đền, chùa, nghè, miếu, lăng tẩm Những
di tích ấy kết tinh trí tuệ công sức, tình cảm của con người Đó chính lμ những Di sản văn hoá vô cùng quý giá mμ ông cha ta đã để lại cho hậu thế
Những di tích ấy được coi như lμ một bảo tμng sống về nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, vμ tín ngưỡng tâm linh bản địa Thật tiếc rằng khí hậu khắc nghiệt cùng các cuộc chiến tranh cũng như những hμnh động không có
ý thức của con người đã huỷ hoại biết bao di tích Vì thế các di tích lịch sử văn hoá nước ta ngμy cμng trở lên quý hiếm vμ sẽ ngμy cμng quý hiếm hơn trong tương lai
Ngμy nay, trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển không ngừng, con người không vì thế mμ quên đi tất cả quá khứ Sự tìm về với cội nguồn lμ một nhu cầu không thể thiếu trong tâm linh của người Việt
Với ý nghĩa vμ tầm quan trọng như vậy, hơn lúc nμo hết chúng ta cần phải nghiên cứu, bảo vệ những di sản quý giá ấy để kế thừa những tinh hoa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Di tích đền, chùa thờ Tuệ Tĩnh tại huyện Cẩm Giμng, tỉnh Hải Dương
lμ những di tích có giá trị lớn về mặt lịch sử, văn hoá vμ kiến trúc nghệ thuật, đồng thời nổi tiếng lμ rất linh thiêng Vμo những ngμy mới khởi dựng những di tích nμy thì dòng người xếp hμng xin thuốc chữa bệnh vμ cầu khấn xếp hμng dμi rới hμng ngμn km Một vị vua triều Nguyễn khi đó phải ganh ghét mμ nói rằng: “Ta lμ vua một nước cả ngμy không có người đến lạy lễ
mμ một người thấp hèn như Tuệ Tĩnh lại có hμng ngμn người đến tế bái”
Trang 7Việc phụng thờ đại danh y Tuệ Tĩnh thể hiện những nét đẹp trong văn hoá truyền thống của người dân Cẩm Giμng Hiện nay, những tích phụng thờ ông đã có sự xuống cấp, những nét văn hoá truyền thống trong lễ hội đã mai một dần
Đại danh y Tuệ Tĩnh lμ bậc thánh có nhiều công lao đóng góp chonền y học nước nhμ Ông có sự ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân, để lại trong nhân dân nhiều suy nghĩ vμ hμnh động tốt đẹp Những di tích vμ lễ hội phụng thờ ông ẩn chứa những giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học lớn, thể hiện bản chất vμ những nét đẹp riêng trong việc phụng thờ đại danh y Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Giμng
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu, bảo vệ các
di tích, khai thác vμ phát huy những nét đẹp truyền thống trong việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh – Vị thánh thuốc Nam, cùng với tình yêu quê hương đất nước người viết mạnh dạn chọn đề tμi “Tìm hiểu việc phụng thờ
Đại danh y Tuệ Tĩnh tại huyện Cẩm Giμng, Tỉnh Hải Dương” lμm bμi khoáluận tốt nghiệp của mình
Với đề tμi nμy, người viết muốn góp một phần quan trong vμo việc giới thiệu vμ lμm rõ những giá trị tiêu biểu trong lịch sử vị thần được thờ vμ giá trị lịch sử, kiến trúc, văn hoá của các di tích phụng thờ ông Đồng thời tìm hiểu, khai thác bản chất ý nghĩa, giá trị của việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh
2 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu lμ việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Giμng, tỉnh Hải Dương, với ba di tích phụng thờ đó lμ: Đền Xưa, xã Cẩm Vũ; Chùa Giám, xã Cẩm Sơn; Đền Bia, xã Cẩm Văn Luận văn tập trung nghiên cứu để lμm rõ hơn các vấn đề về lịch sử nhân vật được thờ, vị trí cũng như những giá trị kiến trúc, nghệ thuật, lễ hội của di tích
Đặc biệt nhấn mạnh hơn vμo việc khai thác bản chất ý nghĩa, giá trị của việc
Trang 8phụng thờ qua việc phát hiện những điểm tương đồng, khác biệt trong di tích vμ lễ hội Từ đó đưa ra những biện pháp để bảo vệ, bảo tồn vμ phát huy giá trị của các di tích
- Phạm vi nghiên cứu cụm di tích từ khi xây dựng cho đến ngμy nay với tất cả không gian cảnh quan, giá trị kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, văn hoá của di tích
3 Mục đích vμ nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Qua việc nghiên cứu về việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh tại huyện Cẩm Giμng đề tμi nhằm nhấn mạnh nét đẹp trong văn hoá truyền thống của người dân trong huyện Cẩm Giμng Đồng thời hiểu biết thêm những giá trị lịch sử, văn hoá của di tích, góp phần bảo tồn di sản văn hoá quý báu của dân tộc
* nhiệm vụ:
Để thực hiện được mục đích trên, đề tμi sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Phác thảo vμi nét tiêu biểu về vùng đất, con người Cẩm Giμng vμ
Đại danh y Tuệ Tĩnh Đây chính lμ nền tảng của việc phụng thờ Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Giμng
- Khảo sát giá trị lịch sử, khiến trúc, nghệ thuật vμ lễ hội của di tích
- Phát hiện những điểm tương đồng vμ khác biệt trong di tích vμ lễ hội Nhấn mạnh hơn vμo việc khai thác bản chất ý nghĩa, giá trị của việc phụng thờ, đây lμ phần trọng tâm mμ đề tμi hướng đến để lμm nổi bật những nét văn hoá đặc trưng tiêu biểu của con người Cẩm Giμng Từ đó đề xuất những giải pháp để bảo tồn vμ phát huy giá trị của di tích
Trang 94 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tìm hiểu về Tuệ Tĩnh vμ những di tích phụng thờ ông lμ một đề tμi đã
được một số tác giả đi trước đề cập Có thể phân thμnh các nhóm tμi liệu như sau:
* Những tμi liệu viết về cuộc đời vμ sự nghiệp Đại danh y Tuệ Tĩnh:
- “Từ điển nhân vật lịch sử” của hai tác giả Nguyễn Quang Thắng vμ nguyễn Bá Thế
- “Nhân vật lịch sử Đại danh y Tuệ Tĩnh” của Nguyễn Duy Cách
- “Thân thế, sự nghiệp Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh” của Ban văn hoá xã Cẩm Vũ
- “Tuệ Tĩnh vun trồng cây đức được quả phúc” của tác giả Vũ Kiên
đăng trên báo Sức khoẻ vμ đời sống
Ngoμi ra, còn có rất nhiều bμi viết về Đại danh y Tuệ Tĩnh trên các trang web Có thể kể ra đây một số bμi viết tiêu biểu trên các trang web như:
- “Tuệ Tĩnh” trên webside: vi.wikipedia.org
- “Đại danh y Tuệ Tĩnh” trên webside: vietnamthuquan.net
- “Tuệ Tĩnh” trên webside: vietsciences.free.fr
Những tμi liệu trên đã nêu lên những netstieeu biểu nhất về thân thế
vμ sự nghiệp của Đại danh y Tuệ Tĩnh, cũng như những đóng góp lơn lao của ông với nền y học nước nhμ
* Những tμi liệu viết về quê hương Đại danh y Tuệ Tĩnh:
Có nhiều bμi viết về mảnh đất Cẩm Giμng như tác phẩm “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Cẩm Giμng văn hiến” của Ban thường vụ huyện uỷ Cẩm Giμng Nhưng cuốn sách “Cẩm Giμng văn hiến” lμ tiêu biểu nhất Tμi liệu
đã tóm lược được những vấn đề cơ bản nhất về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá của các xã trong huyện, giúp người đọc hình dung một cách khái quát nhất về mảnh đất vμ con người Cẩm Giμng
* Những tμi liệu viết về các di tích phụng thờ Tuệ Tĩnh:
Trang 10- “Nơi thắp sáng niềm tin” của tác giả Giang Đμm Khánh
- “Hồ sơ di tích đền Bia” của Lê Thị Dự
- Hồ sơ di tích chùa Giám
Những tμi liệu trên đã đưa ra những vấn đề liên quan đến ba di tích về tên gọi, vị trí,những giá trị tiêu biểu nhất về mặt kiến trúc của các di tích phụng thờ Tuệ Tĩnh
Bên cạnh đó còn có rất nhiều bμi báo, phóng sự khác viết về Tuệ Tĩnh
vμ huyện Cẩm Giμng cùng các di tích phụng thờ ông Tuy nhiên tất cả mới chỉ dừng lại ở mức độ riêng lẻ trong từng di tích mμ chưa có một công trình nμo nghiên cứu tổng thể cả ba di tích phụng thờ Tuệ Tĩnh trong huyện Cẩm Giμng
Như vậy, vấn đề phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh tại cụm di tích đền Xưa, đền Bia, chùa Giám ở huyện Cẩm Giμng chưa có một công trình nμo khai thác Đề tμi muốn đề cập tới vấn đề nμy ở cấp độ cụm di tích để có thể
đưa ra được những khái quát về bản chất ý nghĩa của việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Giμng
5 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vμ chủ
nghĩa duy vật lịch sử để xem xét những sự vật, hiện tượng phát triển theo quy luật tất yếu khách quan
- Phương pháp chủ yếu lμ phương pháp điền dã, khảo tả thực địa để quan sát, miêu tả, đo vẽ, phỏng vấn, thu thập tμi liệu hiện có của di tích
- Ngoμi ra, còn sử dụng phương pháp liên ngμnh của nhiều ngμnh khoa học như Bảo tμng học, Bảo tồn di tích, Mỹ thuật học
6 Bố cục khoá luận
Ngoμi phần mở đầu, kết luận, tμi liệu tham khảo vμ mục lục, bố cục khoá luận gồm 3 chương :
Chương 1: Huyện Cẩm Giμng vμ Đại danh y Tuệ Tĩnh
Trang 11Chương 2: Các di tích vμ lễ hội phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh ở huyện Cẩm Giμng
Chương 3: ý nghĩa, giá trị của việc phụng thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh vμ việc phát huy những nét đẹp truyền thống của tục thờ trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Từ thời Hùng Vương, vùng đất Cẩm Giμng đã có người đến sinh sống, trồng lúa nước vμ chế tác công cụ lao động thô sơ Đây lμ vùng đất cổ được hình thμnh sớm trong lịch sử lμng xã Việt Nam, thuộc trung tâm của nền văn minh châu thổ Sông Hồng
Huyện Cẩm Giμng từ thời Trần về trước có tên gọi lμ Đa Cẩm, đến niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1469) được đổi thμnh Cẩm Giang (dòng sông gấm) Sau năm 1533 để tránh phạm tên uý của chúa Trịnh Giang, huyện Cẩm Giang được gọi lμ Cẩm Giμng cho đến ngμy nay
Nơi đây đã sinh ra vμ nuôi dưỡng nhiều nhân tμi của quê hương, đất nước, có người lμ danh nhân đất việt, có người được suy tôn lμ “thần
đồng” mảnh đất nμy còn lưu giữ những chiến tích hiển hách từ thời các vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến sau nμy Cẩm Giμng được coi
lμ “vùng đất văn minh của miền Hải Dương”
Địa giới hμnh chính huyện Cẩm Giμng xưa gồm hầu hết thμnh phố Hải Dương vμ một phần huyện Mỹ Hμo tỉnh Hưng Yên ngμy nay Năm 1800 Cẩm Giμng có 14 tổng, 85 xã 148 thôn; năm 1891 cắt hai tổng Vương Xá vμ Hoμ Đam cho huyện Mỹ Hμo tỉnh Hưng Yên vμ nhận hai xã Cẩm Hưng vμ
An Trang (Cẩm Sơn ngμy nay) thuộc huyện Gia Lương (tỉnh Bắc Ninh) vμo
Trang 13huyện Cẩm Giμng Đến năm 1900, Cẩm Giμng có 13 tổng, 89 xã, 57500 nhân khẩu
Thế kỷ thứ XVIII đến thế kỷ XIX, thủ phủ của tỉnh Đông (Hải Dương ngμy nay) đóng tại xã Mao Điền, tổng Mao Điền, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương Năm 1804 tỉnh lỵ được chuyển về xã Hμn Thượng, tổng Hμn Giang, huyện Cẩm Giμng nay thuộc thμnh phố Hải Dương
Sau cách mạng tháng tám thμnh công, năm 1948 do yêu cầu của cuộc kháng chiến, xã Thanh Bình được cắt về thμnh phố Hải Dương Hoμ bình lập lại năm 1955 xã Thanh Bình lại được trả về Cẩm Giμng Năm 1969, do yêu cầu mở rộng tỉnh lỵ Bốn xã lμ Tứ Minh, Thanh Bình, Việt Hoμ, Cẩm Thượng của Cẩm Giμng được cắt về thμnh phố Hải Dương Tháng 3 năm 1977, Cẩm Giμng hợp nhất với Bình Giang thμnh huyện Cẩm Bình có 37 xã, thị trấn, diện tích 220 km2 (trong đó có 13580 ha canh tác), dân số lμ 158000 người Sau 20 năm sáp nhập, ngμy 1 – 4 – 1997 huyện Cẩm Giμng được tách với
2 thị trấn, 17 xã Hiện nay huyện có diện tích 109,3 km2, với 29282 hộ,
116610 khẩu
Thời Hậu Lê, trụ sở huyện đặt tại xã Trữ La; năm Minh Mệnh 19 (1838) được chuyển về xã Kim Quang; thời thuộc pháp đặt tại khu ga Cẩm Giμng; năm 1959 chuyển về thôn Đỗ Xá, xã Cao An; cuối năm 1968 đầu năm 1969, chuyển về xã Lai Cách (nay lμ thị trấn Lai Cách); khi hợp nhất với huyên Bình Giang vμ sau khi tái lập huyện lỵ vẫn đóng tại đây
Cẩm Giμng lμ huyện đồng bằng có hệ thống giao thông thuỷ, bộ thuận lợi Đường giao thông do huyện quản lý có chiều dμi 351,4 km được trải nhựa vμ vật liệu cứng; đáp ứng nhu cầu sản xuất vμ sinh hoạt của nhân dân Quốc lộ 5, tuyến đường sắt Hμ Nội – Hải Phòng qua huyện với hai nhμ gai tại thị trấn Cẩm Giμng vμ Cao Xá (xã Cao An), sông Thái Bình với cảng Tiên Kiều nằm ở phía Đông Bắc huyện tạo cho Cẩm Giμng lợi thế đặc biệt về giao lưu, phát triển kinh tế xã hội
Trang 14Nông nghiệp lμ ngμnh sản xuất truyền thống lâu đời ở huyện Đất đai bằng phẳng, mμu mỡ, phù hợp cho nền nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hμng hoá, có khả năng đa dạng hoá các sản phẩm lúa đặc sản, rau mầu xuất khẩu như cμ rốt, bí xanh, ngô, ớt Vμ đặc biệt nhiều cánh đồng có thể luân phiên 3 – 4 vụ/năm Về sản xuất lúa nước, Cẩm Giμng lμ nơi đi đầu trong việc trồng lúa bằng phương pháp gieo thẳng, lμm mạ sân, cấy mạ non,
đưa các giống lúa mới vμo sản xuất, như lúa đơn thuần có năng suất cao, lúa hai dòng, ba dòng, nên năng xuất lúa của huyện nhiều năm đứng đầu toμn tỉnh Nhiều xã, thị trấn đã xây dựng những cánh đồng thâm canh, chuyên canh với những loại cây trồng cho năng suất, kết quả cao, đạt trên 50 triệu
đồng/ha Các dịch vụ điện, nước, bảo vệ thực vật đảm bảo nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hμng hoá, phát triển kinh tế trang trại Do có thμnh tích phục vụ sản xuất nông nghiệp, trạm bơm Cầu Ghẽ được nhμ nước phong tặng danh hiệu anh hùng lao động
Cùng với nông nghiệp, thương mại vμ dịch vụ ngμy cμng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế vμ ổn định xã hội, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất vμ sinh hoạt của nhân dân
Bưu chính viễn thông đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trao đổi thông tin trong nước vμ quốc tế Các loại hình dịch vụ như chuyển phát nhanh, điện hoa, tiết kiệm bưu điện đã được đưa vμo khai thác tại bưu điện huyện vμ các đại lý bưu điện uỷ thác Đến nay 100% số xã, thị trấn có bưu điện văn hoá xã Cẩm Giμng lμ huyện đầu tiên của tỉnh Hải Dương có máy điện thoại
đến 100% thôn, khu dân cư
Phát huy truyền thống quê hương, qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ tổ quốc, nhất lμ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước Cẩm Giμng đã lập được nhiều thμnh tích vẻ vang Năm 1998, huyện vinh dự được Đảng vμ nhμ nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân”
Trang 151.1.2 Vμi nét về truyền thống văn hoá
1.1.2.1 Văn hoá vật thể:
Cẩm Giμng lμ huyện có truyền thống văn hoá giáo dục lâu đời vμ cũng
lμ mảnh đất giμu di tích lịch sử văn hoá vμ danh lam thắng cảnh Trải qua hμng ngμn năm với những thăng trầm, sự tμn phá của chiến tranh, thiên tai, nhưng nhờ sự quan tâm của Đảng vμ nhμ nước, truyền thống chân trọng di tích lịch sử văn hoá của nhân dân Đến nay, Cẩm Giμng còn lưu giữ được rất nhiều di tích có giá trị, trong số 1098 di tích được kiểm kê đăng kí trong toμn tỉnh, Cẩm Giμng có 203 di tích (bao gồm đình, đền, chùa, nghè, miếu ) trong đó có 16 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, công trình kiến trúc nμo cũng to đẹp, khang trang xứng đáng với tầm vóc của một vùng quê giμu đẹp, khiến cho người xưa đi xa trở về lμng cũng bμng hoμng bịn rịn Đặc biệt cụm
di tích thờ Tuệ Tĩnh bao gồm đền Xưa (xã Cẩm Vũ), đền Bia (xã Cẩm Văn), chùa Giám (xã Cẩm Sơn) lμ một quần thể di tích tôn vinh vị thánh thuốc nam
Đại danh y Tuệ Tĩnh Hμng năm mỗi độ xuân về, nhân dân trong nước lại tụ họp về đây tưởng nhớ đến vị thánh thuốc nam vμ cầu mong cho cuộc sống những điều tốt đẹp nhất Đây lμ tμi sản vô giá, lμ niềm tự hμo của nhân dân Cẩm Giμng
Ngoμi cụm di tích Tuệ Tĩnh còn có Văn Miếu Mao Điền lμ một trong năm Văn Miếu hiện còn của cả nước vμ lμ chứng tích của một vùng quê hiếu học Đây lμ nơi thờ triết gia vĩ đại Khổng Tử, ông tổ của Đạo Nho vμ những
vị sư biểu của đất nước, trong đó có các vị người tỉnh Đông Qua nhiều lần trùng tu tôn tạo lμm cho Văn Miếu trở thμnh một quần thể kiến trúc hoμn chỉnh với hai toμ tiền tế vμ hậu cung (mỗi toμ 7 gian) xây theo kiểu chữ Nhị, , nhμ Khải thánh, nhμ Đông vu, nhμ Tây vu, tháp bút, Đμi nghiên, Gác khuê văn, Gác Trống tất cả đều được tạo dựng bằng nghệ thuật tinh xảo Bên cạnh khuôn viên lμ nơi dựng lều thi của các sĩ tử ngμy xưa.Văn Miếu Mao
Trang 16Điền lμ một địa chỉ khuyến học, khuyến tμi, một danh lam thắng cảnh, một
di tích lịch sử quốc gia cần được giữ gìn vμ tu bổ để tiếp tục toả sáng trong hiện tại vμ tương lai
Những năm gần đây, hμng chục nghìn công trình kiến trúc cổ đã được trùng tu tôn tạo bằng tiền công đức của nhân dân Phong trμo toμn dân bảo vệ
di tích đã được phát triển rộng khắp các lμng xã, nhiều ban quản lý di tích hoạt động tự nguyện vμ có hiệu quả Mỗi năm, ngoμi kinh phí của nhμ nước, nhân dân trong huyện đóng góp hμng trăm triệu đồng vμ hμng vạn ngμy công lao động bảo tồn hμng trăm di tích Những di tích trọng điểm đã hoμn thμnh việc chống xuống cấp, từng bước chuyển sang giai đoạn tôn tạo, nhiều công trình được tái tạo trên nền tảng của phế tích
1.1.2.2 Văn hoá phi vật thể
* Lμng nghề truyền thống:
Cẩm Giμng nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai phì nhiêu Cũng như bao miền quê khác Cẩm Giμng phát triển nhờ vμo thế mạnh sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước, các loại rau mμu, chăn nuôi vμ kinh doanh Bên cạnh nghề chính lμ sản xuất nông nghiệp, từ xa xưa Cẩm Giμng đã dần hình thμnh các lμng nghề truyền thống theo đặc trưng riêng của mỗi vùng lμng quê: Chạm khắc gỗ Đông Giao (xã Lương Điền), rượu Phú Lộc (xã Cẩm Vũ), lμm nón (xã Cẩm Điền), bột lọc (quý Dương) những nghề truyền thống của các địa phương đã đi vμo trong ca dao vμ trở thμnh thường trực trong đời sống của người dân:
“Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có về tổng Giám với anh thì về Tổng Giám có ruộng tứ bề
Có ao tắm mát, có nghề ươm tơ”
“Trai thì thợ mộc quanh năm
Trang 17Gái thì dệt vải chăn tằm, kéo tơ
Yêu nhau chỉ một ước mơ
Kén anh thợ giỏi, chọn cô dệt tμi”
Nghề chạm khắc gỗ ở Đông Giao ra đời vμo khoảng thế kỷ XVII, đến thế kỷ XIX những thợ giỏi được triệu vμo Huế để phục vụ trong cung đình Thợ Đông Giao chuyên lμm các đồ thờ vμ trang trí nội thất như ngai, ỷ, cửa võng, hương án, trμng kỷ, tượng gỗ Thợ ở đây chỉ lμm phần mộc, việc sơn, khảm, thếp thì do lμng nghề khác đảm nhiệm Nét mới ở đây lμ ngμy xưa phụ nữ đi theo các hiệp thợ để nấu cơm vμ lμm việc nhẹ, thì ngμy nay, họ tham gia hầu hết các công đoạn của nghề chạm Hμng năm thợ Đông Giao không chỉ sản xuất hμng tại quê nhμ mμ có hμng trăm thợ đi lμm tại các trung tâm sản xuất hμng gỗ mỹ nghệ tại các doanh nghiệp ở các thμnh phố lớn cũng như các lμng nghề Một số nghệ nhân được nhμ nước trao tặng danh hiệu
“Bμn Tay Vμng”
Rượu Phú Lộc lμ một đặc sản của quê hương Cẩm Giμng Rượu thì lμng nμo cũng có thể sản xuất, nhưng nấu rượu thơm ngon, tinh khiết vμ trở thμnh một nghề của cả lμng thì mỗi tỉnh cũng chỉ có một vμi nơi ở những nơi ấy thường có bμi thuốc men vμ xử lý nguyên liệu riêng, tạo nên hương vị
vμ chất lượng khác nhau, người sμnh rượu dễ phân biệt Những loại rượu như thế thường được gọi theo tên lμng sản xuất như: Rượu Vân (Bắc Ninh); Hμnh Lạc, Lạc Đạo (Hưng Yên), nhưng nổi tiếng xưa nay mμ nhiều người biết đến,
kể cả chuyên gia một số nước lμ rượu Phú Lộc Đây lμ một thôn của xã Cẩm
Vũ có nghề nấu rượu cổ truyền Rượu Phú Lộc tinh khiết, hương thơm uống ngọt giọng, không xốc, nồng độ thường rất cao 50 đến 60 độ, châm lửa bắt cháy ngay Để có được dặc sản ấy người Phú Lộc đã phải tích luỹ kinh nghiệm hμng thế kỷ vμ có ý thức giữ gìn danh tiếng của mình Hμng năm tiêu thụ từ 1.500.000 đến 1.800.000 lít
Trang 18Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm của lμng nghề truyền thống không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong nước mμ còn vươn xa, chiếm lĩnh một số thị trường ở khu vực Châu á vμ thế giới, thể hiện
sự cần cù khéo léo, tμi hoa, tâm hồn cao đẹp, con mắt thẩm mỹ tinh tế của người dân Cẩm Giμng
* Phong tục tập quán:
Phong tục lμ thói quen, tục lệ lâu đời của một địa phương, một dân tọc, một đất nước đã ăn sâu vμo tiềm thức, được truyền từ thế hệ nμy qua thế hệ khác, lμm cho người đời sau tuân theo một cách tự giác Phong tục tập quán
có ở hầu hết các lĩnh vực trong đời sống con người, lμ đặc trưng văn hoá cộng đồng biểu hiện trình độ văn minh của cộng đồng đó
Ngμy xưa, việc hiếu hỉ, giỗ, tết, có nhiều nghi lễ phức tạp, xong cũng tuỳ phong tục, hoμn cảnh của từng lμng, từng gia đình mμ vận dụng Trong tang lễ xưa có lễ Thiết linh thắt hồn bạch, đặt linh vị, nay thay bằng bức chân dung; ngμy xưa Tiết Trung Nguyên có lễ đốt vμng mã tế thần Vu Lan (thần
âm dương chuyển vận xứ), trong buổi lễ có quỳ bμi, điển độc, sơ hiến, tái hiến, tam hiến, tuần tạo nên không khí trang nghiêm
Người Cẩm Giμng quan niệm rằng điều gì hay ta nên giữ, điều gì không hay ta loại bỏ dần Trong lễ tang, khi khách vái lạy cha mẹ mình, thì tang chủ phải lễ tạ khách Đó lμ lễ tục hay, ở thời nμo cũng nên giữ Tuy nhiên có thể thay bằng cách nghiêng mình cúi chμo thay cho hai lạy trước kia Khi đã kính cẩn dâng lễ vật lên bμn thờ, thμnh kính đốt nế hương thơm, trầm ngâm nhìn lên linh toạ, con cháu muốn thổ lộ tâm tình tưởng niệm, khấn vái Ngμy xưa đọc văn bằng âm Hán Việt, đọc xong đốt đi (gọi lμ phần chúc)
Trang 19* Tín ngưỡng tôn giáo:
Người Cẩm Giμng cũng như bao vùng quê khác thuộc đồng bằng Bắc
Bộ đều có những tín ngưỡng tốt đẹp mμ điển hình lμ thờ cúng tổ tiên hướng
về cội nguồn
Việc thờ cúng tổ tiên, ông, bμ, cha, mẹ, tổ chức tang lễ, giỗ chạp trong các gia đình, các chi họ (gọi tắt lμ gia lễ) lμ việc hiếu tự ngμn xưa đã in sâu trong tâm linh mọi người Dân tộc ta từ Bắc chí Nam, dù ai theo thuyết duy tâm hay duy vật nhưng với ý niệm: “Cây có cội, nước có nguồn” đều coi trọng gia lễ Mọi gia đình ở huyện Cẩm Giμng dù giμu hay nghèo, đều có bμn thờ gia tiên đặt nơi trang trọng nhất Ngμy giỗ hay ngμy tết, giμu sang hay nghèo khó đến đâu cũng có nén hương, bát nước dâng lên tỏ lòng thμnh kính tổ tiên Ngoμi ra, một số gia đình còn có nhμ thờ tổ (nhμ thờ họ), điện thờ Quan Công, thờ Đức Thánh Trần Hằng năm ngμy giỗ tết nhân dân lại lμm lễ để tỏ lòng biết ơn tổ tiên, thần, thánh, cầu cho mình có nhiều phúc, tránh tai hoạ lμm ăn gặp nhiều may mắn, được giμu sang phú quý
Không chỉ có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, mμ người dân Cẩm Giμng còn có tín ngưỡng thờ Thμnh Hoμng lμng Đặc trưng lμ hầu như lμng xã nμo cũng có đình, đền hoặc nghè thờ Thμnh Hoμng Đó chính lμ những người bảo trợ cho lμng vμ có công lớn đối với lμng ấy
Ngoμi ra, Cẩm Giμng còn có nhiều ngôi đình, đền thờ Tứ pháp Tiêu biểu lμ đình Kim Đôi, xã Cẩm Hoμng thờ Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Điện
Cẩm Giμng còn lμ đất hội tụ của nhiều nhân tμi, danh nhân đất Việt Nho, Phật, Đạo sớm hình thμnh vμ phát triển ở nơi đây Văn Miếu Mao Điền- nơi thờ Khổng Tử được xây dựng từ thời Lê sơ, đã từng lμ trường thi của trấn Hải Dương Đây chính lμ biểu tượng cho sự phát triển mạnh mẽ của nho giáo tại đất Cẩm Giμng Lμng xã nμo cũng có những người đỗ đạt lμm quan qua các triều đại
Trang 20Không chỉ hiếu học, người dân còn hướng tâm mình theo Phật để cầu mong những điều tốt đẹp nhất Chùa mọc lên ở khắp nơi tín đồ phật tử ngμy cμng đông Phật giáo có sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân dân Vμo ngμy rằm, mùng một hμng tháng mọi người lại kéo nhau ra chùa lμm lễ
vμ cầu mong cho gia đình gặp nhiều may mắn Một vμi xã trong huyện có những thôn theo Thiên Chúa Giáo Với họ thì chúa Giêsu lμ đấng tối cao có quyền lực lớn nhất vμ được tôn kính nhất
Thờ cúng, lễ bái, hướng về tổ tiên, hướng về cội nguồn lμ một phong tục tập quán lâu đời của mọi người dân Việt Nam nói chung vμ người dân Cẩm Giμng nói riêng Rõ rμng đây lμ một nhu cầu của đời sống, đồng thời lμ một nét văn hoá biểu hiện thuần phong mỹ tục của từng nhμ, từng lμng xã
* Truyền thống khoa bảng:
Với bề dμy ngμn năm văn hiến, có truyền thống lịch sử lâu đời, trải qua các giai đoạn phát triển, mảnh đất Cẩm Giμng lμ nơi sản sinh ra nhiều thế hệ hiền tμi đóng góp vμo công cuộc dựng nước vμ giữ nước của dân tộc Thời nμo quê hương Cẩm Giμng cũng có những nhân vật xuất chúng trên các lĩnh vực: Quân sự, ngoại giao, y học, văn học nghệ thuật lμm rạng rỡ non sông đất Việt vμ trở thμnh những tấm gương tiêu biểu của Cẩm Giμng Những danh nhân tiêu biểu được nhiều người biết đến như: Vũ Như Tô, Tuệ Tĩnh, Hoμng Minh Tá, Nguyễn Sĩ Cố, Lã Thị Lương, Nguyễn Danh Nho
- Nguyễn Sĩ Cố sinh khoảng giữa thế kỷ XIII, quê lμng Bình Lãng, huyện Đa Cẩm, nay lμ thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giμng
Ông lμ người thông minh tinh tế vμ có tμi văn nghệ Năm Giáp Thân, Bảo Phù thứ 2 (1274), vua Trần kén chọn người tinh thông nho học, có đức, có tμi vμo hầu Đông Cung, dạy Thái Tử, Nguyễn Sĩ Cố được tiến cử, sung nội thị học sĩ cùng Lê Phụ Trần, Lê Thμnh Huấn dạy Thái Tử
Năm Hưng long 14 (1306) Trần Anh Tông cử ông lμm Thiên Chương học sĩ, dạy Ngũ Kinh Sĩ Cố nhiều lần phò vua dẹp giặc, mỗi lần đi như thế
Trang 21ông đều lμm thơ nôm, các bμi thơ của ông mang tính hμi hước, trêu trọc nghi ngờ, bỡn cợt cả thần linh
Năm Canh Thân, Thiệu Khánh thứ 7 (1320), Thượng Hoμng đi đánh Chiêm Thμnh, ông đi phò tá vμ mất trên đường hμnh quân Các tác phẩm của
ông phần lớn thất truyền, nay còn một số bμi thơ trong Toμn Việt thi lục:
“Tụng giá chinh yết Tản Viên từ”, “Vịnh Tần Thuỷ Hoμng”, “Tụng Giá tây chinh yết Uy Hiển vương tử”
- Nguyễn Danh Nho sinh năm Mậu Dần (1638), người lμng Xưa nay thuộc xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giμng, nổi tiếng thông minh, văn hay, chữ
đẹp, được người đời suy tôn lμ Dật tiên (ông tiên cao siêu), “Quyển long” (con rồng uốn khúc); Năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), thi đại khoa, đậu Tiến sĩ,
được giữ chức Tả ti giám, Hiến sát sứ sau thăng đến Bồi tụng hữu thị lang, tước Nam
Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Quốc, để thử tμi ông vua Trung Quốc
đặt một tấm bia trên có bμi thơ đặt bên sông khi nước triều dâng lên nhanh, yêu cầu ông đọc, ghi nhớ rồi sao chép nguyên văn Ông đã đọc ngang từ dòng dưới lên, nhập tâm rồi chép lại bμi thơ không thiếu một chữ Mọi người phục tμi trí nhớ của ông, chữ ông viết đẹp như rồng bay phượng múa
Trên đường đi sứ ông đọc được tấm bia của Tuệ Tĩnh vμ được biết Tuệ Tĩnh có di chúc tại mặt sau tấm bia rằng “sau nμy nếu ai bên nước có sang thì cho hμi cốt tôi về với” vμ ông đã sao tấm bia mang về cho người lμm lại
vμ trở về quê hương, trên đường về tuyền bị lật Mọi người cho lμ đắc địa nên dựng đền ngay tại nơi bia chìm, nay gọi lμ đền Bia, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giμng Ông mất năm Kỷ Mão (1699)
Hiền tμi lμ nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Đó lμ lời tựa của tấm bia tiến sĩ đầu tiên tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hμ nội) Nhận thức
được tầm quan trọng của việc đμo tạo nhân tμi cho sự nghiệp xây dựng quốc
Trang 22gia như vậy nên khi dân tộc giμnh được quyền độc lập tự chủ sau hμng nghìn năm Bắc thuộc, nhμ nước phong kiến Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đμo tạo nhân tμi Năm 1075, khoa thi tuyển chọn nhân tμi bậc cao
đầu tiên của đất nước được tổ chức tại kinh thμnh Thăng Long vμ khoa thi cuối cùng về Nho học được tổ chức vμo năm 1919 Trong 9 thế kỷ thi tuyển, Hải Dương đã đạt thμnh tích thật vẻ vang chiếm số lượng nhiều nhất cả nước tính theo đơn vị tỉnh, thμnh Trong số 470 tiến sĩ nho học của tỉnh Hải Dương, Cẩm Giμng có 51 vị Có thể kể tên một số vị: Bùi Quốc Khái (thế kỷ XII), Phạm Tử Tư (thế kỷ XIII), Phạm Văn Tuấn (thế kỷ XIII), Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV), Phạm Hoán (thế kỷ XIV)
Đất vμ người Cẩm Giμng còn được người xưa đúc kết trong những bμi
ca dao hò vè như:“Thứ nhất Văn Thai, thứ hai Thạch Lỗi, thứ ba Mao Điền”
Đó lμ những lμng quê có nền kinh tế phát triển bậc nhất trong huyện Cùng với đó lμ tình cảm lμng xóm gắn bó tình nghĩa bên nhau:
“Xóm Chùa, Xóm Trại, Xóm Đình Với xóm Cầu Cóc chúng mình từ lâu Bên nhau tình nghĩa lặng sâu Dựng xây lμng xóm trước sau vững bền”
1.2 Đại danh y Tuệ Tĩnh
Tuệ Tĩnh chính tên lμ Nguyễn Bá Tĩnh, đi tu lấy
pháp hiệu lμ Tuệ Tĩnh (cũng gọi lμ Huệ Tĩnh) Ông xuất
thân từ một gia đình bần nông, cha lμ Nguyễn Công Vĩ,
mẹ lμ Hoμng Thị Ngọc ở Nghĩa Lư, huyện Gia Cẩm,
Hồng Châu nay lμ thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện
Cẩm Giμng, tỉnh Hải Dương
Theo truyền thuyết ở địa phương, ông sinh trưởng
dưới triều Trần Dụ Tông (thế kỷ XIV), lúc lên 6 tuổi, cha mẹ đều mất Ông
được nhμ sư chùa Hải Triều ở Yên Trang gần đấy đưa về nuôi cho ăn học
Trang 23(chùa Hải Triều sau gọi lμ chùa Nghiêm Quang tức chùa Giám ở xã Cẩm Sơn, vì bị đất lở đã dời đến xã Tân Sơn thuộc huyện Cẩm Bình)
ở chùa Giám, thấy Bá Tĩnh tư chất thông minh, nhμ sư trụ trì chùa đã hết mực thương yêu vμ dạy dỗ, cho cậu học sách thánh hiền Ngay từ thủa nhỏ,
tự mình trải nghiệm cảnh cha mẹ mất sớm vì bệnh tật hiểm nghèo lại được chứng kiến cảnh dân tình sống cơ cực, đau ốm không có thuốc men, phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh không được chăm sóc, nạn hữu sinh vô dưỡng, chết non vμ chết yểu, chết oan đập vμo mắt mình hằng ngμy lμm cho Bá Tĩnh day dứt, suy nghĩ Tủ sách nhμ chùa khá phong phú Ngoμi việc dùi mμi kinh sử, cậu say mê tìm đọc sách về y lý, y thuật mong sau nμy có thể chữa bệnh cứu người Cậu còn được giao việc trông nom vườn thuốc vμ vườn cây cảnh của nhμ chùa
Vườn chùa quanh năm có cây thuốc xanh tốt hoa cảnh rực rỡ hương thơm ngμo ngạt Trong các loμi hoa do tay mình vun trồng, Bá Tĩnh thích nhất hoa Huệ
Một hôm nhμ sư trụ trì ở chùa ra thăm vườn thấy Bá Tĩnh cắm cúi vun xới luống hoa Huệ, cụ rất hμi lòng Từ nơi sâu thẳm của lòng thiền, bỗng trμo lên một niềm vui khó tả, nhμ sư nghĩ đến tương lai của cậu bé, tuy nhμ nghèo, nhưng biết thương người, thông tuệ khác thường, lại cần cù, chăm chỉ, học đau nhớ đấy, nhμ sư ngẫu hứng ngâm:
“Hoa khai bất trạch bần gia địa”
Nghĩa lμ: Hoa nở không chọn đất nhμ nghèo hay giμu
Bá Tĩnh nghe đọc lòng bồi hồi xúc động, hứng khởi đối lại:
“Đức thụ tự bồi phúc quả chung”
Nghĩa lμ: Trồng vun cho cây đức thì được quả phúc
Nhμ sư sung sướng, thương mến nhìn Bá Tĩnh, lấy ngay chữ Huệ đặt cho Tĩnh, gọi lμ Huệ Tĩnh Đến 10 tuổi ông được sư cụ chùa Giao Thuỷ ở Sơn Nam (Nam Định) đưa về cho ở học với các sư chùa Dũng Nhuệ trong
Trang 24huyện Tại đây, ông được gọi lμ Tiểu Huệ Ông được học văn vμ học thuốc
để giúp việc chữa bệnh ở chùa.( 1)
Đến năm 22 tuổi ông thi hương vμ trúng bảng, nhưng vẫn ở chùa đi tu lấy pháp hiệu lμ Tụê Tĩnh Ông tiếp tục chữa bệnh giúp dân ở chùa nμy vμ phát triển thêm một số cơ sở chữa bệnh ở một số cơ sở lân cận, như chùa Hộ Xá (Nghĩa xá) Năm 30 tuổi ông trở về trụ trì chùa Yên Trang Ông đã tu bổ lại chùa nμy với một số chùa khác (24 ngôi) ở hạt Sơn Nam vμ quê hương, huấn luyện y học cho các tăng ni để mở rộng việc chữa bệnh lμm phúc
Năm 45 tuổi ông thi đình, đậu Hoμng Giáp Năm 55 tuổi ông được cử
đi sứ sang nhμ Minh – Trung Quốc, ông giữ chức Y tư cửu phẩm vμ nổi tiếng lμ một người thầy thuốc giỏi ở đây ông đã chữa khỏi bệnh sản hậu cho Hoμng Hậu vợ vua nhμ Minh nên được vua phong lμ Thái Y thiền sư Sau đó
ông mất ở Giang nam, Trung Quốc không rõ năm nμo
Tuệ Tĩnh đã xây dựng nền móng của y học nước nhμ với truyền thống chữa bệnh bằng thuốc nam, theo phương châm “thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt” Ông đã gây phong trμo trồng thuốc ở gia đình, vườn đền chùa vμ thu trữ thuốc theo thời vụ để có sẵn thuốc chữa bệnh kịp thời Truyền thống của Tuệ Tĩnh đã được đời sau thừa kế vμ phát huy rạng rỡ trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân vμ phát triển y học dân tộc
Hoμng Đôn Hoμ, Lương Dược Hầu dưới triều Lê Thế Tông quê ở Đa Sĩ (xã Kiến Hưng, tỉnh Hμ Tây) đã chữa bệnh rộng rãi vμ cứu cho nhân dân qua khỏi vụ dịch năm 1533 với thuốc nam trồng kiếm tại địa phương vμ chữa cho quân đội Triều Lê khỏi dịch sốt rét vμ thổ tả ở Thái Nguyên năm 1574 với thuốc Tam hoμng hoμn gồm Hoμng nμn, Hoμng lực do Tuệ Tĩnh đã phát hiện
ở Nam Dược thần hiệu vμ Hùng hoμng đã được dùng chống khí độc lam chướng ở Thập tam phương gia giảm Đường lối dưỡng sinh của Tuệ Tĩnh
1
Vũ Kiên (2006), Tuệ Tĩnh vun trồng cây đức được quả phúc, Báo sức khoẻ vμ đời sống số 926.
Trang 25nói ở bổ âm đơn về phòng bệnh hư lao, đã dược Hoμng Đôn Hoμ cụ thể bằng thuyết “thanh tâm tiết dục” với phép “tịnh công hô hấp” ở sách Hoạt nhân toát yếu
Hải Thượng Lãn Ông( thế kỷ XVIII) đã thừa kế 496 bμi thuốc dược tính của Nam dược thần hiệu chép vμo sách Lĩnh Nam bản thảo, với nhiều thuốc nam của Tuệ Tĩnh chép vμo các tập Hμnh giản trân nhu vμ Bách gia trân tμng Đường hướng dưỡng sinh của Tuệ Tĩnh về giữ gìn tinh thần để sống lâu cũng được Lãn Ông phụ hoạ thêm ở Thiên Khởi cư của tập “vệ sinh yếu quyệt”
Ông mất đi để lại cho đời sau những tác phẩm về y dược qúy báu :
“Dược Tính Chí Nam”, “Thập Tam Phương Gia Giảm” Đặc biệt lμ hai cuốn
“Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư” vμ “Nam Dược Thần Hiệu”
Cuốn “ Nam Dược Thần Hiệu” lμ cuốn sách có giá trị lớn về ngμnh y Cuốn sách đã ghi lại tên gọi vμ công dụng chữa bệnh của 499 vị thuốc vμ tổng kết các phương pháp chữa bệnh của 10 khoa, chữa 182 bệnh chứng bằng 3873 phương thuốc Cuốn sách nμy do Hoμ thượng Bản Lai ở chùa Hồng Phúc ở Trung Đô (phố Hoè Nhai, dốc Hμng Than, Hμ Nội ngμy nay) biên tập, bổ sung vμ in lại năm 1761
Sách “ Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư” gồm hai quyển : quyển thượng
vμ quyển hạ trong đó:
- Quyển thượng: “Nam Dược Quốc Ngữ Phú” gồm 590 tên vị thuốc nam vμ “trực giác trí nam dược tính phú” gồm đặc tính của 220 vị thuốc nam
- Quyển hạ: “Y Luân” lμ sách viết về lý luận âm dương – ngũ hμnh sinh hoá vμo cơ thể người trong tiết khí 4 mùa, thể hiện ở bệnh tật vμ cách điều trị lâm sμng “thậm tam phương gia giảm” phụ “bổ âm đơn” vμ
“dược tính phú” bằng chữ hán, lμ sách hướng dẫn gia giảm khi dùng thuốc chữa bệnh
Trang 26Ngoμi ra, ông còn để lại cách phương pháp chữa bệnh không cần dùng thuốc như: Châm, chích, chườm bóp, ăn uống, xông, đắp thuốc Đặc biệt lμ phương pháp dưỡng sinh bằng lời dặn:
“ Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình”
Bên cạnh y dược phục vụ con người, ông còn tập hợp các bμi thuốc chữa bệnh cho gia súc đặt cơ sở cho ngμnh thú y dân tộc
Tuệ Tĩnh lμ một đại danh y Việt Nam đã mở đường cho sự nghiệp nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền móng cho y học dân tộc nước nhμ
Ông đã tổng hợp lại vμ để lại cho đời những bμi thuốc quý báu chữa được nhiều chứng bệnh Đó lμ một tμi liệu có giá trị lớn cho sự kế thừa vμ phát huy vốn cũ y học của nhân dân ta Phương pháp chữa của Ông để lại có ảnh rất sâu rộng trong y gia Việt Nam, nhất lμ cuốn “Nam dược thần hiệu” Nhiều thầy thuốc từ xưa đến nay vẫn theo phương phương pháp trị liệu của
ông đã chữa bệnh rất có hiệu quả, đời sau đại danh y Hải Thượng Lãn ông – Lê Hữu Trác lμ người kế tục sứng đáng sự nghiệp của ông ở thế kỷ XVIII Vμ chính do xây dựng được phong trμo trồng cây thuốc nam trong gia đình để tự chữa bệnh, nhờ vậy mμ vμo năm 1533 với cây thuốc sẵn có dân chúng đã thoát khỏi nạn sốt rét hoμnh hμnh hay dịch tả tại Thái Nguyên Năm Giáp Tuất (1574 )
Truyền thống y học của Tuệ Tĩnh đã phục vụ đắc lực sức khoẻ nhân dân
từ bao đời nay, sự nghiệp trước tác của ông đã giữ một vị trí trọng đại nhất trong lịch sử y học Việt Nam Chính nhờ công đức của ông, nhân dân đã xây dựng đền thờ ở ba nơi: Đền Thánh thuốc nam ở quê hương thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, Chùa Giám xã cẩm Sơn vμ Đền Bia xã Cẩm Văn, cả ba di tích
đều được nhμ nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá Ngoμi ra, ông còn được thờ lμ Thμnh hoμng ở Xã Yên Lư, huyện Thuỷ Nguyên, ngoại thμnh Hải
Trang 27Phòng (có sắc phong lμ thượng thượng đẳng phúc thần năm 1572, theo thần phả do Nguyễn Bính, Đông các đại học sĩ ở Viện Cơ mật triều Lê soạn)
Nhân dân suy tôn Tuệ Tĩnh lμ thánh thuốc nam điều đó quả không sai Tuệ Tĩnh giữ vị trí trọng đại trong lịch sử lâu đời nước ta của nền y dược nước ta Ông lμ người có công tổng hợp những sáng tạo của tổ tiên về việc phát hiện, sử dụng dược liệu của dân tộc Những kinh nghiệm về phòng bệnh, chữa bệnh, giữ gìn sức khoẻ nhân dân để đưa y học Việt Nam tiến lên phát triển không ngừng theo phương châm “Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt” Tự lập tự cường ông không dùng khoa giáp lμm bước công danh, nhưng lại biết sử dụng văn chương hoá trí thức của mình vμo việc phát triển y học, y học mưu lợi ích lâu dμi cho dân tộc, bản tính chân chính vμ
đức thương người của ông đã hướng ông vμo việc xây dựng nền y dược học dân tộc Tất cả những cống hiến của Tuệ Tĩnh đã đưa người đến một vị trí
vẻ vang trong lịch sử y học nước ta
Trang 28Chương 2
những di tích vμ lễ hội phụng thờ Đại danh y
Tuệ Tĩnh tại huyện cẩm giμng
2.1 Giới thiệu chung
ở huyện Cẩm Giμng có ba địa điểm thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh Đó lμ:
Đền Xưa – xã Cẩm Vũ; chùa Giám - Xã Cẩm Sơn; đền Bia - xã Cẩm Văn Các di tích nằm cách nhau trong vòng 5km, giao thông đi lại thuận tiện, dễ dμng
Ba di tích có liên quan mật thiết với nhau, gắn với ba giai đoạn trong cuộc đời của Đại danh y Tuệ Tĩnh
Đền Xưa gắn với mảnh đất ông từng sinh ra vμ lớn lên Gắn bó với ông
từ lúc chμo đời cho đến khi ông lên 6 tuổi Khi có công danh hiển đạt ông vẫn thường về thăm mảnh đất nμy
Chùa Giám lμ nơi mμ Tuệ Tĩnh được nuôi dạy, ăn học vμ phát triển nghề y Đây cũng lμ ngôi chùa mμ Tuệ Tĩnh đã từng tôn tạo Tại nơi đây đã
đμo tạo cho nhiều tăng ni thμnh thầy thuốc, biến vườn chùa thμnh vườn trồng cây thuốc, biến trai phòng thμnh nơi bμo chế thuốc
Nếu như đền Xưa, chùa Giám lμ nơi Tuệ Tĩnh sinh ra, lớn lên gắn với
sự nghiệp, công danh của ông thì đền Bia gắn với tấm bia thiêng sau khi ông qua đời
Cả ba di tích đã được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng lμ di tích lịch sử văn hoá
2.2 Đền Xưa (Xã Cẩm Vũ – Huyện Cẩm Giμng – Tỉnh Hải Dương)
2.2.1 Di tích
Trang 292.2.1.1 Niên đại khởi dựng vμ quá trình tồn tại
Đền Xưa, nơi thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh – vị thánh thuốc nam, được xây dựng vμo thế kỷ XVII dưới thời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hoμ tại Nghĩa Lư Trang, quê hương của Đại danh y Nghĩa Lư Trang có tên nôm
lμ lμng Xưa, thời Trần thuộc lộ Hồng Thời Lê Trung Hưng có tên lμ Nghĩa Phú, thuộc tổng Văn Thai, nay lμ một thôn của xã Cẩm Vũ Hồi đó chỉ lμ một ngôi đền nhỏ bé đơn sơ dựng lên để tưởng nhớ Tuệ Tĩnh Khi Tuệ Tĩnh mất tại Giang Nam Trung Quốc thì năm 1690 ông Nguyễn Danh Nho người cùng lμng Xưa với Tuệ Tĩnh được cử đi sứ sang Trung Quốc đã đến viếng mộ Tuệ Tĩnh vμ dập văn bia đem về quê hương Bia đem về được để ở khu đất thuộc địa phận lμng Văn Thai (ngμy nay) vμ nhân dân đã dựng thμnh Đền Bia
Cũng thời gian nμy, để tỏ lòng biết ơn vị thánh thuốc nam, nhân dân lμng Nghĩa Phú đã dựng lên một ngôi đền gọi lμ đền Xưa để thờ tự Qua năm tháng dμi lâu di tích đã được nhiều lần trùng tu, sửa chữa vμ xây dựng thêm một số công trình kiến trúc khác nữa
Năm 1830, dưới thời vua Minh Mệnh nhân dân khắp nơi kéo về lễ hội
vμ xin thuốc rất đông gọi lμ hội thánh lần thứ nhất Số tiền công đức được nhân dân đã tiến hμnh trùng tu lại ngôi đền nμy Ngoμi ra còn tậu được 3 mẫu ruộng nữa để thờ cúng
Đến năm 1936 lại hội thánh lần thứ hai nhân dân khắp nơi lại kéo về lễ hội vμ xin thuốc đông hơn lần trước rất nhiều, kéo dμi đến gần 3 tháng Số tiền công đức lần nμy nhân dân Nghĩa Lư Trang lại xây dựng được toμ Tiền
tế hai tầng mái năm 1937 (còn được dân lμng gọi lμ đền ngoμi) Ngôi đền chính dân lμng gọi đó lμ Hậu cung từ đó hình thμnh lên ngôi đền có hình chữ nhị
Trang 30Năm 1975 với sự đóng góp nhiệt tình của người dân địa phương vμ tấm lòng công đức của khách thập phương đã tiến hμnh bịt hai cửa sổ trong toμ Hậu cung lại vμ xây dựng thêm nhμ chè lμm nơi cắt thuốc chữa bệnh
Đến năm 1990 xây thêm tường bao để bảo vệ di tích
Năm 1998 trùng tu lại cả toμ Tiền tế vμ Hậu cung
Lần trùng tu sửa chữa gần đây nhất lμ cuối năm 2005 đầu năm 2006
đã xây dựng lại tam quan trên nền móng cũ từ một tầng hai mái thμnh hai tầng tám mái khang trang, hoμnh tráng lμm tôn vinh thêm vẻ đẹp của ngôi
Đền Xưa được toạ lạc tại địa điểm mμ không gian cảnh quan thiên nhiên vμ
di tích kết hợp với nhau một cách hμi hoμ Đền được quay về hướng Tây Bắc Hướng Tây lμ hướng cổ truyền mμ người xưa hay chọn để xây dựng các công trình tín ngưỡng tôn giáo
Trước vμ sau ngôi đền lμ một ao nước lớn trong lμng Đó cũng chính
lμ nơi tụ linh, tụ thuỷ, tụ phúc, phù hợp với thuyết đối đãi âm dương của người xưa Phía tây cạnh đền có ngôi đình lớn kiểu tiền nhất hậu đinh Xung quanh ngôi đền có nhiều cây cổ thụ xum xuê tỏa bóng mát Di tích nằm giữa lμng Xưa, xung quanh lμ lμng xóm quây quần bên nhau yên vui đông đúc, trong đền có thủ từ ngμy ngμy ra vμo trông nom nên ngôi đền lúc nμo cững
được hương khói vμ dọn dẹp sạch sẽ
* Bố cục mặt bằng
Di tích có kết cấu hình chữ nhị, có nghi môn nằm sát với lề đường thuận lợi cho mọi người dân ra vμo di tích được dễ dμng, qua Nghi môn lμ những cây cổ thụ xum xuê thân cao vμ tán xoè rộng Bước qua một khoáng
Trang 31sân gạch chừng 5m ta sẽ đến với những đẳng đá cổ vμ bệ sen nằm sát với bậc hiên của toμ Tiền Tế Bước qua vμi bậc hiên lμ toμ Tiền tế khang trang 5 gian rộng rãi, cao ráo, thoáng mát với hai tầng tám mái, bên trong đặt tượng Tuệ Tĩnh bằng gỗ vμ bát bảo cùng lọng Cách nhμ Tiền tế một khoảng sân lọng hẹp về phía sau, có một hòn non bộ ở giữa lμ toμ Hậu cung với vẻ cổ kính dân gian, bên trong đặt khám thờ Tuệ Tĩnh, trong khám có tượng Tuệ Tĩnh bằng đồng cùng nhiều đồ thờ bμy trên hương án có giá trị Toμn bộ bố cục mặt bằng của ngôi đền tạo cho mọi người đến đây một cảm giác thân quen gần gũi vμ thoải mái
2.2.1.3 Kết cấu kiến trúc
Kiến trúc đền Xưa được kết cấu theo kiểu hình chữ nhị (=), tức lμ hai toμ nhμ nằm ngang song song với nhau Toμ Tiền tế ở phía trước vμ hậu cung nằm phía sau
* Nghi Môn
Các công trình kiến trúc dù lớn hay nhỏ thì cổng của công trình lμ một thực thể quan trọng, không thể thiếu góp phần lμm nên vẻ đẹp vμ bố cục hình dáng của một di tích Với đền Xưa cũng như vậy, Nghi môn lμ một bộ phận không thể thiếu đối với vẻ đẹp của ngôi đền
Nghi môn được xây dựng quay mặt ra sát lề đường, lμ nối đi thuận tiện
để người dân địa phương ra vμo trông nom vμ thuận tiện cho khách thập phương đến đây cầu khấn lễ bái Nghi môn cũng như cổng của một ngôi nhμ phải lμ nơi thuận tiện nhất mọi hoạt động của con người Nghi môn được xây thấp theo kiểu mái vòm, có hai cột trụ ở hai bên Cột trụ được chia lμm 3 phần rõ rệt: đế cột, thân cột vμ đỉnh cột Đế cột dưới cùng lμ chân bệ có đắp nổi một khối vuông, trên của khối vuông lμ những đường gờ nổi chồng lên nhau, phần thân cột đắp lõm vμo phía trong một chút nhưng không trang trí gì cả mμ để trơn, đỉnh cột lμ hình lồng đèn vuông có những đường gờ nổi
Trang 32Nhìn chung Nghi môn đền được xây dựng khá đơn giản, bình dị, ít những hoa văn vμ hoạ tiết trang trí
* Toμ Tiền Tế
Qua Nghi môn, theo con đường nhỏ tới sân gạch lμ toμ tiền tế của ngôi
đền chỉ mới nghe tên chắc hẳn ai cũng hiểu được chức năng của công trình nμy, đó lμ nơi để lμm lễ dâng hương vμ tế trong những ngμy lễ hội Toμ nhμ
được xây dựng năm 1937 gồm 5 gian với chiều dμi của toμ nhμ lμ 15,6m vμ chiều rộng lμ 6,5m
Toμ Tiền tế được xây dựng hai tầng tám mái theo kiểu chồng diêm, khoảng cách giữa hai tầng mái lμ phần cổ diêm ở tầng mái trên, bờ nóc lμ một đường chạy thẳng được đắp bằng vôi vữa vμ xi măng, bờ nóc kéo dμi tạo thμnh hai đầu kìm, tại vị trí hai đầu kìm lμ hai đấu nắm cơm cao khảng 45cm Từ đầu kìm xuôi thẳng xuống dưới tạo thμnh bờ dải, từ bờ dải xuôi xuống đến hết phần mái cong của tầng mái trên đó lμ bờ guột Bờ guột vμ bờ dải tạo thμnh đường gấp hình chữ V Nơi tiếp giáp giữa bờ dải vμ bờ guột đó
lμ khúc nghuỷnh Tại khúc nghuỷnh lμ hình một con nghê cao khảng 40cm, quay mặt lại phía sau Con nghê được đặt trong tư thế ngồi có chân bám chặt vμo bờ dải Tại tầu mái lμ hình tượng Makara ngậm đầu tầu, mắt của Makara hướng lên bờ nóc
Tầng mái dưới được dựng có nhiều điểm khác biệt với tầng mái trên, trang trí phong phú hơn với nhiều đề tμi lôi cuốn, hấp dẫn Bờ dải của tầng mái dưới lμ một đường chạy thẳng xuôi xuống đầu đao, phần đầu đao được trang trí khá đặc biệt với hình ảnh rồng, phượng vμ Makara tạo thμnh một tổ hợp hình ảnh trang trí trên đầu đao Bình thường rồng vμ phượng lμ hai trong
số bốn con vật linh thiêng: Long, Ly, Quy, Phượng (tứ linh), rồng vμ phượng
đều biểu hiện cho sự cao sang, quyền quý Rồng bao giờ cũng gắn với vua, với hình ảnh của một đất nước Con rồng ở mỗi thời đại có một dáng vẻ khác nhau Còn phượng lμ một loμi chim biết bay, khi ở trên nó lμ biểu tượng cho
Trang 33bầu trời, ngoμi ra phượng còn lμ một con vật rất đẹp trong đó hội tụ đầy đủ những đức tính tốt đẹp: đầu đội công lý, mắt giống mặt trời, lưng giống vòm trời, cánh giống gió, lông giống cỏ cây, chân như đất Với những yếu tố như vậy nên trong tâm linh của người Việt phượng trở thμnh một con vật tượng trưng cho vũ trụ bao la, cho sức sống dồi dμo khi vận động Với vẻ đẹp hình thể vμ tâm linh thì phượng biểu tượng cho giới quý tộc vμ những người phụ nữ đẹp: “mắt phượng mμy ngμi”
Tại di tích Đền Xưa, trên đầu tầu đao rồng vμ phượng được trang trí ở trong tư thế quay mặt vμo nhau như hoμ quện lẫn nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa thiêng liêng vừ sang trọng quý phái Phượng có đuôi dμi xoè ra, rồng thì ngẩng cao đầu hướng về phía phượng tạo cho người xem một cái nhìn mới
mẻ vμ một vẻ đẹp huyền bí Thân rồng được đắp bằng sứ, loại sứ do nhμ máy
sứ Hải Dương sản xuất Phía dưới đôi rồng phượng quay mặt vμo nhau lμ Makara ngậm đầu đao vμ miệng còn ngậm một dải vân xoắn cong vồng lên tạo thμnh hình dấu hỏi
Cách giữa hai tầng mái lμ phần cổ diêm, vì kiến trúc theo kiểu chồng diêm nên phần cổ diêm lμ những tấm ván lá gió mỏng, được tạo tác giống như cửa thượng song hạ bản Phần trên lμ những thanh gỗ mỏng được tiện dẹt
vμ nhiều đường uồn lượn hình ô van, phần dưới lμ bản gỗ có những đường gờ nổi ở xung quanh
Ngói của toμ tiền tế được lợp theo vẩy hến Ngói lót lμ những viên ngói hình chữ nhật được lμm mỏng, ở giữa những viên ngói lót có khắc hình chữ thọ tròn Cửa được lμm theo kiểu thượng song hạ bản, không trang trí mμ
được bμo trơn có chia ô
Toμ tiền tế bên trong đặt tượng Tuệ Tĩnh thờ trên ngai, ngai thờ được
đặt trên một bμn thờ cao trên có bμy các đồ thờ Phía trước của bμn thờ lμ nơi
đặt bát bửu vμ lọng
Trang 34Vì nóc của toμ nhμ được lμm theo kiểu chồng rường Đỡ thượng lương
lμ một đấu hình thuyền, đấu nμy tỳ lực lên thanh rường thứ nhất, rường nμy
đỡ đôi hoμnh thữ nhất vμ chồng lên thanh rường thứ hai qua hai đấu vuông thót đáy Trên thanh rường thứ hai đặt hai đôi hoμnh thứ hai vμ hai đôi hoμnh thứ hai vμ thanh rường đặt chân trên hai rường cụt thông qua hai đấu vuông thót đáy, hai rường cụt nμy đỡ đôi hoμnh thứ ba vμ nằm trên quá giang thông qua đấu vuông thót đáy, quá giang ăn mộng qua hai đầu cột cái Trên các cấu kiện gỗ được trang trí theo kiểu bμo soi vỏ măng Vì nách được thay bằng hai
kẻ cong một đầu ăn mộng vμo cột cái còn đầu kia được đặt trên tường
* Hậu Cung
Cách giữa tiền tế vμ hậu cung lμ một sân lọng hẹp ở giữa có đặt một hòn non bộ Hậu cung của ngôi đền được lμm 3 gian, xây theo kiểu tường hồi
bít đốc, có chiều dμi lμ 9,7m vμ chiều rộng lμ 7,5m
Bờ nóc hậu cung được xây vằng vôi vữa vμ xi măng, trên đỉnh nóc chính giữ dắp đôi rồng chầu mặt nhật “lưỡng long chầu nhật” Hình ảnh nμy
lμ biểu hiên tín ngưỡng thờ mặt trời của cư dân nông nghiệp lúa nước vμ lμ hình ảnh rất quen thuộc vμ gần gũi trong kiến trúc truyền thống của người Việt Mặt trời được thể hiện ở đây có hình tròn, xung quanh có các dải bay ra giống như hình ảnh ông moặt trời đang toả ánh nắng Đôi rồng chầu được trang trí với thân rồng được đắp bằng những mảnh sứ mμu xanh trắng, lμ sứ
do nhμ máy sứ Hải Dương sản xuất, thân uốn khúc nhịp nhμng, xung quanh thân có các đao lửa bay ngược về phía sau ở hai đầu kìm lμ makara ngậm
đầu kìm, makara có vẩy, hai chân bám chặt vμo bờ nóc
Bờ dải vμ bờ guột được đắp bằng vôi vữa, xi măng, có những chỗ uốn khúc khá sinh động, tại phần đầu đao lμ hai đấu nắm cơm có những đường
gờ nổi ở xung quanh Chỉ có mái trước vμ mái sau không có mái hồi ở xung quanh, có một bức tường nối từ cột cái ra ngoμi
Trang 35Ngói được lợp theo kiểu vẩy hến, đó lμ những viên ngói có kích thước nhỏ, phía trên đắp hình một nửa vỏ hến Ngói lót hình chữ nhật mỏng có khắc chữ thọ Diềm mái có trang trí hoạ tiết hoa văn hình lá lật
Trước cửa Hậu cung có bức đại tự “Xuân đμi thọ vực” được lμm từ năm Kỷ Mậu, đời vua Tự Đức (1849), hiện bức đại tự vẫn đọc rõ chữ Tại góc hiên bên phải có treo một quả chuông đồng cao 1,2m được đúc vμo năm
Tự Đức thứ 8 (1855), góc trái có một chiếc chiêng đồng
Vì nóc được lμm theo kiểu giá chiêng (dân gian thường gọi lμ con chồng đấu sen) Bộ vì được kết cấu như sau: đỉnh vì lμ một xμ nóc, xμ nμy tỳ lực lên một đấu hình thuyền, đấu hình thuyền có tiết diện hình thang cân dùng để đỡ hoμnh nóc (xμ nóc) Đỡ đấu hình thuyền lμ một thanh gỗ nằm ngang (thượng lương), đó chính lμ một con rường ngắn Đỡ con rường lμ hai cột trốn chân không chạm đất, hai cột trốn nμy lại được đặt chân trên hai đấu vuông thót đáy, đó lμ một khúc gỗ hình vuông có mặt trên lớn hơn đáy Trên vì nóc có trang trí nhiều hoạ tiết hoa văn hình bông cúc, hoa văn hình vân xoắn
Hậu cung lμ một toμ nhμ 3 gian gian chính giữa đặt khám thờ Tuệ Tĩnh trong khám có tượng Tuệ Tĩnh bằng đồng lμ bức tượng trước tác từ tượng ở chùa Giám xã Cẩm Sơn Trước khám thờ lμ một hương án trên bμy bát hương vμ các đồ thờ Phía trên cùng lμ một bức đại tự “ Tế thế dân trạch”
có từ năm Mậu Dần 1938 dưới đời vua Bảo Đại Dưới nữa lμ một bức đại tự
“Nam dược trị Nam nhân” do hội đông y Hải Dương cung tiến vμo năm
Trang 36quen thuộc như tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nhật trên đầu dư, khám thờ, hương án, cửa võng
2.2.1.4 Tượng thờ vμ các di vật tiêu biểu
* Tượng thờ
Đền Xưa thờ hai bức tượng Tuệ Tĩnh một bức bằng đồng vμ một bằng
gỗ Bức tượng Tuệ Tĩnh bằng đồng được thờ trong Hậu cung còn tượng gỗ
được thờ tại Tiền tế Trước kia khi chưa có tượng đồng thì pho tượng bằng gỗ
được thờ tại Hậu cung Chỉ đến năm 2002 cán bộ nhân viên ngμnh y tế Hải Dương cung tiến bức tượng đồng thì tượng gỗ mới được chuyển ra thờ tại toμ tiền tế
Pho tượng đồng được đặt trong khám thờ, tượng ở Đền Xưa được trước tác từ pho tượng ở chùa Giám nên hai pho tượng giống hệt nhau
Tượng đặt ở gian chính giữa, chất liệu bằng đồng, tượng mặc áo choμng, để hở ngực, vạt áo phủ kín lòng đùi, chân đi hμi, đầu đội mũ như mũ thiên tôn của nhμ phật Trên vμnh mũ có trang trí hình cánh sen Tượng có khuôn mặt hiền lμnh, phúc hậu, mắt nhìn thẳng, tai dμi, to như tai phật, cổ ba ngấn, môi mím như thoáng nở nụ cười Tay chắp trước ngực kết ấn chuẩn đề
ấn chuẩn đề lμ ấn của quan âm chuẩn đề, một sự hiện thân của quan âm bồ tát mang ý nghĩa vạn năng, cứu độ chúng sinh với một pháp lực vμ quyền năng vô hạn với sự minh triết tuyệt đối Tượng Tuệ Tĩnh kết ấn chuẩn đề cũng có nghĩa lμ nghe tiếng kêu của chúng sinh ở đời mμ ra tay cứu giúp Với tấm lòng đức độ từ bi của phật vμ vị thánh thuốc Nam, Người sẽ ban phước lộc đến cho chúng sinh, cứu giúp chúng sinh thoát khỏi bể khổ, bệnh tật
Đôi tay thon chắp trước ngực kết ấn chuẩn đề đó lμ khi cần hội tụ đủ sức mạnh vô biên để cứu giúp chúng sinh thì mới kết ấn nμy ấn chuẩn đề
Trang 37được kết với hai ngón tay giữa dựa vμo nhau vμ chống thẳng lên, còn hai ngón trỏ lại tỳ lên hai ngón giữa vμ hơi trùng xuống tạo thμnh hình tam giác, hai ngón cái khép lại đặt song hμng còn ngón út vμ ngón nhẫn thì đan chéo vμo nhau
Pho tượng gỗ tại toμ Tiền tế được tạc nhỏ hơn, tượng cao 70cm, đầu
đội mũ, chân đi hμi, khuôn mặt nhỏ nhắn, mắt nhìn thẳng, vμ tượng có râu Tượng ngồi trên ngai vμ tay kết ấn chuẩn đề Thực tế hai pho tượng chỉ khác nhau về trọng lượng, kích thước Vμ khác biệt nhất lμ tượng đồng không có râu, tượng gỗ thì có râu
* Các di vật khác
Trong đền ngoμi bức tượng Tuệ Tĩnh bằng đồng thì còn rất nhiều những di vật, cổ vật có giá trị khác như chuông đồng, đẳng đá, bệ đá, khám thờ,ngai thờ
Chuông đồng: Đúc năm Tự Đức thứ 8 (1855), chuông treo ở góc hiên
bên phải của Hậu cung ở mọi thời đại chuông được dùng với ý nghĩa để thức tỉnh vμ gọi con người Theo nghi lễ phật giáo chuông được dùng để tượng trưng cho thế giới của các hiện tượng Tiếng chuông ngân lên rồi lại tắt lụi đi chỉ có thể nghe được mμ không bắt được Sự vô thường của thế giới hiện hữu trong cảm giác của người quan sát nhưng lại không có thực giống như tiếng chuông mọi thứ đều nhất thời Vì thế cuộc đời trần thế tựa tiếng chuông cũng lặng dần đi
Chuông ở đền được đúc với dáng thon, quai chuông lμ hai con rồng
đấu lưng vμo nhau, miệng rồng ngậm ngọc, chân bám chặt trên lưng rồng thưa thớt một vμo cụm đao vây
Thân chuông chia lμm hai phần chính, phần trên chia lμm 4 ô hình chữ nhật, mỗi ô ở 4 góc đều được trang trí hồi văn, văn kỷ hμ, văn hình lá lật, đúc nổi hình lá đề Bốn ô hình chữ nhật phía dưới trang trí văn kỷ ha vμ những
Trang 38đường gờ nổi Giao điểm giữa phần dọc vμ đai chuông lμ 4 núm chuông, 4 núm giống hình hoa hướng dương xung quanh có 24 hạt tròn nhỏ
Đế chuông loe rộng, đế lμ những đường gờ nổi tròn, cách nhau Đế chuông để trơn không trang trí
Khám thờ Tuệ Tĩnh: Khám có hình chữ nhật, được sơn son thếp vμng,
khám đặt tại gian chính giữa đền, bên trong lμ pho tượng Tuệ Tĩnh bằng
đồng Khám được lμm bằng gỗ mít có trang trí với nhiều đề tμi hấp dẫn tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng), tứ quý (tùng, Cúc, Trúc, Mai) Hai bên vμ mặt sau chạm bong kênh với các hình ảnh hoa cúc, hoa dây liên hoμn, vμ những dải vân xoắn Khám thờ lμ một di vật cổ có giá trị mμ ngôi đền còn lưu giữ
được
Đẳng đá: Đẳng đá đặt tại phía trước cửa toμ tiền tế Phía trên đẳng đá
đặt một bát hương bằng đồng Đẳng đá hình chữ nhật, trên bề mặt trang trí hình rồng nhưng hơi mờ cùng với một vμi những hoạ tiết khác nhưng không nhìn rõ Có lẽ do dòng chảy của thời gian nên những hoạ tiết hoa văn trang trí trên mặt đã mờ dần đi thân chia thμnh các tầng cao thấp trang trí hình mây, hoa sen, hoa cúc, cùng nhiều hình vân xoắn cách điệu hoá vμ những
đường nét uốn lượn lμm cho trang trí cμng thêm sinh động
2.2.1.5 Trang trí trên kiến trúc
Các di vật như khám thờ, ngai thờ, đại tự, cửa võng vμ một vμi cấu kiện gỗ của đền được sơn son thếp vμng lộng lẫy.Trong di tích các con rường, thượng lương được trang trí với các đề tμi tứ quý, hoa lá cách điệu Trong kiến trúc còn nhiều bức gỗ được chạm khắc tinh xảo, thể hiện bμn tay khéo léo của người thợ
Đỡ quá giang lμ hệ thống đầu dư được chạm hình đầu rồng ngậm ngọc, những cấu kiện bằng gỗ ở phía đâu hồi chạm bong kênh hình rồng vμ hoa lá Than rông uốn lượn, mặt giữ tợn, các đao mác bay ngược về sau
Trang 39Cửa võng đặt ở gian giữa Hậu cung, được sơn son thếp vμng, trang trí
tỉ mỉ, tinh xảo với đường nét nghệ thuật Cửa vòng góp phần lμm cho công trình kiến trúc thêm đẹp vμ lộng lẫy hơn Cửa võng được trang trí nối hai cột cái, đó lμ tấm ván gỗ được chạm thủng các đề tμi quen thuộc Trên cùng lμ
đề tμi “lưỡng long chầu nhật” với hai con rồng uốn khúc chầu hình mặt trời Hình mặt trời nổi lên xung quanh có các vân mây toả ra, dưới mặt trời lμ hình cuốn thư, hai bên cuốn thư chạm hai dải hoa mai dμi xuôi thẳng xuống phía dưới Cạnh hai dải hoa mai lμ đề tμi tứ linh chạm thủng
Tóm lại, những đề tμi trang trí ở đây hầu hết lμ tứ linh, tứ quý Các mảng chạn khắc đều được chạm thủng, chạm bong kênh vμ nhiều mảng được sơn son thếp vμng tạo lên vẻ đẹp lộng lẫy vμ quý phái của kiến trúc
2.2.2 Lễ Hội
Lễ hội hμng năm được tổ chức vμo ba ngμy 14, 15 vμ 16 tháng 2 âm lịch Hội chính vμo ngμy15 cũng lμ ngμy rằm Đây lμ thời gian mμ thời tiết khô ráo rất thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội Mặt khác theo truyền thuyết trong dân lμng đây cũng chính lμ ngμy hiển thánh Dân lμng thường lấy ngμy nμy để tổ chức lễ hội chính từ xưa đến ngay
Lễ hội Đền Xưa chứa đựng những nghi thức tế lễ một nhân vật có thật
ở địa phương đó lμ Đại danh y Tuệ Tĩnh – vị thánh thuốc nam Ông sinh tại chính lμng nμy Lễ hội lμ dịp tưởng nhớ tới công đức to lớn của vị thánh
vμ cũng lμ dịp vui chơi nghỉ ngơi vμo thời gian mμ công việc đồng áng tương đối rỗi rãi
Hμng năm, từ xưa đến nay cứ vμo ngμy 14 tháng 2 dân lμng từ giμ đến trẻ, từ trai, gái đều tập hợp tại đền Những cụ cao tuổi sẽ công bố ban khánh tiết, công bố những người lμm nhiệm vụ gì vμ thμnh phần trong đám rước, hình thức rước vμ thμnh phần đội tế
Thủa xưa, năm nμo cũng vậy từ đầu tháng 2 lμng xóm đã náo nức nhộn nhịp Chức dịch thì lo bổ bán các chân ông lệnh, thủ hiệu, đô tuỳ, dân
Trang 40đinh thì lo sửa sang quét dọn đền vμ đường lμng xóm ngõ, các bô lão thì lo biện lễ sao cho thμnh kính
2.2.2.1 Phần lễ
Trong 3 ngμy 14,15 vμ 16 tháng 2 thì ngμy 15 lμ ngμy diễn ra lễ hội chính Ngμy 14 lμ ngμy mμ dân lμng chuẩn bị mọi việc chu tất để ngμy 15 tổ chúc những hoạt động chính lμ đám rước, tế lễ
Ngμy 14 dân lμng phải lo chuẩn bị lễ vật dâng thánh Vμo năm mở hội lớn thì lμng mổ trâu hoặc mổ bò để tế thánh, còn bình thường thì các năm mổ lợn, gμ, lμm cỗ dâng lên đức thánh, cùng với những mâm cỗ chay cao từ bốn đến năm tầng, gồm: Xôi nếp, bánh chưng, bánh dμy, chè kho, đủ các loại quả do các giáp trong lμng sắm sửa để dâng đức thánh
Đến ngμy 15 thì sáng sớm dân lμng đã có mặt đầy đủ để chuẩn bị
đám rước
Nếu hội lμ điểm hội tụ văn minh xóm lμng thì đám rước lμ một hình
ảnh tập trung biểu hiện cho sức mạnh cộng đồng đang vận động, đám rước quy tụ tổng hợp các loại hình văn hoá, nghệ thuật Đám rước thể hiện được nét đặc trưng của lễ hội đền Xưa
Mở đầu lμ đám rước với nghi thức rước như sau:
Đi đầu: 5 người cầm 5 lá cờ mầu xanh, đỏ, trắng, vμng, đen Cờ nμy gọi lμ cờ ngũ hμnh, mỗi lá một mầu, mầu xanh thuộc hμnh Mộc tượng trưng cho phương Đông, mầu trắng thuộc hμnh kim tượng trưng cho phương Tây, mầu đỏ tượng trưng cho phương Nam thuộc hμnh hoả, mầu đen tượng trưng cho phương Bắc thuộc hμnh Thuỷ, còn mầu vμng thuộc hμnh thổ tượng trưng cho trung tâm
Thứ 2: 2 ông khênh chiêng, 1 ông đánh chiêng
Thứ 3: 2 ông khênh cống, 1 ông đánh trống
Thứ 4: 4 ông cầm 4 tay thước vμ 2 tù vμ
Thứ 5: 8 ông cầm bát bảo