1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010

151 760 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử - Văn Hóa Dòng Họ Nguyễn Hà Ở Phương Khê, Triệu Sơn, Thanh Hóa Từ Thế Kỷ Xvii Đến Năm 2010
Tác giả Nguyễn Văn Hiệu
Người hướng dẫn TS. Trần Vũ Tài
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy mỗi ngườibiết phát huy được truyền thống văn hóa của dòng họ mình, nâng cao giá trịcủa đời sống tinh thần sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn góp phần vào sựnghiệp công nghiệp hóa, hiệ

Trang 3

Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đãnhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cơ quan, tập thể, cá nhân vànhững người thân trong gia đình.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất gửi tới TS Trần Vũ Tài,người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luậnvăn Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau Đại học,Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phòng Địa chí - Thư viện Khoahọc tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Thư viện Đại học Vinh, Thư viện Quốc gia,UBND xã Nông Trường - Triệu Sơn, phòng Văn hóa huyện Triệu Sơn Đồngthời, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình cụ Nguyễn Tri cùng các cụ tronggia tộc họ Nguyễn Hà đã cung cấp tư liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành luậnvăn này

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè, đã tạo điềukiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi về vật chất cũng như tinh thần để tôi cóđiều kiện học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn

Do nguồn tài liệu, thời gian hạn chế và bản thân mới bước đầu nghiêncứu một đề tài khoa học, chắc chắn luận văn khó tránh khỏi thiếu sót, rấtmong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

NguyÔn V¨n HiÖu

Trang 4

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tương, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 7

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp khoa học của đề tài 9

6 Bố cục của luận văn 10

B NỘI DUNG 11

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN HÀ 11

1.1 Vài nét về mảnh đất và con người Triệu Sơn 11

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 11

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa 12

1.1.3 Một số dòng họ lớn trên đất Triệu Sơn 17

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn Hà ở Triệu Sơn 22

1.2.1 Làng Phương Khê - quê hương dòng họ Nguyễn Hà 22

1.2.2 Nguồn gốc dòng họ Nguyễn Hà 26

1.2.3 Lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê 28

Chương 2 TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÒNG HỌ NGUYỄN HÀ 35

2.1 Gia phong của dòng họ Nguyễn Hà 35

2.2 Truyền thống hiếu học, khoa bảng của dòng họ 42

2.3 Nghề truyền thống - Nghề dạy học 47

Trang 5

2.4 Di tích văn hóa 53

Trang 6

TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC 66

3.1 Đóng góp về mặt chính trị 66

3.2 Đóng góp về mặt kinh tế 81

3.3 Đóng góp về mặt quân sự 87

3.4 Đóng góp về mặt văn hóa giáo dục 99

C KẾT LUẬN 115

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC

Trang 7

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam thìviệc tìm về với cội nguồn, về với dòng họ của người Việt Nam trong lịch sử

và hôm nay luôn luôn là nhu cầu tinh thần thiêng liêng, một sinh hoạt mangnhững yếu tố tâm linh không thể thiếu được của người Việt Nam Vì vậy, khinghiên cứu về lịch sử - văn hóa dòng họ nó sẽ góp phần quan trọng vào việcgiáo dục thế hệ trẻ về lòng biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên Qua đógiúp thế hệ trẻ thấy được những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dòng họmình đã được tổ tiên hun đúc và gìn giữ Điều đó còn giúp cho các thế hệ nốitiếp biết lưu giữ và phát huy, đồng thời giúp cho con cháu đánh giá, rút kinh

Trang 8

nghiệm trong cuộc sống Để từ đó nó sẽ tạo nên một sức mạnh tinh thần đểcon cháu tự hào, noi theo và làm vẻ vang cho tổ tiên dòng họ mình Nhiều giađình tạo nên một dòng họ, nhiều dòng họ tạo nên dân tộc Vì vậy mỗi ngườibiết phát huy được truyền thống văn hóa của dòng họ mình, nâng cao giá trịcủa đời sống tinh thần sẽ tạo nên một sức mạnh to lớn góp phần vào sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Nghiên cứu về dòng họ trong giai đoạn đổi mới hôm nay là một việclàm khoa học rất cần thiết, nhằm tiếp tục phát triển những mặt tích cực, đồngthời loại bỏ những tiêu cực còn tồn động trong xã hội cũ, nhằm củng cố hơnnữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đó cũng là một trong những mục tiêuchiến lược được Đảng và nhà nước ta chủ trương nhằm xây dựng một nền vănhóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, loại bỏ những hủ tục cũ, lạc hậu đã vàđang gây trở ngại cho con đường phát triển của dân tộc

Dòng họ Nguyễn Hà là một trong những dòng họ lớn ở Nông Trườngnói riêng và Triệu Sơn nói chung Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc,các thế hệ con cháu của dòng họ đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự phát triểnchung của lịch sử quê hương và dân tộc Việc nghiên cứu về dòng họ Nguyễn

Hà sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử của gia tộc, cộng đồng về mối quan

hệ giữa gia đình, dòng họ và những thành viên trong dòng họ Qua đó giúpcho việc duy trì, phát huy khối đoàn kết trong cộng đồng gia tộc, tạo nên sứcmạnh tinh thần to lớn để góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày cànggiàu mạnh, văn minh

Ngày 30 tháng 12 năm 2002, Bộ Văn hóa thông tin đã ra quyết địnhcông nhận đền thờ danh nhân Nguyễn Hiệu và đền thờ họ Nguyễn Hà ở xãNông Trường, Triệu Sơn, Thanh Hóa là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đâykhông chỉ là niềm vinh dự lớn lao của con cháu trong dòng họ Nguyễn Hà màcòn là niềm tự hào chung của nhân dân Triệu Sơn, nhân dân Thanh Hóa

Trang 9

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu

“Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê, Triệu Sơn, Thanh Hóa từ thế kỷ XVII đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về dòng họ không còn là mảng đề tài mới nhưng luôn làmột trong những đề tài hấp dẫn, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoahọc, các nhà nghiên cứu Bởi dòng họ là một trong những bộ phận cấu thànhnên văn hóa truyền thống của dân tộc Vì vậy khi nghiên cứu về nguồn gốc vàlịch sử văn hóa của dòng họ nó sẽ nhằm bảo tồn và phát huy vốn truyền thốngvăn hóa được lưu giữ trong các dòng họ, tạo nên động lực phát triển đất nướcViệt Nam trong giai đoạn mới

Từ trước đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiêncứu về “Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê, Triệu Sơn,Thanh Hóa từ thế kỷ XVII đến năm 2010” Nhưng bên cạnh đó đã có một sốcuốn sách, bài viết, bài báo của một số tác giả, kỷ yếu hội thảo viết về dòng

họ, những nhân vật tiêu biểu trong dòng họ mà đặc biệt là danh nhânNguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Tái… Qua đây chúng tôi xin được nêulên một số cuốn sách và bài viết có liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiêncứu như sau:

Cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” - Phần nhân vật chí của Phan

Huy Chú, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1992 đã đánh giádanh nhân Nguyễn Hiệu là một trong 39 vị phò tá có công lao tài đức thời LêTrung Hưng

Cuốn “Trạng nguyên, tiến sĩ, hương cống Việt Nam” của các tác giả

Bùi Hạnh Cần - Minh Nghĩa - Việt Anh do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

ấn hành đã đề cập đến một số nhà khoa bảng của dòng họ như: Nguyễn Hiệu,Nguyễn Hoàn, Nguyễn Tái, Nguyễn Thu, Nguyễn Giản…

Trang 10

Cuốn “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn

Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội ấnhành năm 1992 cũng đã đề cập đến một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ nhưNguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn

Cuốn “Nguyễn Trinh Cơ - Cuộc đời và sự nghiệp” của Trường Đại học

Y Hà Nội, do Nhà xuất bản Y học Hà Nội ấn hành năm 2002 Trong đó đã nóiđến toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ -Một người con ưu tú của dòng họ Nguyễn Hà, ông đã có những đóng góp rất

to lớn cho nền y học nước nhà và được đánh giá là một nhà tri thức, một chiến

sĩ cộng sản và một nhà khoa học lớn của đất nước

Cuốn “Danh nhân Triệu Sơn” của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử

Thanh Hóa, xuất bản tập 1 năm 1993 và tập 2 năm 1999 Hai cuốn sách đã nói

về các danh nhân và các anh hùng trên vùng đất Triệu Sơn, trong đó các tácgiả đã viết về những danh nhân của dòng họ Nguyễn Hà như Nguyễn Hiệu,Nguyễn Hoàn, Nguyễn Thu, Nguyễn Tái, Nguyễn Trinh Cơ, Nguyễn TrinhTiếp… đã có những đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực cho quê hương và đấtnước, xứng đáng với truyền thống anh hùng của quê hương

Cuốn “Thanh Hóa di tích và thắng cảnh” của Bảo tàng tổng hợp tỉnh

Thanh Hóa do Nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành năm 2002, trong đó tác giảNguyễn Đăng Lái đã có bài viết về đền thờ Tể tướng Nguyễn Hiệu và dòng

họ Nguyễn Hà trên đất Phương Khê, đề cập đến truyền thống học hành khoabảng của dòng họ đã được sử sách lưu truyền ca ngợi, nhân dân tôn sùng

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Sơn (1965 - 2005)” của Ban chấp

hành Đảng bộ huyện Triệu Sơn xuất bản năm 2005, cuốn sách đã đề cập đếntruyền thống văn hóa - lịch sử của Triệu Sơn, mảnh đất an cư và phát triểncủa dòng họ Nguyễn Hà

Trang 11

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Nông Trường (1953 - 2005)” của Ban chấp

hành Đảng bộ xã Nông Trường (2005), đã nêu khái quát về quá trình hìnhthành làng xã Nông Trường, mảnh đất do tổ tiên của dòng họ Nguyễn Hàtrước đây đến khai hoang lập làng và trở thành những vị thành hoàng củanhững làng trong xã

Ngoài những bộ sử lớn và những tác phẩm đã xuất bản có ghi chép vềcác danh nhân của dòng họ đã được xuất bản, có liên quan đến đề tài chúngtôi nghiên cứu Còn có một số bài viết, bài báo, kỷ yếu hội thảo mà chúng tôi

đã tiếp cận như:

Hồ sơ khoa học về lý lịch di tích lịch sử - văn hóa đền thờ Nguyễn Hiệu

và dòng họ Nguyễn Hà của Bảo tàng tổng hợp Thanh Hóa thuộc Sở Văn hóa

thông tin Thanh Hóa lập năm 1999 Hồ sơ này đã nêu khái quát về đền thờNguyễn Hiệu và dòng họ Nguyễn Hà - di tích lịch sử văn hóa

Hồ sơ khoa học về lý lịch di tích nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Hoàn của Ban

quản lý di tích - danh thắng thuộc Sở Văn hóa thông tin Thanh Hóa lập năm

2007 Hồ sơ đã nêu khái quát về cuộc đời sự nghiệp của danh nhân và tổngquan về đền thờ Nguyễn Hoàn

Bài “Lê triều quốc sư Nguyễn Hoàn và hậu duệ” của tác giả Nguyễn

Nguyên Quýnh - một người con của dòng họ Nguyễn Hà, bài viết nhân ngàykhánh thành nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Hoàn Trong đó bài viết đã nêu khái quátnguồn gốc và hậu duệ của dòng họ, đặc biệt tác giả đã liệt kê danh sách các vịkhoa bảng của dòng họ dưới thời phong kiến Theo đó dòng họ có 3 tiến sĩ, 21

cử nhân, và 17 tú tài

Kỷ yếu hội thảo khoa học về Nguyễn Hiệu - Nguyễn Hoàn danh nhân

lịch sử thế kỷ XVII - XVIII, do Viện sử học - Sở Văn hóa thông tin Hà Tây

và trung tâm Văn miếu Quốc tử giám cùng gia tộc dòng họ Nguyễn Hà phốihợp tổ chức vào tháng 4 năm 2008 Trong các bản tham luận được trình bày

Trang 12

tại hội thảo đã ghi nhận và khẳng định những cống hiến to lớn của các nhânvật lịch sử Nguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn đối với lịch sử dân tộc và còn tưởngnhớ, truy tôn đến hai vị công thần lương đống của xã tắc thế kỷ XVII - XVIII.

Bài báo “Nguyễn Hoàn nhà chính trị, văn hóa lớn của thế kỷ XVIII”

của tác giả Bạch Dương được đăng trên báo Đại đoàn kết thứ 6 ra ngày 4tháng 4 năm 2008 Bài báo tuy ngắn gọn nhưng đã nêu lên được thân thế, sựnghiệp, những đóng góp của một nhà chính trị, nhà văn hóa của thế kỷ XVIII

Bài báo “Hai chú cháu ruột cùng được giải thưởng Hồ Chí Minh” của

tác giả Ngân Hà được đăng trên báo nhân dân thứ 5 ngày 4 tháng 3 năm

1999 Bài viết đã nêu lên chân dung của hai nhà khoa học là Nguyễn TrinhTiếp và Giáo sư Nguyễn Nguyên Phong, là hai trong số những người con ưu

tú của dòng họ Nguyễn Hà, người đã có những cống hiến to lớn cho nềnkhoa học kỹ thuật nước nhà và được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ ChíMinh đợt một

Bài báo “Những làng Việt Nam nổi tiếng - Làng Phương Khê Thanh

Hóa” của tác giả Nguyễn Đăng Tấn được đăng trên báo Văn nghệ số 26 ra

ngày 28 tháng 6 năm 2003, viết về vùng quê an cư và phát triển của dòng họNguyễn Hà Bài viết tuy ngắn gọn nhưng qua đó tác giả đã nêu lên được mộtlàng quê cổ, nơi sản sinh ra nhiều vị đại khoa tài giỏi Đến cuối thế kỷ XIXlàng có 3 người đỗ Tiến sĩ, 40 người đỗ Cử nhân và Tú tài Ngày nay nhiềungười đỗ đạt cao, là Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên của các trường đại học, cácviện nghiên cứu, có người đã trở thành nhà văn, nhà thơ của đất nước

Tất cả những cuốn sách, bài viết, bài báo trên đã ít nhiều đề cập đếnmột số thành viên trong dòng họ Nguyễn Hà Tuy nhiên những bài viết đó vẫncòn mang tính chất sơ lược, riêng lẻ, hoặc chỉ tập chung vào một cá nhân nhưNguyễn Hiệu, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Thu… chứ chưa đi sâu nghiên cứu mộtcách có hệ thống, toàn diện về lịch sử - văn hóa và sự phát triển cũng nhưnhững đóng góp của dòng họ Nguyễn Hà đối với dân tộc

Trang 13

Từ thực tế đó đã đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ phải đi sâu nghiên cứumột cách toàn diện hơn, có hệ thống hơn về lịch sử văn hóa dòng họ Nguyễn

Hà để góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của quê hương, đất nước

3 Đối tương, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họNguyễn Hà trên đất Triệu Sơn, truyền thống văn hóa và những đóng góp củadòng họ đối với lịch sử dân tộc

3.2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài

Đề tài “Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê, TriệuSơn, Thanh Hóa từ thế kỷ XVII đến năm 2010” nhằm tập chung giải quyếtnhững nhiệm vụ sau:

Tìm hiểu về nguồn gốc và quá trình phát triển của dòng họ Nguyễn Hà

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi

dựa vào các nguồn tài liệu sau

Trang 14

- Tài liệu gốc: Gia phả dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê, Nông

Trường, Triệu Sơn Ngoài ra chúng tôi đã tham khảo các bộ chính sử như: Đạiviệt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Lịch triều hiếnchương loại chí…Hồ sơ khoa học về lý lịch di tích đền thờ Nguyễn Hiệu vàdòng họ Nguyễn Hà, Hồ sơ khoa học di tích đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Hoàn ởNông Trường, Triệu Sơn Các hoành phi, câu đối, đền thờ hiện lưu giữ tại đềnthờ dòng họ Nguyễn Hà

- Tài liệu tham khảo: Các công trình, ấn phẩm, bài viết phản ánh về

dòng họ Nguyễn Hà và con cháu dòng họ Nguyễn Hà trên đất Triệu Sơn đãcông bố

- Tài liệu điền dã: Để bổ sung thêm nguồn tư liệu cho đề tài, chúng tôi

còn tìm hiểu, khảo cứu, đi điền dã tại nhà thờ họ Nguyễn Hà, đền thờ Tểtướng Thái bảo Đại vương Nguyễn Hiệu, nhà thờ Lê triều quốc sư NguyễnHoàn ở xã Nông Trường, Triệu Sơn

- Đồng thời chúng tôi đã vinh dự được gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với các

cụ trong dòng họ Nguyễn Hà như ông Nguyễn Tri, ông Nguyễn Hang, ôngNguyễn Công Kháng, ông Nguyễn Công Chức và các con cháu trong dònghọ…để bổ sung thêm nguồn tư liệu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm,tích lũy, sao chép tư liệu ở thư viện Quốc gia Hà Nội, thư viện khoa học tổnghợp Thanh Hóa, ban nghiên cứu lịch sử tỉnh Thanh Hóa, bảo tàng tổng hợpThanh Hóa, sao chép hoành phi, câu đối, gia phả Tìm hiểu một số hiện vật tạinhà thờ, nghiên cứu thực địa tại nhà thờ, mộ chí, tiến hành chụp ảnh, sử dụngphương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội học…

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch

sử và phương pháp logic để trình bày một cách có hệ thống về quá trình hình

Trang 15

thành và phát triển của dòng họ theo thời gian diễn biến của lịch sử Ngoài rachúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu gia phả với chính sử,

từ đó đánh giá, phân tích, tổng hợp, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác đểxác minh tính chính xác của các nguồn tư liệu đã được sưu tầm nhằm phântích rút ra những đánh giá tổng hợp, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ và sự tácđộng qua lại giữa dòng họ Nguyễn Hà với quê hương đất nước

5 Đóng góp khoa học của đề tài

Với luận văn “Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê,Triệu Sơn, Thanh Hóa từ thế kỷ XVII đến năm 2010” sẽ cung cấp và giớithiệu cho độc giả bức tranh toàn cảnh về nguồn gốc, lịch sử phát triển củadòng họ Nguyễn Hà trên đất Phương Khê, Triệu Sơn và những đóng góp củadòng họ này trong lịch sử cách mạng và văn hóa dân tộc Qua đó góp phầngiáo dục đạo đức, tư tưởng hướng về cội nguồn, phát huy những truyền thốngquý báu của gia đình và dòng họ

Luận văn góp phần tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họNguyễn Hà cùng một số sự kiện lịch sử mà chính sử mới chỉ nhắc đến mộtcách sơ lược hoặc chưa nhắc đến

Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu và làmgiàu thêm bộ sử địa phương, trở thành nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu

về lịch sử văn hóa dân tộc Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộcthì luận văn sẽ góp phần giáo dục thế hệ trẻ lưu giữ và phát huy truyền thốngtốt đẹp của dòng họ và dân tộc Đặc biệt trong thời kỳ đất nước ta đã cónhững chuyển biến hết sức mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước thì việc tìm về cội nguồn, khơi dậy truyền thống gia đình,dòng họ, truyền thống dân tộc là một việc làm rất cần thiết nhằm góp phần gìngiữ bản sắc văn hóa dòng họ, văn hóa dân tộc Việt để hướng tới việc xâydựng con người Việt Nam mới, xây dựng gia đình văn hóa, dòng họ văn hiến,

Trang 16

làng xã văn hóa Luận văn hoàn thành góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn vàphát huy di sản văn hóa của dòng họ, văn hóa làng xã, đặc biệt là với những

di tích lịch sử đã được nhà nước xếp hạng Qua đó góp phần xây dựng nướcViệt Nam ngày càng giàu đẹp

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, thì nộidung chính của luận văn được chia làm 3 chương

Chương 1 Khái quát về nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ

Nguyễn Hà

Chương 2 Truyền thống văn hóa của dòng họ Nguyễn Hà

Chương 3 Những đóng góp của dòng họ Nguyễn Hà trong lịch sử

dân tộc

Trang 17

B NỘI DUNGChương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN HÀ

1.1 Vài nét về mảnh đất và con người Triệu Sơn

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Triệu Sơn là một huyện thuộc vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng vàmiền núi Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 20 km về phía Tây, phía Bắcgiáp với huyện Thọ Xuân, phía Nam giáp với huyện Như Thanh, Nông Cống,phía Tây giáp huyện Thường Xuân, phía Đông giáp huyện Đông Sơn

Huyện Triệu Sơn có diện tích là 292,21 km2, với dân số 211.372 người,mật độ dân số trung bình là 723,4 người trên km2, toàn huyện có 35 xã và mộtthị Trấn."[7;235] Triệu Sơn là huyện bán sơn địa bao gồm cả đồng bằng vàbán sơn địa, miền núi Có vùng núi Nưa hùng vĩ nằm trên địa phận các xã TânNinh, Vân Sơn, Thái Hoà, trên núi còn ghi lại dấu tích ông Tua Nưa với amtiên, giếng tiên, bàn cờ tiên

Bên cạnh những đồi núi là những vùng đồng bằng rộng lớn, có diện tích

tự nhiên là 17.371 ha, trong đó đất nông nghiệp là 11.575 ha, đất canh tác là10.285 ha, nằm trên các xã Đồng Tiến, Đồng Lợi, Đồng Thắng, Dân Quyền,Dân Lý chủ yếu trồng lúa và nhiều loại cây hoa màu khác phục vụ cho nhucầu của nhân dân trong huyện, trao đổi với nhân dân các huyện lân cận

Triệu Sơn có các dòng sông chảy qua như sông Nhơm (hay còn gọi làsông Lãng) có chiều dài là 66,9 km, được bắt nguồn từ huyện Như Xuân chảyqua theo núi Nưa từ phía Bắc Triệu Sơn xuống phía Nam và chảy qua huyệnNông Cống Ngoài ra còn có hệ thống sông Hoàng Giang có chiều dài là 81

km, được bắt nguồn từ huyện Thường Xuân và tách làm hai nhánh, trong đó

Trang 18

có một nhánh chảy qua huyện Triệu Sơn, dòng sông uốn lượn, quanh co, lòngsông hẹp, nước chảy chậm, nên khi có mưa to thường gây ra úng lụt cho các

xã mà nó chảy qua Bên cạnh đó thì những dòng sông này hàng năm cũng đãgóp phần cung cấp nước tưới, tiêu úng cho đồng ruộng và bồi đắp phù sahàng năm cho các đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nềnkinh tế nông nghiệp trong vùng

Về điều kiện khí hậu, Triệu Sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,thể hiện hai mùa rõ rệt; Mùa khô thì khí hậu hanh khô giá rét từ tháng 10 nămnay sang tháng 2 (dương lịch) năm sau, còn từ tháng 3 đến tháng 6 (dươnglịch) khí hậu nóng bức lại thêm gió lào (gió Tây Nam) khô nóng, nhiệt độ cókhi lên tới 450C, từ tháng 6 đến tháng 10 lại là mùa mưa, vào mùa mưa tolượng nước từ 1.400 ly đến 1.800 ly, mùa mưa thường gây ra bão và ngậpúng Điều kiện khí hậu như vậy, cũng có những thuận lợi, nhưng cũng gâycho nhân dân trong vùng không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất và trồngtrọt Nhưng những con người nơi đây, với sự cần cù trong lao động và anhdũng trong chiến đấu đã không chịu khuất phục trước những khó khăn củathiên nhiên mà luôn tìm cách chinh phục, chế ngự thiên nhiên để tiếp tục tồntại và phát triển, nhằm biến vùng đất nơi đây ngày một giàu đẹp hơn

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các tầng lớp nhân dân tronghuyện đang nỗ lực phấn đấu, lao động sáng tạo, phát huy những điều kiệnthuận lợi do thiên nhiên ban tặng nhằm khai thác triệt để nhiều tiềm năng vàthế mạnh sẵn có của vùng và những giá trị truyền thống cao quý của quêhương, đồng thời khắc phục khó khăn mà nơi đây đang phải gánh chịu để xâydựng Triệu Sơn thành huyện ngày càng giàu mạnh, góp phần vào sự phát triểnchung của quê hương xứ Thanh trong quá trình đổi mới đất nước

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa

Triệu Sơn là hình ảnh của một nước Việt Nam thu nhỏ trong toàn bộlãnh thổ hình chữ S, ngoài những truyền thuyết về "Lạc Long Quân và Âu

Trang 19

Cơ", "Sơn Tinh, Thuỷ Tinh","Thánh Gióng" nói về sự hình thành nên lãnhthổ và con người Việt Nam ngày nay, thì vùng đất Triệu Sơn cùng như cácvùng quê khác trên đất nước Việt Nam được hình thành thì luôn gắn liền vớimột truyền thuyết, một sự tích về sức mạnh, ý chí quật cường Hay là sự chiếnthắng giữa cái thiện và cái ác để rồi từ đó mỗi con người chúng ta có quyền

tự hào về truyền thống lịch sử ấy

Theo truyền thuyết dân gian mà được người dân truyền miệng đến bâygiờ thì, ngay từ thuở mới khai thiên lập địa, nơi đây đã ghi lại dấu tích vănhoá vùng núi Nưa gắn liền với sự tích ông "Tu Nưa gánh núi dọn đường", "TuNưa đấu với Tu Vồm" một ông Nưa khổng lồ về sức mạnh và ý chí - biểutượng cho sức mạnh của người Triệu Sơn (và Nông Cống) thuở "Khai thiênlập địa, tạo dựng xóm làng"

Truyền thuyết ông Nuông khổng lồ gánh núi, san đồng được gói trọnvào câu phương ngôn "núi Trẩu con gà, núi Mục hòn xôi" [3;16]

Cho dù những câu chuyện dân gian đó chưa hẵn đã là thực, mà chỉ là sự

hư cấu, nhưng điều đó cũng dể hiểu, khi đất nước ta vốn là một nước nôngnghiệp, do trình độ nhận thức của mỗi con người còn có hạn nên con ngườithường không thể giải thích được các hiện tượng tự nhiên như: Mây, mưa,sấm, chớp, thần sông, thần núi nên dẫn đến họ bất lực trước những hiệntượng tự nhiên đó, để từ đó họ suy tôn và tôn thờ những vị thần này

Nhưng sự hư cấu đó lại là một nét văn hoá độc đáo từ đó tạo ra một sứcmạnh tinh thần lớn lao để mỗi người có thể tự hào và phát huy truyền thống

ấy trong cuộc sống cũng như trong quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt

là tạo ra sức mạnh để đương đầu với những kẻ thù xâm lược từ bên ngoài vào,tạo nên được những chiến thắng vĩ đại cho dân tộc Chính vì những điểm đó

mà người dân Triệu Sơn luôn tự hào về truyền thống lịch sử của vùng quêmình Để truyền thống nối tiếp truyền thống, thì Triệu Sơn từng là nơi nổ ra

Trang 20

và đón nhận nhiều cuộc khởi nghĩa của những anh hùng dân tộc luôn hy sinh

vì sự độc lập và giải phóng đất nước

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, trên mảnh đất Triệu Sơncòn ghi lại dấu tích văn hoá của nhiều cuộc khởi nghĩa như vào thế kỷ thứ Iđất Triệu Sơn - Nông Cống đã đón nhận nghĩa quân của Hai Bà Trưng dotướng Đô Dương chỉ huy rút về vùng này và lập căn cứ tử thủ để lại cho đờisau những câu chuyện dân gian đầy khí phách anh hùng

Năm 156 dũng tướng Chu Đạt quê làng Mỹ Hào (xã Thọ Phú huyệnTriệu Sơn) đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân Nam Hán làm chủ thành trìtrong nhiều tháng Tấm gương anh dũng hy sinh của Chu Đạt vì độc lập dântộc còn ghi lại trong lòng mỗi người dân nơi đây Cho đến bây giờ, nhân dânkhắp vùng Thọ Phú cũng như nhân dân Triệu Sơn còn lưu truyền chuyện kể

về cái chết anh dũng của người anh hùng Chu Đạt và những người lính chiến

vô danh "Các cụ cao niên giải thích, nơi mà Chu Đạt dừng chân hồi ấy đượcđổi thành chợ Neo, cánh đồng ông và các nghĩa sĩ vượt qua năm xưa, cùngcác làng gần đó được gọi là cánh đồng Neo, làng Neo" [32;9]

Lịch sử dân tộc ta còn ghi lại về người nữ anh hùng Triệu Thị Trinhcùng với người anh trai là Triệu Quốc Đạt, một thủ lĩnh ở huyện Quân Anh,quận Cửu Chân đã từng dấy binh khởi nghĩa chống lại giặc Ngô năm248."Bà Triệu quê ở huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hoá), là người có chíkhí hơn người, có hoài bão đánh giặc ngoại xâm giành lại độc lập cho đấtnước" [57;89]

Khí phách anh hùng của vị nữ tướng tài ba ấy được mọi thế hệ ngườidân Triệu Sơn hun đúc, giữ gìn và phát huy nó trong quá trình dựng nước vàgiữ nước."Khi nhận định đánh giá về truyền thống lịch sử Việt Nam anh hùngChủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Tỉnh Thanh Hoá có một bà tên là Triệu ẩutuổi vừa đôi mươi tài năng dũng cảm hơn người, khởi binh cứu nước một đời

Trang 21

lưu phương, phụ nữ ta chẳng tầm thường đánh Đông dẹp Bắc làm gương đểđời" [3;19].

Thế kỷ XV, trong khi cả dân tộc đang gồng mình cùng với nghĩa quâncủa Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn để chống lại quân Minh xâm lược,thì vùng đất Cổ Định xưa từng tự hào là nơi đón nhận nghĩa quân của khởinghĩa Lam Sơn do thuộc tướng của Lê Lợi là Nguyễn Chích lập căn cứ chốnggiặc ở nơi đây, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa đó thì nhân dân nơi đây đã tham giatiếp tế cho nghĩa quân và đã có nhiều người con yêu tú của quê hương tham giavào nghĩa quân khởi nghĩa như Lê Lôi (Lê Duy Thạch), Lê Nổ (DoãnThịnh) để sau này trở thành những khai quốc công thần của nhà Lê Sơ

Vào cuối thế kỷ XVIII, đến thế kỷ XIX, cùng với sự khủng hoảng củachế độ phong kiến Việt Nam thì thực dân Pháp lần lượt tìm cách xâm lược ViệtNam và đặt ách đô hộ lên nhân dân Việt Nam, nhưng không vì thế mà nhândân ta khuất phục chịu làm nô lệ, lần lượt các phong trào đấu tranh của quầnchúng nhân dân ta nổ ra, bắt đầu từ phong trào Cần Vương, tiếp đến là phongtrào đấu tranh theo khuynh hướng Tư sản và khuynh hướng Vô sản lần lượtdiễn ra Cùng với nhân dân cả nước nói chung thì nhân dân Triệu Sơn nói riêngcũng đã góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giải phóng nước nhà Từnhững ngày đầu của phong trào Cần Vương, rất nhiều văn thân, sĩ phu yêunước của vùng đất Triệu Sơn như Lê Ngọc Toản đã hưởng ứng và tham giaphong trào Cần Vương chống Pháp Đến khi con đường cứu nước theo khuynhhướng Vô sản đã đóng vai trò quan trọng trên vũ đài chính trị Việt Nam thìcùng với cả nước, vùng đất Triệu Sơn cũng đã thành lập nhiều chi bộ Đảng từrất sớm tại các xã của Bắc Nông Cống và Nam Thọ Xuân, đã làm cho phongtrào đấu tranh của quần chúng nhân dân nơi đây phát triển mạnh mẽ

Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng vớinhân dân cả nước thì quân dân Triệu Sơn đã có những đóng góp to lớn vào sự

Trang 22

toàn thắng của dân tộc, khi nơi đây đã từng đóng góp nhiều sức người, sứccủa cho cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc.

Bên cạnh những truyền thống lịch sử hào hùng ấy thì Triệu Sơn còn làvùng đất sản sinh ra nhiều vị đại khoa đỗ đạt cao và nhiều vị tướng tài ba,những danh nhân văn hoá, dòng họ văn hoá của vùng đất Triệu Sơn này đã cónhững đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc, cũngnhư tô điểm thêm truyền thống lịch sử văn hoá của quê hương, đất nước Thờiphong kiến, dòng họ Doãn ở Triệu Sơn có tới ba thế hệ được nhà vua tintưởng và giao cho trọng trách đi sứ sang Trung Quốc Thời Lý có Doãn Tử

Tư, Doãn Anh Khải được cử đi sứ sang Tống, có công hoạch định biên giới

và sắp đặt sự hoà hiếu với nhà Tống nên đều được nhà vua ban tặng tướcQuận công Thời Trần, có Doãn Băng Hài được triều đình cử đi sứ sang nhàNguyên Mông của Trung Quốc và được nhà vua ban tặng chức Thiếu phó,tước hiệu Hưng Đình Hầu Ngoài ra, dòng họ Doãn còn có Doãn Thịnh từngtham gia trong khởi nghĩa Lam Sơn và được ban quốc tính là Lê Nổ, tướcquan Nội Hầu Bên cạnh những vị đại quan có tài ngoại giao, còn có những

vị tướng tài ba như danh tướng Lê Thì Hiến, là một vị tướng dưới thời LêTrung Hưng, được triều đình ban chức Thái tể, đã sinh ra một dòng tướng làmrạng danh cho quê hương, dòng họ đó là các con Lê Thì Kinh được phongtước Trịnh Tướng Hầu; Lê Thì Hải, được phong Thạc Quận Công; Lê ThìLiêu được phong làm Đô Đốc, tước Trung Quận Công, tặng chức Thái Tể.Suốt thời phong kiến, Triệu Sơn còn có những bậc đại khoa như: Tống Sư Lộ,Tống Nho, Bùi Trọng Huyến (xã Dân Lực), Lê Tán Tương, Lê Tán Thiện, LêTrạc Tú (xã Xuân Lộc), Lê Thân, Lê Bật Tứ, Doãn Đình Tá, Lê Nhân Kiệt (xã Tân Ninh), Lê Khiêm, Trịnh Thế Tế (xã Thọ Dân), Nguyễn Hiệu, NguyễnHoàn, Nguyễn Tái (xã Nông Trường), Lê Thức (xã Thọ Cường)

Trang 23

Trong phong trào kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc,những người con yêu tú của vùng đất Triệu Sơn đã anh dũng ngã xuống vì sựnghiệp giải phóng dân tộc như anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chènpháo, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Với tất cả những dấu tích, những truyền thống và những con người ấy

đã trở thành một niềm tự hào của quân dân Triệu Sơn trong suốt những thế kỷdựng nước, giữ nước và truyền thống ấy tiếp tục được các thế hệ sau lưu giữ

và phát huy "Nhân dân Triệu Sơn có quyền tự hào về truyền thống yêu nước,truyền thống ấy được tôi luyện và thử thách qua nhiều thế kỷ, đã trở thànhmáu thịt của nhiều thế hệ Đó là nét đặc trưng lịch sử văn hoá của con ngườiTriệu Sơn Kế thừa và phát huy truyền thống chống ngoại xâm và gắn liền têntuổi của các bậc hào kiệt, các bậc khai quốc công thần, mãi mãi là niềm tựhào của đất Triệu anh hùng."[3; 31]

1.1.3 Một số dòng họ lớn trên đất Triệu Sơn

Cùng với đó thì các dòng họ ở Triệu Sơn đã cống hiến cho quê hương,dân tộc rất nhiều nhân tài, góp phần làm rạng rỡ thêm nền văn hóa truyềnthống của quê hương xứ Thanh nói riêng và cả nước nói chung Trên vùngquê Triệu Sơn, ngoài dòng họ Nguyễn Hà mà chúng tôi chọn làm đề tàinghiên cứu trong luận văn này thì còn có nhiều dòng họ lớn rất nổi tiếng, songtrong khuôn khổ hạn hẹp của một đề tài luận văn, chúng tôi chỉ xin giới thiệu

và nêu khái quát một số dòng họ sau: Dòng họ Lê Thì ở xã Thọ Phú, dòng họ

Lê Bật, dòng họ Doãn ở xã Tân Ninh

Dòng họ Lê Thì (xã Thọ Phú - Triệu Sơn)

Đây là một đòng họ theo nghiệp võ quan thời Lê Trung Hưng, vớinhiều vị tướng tài ba, đánh Nam, dẹp Bắc Theo bản dịch văn bia “Lê lệnh biaký” ở đền thờ Hào quận Công Lê Thì Hiến và nhiều nguồn tài liệu khác thìdòng họ Lê Thì mà nổi bật nhất là Hào Quận công Lê Thì Hiến, ông đã sinh

ra một dòng tướng làm rạng rỡ cho quê hương, đất nước

Trang 24

Ông nội Hào quận Công được phong tặng chức Thái bảo chức Phúcchiêu Hầu Bố đẻ trước là bậc công thần đương cao võ nghệ, oai hùng, dũngcảm được đặc biệt tiến phong là bậc thượng tướng quân giúp nước Điện tiền

đô hiệu điểm, tư tả hiệu điểm, đăng thư vệ sư, tặng thêm Bắc quân Đô đốc phủ,

Đô đốc kiêm sự, tặng Thiếu phó, ấn phong Thái Bảo Lê quận Công Lê Thì

Bản thân Hào quận Công sinh ra trong một dòng họ danh gia thế phiệttheo nghiệp võ quan, lớn lên lại được người anh trai là Đô đốc đồng tri Đỉnhquận Công dìu dắt nên sớm trở thành một võ quan tài giỏi dưới thời Lê TrungHưng Cả cuộc đời binh nghiệp, ông đã được triều đình phong tặng và giaogiữ nhiều trọng trách quan trọng như: Đô đốc đồng tri, chức Thiếu úy, phonglàm Thái phó, trấn thủ các đạo Sơn Tây, Nghệ An, Châu Bố Chính Khi chếtđược triều đình tặng Thái tể, thụy là Nghiêm Trí

Sách Đại việt sử ký toàn thư (tập 4) chép về Hào quận Công như sau:

“Tháng 9, trấn thủ Nghệ An xứ, kiêm trấn Bố Chính Châu thống suất quan tảtrung quân dinh phó tướng Thái phó Hào quận Công Lê Thì Hiến chết ThìHiến là người trí lược, dũng cảm, có tài cơ biến, coi quân thì hiệu lệnhnghiêm túc, mỗi khi đi đánh dẹp thường lập công to, tuổi 66 chết tại trấn.Tặng Thái tể, cho thụy là Nghiêm Trí, lập đền thờ (Thì Hiến người xã PhúHào, huyện Lôi Dương)” [19;336]

Lê tướng công đã sinh ra một dòng tướng làm rạng rỡ cho quê hương,rạng danh dòng họ Lê Thì, các con ông nối nghiệp cha đều là những vị tướngtài giỏi, cùng cha tham gia những trận đánh lớn trong chiến tranh Trịnh -Nguyễn, Trịnh - Mạc

Ông có bốn người con trai thì có ba người đều là những vị tướng tàigiỏi và được triều đình Lê - Trịnh giao giữ những trọng trách quan trọng LêThì Kinh được phong tước Trịnh tướng Hầu Lê Thì Hải được phong Thạcquận Công, trấn thủ các đạo Cao Bằng, Thái Nguyên, Sơn Tây, được phong

Trang 25

chức Thủ phủ sự, tước Thạc quận Công Con trai út Lê Thì Liêu được thăng

Đô đốc, giữ chức trấn thủ đạo Sơn Tây, Nghệ An, được phong tước Trungquận Công, tặng chức Thái tể và truy phong vào hàng Phúc thần

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con cháudòng họ Lê Thì đã có những đóng góp cho công cuộc giải phóng dân tộc,những người con ưu tú của dòng họ đã lên đường nhập ngũ, tham gia chiếntrường Sau ngày đất nước giải phóng đến nay, nhằm phát huy truyền thốngvăn hóa của tổ tiên để lại, hiện nay con cháu dòng họ Lê Thì đang hàng ngày

nỗ lực cùng nhân dân địa phương phấn đấu xây dựng quê hương giàu mạnh,đất nước phát triển

Dòng họ Doãn (Tân Ninh - Triệu Sơn)

Theo gia phả của dòng họ thì nguồn gốc của dòng họ Doãn là một trongmười dòng họ lớn sớm có mặt ở làng quê Cổ Định xưa Tính từ cụ thủy tổDoãn Tử Tư đến nay đã hơn một nghìn năm Theo tìm hiểu của một số nguồn

tư liệu và gia phả một số dòng họ thì xưa vùng đất Cổ Định là nơi khởi nguồncủa 10 vị tiên công và sau này phát triển thành 10 dòng họ trong đó có dòng

họ Doãn

Cùng với thời gian thì dòng họ Doãn ngày càng sinh sôi và phát triểnđông đúc, lan tỏa khắp mọi vùng quê của tổ quốc và có nhiều đóng góp choquê hương và dân tộc

Thời phong kiến, dòng họ Doãn ở Triệu Sơn có tới ba thế hệ được nhàvua tin tưởng và giao cho trọng trách đi sứ sang Trung Hoa Thời Lý có Doãn

Tử Tư, Doãn Anh Khải được vua Lý cử đi sứ sang nhà Tống, có công hoạchđịnh biên giới và sắp đặt sự hòa hiếu với nhà Tống nên đều được nhà vua bantặng tước Quận Công Thời Trần có Doãn Băng Hài (cháu bảy đời của Doãn

Tử Tư) được triều đình cử đi sứ sang nhà Nguyên Mông của Trung Hoa vàđược nhà vua ban tặng chức Thiếu phó, tước hiệu Hưng đình Hầu Ngoài ra,

Trang 26

dòng họ còn có Doãn Nỗ từng tham gia trong khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợilãnh đạo, do có nhiều công lao, lập được nhiều chiến công nên được phongchức “Điện tiền xa vệ úy”, tước quan nội Hầu và được ban quốc tính là Lê

Nỗ Thời Lê - Trịnh, dòng họ Doãn có Doãn Huy làm đến chức Hữu thị lang

Bộ Binh và có công cứu thoát Trịnh Tùng khi Trịnh Xuân nổi loạn, nên đượcphong “Phó quốc Vương”, khi mất được triều đình phong Phúc thần và cholập đền thờ

Dưới triều Nguyễn, dòng họ Doãn có Doãn Uẩn làm Tổng đốc An Hà,được khắc tên vào bia các vị công thần triều Nguyễn đặt trong võ miếu ở Huế

và được vua Thiệu Trị cho khắc tên vào khẩu súng thần công thứ nhất trong

số chín khẩu loại “thần uy phục viễn đại tướng quân”

Trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc thì dòng họDoãn cùng đã có nhiều người tham gia và chiến trường, cùng chung sức vớidân tộc đánh đuổi đế quốc xâm lược, nhiều người con của dòng họ đã chiếnđấu anh dũng, nhiều người đã hy sinh Trong số các anh hùng, liệt sĩ, cán bộtham gia chiến trường và tiêu biểu nhất là Trung tướng Doãn Thế, phó Tổngtham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, tư lệnh pháo binh đã thamgia chỉ huy nhiều chiến dịch lớn

Trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, con cháu dòng họ Doãn đã để lại rấtnhiều thành tựu và đóng góp cho sự phát triển của nền văn học, nghệ thuậtnước nhà với những vị như: Doãn Hành, Doãn Thực, Doãn Uẩn, Doãn KếThiện, Doãn Mẫn, Doãn Quang Khải, Doãn Nho…

Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, con cháu trong dòng họDoãn cũng ngày càng phát triển và có nhiều người đỗ đạt cao, giữ nhữngtrọng trách quan trọng và có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của quêhương, đất nước Điều đặc biệt là năm 1990, các chi họ Doãn trên cả nước đã

tụ họp lại và thống nhất quê hương Cổ Định, Tân Ninh là quê hương đất tổcủa dòng họ Doãn

Trang 27

Dòng họ Lê Bật (Tân Ninh - Triệu Sơn)

Theo gia phả của dòng họ Lê Bật, thì nguồn gốc của dòng họ Lê Bậtđược tính từ cụ Thủy tổ Hứa Duy Đàn (Lê Duy Đàn) gọi là Thủy tiên tổ khảocách ngày nay hơn 700 năm Đây là một trong mười dòng họ khởi nguồn ởđất Cổ Định xưa Đây là vùng đất được khởi nguồn bởi 10 vị tiên công (ôngđến trước) đến khai phá và lập ra xóm làng, sau này phát triển và lập ra 10dòng họ lớn, trong đó có dòng họ Lê Bật

Đây là một dòng họ lớn tồn tại trên 700 năm, phát triển với 23 đời concháu, con cháu trong dòng họ đã phát triển với nhiều chi họ và lan tỏa ranhiều vùng quê trong tỉnh và các tỉnh thành trrong ca nước

Dòng họ Lê Bật có truyền thống văn hóa quý báu Truyền thống đóđược bắt đầu từ cụ Thủy tổ Lê Duy Đàn, cụ có ba người con trai và một ngườicon gái Khoa thi năm Giáp thìn (1304) gia đình cụ có hai con trai là Lê DuyThúc (sau đổi tên là Lê Duy) và Lê Duy Thứ (Xử) và một người con rễ đềuthi đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ) và được giao giữ những trọng trách quantrọng dưới triều Trần như chức Ngự sử trung Tán chưởng kiêm ngự ấn (giữ ấnvàng của Vua), nhập Nội hành khiển, tước quan nội Hầu, được sử sách đánhgiá cao Thế hệ thứ ba của dòng họ Lê Bật là con cụ Lê Duy Gia, có bốnngười con thì ba người đều làm quan và giữ chức Hà đê sứ, Hào trưởng vàquan An phủ sứ Lạng Sơn

Nhưng dòng họ Lê Bật được sử sách biết đến nhiều kể từ thế hệ thứ 11của dòng họ, đó là cụ Hoàng giáp Lê Bật Tứ - làm quan dưới thời Lê TrungHưng, trải qua 29 năm làm quan, Lê Bật Tứ đã kinh qua nhiều chức vụ quantrọng như chức Hàn lâm hiệu lý (1598), Hộ khoa cấp sự (1600) Năm 1604được thăng chức Đô ngự sử, làm tránh sứ sang triều Minh (1606), Tả thi lang

bộ Hộ (1608) Năm 1610 được phong Diễn gia Hầu Trong cuộc đời làmquan, Lê Bật Tứ đã dâng 3 khải vào các năm 1610, 1615, 1618 Đặc biệt trong

Trang 28

khải năm 1618, ông đã cùng với Ngô Trí Hòa điều trần 6 việc nhằm diệtnhũng trừ gian để yên dân xã tắc Năm 1619 ông được giao giữ chức thượngthư bộ Binh, năm 1620 làm Tham tụng phủ Chúa Năm 1623 được thăngThiếu bảo, sau là Thiếu phó (1626), khi mất được tặng quận Công, cho thụy

là Hòa Nghĩa Trrong suốt 29 năm làm quan của mình, ông luôn thể hiện làmột người tài giỏi, văn võ song toàn, hết lòng vì nhân dân và triều đình Cũngchính từ đây, Lê Bật Tứ làm cho dòng họ có tính chất đột khởi, về sau concháu đi theo một nề nếp truyền thống do các cụ đi trước gây dựng nên

Hiện nay dòng họ Lê Bật đã phát triển trải qua 23 đời với 9 chi họ, concháu trong dòng họ có nhiều người đỗ đạt cao như chi họ do ông Lê BậtThành làm trưởng chi, có nhiều người trình độ Thạc sĩ, Đại học… Đặc biệtnổi lên hai nghề truyền thống là nghề dạy học và y học Riêng về y có nữ thạc

sĩ y khoa Lê Thị Hường, hay chi họ 5 do ông Lê Bật Lân làm trưởng chi, có 2Tiến sĩ, 3 Thạc sĩ, 15 Đại học, 31 Cac đẳng, Trung học chuyên nghiệp Ngoài

ra các chi họ có rất nhiều gia đình tiêu biểu như gia đình ông Lê Bật Đoan,ông là Giáo sư, Tiến sĩ y học, thầy thuốc ưu tú, gia đình ông Lê Bật Xuân làtrung tá về hưu…Ngày nay, con cháu trong dòng họ Lê Bật ngày càng đông

và có những cố gắng trong học tập nhằm phát huy truyền thống quý báu của

tổ tiên dòng họ đã vun trồng và lưu tiếng thơm muôn đời

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn Hà ở Triệu Sơn

1.2.1 Làng Phương Khê - quê hương dòng họ Nguyễn Hà

Phương Khê là một làng có từ thời Lê Sơ mang tên là Biểu Nộn rồi sau

đó là Lan Khê Đến thế kỷ XIX đổi tên là Hương Khê và tên gọi Phương Khê

có từ trước năm 1945 đến nay Là một trong những làng cổ của vùng ngànNưa thuộc huyện Nông Cống (nay là huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa) Vùngquê Phương khê, xã Nông Trường cách trung tâm thành phố Thanh Hóakhoảng 24 km về phía Tây Nam Từ thành phố Thanh Hóa đi theo đường

Trang 29

quốc lộ 47 đi Lam Kinh qua cầu Thiều về phía Tây, rẽ trái đi huyện lỵ TriệuSơn đến ngã tư Giắt rẽ trái đi đường 15 cầu Quan - Nông Cống cách Giắtkhoảng 3 km rẽ trái theo đường liên các xã Nông Trường, Khuyến Nôngkhoảng 1 km là đến trung tâm xã Nơi đây có hai con sông chảy qua là sôngnhà Lê và sông kênh Nam (thuộc hệ thống tưới tiêu của đập Bái Thượng),làng gần mỏ Crôm - Cổ Định Có thể nói làng là nơi bắt đầu của dải đồngbằng phía Đông của vùng núi Nưa Người dân nơi đây chủ yếu sinh sốngbằng nghề làm ruộng.

Thôn Phương Khê, xã Nông Trường vốn trước kia thuộc thôn BiểuNộn, xã Băng Khê, đến thời Lê đổi tên thành Lan Khê, sang triều Nguyễn đổitên thành Hương Khê Tên gọi Phương Khê có từ trước năm 1945 đến nay Sở

dĩ vùng đất này nằm trên địa bàn huyện Triệu Sơn bây giờ là do năm 1965,thực hiện chủ trương của nhà nước về việc phân chia lại địa danh hành chínhcho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội Đất Phương Khê cùng vớicác xã phía Tây Bắc huyện Nông Cống và các xã phía Đông Nam huyện ThọXuân tách ra thành lập huyện Triệu Sơn và Phương Khê này thuộc xã NôngTrường Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Hà và lời kể của các cụ cao niêntrong làng thì vùng đất này xưa kia là vùng rừng rậm, được hai anh em dòng

họ Hà ở Yên Lãng, huện Thọ Xuân là cụ Hà Thiệu và Hà Thọ đem theo 15gia đình đến vùng đất này khai hoang và lập thành thôn Biểu Nộn, xã BăngKhê vào năm Hồng Đức thứ 5 (1475) Xưa kia nơi đây là một vùng núi nonhiểm trở, Triệu Thị Trinh đứng lên dựng cờ đánh giặc ở núi Nưa thuộc phíaTây của làng, sau đó là nghĩa quân của Nguyễn Chích lập căn cứ đánh giặcMinh trước khi theo Lê Lợi ở núi Vàng phía Nam của làng

Phương Khê là một làng quê nổi tiếng là đất học và nhiều người đỗ đạtcao Thời Lê Trung Hưng có Nguyễn Hiệu đỗ Tiến sĩ năm 1700, NguyễnHoàn đỗ Tiến sĩ năm 1743 Thời Nguyễn có Nguyễn Tái đỗ Tiến sĩ khoa thi

Trang 30

năm Mậu Thìn (1868) Đến cuối thế kỷ XIX, làng Phương Khê đã có tới 3người đỗ Tiến sĩ, 40 người đỗ Cử nhân, Tú tài Trong những năm đầu thế kỷ

XX, nhằm hưởng ứng phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, làng Phương Khêlúc giờ có ba chú cháu đều là trí thức đó là Tú Thiệp, Cử Xứng và Cử Soạn,

họ đã cùng đứng lên hưởng ứng phong trào chống thuế của nhân dân Trướcphong trào của quần chúng nhân dân Trung Kỳ thì thực dân Pháp đã thẳng tayđàn áp, bắt những người đứng đầu phong trào và đầy đi Côn Đảo trong đó cóhai người con của làng là tú Thiệp (tức Nguyễn Lợi Thiệp) và cử Xứng (tứcNguyễn Xứng) và bị giặc Pháp tử hình

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, hòa chung với phong trào cáchmạng đang lên cao của nhân dân cả nước, nhiều trí thức là con em của làngPhương Khê đã tham gia các phong trào cách mạng Trong số đó có NguyễnTrinh Cơ đã từng tham gia vệ quốc đoàn và là bác sĩ phẫu thuật ở tiềnphương Sau này ông là một trong những người lãnh đạo đầu tiên của viênquân y 108, ông đã để lại hàn trăm công trình nghiên cứu cho ngành ngoạikhoa Việt Nam Và Nguyễn Trinh Tiếp, từng tốt nghiệp kỷ sư và công tác tạicục quân giới, ông đã cùng đồng nghiệp nghiên cứu, sáng chế nhiều loại vũkhí giúp quân đội đánh thắng giặc, trong đó có việc ông là chủ đề tài sáng chếloại vũ khí SKZ 60, là một loại vũ khhí bắn xe tăng, lô cốt, bộ binh rất cơđộng và đã giúp bộ đội ta lập được nhiều chiến công mới Ông đã hy sinhtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ và được nhà nước trao tặng giải thưởng HồChí Minh đợt một

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Thanh Hóa nói chung vàvùng đất Phương Khê nói riêng đã có những con em Phương Khê lên đườngtòng quân đánh giặc Trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã lên đường tòng quân

và tham gia dân công tải đạn, cung cấp lương thực cho mặt trận Trong đóđiển hình là người con của quê hương là Tô Vĩnh Diện đã anh dũng hy sinh

Trang 31

trong chiến dịch lịch sử này Sau này được nhà nước trao tặng danh hiệu anhhùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng trăm con em cả trai lẫngái của làng đều ra chiến trường Phương Khê là địa phương luôn hoàn thànhvượt mức chỉ tiêu được giao, hàng chục con em đã anh dũng hy sinh tại cácchiến trường, trong đó có dũng sĩ Lê Xuân Sinh được nhà nước phong tặnganh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Có thể nói, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con em

xã Nông Trường nói chung và con em làng Phương Khê nói riêng đã có 1400lượt con em địa phương tham gia bộ đội Trong số đó có 104 con em địaphương đã anh dũng hy sinh tại các chiến trường và 77 thương bệnh binh,toàn xã có 8 bà mẹ Việt Nam anh hùng, có 2 anh hùng lực lượng vũ trangnhân dân Toàn xã đã được Đảng, nhà nước trao tặng nhiều bằng khen vàhuân chương các loại Đặc biệt năm 2000 xã đã vinh dự được Đảng, nhà nướcphong tặng đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đây là một niềmvinh dự với nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương

Có thể nói, truyền thống của làng đã được các thế hệ sau nuôi dưỡng vàphát huy Ngày nay đã có nhiều người đỗ đạt cao, nhiều người là Giáo sư,Tiến sĩ, giảng viên của các trường Đại học, các Viện nghiên cứu, nhiều người

là kỹ sư, bác sĩ…đang có những đóng góp vào sự phát triển của quê hương,đất nước

So với thời gian tồn tại của các làng xã khác thì không phải là lâu (hơn

500 năm), nhưng vùng đất Phương Khê đã để lại tiếng thơm muôn thuở chonhân dân Triệu Sơn nói chung và dòng họ Nguyễn Hà nói riêng Nhưng sựcần cù, chịu khó của những cư dân đầu tiên có mặt ở vùng đất này, cộng với

sự gần gủi với một vùng quê có truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời như CổĐịnh (Tân Ninh) - nơi đây có sự tích ông Tua Nưa, có dấu tích của cuộc khởi

Trang 32

nghĩa bà Triệu, nhiều dòng họ có truyền thống khoa bảng qua các đời… Tất

cả đã đi sâu vào tâm khảm của người dân nơi đây và được nhân dân tôn thờ,mến mộ Như là sự động viên, khích lệ con người nơi đây phấn đấu và trưởngthành, từ đó hun đúc lên những con người mà sau này làm rạng danh cho quêhương, dòng họ

1.2.2 Nguồn gốc dòng họ Nguyễn Hà

Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Hà và lời kể của các cụ cao niên thìban đầu từ họ Hà quê gốc ở Hải Dương di cư vào đất Thanh Hóa sinh cơ lậpnghiệp vào cuối đời nhà Trần (khoảng trước năm 1400) Bắt đầu từ cụ HàDiên Thúc từ đất Hà Trang di cư vào lập nghiệp ở vùng Yên Lãng, huyệnLương Giang, phủ Thiệu Thiên (nay là thôn canh Hoạch, xã Xuân Lai, ThọXuân, Thanh Hóa)

Đến năm Hồng Đức thứ 5 (1475) khi vua Lê xuống chiếu khuyến khíchnhân dân khẩn hoang, lập ấp làm cho dân giàu nước mạnh thì hai cụ Hà Thiệu

và Hà Thọ thuộc thế hệ thứ 4 của họ Hà từ xã Yên Lãng, huyện Lương Giang,phủ Thiệu Thiên đã chiêu tập 15 hộ gia đình di cư xuống vùng đất Nông Cốngkhai hoang, lập làng và đã lập ra thôn Biểu Nộn, trước thuộc xã Băng Khê,sau các cụ xin biệt lập và đặt tên là làng Lan Khê (làng này ngày nay có tên làlàng Phương Khê) Lúc đầu hai anh em họ Hà đã khai hoang được ba cánhđồng tên là “Vẩy”, “Rộc” thuộc Lan Chi và “Mao Cầm” thuộc Băng Khê (nay

là làng Vĩnh Khê) Làng Lan Khê lúc mới thành lập có 270 mẫu ruộng, 20mẫu đất chia làm hai Giáp là Giáp Đông và Giáp Tây Tại đây hai anh em họ

Hà đã lập đền thờ thần, dựng nhà học, mời thầy đồ về dạy chữ cho con emtrong làng Con cháu họ Hà phát triển ngày một đông và hai cụ đã trở thànhthành hoàng làng lập ra vùng đất này Trải qua các đời, đến đời thứ 7 là HàVăn Lộc thì tình hình đất nước có nhiều biến động khi mà trong nước cảnhbinh đao loạn lạc bởi sự tranh dành quyền lực của các tập đoàn phong kiến

Trang 33

tạm thời lắng xuống, dư đảng của họ Mạc ở phía Bắc tạm thời được dẹp yên,tình cảnh của người dân thì đói khổ, cơ hàn trước ảnh hưởng của thảm cảnh

“nồi da nấu thịt” Lúc này Hà Văn Lộc đang giữ chức Tổng trưởng, ông cùngngười con trai là Hà Văn đi Thăng Long trẩy kinh, hai cha con đến làng ĐứcTrạch, đạo Sơn Nam (nay là xã Khuất Động, huyện Thường Tín, Hà Tây) thìhết tiền ăn đường Hai cha con phải vào nhờ nhà người quen là Phan Thắng.Phan Thắng vốn là người hiếm con nên có nhả ý muốn xin cậu con trai của

Hà Văn Lộc làm con nuôi và Hà Văn Lộc đã đồng ý để con lại cho PhanThắng nuôi và lại đi trẩy kinh tiếp Cũng từ đây con Hà Văn Lộc là Hà Văn

đã được đổi họ tên là Phan Thể, tên húy là Tá Trung, theo họ Phan Phan Thểtức (là Hà Văn) làm con nuôi Phan Thắng lấy vợ, sinh con ở Đức Trạch và làthân sinh ra Tiến sĩ Nguyễn Hiệu (sau này là tiên tổ của dòng họ Nguyễn Hà

ở đất Phương Khê), Nguyễn Hiệu là con trai thứ tư của Phan Thể và lúc nhỏ

có tên là Phan Công Sứ

Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Hà thì khi cậu bé Phan Công Sứ (tứcNguyễn Hiệu sau này) lên 8 tuổi thì được bà cô ruột tên là Hà Thị Đuôi lấyông Nguyễn Hữu Pháp, người đất Lan Khê (nay là Phương Khê, xã NôngTrường, huyện Triệu Sơn) đưa về làm con nuôi Hà Thị Đuôi vốn là em gáithứ 3 của Hà Văn (hay Phan Thể), vì là người hiếm con nên khi ra nhà anh ởĐức Trạch chơi thấy đàn cháu nheo nhóc khiến bà chạnh lòng thương cảm và

bà ngỏ ý xin với anh ruột một đứa cháu làm con nuôi cho vui cửa, vui nhà, vìhoàn cảnh gia đình và nể tình huyết thống nên ông đã đồng ý cho em ruộtmình được nuôi bé Sứ Từ đây Sứ theo cô ruột về sống ở đất Lan Khê và đổi

họ theo họ chồng của cô là họ Nguyễn, tức Nguyễn Sứ (sau đổi tên là NguyễnHữu Tự, đi thi Hương lấy tên là Nguyễn Giai và đi thi Hội đổi tên là NguyễnHiệu) Cho đến nay dòng họ Nguyễn Hà vẫn không đổi nữa và tiếp tục cư trútrên đất Phương Khê và phát triển ra nhiều vùng lân cận

Trang 34

Như vậy, Nguyễn Hiệu có tên ba họ khác nhau, lúc đầu là họ Hà, sau là

họ Phan và cuối cùng là họ Nguyễn Để tưởng nhớ tổ tông, nòi giống củadòng họ Hà và lấy họ Nguyễn của cha nuôi phát triển thành họ Nguyễn Hà đểnói về gốc tích của của họ mình

Qua đó ta thấy nguồn gốc ban đầu của dòng họ Nguyễn Hà không phải

là họ Nguyễn mà có nguồn gốc từ họ Hà và thủy tổ của dòng họ Hà là cụ HàDiên Thúc và đến đời thứ 4 là hai cụ Hà Thọ và Hà Thiệu di cư đến vùng đấtBăng Khê thuộc Nông Cống khai hoang lập làng và thế hệ thứ 9 của dòng họ

Hà là Nguyễn Hiệu sau này đã làm con nuôi cụ Nguyễn Hữu Pháp ở đấtPhương Khê Cũng chính từ thế hệ thứ 9 này đã lấy gốc của dòng họ mình là

họ Hà và họ của cha nuôi đã có công dưỡng dục mình là họ Nguyễn để pháttriển thành ra họ Nguyễn Hà

Như vậy, dòng họ Nguyễn Hà là do thế hệ thứ 9 của họ Hà kết hợp hai

họ lại mà thành ra họ Nguyễn Hà và Nguyễn Hiệu là đời thứ nhất của dòng họNguyễn Hà ở đất Phương Khê, xã Nông Trường, Triệu Sơn Tính từ NguyễnHiệu là đời thứ nhất của dòng họ Nguyễn Hà ở đất Phương Khê đến nay dòng

họ Nguyễn Hà đã trải qua hơn 300 năm lịch sử với 11 thế hệ nối tiếp nhausinh sống ở đất Phương Khê và phát triển mạnh ra nhiều vùng trong tỉnh,cũng như nhiều tỉnh trong cả nước Dòng họ Nguyễn Hà đã trở thành mộtdòng họ khoa bảng, có truyền thống hiếu học, con cháu học rộng tài cao, yêunước, đang nổ lực phấn đấu nhằm tô điểm thêm truyền thống văn hóa tốt đẹpcủa ông cha để lại và ngày càng có nhiều cống hiến quan trọng cho quêhương, đất nước

1.2.3 Lịch sử phát triển của dòng họ Nguyễn Hà ở Phương Khê

Dòng họ Nguyễn Hà có lịch sử phát triển hơn 300 năm, qua 11 thế hệcon cháu nối tiếp nhau (tính từ cụ tiên tổ Nguyễn Hiệu) thì dòng họ Nguyễn

Hà ở Phương Khê, Triệu Sơn hiện nay đã phát triển mạnh và lan tỏa ra nhiều

Trang 35

vùng trong tỉnh và nhiều tỉnh thành khác trong nước, có một số ít đang sinhsống ở nước ngoài

Cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, dòng họ Nguyễn Hà cũng đãtrải qua bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau, cùng với đó là số đinh, số hộ ngày mộtđông lên Theo số liệu thống kê của dòng họ Nguyễn Hà thì có khoảng 230 hộvới 297 khẩu Con cháu dòng họ Nguyễn Hà đã sinh sống khắp nơi trên đấtnước, nhưng đông nhất vẫn là ở các huyện Triệu Sơn, Quảng Xương, HàNội… Qua đây chúng tôi xin nêu lên sự phát triển ấy của dòng họ Nguyễn Hàqua các đời như sau:

Đời thứ nhất:

Nguyễn Hiệu (1674 - 1735), là Đức tiên tổ của dòng họ Nguyễn Hà ởPhương Khê Thân sinh ra Nguyễn Hiệu vốn là họ Hà nhưng làm con nuôi họPhan ở Đức Trạch, Thường Tín, nên thuở nhỏ Nguyễn Hiệu có tên là PhanCông Sứ, lên 8 tuổi được về làm con nuôi cụ Nguyễn Hữu Pháp ở PhươngKhê nên đổi họ tên là Nguyễn Sứ, Nguyễn Hữu Tự, đi thi Hương lấy tên làNguyễn Giai, đi thi Hội đổi tên là Nguyễn Hiệu

Nguyễn Hiệu sinh năm Giáp Dần (1674), đời vua Lê Gia Tông thứnhất, tháng giêng ngày 27 giờ Dậu tại làng Đức Trạch, huyện Thượng Phúc,đạo Sơn Nam (nay là Hà Đông) Nguyễn Hiệu đỗ Tiến sĩ năm Canh Thìn(1700), làm quan dưới triều Lê Trung Hưng và kinh qua các chức như: Giámsát ngự sử đạo Kinh Bắc, Hàm chánh Thất phẩm (1700), Giám sát ngự sử đạoSơn Nam (1706), Đô cấp sự trung hình Khoa, Bồi tụng phủ Chúa (1715), Tả

tư giảng (1717), Tả thị lang bộ Lại, tước Hầu (1720), sau được ban tước Công

là Nông Quận công (1722), Đô ngự sử (1727), Thượng thư bộ Binh, hàmThiếu bảo (1730), Thiếu phó, hiệu là Tá lý công thần (1732), khi mất đượcgia phong Phúc thần

Trang 36

Sách Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789) chép về Nguyễn Hiệu nhưsau: “Thượng thư bộ Lại Thiếu bảo Tham tụng Nông quận công NguyễnHiệu… là người trọng hậu, giữ mình ngay thẳng, thích bồi dưỡng kẻ sĩ, dắt dẫn

kẻ hậu tiến Đối với quan nhỏ cũng tiếp đãi theo lễ Lúc tuổi già cầm đại chính,mong đổi phép tắc hà khắc, sửa phú dịch cho công bằng, nhẹ việc trưng thuthôi thúc, đều tự mình chủ bàn những việc ấy, trăm họ được nhờ, mất năm 62tuổi, tặng Thái bảo, sau truy tặng Đại tư đồ, gia phong Phúc thần” [20;148]

Theo gia phả họ Nguyễn Hà thì phu nhân của Nguyễn Hiệu là bà chínhthất Tống Thị Xuân (con gái cụ nghè Tống Nho ở làng Tiên mọc), bà mấtngày 30 tháng 10 năm Bính Tuất (1706), thọ 33 tuổi, bà không có con Bà kếthất Lê Thị Duyên là cháu ngoại của bà chính thất, mất ngày 26 tháng 11 nămBính Thân (1716), thọ 33 tuổi, sinh được 1 con trai Bà ái thất Nguyễn ThịHuệ, người làng Hữu Vĩnh, Hoàng Hóa, bà mất ngày 24 tháng 4 năm QuýMão (1723), thọ 30 tuổi, sinh được 1 trai và 2 gái Bà thứ thất Nguyễn ThịThơm là em gái bà ái thất, bà mất ngày 16 tháng 12 năm Bính Tuất (1766),thọ 64 tuổi, bà sinh được 5 trai và 2 gái

Nguyễn Hiệu sinh được 8 người con trai và 8 người con gái, các con traiđều học hành, thi cử đỗ đạt cao và đặt nền móng cho các thế hệ sau tiếp bước

Đời thứ 2:

Gồm các con của Nguyễn Hiệu là Nguyễn Nghi (1711), là con trai đầucủa Nguyễn Hiệu, thi đỗ Nho sinh, chức “Lịch thụ triều liệt đại phu, tả trungdoãn Lạng Sơn, Đẳng xứ tư, tri thừa chính xứ, tri tham chính” Nguyễn Hoàn(1713 - 1792), là con trai thứ hai của Nguyễn Hiệu, thi đỗ Tiến sĩ năm QuýHợi (1743), được triều đình Lê - Trịnh giao giữ nhiều trọng trách quan trọngnhư: Cấp sự trung bộ Hộ (1743), Hữu tư giảng (1745), Phủ doãn phủ PhụngThiên, Đông các Đại học sĩ (1761), Tả thị lang bộ Công, Bồi tụng, tước Hầu(1767), năm 1768 ông được ban danh hiệu Quốc sư, Hữu thị lang bộ Binh,

Trang 37

năm 1770 giữ chức Đô ngự sử, hàm Chánh tam phẩm, quan Tư nghiệp Quốc

Tử Giám kiêm Kinh diên (1771), Tri Hàn lâm viện sự (1774), kiêm Quốc sửtổng tài Năm 1777, ông 65 tuổi theo lệ được về trí sĩ, thăng hàm Thái phó,tước Hoàn Quận công, sau đó được tôn làm Quốc lão, xếp ông là một trong

“Năm vị nguyên lão đại thần”…ở cương vị nào ông cũng làm việc hết mình,sống rất liêm khiết, thanh bạch

Qua gia phả thì Nguyễn Hoàn có các bà vợ đó là bà chính thất họ Phạm(con gái quan thám hoa Phạm Khiêm Ích), bà mất năm Nhâm Dần (1782), thọ

67 tuổi, bà sinh được 1 trai và 3 gái Bà thứ thất họ Lê húy Nhật, hiệu “TrinhTúc”, người làng Nhân Mục, Thanh Trì, bà mất năm 1824, thọ 70 tuổi, bà sinhđược 1 trai Bà ái thất họ Lê, là chị họ bà thứ thất Bà thiếp Lê Thị Lan sinhđược 1 người con trai Bà thiếp Hoàng Thị Vĩnh, sinh được 1 người con trai

Nguyễn Đàm (1718 - 1781), là con trai thứ ba của Nguyễn Hiệu, thihương năm Qúy Hợi (1743) đỗ giải nguyên, giữ chức “Lịch thụ hoằng tín đạiphu, tiên triều ứng vụ, phụng sai Thanh Hóa, xứ đốc đồng, đông các học sĩ”,mất năm Tân Sửu (1781), ngày 28 tháng giêng, thọ 63 tuổi Phu nhân là bàchính thất họ Nguyễn, bà sinh được 3 con trai và 2 con gái

Nguyễn Hợi là con trai thứ tư của Nguyễn Hiệu, sinh năm 1725, đỗhương cống năm 1741, làm quan Lịch thụ hoằng tín đại phu, lang trung LạngSơn, Tuyên Quang đẳng xứ tư, thừa chính xứ, Gia dĩnh Hầu Phu nhân là bàchính thất họ Lê, bà sinh được 1 con trai

Nguyễn Viện (còn gọi là Nguyễn Nhâm), là con trai thứ 6 của NguyễnHiệu, sinh năm 1727, thi đỗ Hương cống năm 1765, làm quan “Lịch thụhoằng tín đại phu, tự thừa tri phủ Hưng Hóa, Tuyên Quang đẳng xứ tư, trithừa chính xứ, kiêm Nghệ An xứ, tán tri thừa chính xứ tư, tham nghị vị khêhầu, thụy “Đôn hậu”, hiệu “Viễn đức tiên sinh””, ông mất ngày 21 tháng 10năm 1809, thọ 83 tuổi Phu nhân là bà chính thất họ Bùi, bà sinh được 7 contrai và 5 con gái

Trang 38

Nguyễn Trác là con trai thứ 7 của Nguyễn Hiệu, mất ngày 23 tháng 10

âm lịch, thọ 50 tuổi, sinh được 4 con trai và 4 con gái

Cũng từ đời thứ 2 này, dòng họ Nguyễn Hà phát triển thành 5 đại chilớn là chi Nguyễn Hoàn, chi Nguyễn Đàm, chi Nguyễn Hợi, chi NguyễnViện, chi Nguyễn Trác Trong 5 đại chi này thì chi Nguyễn Hoàn là chi pháttriển nhất, con cháu đông đúc và hiển đạt

Đời thứ 4:

Lấy Nguyễn Tự là con trai đầu của Nguyễn Trạch làm đại diện, ôngsinh năm Tân Tỵ (1761), con bà chính thất họ Đào Ông thi đỗ Hương cốngnăm 1777, lúc đó mới 17 tuổi, được phong làm “noi ấm ẩm thụ hiển cung đạiphu, chiêu văn quán nho sinh, kiêm quả nghị tướng quân, trung thành môn vệ

úy, xuất thân tự thừa biểu xuyên bá” Ông mất năm Canh Thìn (1820), thọ 60tuổi Ông sinh được 5 con trai là Nguyễn Trinh, Nguyễn Bình, Nguyễn Điển,Nguyễn Trí, Nguyễn Hựu và 4 con gái

Đời thứ 5:

Lấy ông Nguyễn Điển làm đại diện, ông là con trai thứ 3 của ôngNguyễn Tự Ông sinh năm 1784, khoa thi Hương năm Đinh Mão (1807) ông

đỗ Tú tài, năm 40 tuổi ông được bổ nhiệm làm “chủ sự công bộ” Ông húy là

“Điển”, biệt hiệu là “Nhã trai”, ông mất tại Huế ngày 17/ 10 năm Giáp Thìn

Trang 39

(1852), Hàm bát phẩm Ông sinh được một trai là Nguyễn Phú và 2 con gái làLẫm và Điều.

Đời thứ 6:

Nguyễn Phú là con tra của ông chủ sự Nguyễn Điển, sinh năm CanhNgọ (1810), hiệu là “Hương đình” Gia phả còn ghi ông là người có tínhthuần cẩn thông tuệ Ông mất ngày 24/ 4 năm Kỷ Hợi (1839), thọ 30 tuổi, mộông tại cánh đồng “Rộc chay” làng Phương Khê, tên thụy là “Thuần trực” Bàchính thất họ Lê húy Trinh Cần, người làng Đa Sĩ, Thanh Oai, bà mất ngày23/2 năm Mậu Ngọ (1858), thọ 52 tuổi Bà sinh được 1 trai là Nguyễn Tái và

1 con gái

Đời thứ 7:

Nguyễn Tái là con trai duy nhất của ông Nguyễn Phú Ông sinh nămQuý Tỵ (1833), ông tham dự kỳ thi Hương khoa Giáp Tý (1864) và đỗ cửnhân Khoa thi Hội năm Mậu Thìn (1868) ông đỗ Tiến sĩ khi đó mới 34 tuổi.Ông được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm án sát Nam Định Ông mấtnăm Quý Mùi (1883), thọ 51 tuổi Phu nhân là bà chính thất Trịnh Thị Uyên,hiệu là “Từ Kiệm”, bà mất ngày 21/11 năm Đinh Mùi (1857) Bà sinh được 1con trai là Nguyễn Bằng Bà thứ thất tên Trịnh Thị Rao sinh được 2 con trai làĐảng và Hào Bà thiếp tên là Hà sinh được 1 con trai là Nguyễn Ngẫy và 1con gái tên Duyên

Đời thứ 8:

Lấy ông Nguyễn Bằng là con trai đầu của ông Nguyễn Tái và bà chínhthất làm đại diện Ông sinh năm Mậu Ngọ (1858), thường gọi là ông cảChiêu Ông tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp tại Thanh Hóa vàtừng tham gia 2 trận đánh lớn ở Ba Đình và Mường Khuông Khi phong tràoCần Vương tan rã, ông ra Hà Nội dạy học, ông mất năm Canh Ngọ (1930).Ông sinh được 3 con trai là Nguyễn Thế Đức, Thế Nghĩa, Thế Đạo và 4 congái là Kính, Trang, Ý, Cẩn

Trang 40

Đời thứ 9:

Nguyễn Thế Đức là con trai đầu của ông Nguyễn Bằng Ông sinh nămBính Thân (1897) và mất ngày 6/9 năm ất Mùi (1956), thọ 60 tuổi Bà chínhthất Mai Thị Chi sinh được 3 con trai là Nguyễn Thế Mỹ, Nguyễn Thế Mẫn,Nguyễn Thế Minh

Đời thứ 10:

Nguyễn Thế Mỹ là con trai đầu của ông Nguyễn Thế Đức, ông sinhđược 2 con trai là Nguyễn Hồng Lam, Nguyễn Hồng Lân và 4 con gáI làLương, Quỳ, Quy, Nhung

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Duy Anh (1999), Việtt Nam văn háa sử cương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việtt Nam văn háa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1999
[4] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1999), Lịch sử Thanh Hóa (tập 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHóa
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999
[5] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1994), Lịch sử Thanh Hóa, (tập 2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHóa
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
[6] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2002), Lịch sử Thanh Hóa, (tập 3), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHóa
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
[7] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2001), Tên làng xã Thanh Hóa, (tập 2), Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xãThanh Hóa
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2001
[8] Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2005), Danh nhân Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhânThanh Hóa
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2005
[10] Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (2002). Thanh Hóa di tích và thắng cảnh. Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hóa di tích và thắngcảnh
Tác giả: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2002
[12] Bia văn Miếu Hà Nội (1997), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bia văn Miếu Hà Nội
Tác giả: Bia văn Miếu Hà Nội
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1997
[13] Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phốHồ Chí Minh
Năm: 1990
[14] Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, (tập 1), Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1992
[15] Bùi Hạnh Cần - Nguyễn Lan - Lan Phương (1995), Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông nghè,ông cống triều Nguyễn
Tác giả: Bùi Hạnh Cần - Nguyễn Lan - Lan Phương
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
[16] Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Thanhniên Hà Nội
Năm: 2001
[17] Bùi Hạnh Cần - Minh Nghĩa - Việt Anh, Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hươngcống Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
[18] Bùi Quang Dũng, Nét đẹp gia phong, Nxb Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp gia phong
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
[19] Đại Việt sử ký toàn thư, (tập 4),Cao Xuân Du phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo luận (1968). Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư, (tập 4),Cao Xuân Du phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo luận
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1968
[20] Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Nguyễn Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính (1991), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789)
Tác giả: Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Nguyễn Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng, Nguyễn Đổng Chi hiệu đính
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1991
[21] Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[23] Trần Hồng Đức (1999), Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoaqua các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
[24] Bùi Xuân Đính, Hương ước và quản lý làng xã, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước và quản lý làng xã
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[25] Lê Quý Đôn (1997), Kiến văn tiểu lục, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Ngôi mộ phát phúc của dòng họ Nguyễn Hà - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 1 Ngôi mộ phát phúc của dòng họ Nguyễn Hà (Trang 147)
Hình 3: Lăng mộ quốc s Nguyễn Hoàn - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 3 Lăng mộ quốc s Nguyễn Hoàn (Trang 148)
Hình 4: Khu Lăng mộ dòng họ Nguyễn Hà - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 4 Khu Lăng mộ dòng họ Nguyễn Hà (Trang 148)
Hình 5: Trớc cổng đề thờ Quốc s Nguyễn Hoàn - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 5 Trớc cổng đề thờ Quốc s Nguyễn Hoàn (Trang 149)
Hình 6: Bàn thờ tại đền thờ Nguyễn Hoàn - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 6 Bàn thờ tại đền thờ Nguyễn Hoàn (Trang 149)
Hình 7: Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh đền thờ Nguyễn Hoàn - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 7 Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh đền thờ Nguyễn Hoàn (Trang 150)
Hình 8: Một ngóc nhìn của đền thờ Quốc s Nguyễn Hoàn - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 8 Một ngóc nhìn của đền thờ Quốc s Nguyễn Hoàn (Trang 150)
Hình 9: Ngôi Mộ của quan Bố chính Nguyễn Thu - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 9 Ngôi Mộ của quan Bố chính Nguyễn Thu (Trang 151)
Hình 10: Trớc cổng đền thờ Nguyễn Hiệu và dòng họ Nguyễn Hà. - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 10 Trớc cổng đền thờ Nguyễn Hiệu và dòng họ Nguyễn Hà (Trang 151)
Hình 11: Bàn thờ thờ Hội đồng tại đền thờ Nguyễn Hiệu - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 11 Bàn thờ thờ Hội đồng tại đền thờ Nguyễn Hiệu (Trang 152)
Hình 12: Bằng xếp hạng di tích Quốc gia đền thờ Nguyễn Hiệu - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 12 Bằng xếp hạng di tích Quốc gia đền thờ Nguyễn Hiệu (Trang 152)
Hình 13: Bài chế do vua Lê Hiển Tông ban tặng Nguyễn Hiệu - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 13 Bài chế do vua Lê Hiển Tông ban tặng Nguyễn Hiệu (Trang 153)
Hình 14: Bức đại tự đề “Trung chính khoan hậu“ do Vua Lê Hiển Tông ban tặng - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 14 Bức đại tự đề “Trung chính khoan hậu“ do Vua Lê Hiển Tông ban tặng (Trang 153)
Hình 16: Lễ đón nhận bằng di tích Quốc gia. - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 16 Lễ đón nhận bằng di tích Quốc gia (Trang 154)
Hình 15: Bức đại tự đề “Thiên phúc thiện nhân“ - Lịch sử   văn hoá dòng họ nguyễn hà ở phương khê, triệu sơn, thanh hoá từ thế kỷ XVII đến năm 2010
Hình 15 Bức đại tự đề “Thiên phúc thiện nhân“ (Trang 154)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w