Tiếp đó, là các công trình, bài báo của một số nhà nghiên cứu văn hoá tập trung giới thiệu và tìm hiểu hiện tượng sinh hoạt tín ngưỡng này ở đền Cổ Mễ, như: Tín ngưỡng Bà Chúa Kho, tạp c
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hoá, thể thao vμ du lịch
Trường đại học văn hoá hμ nội
TRẦN THỊ THỦY
Việc phụng thờ Bμ chúa kho
ở lμng Quả cảm, x∙ hoμ long,
Trang 2Mục lục
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Mở đầu 1
Chương 1: Hệ thống thần phả, truyền thuyết về Bμ Chúa Kho vùng Kinh Bắc 15
1.1 Không gian văn hoá vùng Kinh Bắc và hệ thống thần phả, truyền thuyết liên quan đến tín ngưỡng phụng thờ Bà Chúa Kho 15
1.1.1 Thần phả và truyền thuyết về Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm 18
1.1.2 Truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở khu Cổ Mễ (phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh) 24
1.1.3 Truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở làng Thượng Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo 28
1.1.4 Truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh 33
1.1.5 Thần tích và truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở làng Giảng Võ, Hà Nội 34
1.1.6 Thần tích, truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở đền Bản Tỉnh, Nam Định 36
1.2 Bước đầu nhận diện hiện tượng phụng thờ Bà Chúa Kho ở vùng Kinh Bắc 38
Chương 2: Tục thờ Bμ Chúa Kho ở lμng Quả Cảm 44
2.1 Làng Quả Cảm trong không gian văn hoá Kinh Bắc 44
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của vùng đất 44
2.1.2 Vị trí điạ lý làng Quả Cảm 47
Trang 32.2.1 Đời sống kinh tế 51
2.2.2 Đời sống văn hoá xã hội 54
2.3 Các di tích gắn với việc phụng thờ Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm 57
2.3.1 Đền thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm 57
2.3.2 Đình Quả Cảm 60
2.3.3 Chùa Kim Sơn (chùa Quả Cảm) 62
2.3.4 Lăng mộ Bà Chúa Kho 64
2.3.5 Lăng mộ song thân Bà Chúa Kho 64
2.4 Lễ hội Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm 65
Chương 3: Tín ngưỡng phụng thờ Bμ Chúa Kho ở lμng Quả Cảm trong không gian văn hoá vùng Kinh Bắc 74
3.1 Mối quan hệ giữa làng Quả Cảm - Cổ Mễ - Thượng Đồng - Trung Đồng - Đại Tảo trong việc phụng thờ Bà Chúa Kho 74
3.1.1 Những nét chung của năm địa phương được chọn để so sánh 74
3.1.2 Về truyền thuyết 75
3.1.3 Về điện thần ở các di tích 75
3.1.4 Về lễ hội 79
3.2 Tín ngưỡng Bà Chúa Kho vùng Kinh Bắc và tính đan xen, hỗn dung văn hoá Việt cổ 83
Kết luận 92
Tμi liệu Tham khảo 98 Phụ lục
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đã hơn hai thập niên trôi qua, kể từ sau thời kỳ đổi mới, việc phụng thờ
Bà Chúa Kho trở thành một trong những hiện tượng nổi bật của tín ngưỡng dân gian Việt Nam Câu chuyện về Bà Chúa Kho qua thần phả, thần tích và truyền thuyết lưu hành suốt bao đời nay đã được tô điểm thêm bằng nhiều chi tiết huyền thoại Trong tâm thức người dân, Bà Chúa Kho là người có công giúp nước lo việc quân lương, giúp vua chống giặc ngoại xâm Trong đời sống hàng ngày, Bà luôn được người dân nhắc đến với tấm lòng ngưỡng mộ và tôn kính Khi hoá thân, Bà trở thành nhân vật linh thiêng được người dân ngưỡng vọng tôn thờ
Việc phụng thờ Bà Chúa Kho là nhằm tôn vinh người đã có công với nước với dân và trở thành một hiện tượng thuộc phạm trù tín ngưỡng dân gian Trong quá trình phát triển của lịch sử vùng đất và con người vùng quê Bắc Ninh, tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho đã có sự chuyển biến, phản ánh đời sống tâm linh, tín ngưỡng dân gian trong các giai đoạn lịch sử, và trở thành hiện tượng điển hình trong sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu của vùng quê Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung Sức hút của tín ngưỡng Bà Chúa Kho hàng năm thu hút hàng chục vạn khách thập phương, trong đó chủ yếu là giới làm
ăn, buôn bán, những người vốn gắn sự nghiệp làm ăn của mình với vấn đề
kinh tế Tìm hiểu căn nguyên từ sức hút nội hàm của sức mạnh tinh thần này
qua một không gian tín ngưỡng cụ thể và diễn trình hình thành nên thực trạng tín ngưỡng đó sẽ có tác dụng làm rõ hơn tính đặc sắc của một hiện tượng văn hoá dân gian tiêu biểu
Từ thực trạng tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho ngược về cội nguồn lịch sử của nó vẫn còn một khoảng cách, gây ra sự bất cập trong cách hiểu, cách lý giải sự thật lịch sử và tín ngưỡng lâu nay Chính vì thế, đi sâu tìm hiểu những
Trang 5địa chỉ cụ thể, qua trường hợp một làng cụ thể có gắn với tín ngưỡng này ở Bắc Ninh, không chỉ có tác dụng hiểu kỹ hơn đời sống tín ngưỡng của một vùng đất, mà còn có tác dụng bổ sung vào việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho cả về nhận định lẫn tư liệu Trên cơ sở đó góp phần tích cực cho những kiến giải khoa học hợp lý và làm cơ sở cho những giải pháp điều hành, quản lý sự vận hành của một tín ngưỡng tiêu biểu sao cho khoa học và phù hợp với nhu cầu thực tiễn
Trong những năm qua, có nhiều công trình, bài báo đã quan tâm nghiên cứu tín ngưỡng phụng thờ Bà Chúa Kho và chủ yếu tập trung ở các địa
điểm như khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh; làng Giảng Võ ở
Hà Nội Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc phụng thờ Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm, xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh - quê hương
Bà Chúa Kho - nơi hiện đang lưu giữ nhiều tư liệu quý như: mộ, thần phả, văn
tế, văn bia, sắc phong Bà Chúa Kho và cả mộ, bia mộ của song thân Bà Chúa
Kho Với những lý do trên, chúng tôi chọn Việc phụng thờ Bà Chúa Kho ở
làng Quả Cảm x∙ Hoà Long, thành phố Bắc Ninh làm đề tài luận văn cao
học Trước hết, luận văn nhằm góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu về Bà Chúa Kho - một hiện tượng văn hoá dân gian độc đáo tại Bắc Ninh Trên cơ sở
đó, luận văn góp phần phân định và làm rõ một số vấn đề gắn với hiện tượng văn hoá tín ngưỡng Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm, làm cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn, góp phần thiết thực vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc
2 Tình hình nghiên cứu
Việc phụng thờ Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh thực chất mới được quan tâm nghiên cứu từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước Hiện tượng tín ngưỡng này đã thu hút đông đảo sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở các cơ quan Trung ương và địa phương, các nhà quản lý chính quyền, văn hoá các cấp… Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ những góc nhìn khác
Trang 6nhau, các nhà khoa học đã tập hợp được một khối lượng tư liệu tương đối phong phú về hiện tượng tín ngưỡng này
Mở đầu cho việc nghiên cứu hiện tượng sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng
về Bà Chúa Kho là công trình nghiên cứu Truyền thuyết ở Cổ Mễ của Nguyễn Xuân Cần đăng trên Gương mặt nghệ thuật Hà Bắc, Hội Văn học nghệ thuật
Hà Bắc, năm 1982 Công trình này đã đề cập đến truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ, người có công trông nom kho tàng và tích trữ lương thực cho nhà Lý
Năm 1989, hai nhà nghiên cứu là Nguyễn Xuân Cần và Nguyễn Huy Hạnh đã căn cứ vào các nguồn tài liệu lịch sử, tài liệu truyền thuyết và đặc
biệt là khảo sát thực địa để tiến hành lập Hồ sơ di tích khu Cổ Mễ Và căn cứ
vào bộ hồ sơ đó, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã ký quyết định số 100/ VHQĐ ngày 21 - 01 - 1989 về việc công nhận
di tích đình, đền, chùa Cổ Mễ, xã Vũ Ninh (nay là phường Vũ Ninh) là di tích văn hoá cấp quốc gia
Từ năm 1989, khi đền Cổ Mễ được Nhà nước công nhận là một di tích lịch sử, văn hoá thì hàng triệu lượt người từ mọi miền đất nước kéo về đền Bà Chúa Kho để cầu tài cầu lộc Nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và nhận thức
của người đi lễ, hai tác giả nói trên đã ấn hành cuốn Di tích làng Cổ Mễ
(1990)
Năm 1991, Bảo tàng Hà Bắc xuất bản cuốn Truyện cổ Hà Bắc tập I, sau
đổi thành Bà Chúa Kho, Nxb Văn hoá dân tộc (1992) do hai tác giả Anh Vũ
và Nguyễn Xuân Cần sưu tầm - biên soạn, tập truyện công bố 24 truyện dân gian vùng quan họ được khai thác dưới góc độ ngữ văn dân gian, trong đó đã
đề cập đến truyện Bà Chúa Kho, Bà Chúa Lẫm
Hai công trình được coi là có tính hệ thống giới thiệu di sản văn hoá vật thể gắn với tín ngưỡng Bà Chúa Kho ra đời năm 1991, 1992: đó là tập sách
mỏng Lịch sử đền Bà Chúa Kho của Giáo hội Phật giáo Hà Nội (1991) và Đền
Trang 7Bà Chúa Kho của Hoàng Hồng Cẩm, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội (1992) Lịch sử đền Bà Chúa Kho trình bày về quá trình hình thành đền Bà Chúa Kho
ở Cổ Mễ Còn nội dung cuốn sách Đền Bà Chúa Kho của Hoàng Hồng Cẩm
đề cập đến hai nơi thờ cúng trang nghiêm là đền Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ và đền
Bà Chúa Kho ở Giảng Võ Đây là một tập sách mỏng gồm 39 trang “nằm trong hệ thống các đề tài nghiên cứu thờ Mẫu của Viện Văn hoá dân gian” [6,
tr 3], tác giả đã sưu tầm tham khảo các nguồn tư liệu thần tích, thần phả, sách
và truyền thuyết địa phương để phân tích, lý giải vì sao có sự đồng nhất về các
Bà Chúa Kho và qua đó nghiên cứu việc phụng thờ Bà Chúa Kho theo tín ngưỡng dân gian
Trong Hội thảo khoa học về Tín ngưỡng Bà Chúa Kho và khu di tích Cổ
Mễ do Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở (thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du
lịch) phối hợp với Sở Văn hoá Thông tin và Thể thao Hà Bắc tổ chức vào tháng 8 - 1993, 20 bản tham luận của các nhà khoa học như: Nguyễn Chí Bền, Nguyễn Xuân Cần, Trần Văn Lạng, Trần Đình Luyện, Nguyễn Quang Khải, Ngô Hữu Thi, Nguyễn Ngọc Thanh, Lê Thị Hồng Phúc.v.v tạo nên một hướng nghiên cứu tổng hợp, tiếp cận đối tượng toàn diện hơn, nhằm nhìn nhận
đánh giá về hiện tượng tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ, qua đây định hướng công tác quản lý di tích, hướng dẫn các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng tại đền
Bà Chúa Kho ngày càng có trật tự, nề nếp, đảm bảo thực hiện đúng chính sách của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và tín ngưỡng
Trong bài viết Góp phần hiểu thêm về sự tích Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc đăng trên tạp chí Hán Nôm số 4, 1993, thông qua một số tư liệu
Hán Nôm được sưu tầm tại các địa phương thờ Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh, tác
giả Nguyễn Huy Thức khẳng định: quê gốc của Bà Chúa Kho là làng Quả Cảm Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bài viết, tác giả cũng chưa có điều
kiện “cày xới” sâu tất cả các vấn đề của hiện tượng tín ngưỡng Bà Chúa Kho nơi đây
Trang 8Với bài Một số điều cần bàn về thần tích Bà Chúa Kho, đăng trên báo Nhân dân, số 52, ngày 26 - 12 - 1993, tác giả Hà Phương đã căn cứ theo Đại Việt sử ký toàn thư để phân tích và khẳng định Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ không
có tên hiệu Linh từ Quốc mẫu như tấm bảng dựng ở sân đền đã ghi tiểu sử Bà
“Linh từ Quốc mẫu là tôn hiệu của bà Trần Thị Dung trước là vợ vua Lý Huệ Tông, sau là vợ Trần Thủ Độ” [58] Trong bài viết này, tác giả Hà Phương
cũng có cùng một nhận định như tác giả Nguyễn Huy Thức: Bà Chúa Kho ở
Cổ Mễ chính là Bà Chúa ở làng Quả Cảm
Năm 1994, luận văn cử nhân Khoa học Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội)
của Lê Thị Chung nghiên cứu về Lễ hội đền Bà Chúa Kho - Hà Bắc Tác giả
đến với lễ hội từ truyền thuyết, di tích, qua đó đề cập tới tín ngưỡng dân gian trong việc thờ phụng Bà Chúa Kho tại đền Cổ Mễ
Tiếp đó, là các công trình, bài báo của một số nhà nghiên cứu văn hoá tập trung giới thiệu và tìm hiểu hiện tượng sinh hoạt tín ngưỡng này ở đền Cổ
Mễ, như: Tín ngưỡng Bà Chúa Kho, tạp chí Hà Bắc, 1994 của tác giả Khánh Duyên; Nguyễn Minh San với bài: Ngày xuân với tục vay tiền xin lộc Bà Chúa Kho đăng trên tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 2 năm 1994; Về hiện tượng tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho ở đền Cổ Mễ của Nguyễn Phương Châm đăng trên tạp chí Văn hoá dân gian, số 2, 1994; Một hiện tượng quen và lạ của Hoàng Quốc Hải, tạp chí Hà Bắc, thứ 7 ngày 5 - 2 - 1994
Năm 1995, tác giả Hoàng Hồng Cẩm tiếp tục dựa theo bản thần tích tại
đình làng Giảng Võ, tham khảo nhiều tài liệu cổ sử và các tài liệu địa phương
cung cấp đã hoàn thành cuốn sách Bà Chúa Kho thành hoàng làng Giảng Võ,
Nxb Văn hoá dân tộc (1995) Cuốn sách công bố truyền thuyết, văn bản thần tích Bà Chúa Kho và việc phụng thờ Bà tại đình làng Giảng Võ, qua đó khẳng
Trang 9định: Bà Chúa Kho ở đền Cổ Mễ (Bắc Ninh) và Bà Chúa Kho ở đình làng
Giảng Võ (Ba Đình, Hà Nội) là hai nhân vật khác nhau
Từ năm 1995 đến năm 1999, có nhiều bài viết về Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ
đăng trên các báo và sách như: Đầu xuân đi lễ Bà Chúa Kho của tác giả Lê Hồng Lý đăng trên báo Việt Nam đầu tư nước ngoài, số 98, 1995; Huyền thoại Bà Chúa Kho (tiểu thuyết) của Phan Huy Đông, Nxb Văn hoá dân tộc (1998); Cuối năm đi lễ tạ Bà Chúa Kho của Hương Hương, báo An ninh thủ
đô, số 876, 1998; Tìm hiểu thêm đền Bà Chúa Kho của Vũ Đăng Chung đăng
Đình Luyện đã giới thiệu truyền thuyết Bà Chúa Kho, tín ngưỡng thờ Bà ở đền
Cổ Mễ và đi đến kết luận “đó là biểu hiện cụ thể của tín ngưỡng thờ thần Mẫu
- là tín ngưỡng dân gian có tính phổ biến của cư dân nông nghiệp Việt cổ ở
đồng bằng Bắc Bộ nói chung và Bắc Ninh nói riêng” [45, tr 32]
Tại Hội nghị nhân học châu á, Chicago (Mỹ) tháng 3 - 2001, tác giả Lê
Hồng Lý có bài viết: Đi lễ lấy lộc: sự sùng bái Bà Chúa Kho, trình bày về tín
ngưỡng Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ dưới tác động của kinh tế thị trường
Năm 2003, cũng tác giả Lê Hồng Lý với bài Lễ hội đền Bà Chúa Kho đăng trên tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1 - 2, đã nghiên cứu về nguồn gốc, cốt lõi, bản
chất của hiện tượng tín ngưỡng Bà Chúa Kho cùng lễ hội đền Cổ Mễ dưới sự tác
động mạnh mẽ của kinh tế thị trường Từ việc tiếp xúc và phân tích vai trò của chính quyền địa phương đến việc tập trung nghiên cứu những người đi lễ dưới góc độ nhân
Trang 10học, tác giả đã thử đi tìm một số nguyên nhân của sự bùng nổ lễ hội đền Bà Chúa Kho nơi đây
Trong cuốn sách Đạo mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu á, Nxb Khoa học Xã hội (2004), tác giả Ngô Đức Thịnh khi tìm hiểu Tín ngưỡng Bà Chúa Kho và sự biến đổi của xã hội Việt Nam, đã khẳng định: Bà Chúa Kho là một phức thể đa biểu tượng, đa lớp văn
hoá, đa giá trị Qua đó, tác giả nêu ra sự biến đổi nội tại của tín ngưỡng Bà Chúa Kho, và sự biến đổi đó phản ánh nền tảng cùng những xu hướng biến đổi của xã hội Việt Nam từ xưa đến nay là: “xã hội nông nghiệp, lịch sử chống ngoại xâm và xu hướng thương mại hoá (cơ chế thị trường)” [67, tr 156]
Cũng trong cuốn sách Đạo mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu á nêu trên, tác giả Trần Đình Luyện với bài Hiện tượng Bà Chúa Kho và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Ninh đã đề cập đến tín
ngưỡng thờ Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ, và nêu ra một số vấn đề về quản lý, hướng dẫn hoạt động tín ngưỡng Bà Chúa Kho hiện nay
Với bài viết Sinh hoạt tín ngưỡng Bà Chúa Kho (xã Cổ Mễ, Bắc Ninh) trong thông báo Văn hoá dân gian (2004) và Giới và sinh hoạt tín ngưỡng đền
Bà Chúa Kho, đề tài cấp viện tại Viện Nghiên cứu Văn hoá (2005), tác giả Nguyễn Kim Hoa thông qua phương pháp nghiên cứu dân tộc học đã phân tích
hình ảnh nữ thần trong sinh hoạt tín ngưỡng Bà Chúa Kho và ảnh hưởng của sinh hoạt lễ hội đền Bà Chúa Kho tới người dân làng Cổ Mễ
Năm 2005, hai luận văn cử nhân Khoa học Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nghiên cứu về những vấn đề xung quanh lễ hội Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ theo hướng phân tích một hiện tượng văn hoá xảy
ra trong hiện tại Đó là luận văn Người phục vụ lễ ở lễ hội đền Bà Chúa Kho (làng Cổ Mễ - phường Vũ Ninh - thị xã Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh) của Lâm
Trang 11Thị Huệ và luận văn Những người đi lễ đền Bà Chúa Kho, làng Cổ Mễ, Vũ Ninh, Bắc Ninh của Phan Phương Hảo
Năm 2008, tác giả Lê Hồng Lý qua việc khảo sát và tham dự hai lễ hội tín ngưỡng cụ thể là lễ hội đền Bà Chúa Kho ở Bắc Bộ và lễ Vía Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ, cùng với việc xem xét một số lễ hội khác tương tự, đã hoàn thành
cuốn sách Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng, Nxb Văn
hoá - Thông tin và Viện Văn hoá Toàn bộ công trình phác hoạ lên một bức tranh về các lễ hội tín ngưỡng trong sự tác động của kinh tế thị trường ở nước
ta, trong vài thập niên gần đây Với hơn 100 trang viết ở chương 2 của cuốn
sách dành riêng cho Lễ hội đền Bà Chúa Kho, tác giả miêu thuật rất chi tiết về
địa điểm và dí tích làng Cổ Mễ, lễ hội đền Bà, và cách thức tổ chức lễ hội đền
Bà Chúa Kho của dân làng Cổ Mễ, qua đó cho thấy sự thay đổi nhiều mặt của
đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội ở làng Việt cổ truyền
Điểm lại các công trình nghiên cứu về hiện tượng tín ngưỡng phụng thờ
Bà Chúa Kho trên đây, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm hiểu hiện tượng Bà Chúa Kho ở đền Cổ Mễ; địa chỉ phụng thờ Bà
Chúa Kho ở làng Quả Cảm tuy đã được đề cập đến nhưng thực chất chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về bản chất của hiện tượng tín ngưỡng này ở Quả Cảm Địa danh Quả Cảm chỉ được nhắc đến khi
các tác giả muốn nói về quê hương của nhân vật truyền thuyết Bà Chúa Kho Trước thực tế đó, chúng tôi muốn qua luận văn này, bước đầu thu thập những tư liệu liên quan đến di tích và lễ hội Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm cùng các truyền thuyết dân gian về Bà, làm cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn, góp phần thiết thực vào việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hoá và bản sắc văn hoá địa phương
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là: “Việc phụng thờ Bà
Chúa Kho ở làng Qủa Cảm, xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh”
Khi tiếp cận nghiên cứu đối tượng trên, luận văn sẽ tìm hiểu truyền thuyết về Bà Chúa Kho và bước đầu nhận diện hiện tượng thờ Bà ở vùng Kinh Bắc; tiếp cận không gian văn hoá làng Quả Cảm - nơi có sinh hoạt tín ngưỡng trên; miêu thuật từ đền thờ, lăng mộ, đến lễ hội, trong đó nhấn mạnh vào các biểu hiện tín ngưỡng Bà Chúa Kho, trên cơ sở đó nêu ra một số ý nghĩa và giá trị của hiện tượng văn hoá này
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đặt đối tượng nghiên cứu chính
trong phạm vi không gian văn hoá làng Quả Cảm bên cạnh không gian văn hoá của các địa phương có sinh hoạt tín ngưỡng phụng thờ Bà Chúa Kho (khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh; làng Thượng Đồng, xã Vạn An, thành phố Bắc Ninh; làng Trung Đồng, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; làng Đại Tảo, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) để so sánh, đối chiếu, hy vọng tìm ra cái chung và cái riêng trong hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng liên quan đến Bà Chúa Kho Qua đó cũng so sánh, đối chiếu với việc phụng thờ Bà Chúa Kho ở Giảng Võ, Hà Nội và đền Bản Tỉnh, Nam Định để xác
định Bà Chúa Kho ở ba nơi này là ba nhân vật khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kế
thừa vốn văn hoá truyền thống, vận dụng đường lối của Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đánh giá di sản văn hoá các dân tộc Việt Nam nhằm phát huy giá trị của chúng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, coi đây là cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu một đối tượng văn hoá phi vật thể
4.2 Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành như: dân tộc
học: khảo sát, điền dã, tham dự, khảo tả; phỏng vấn sâu; so sánh; nghiên cứu
Trang 13văn hoá học để sưu tầm, tập hợp tư liệu: các thư tịch, truyền thuyết, thần phả, thần tích phục vụ cho việc thẩm định và nghiên cứu vấn đề; phương pháp phân tích tài liệu nhằm tìm hiểu, nghiên cứu ý nghĩa trong các hoạt động của việc phụng thờ Bà Chúa Kho
5 Mục đích nghiên cứu của luận văn
5.1 Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết về Bà Chúa Kho, hiện tượng
văn hoá tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm nói riêng và vùng Kinh Bắc nói chung
5.2 Tập hợp, hệ thống tài liệu và kết quả nghiên cứu của các tác giả đi
trước, kết hợp với nguồn tư liệu mới để góp phần xác định bản chất, nguồn gốc, nội dung của loại hình tín ngưỡng này trong không gian văn hoá cụ thể,
đồng thời góp thêm tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo
5.3 Xác định giá trị văn hóa lịch sử của các di tích và nguồn văn hoá
phi vật thể gắn với tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm
5.4 So sánh sự khác biệt, ảnh hưởng lẫn nhau giữa việc phụng thờ Bà
Chúa Kho ở làng Quả Cảm với các làng khác (khu Cổ Mễ, làng Thượng Đồng, làng Trung Đồng, làng Đại Tảo) Từ đó đề xuất hướng tổ chức, bảo tồn các di tích và lễ hội ở làng Quả Cảm nói riêng và Bắc Ninh nói chung
5.5 Nghiên cứu bóc tách trong điều kiện cho phép các lớp văn hoá bồi
tụ trong tục thờ Bà Chúa Kho ở vùng Kinh Bắc, tìm bản chất tín ngưỡng lắng
đọng trong các di tích, thần phả và lễ hội ở làng Quả Cảm
6 Kết quả và những đóng góp
6.1 Luận văn giới thiệu một cách có hệ thống những giá trị văn hoá tín
ngưỡng gắn với di tích và lễ hội, văn hoá dân gian tiêu biểu thông qua việc phụng thờ Bà Chúa Kho làng Quả Cảm
6.2 Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xác định và tìm hiểu nguồn gốc,
bản chất và giá trị văn hoá của các di tích, lễ hội và văn hoá dân gian có liên quan đến tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm Trên cơ sở so sánh,
Trang 14đối chiếu việc phụng thờ Bà Chúa ở làng Quả Cảm với các nơi thờ phụng khác, chúng tôi hy vọng có thể làm rõ cái chung, cái riêng trong hình thức sinh hoạt tín ngưỡng liên quan đến Bà Chúa Kho
6.3 Góp thêm tư liệu để đính chính một số nhận biết, lý giải chưa hợp
lý trong giới nghiên cứu văn hoá về hiện tượng Bà Chúa Kho lâu nay
6.4 Góp phần đề ra các giải pháp và kiến nghị trong việc bảo tồn và
phát huy các giá trị của loại hình tín ngưỡng này trong việc quản lý văn hoá
địa phương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung luận văn kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Hệ thống thần phả, truyền thuyết về Bà Chúa Kho vùng
Kinh Bắc
Chương 2: Tục thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm
Chương 3: Tín ngưỡng phụng thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm trong
không gian sinh hoạt văn hoá vùng Kinh Bắc
Trang 15Chương 1
Hệ thống thần phả, truyền thuyết
về Bμ Chúa Kho vùng Kinh Bắc
1.1 Không gian văn hoá vùng Kinh Bắc vμ hệ thống thần phả, truyền thuyết liên quan đến tín ngưỡng phụng thờ Bμ Chúa Kho
Cho đến nay, các kết quả nghiên cứu khoa học liên ngành (dân tộc học, khảo cổ học, sử học, văn hoá học, ) đã đi đến khẳng định: Bắc Ninh là địa bàn cốt lõi của xứ Kinh Bắc xưa Đó cũng là trung tâm của châu thổ Bắc Bộ, gần như nằm trọn trong thềm phù sa của lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình
mà từ đó, hàng trăm làng mạc đã từ nhiều nghìn năm trước được người Việt cổ dựng lên, men theo thềm phù sa của một hệ thống sông ngòi dày đặc với những sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tương, sông Đuống chen lẫn hàng loạt các dãy đồi gò, núi non rải rác vồng lượn phía bắc sông Cầu (núi Phượng Hoàng, núi Kẻ ) lan xuống phía nam (núi Ô Mỗ, núi Quả Cảm, núi Tiên Sơn, núi Thị Cầu ) tạo thành một cảnh quan sinh thái đa dạng, phong phú, vừa tạo nên thế hiểm yếu cho phía bắc kinh thành Thăng Long, vừa thuận lợi cho cư dân làm ăn, phát triển kinh tế, văn hoá Bằng các hiện vật được đào lên từ các di chỉ Quả Cảm, Cổ Mễ, Đan Trạch, Đại Lai, Lãng Ngâm và hàng loạt các làng ven các gò, núi này, các nhà khảo cổ học đã góp phần minh chứng cho một sự thật lịch sử từ nhiều nghìn năm trước Công Nguyên, người Bắc Ninh cổ xưa đã là chủ nhân của những cuộc buôn bán, tiếp xúc trao đổi kinh tế, văn hoá với các nước trong khu vực, với Trung Quốc, ấn Độ và các nước trong vùng Trung á
Chính vì thế, người dân Bắc Ninh xưa đã sớm xây dựng cho làng quê mình một nền tảng văn hoá, văn minh vững chắc trên cơ sở canh tác lúa nước
Trang 16và nghề thủ công, tạo đà cho sự nảy sinh và phát triển ý thức tự chủ và sức mạnh tinh thần trong công việc dựng nước - giữ nước Không phải ngẫu nhiên
mà Bắc Ninh từ xa xưa đã là quê hương của hàng trăm nghề phụ và làng nghề, của những làng quê đậm đặc truyền thuyết, tín ngưỡng, phong tục cùng hàng trăm di tích thờ phụng những người anh hùng, những nhân vật gắn với lịch sử
đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, chống mọi đồng hoá của kẻ thù xâm lược
Có thể nói, mọi mối quan hệ giữa các tín ngưỡng, phong tục đan xen nhau trong không gian sinh tồn của họ hàng, làng nước đã giúp cho người Bắc Ninh xưa sớm tạo lập nên sức mạnh cộng đồng, giữ được bản sắc văn hoá làng quê
Quá trình hội nhập, giao lưu tiếp xúc giữa các nền văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo bản địa và ngoại nhập diễn ra qua hàng nghìn năm trên đất Bắc Ninh xưa đã đưa vùng đất này trở thành không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, và kết tinh văn hoá Việt cổ với văn hoá Phật - ấn, Nam á, Trung á, văn hoá Nho giáo Trung Hoa - Đông á và từ đó nảy sinh, hình thành nên bản sắc văn hoá Kinh Bắc
Có một thực trạng dễ nhận ra là, tại hàng trăm làng của xứ Kinh Bắc,
mà chủ yếu thuộc đất Bắc Ninh, từ nghìn năm qua, tín ngưỡng thờ nữ thần đã
và đang trở thành một hiện tượng văn hoá - nghi lễ phổ biến, gắn với hàng loạt
di tích thờ phụng ở hầu khắp các làng quê Chẳng hạn, có thể liệt kê mang tính
ví dụ vài chục làng của Bắc Ninh liên quan đến tín ngưỡng độc đáo này Đó là làng Chân Lạc (xã Dũng Liệt, Yên Phong) thờ bà Chúa Choá, làng Vọng Nguyệt (Yên Phong) thờ công chúa Lý Nguyệt Sinh, làng Trác Bút thờ bà Chúa Bầu, làng Vân Mẫu (Quế Võ) thờ bà mẹ Đức Thánh Tam Giang, làng Ngọc Khám thờ bà Hậu thần Trịnh Thị Diệu Khánh, làng Tam Tảo thờ bà
Đặng Thị Vương Dung, làng Dương Lôi (Từ Sơn) thờ bà Phạm Thị (tương truyền là thân mẫu Lý Công Uẩn), làng Nga Hoàng thờ bà Linh Sơn Mỵ Nương, làng Diềm (xã Hoà Long) thờ bà Chúa Quan Họ (Đức Vua Bà), làng Thị Cầu thờ mẹ Thánh Gióng, làng Hoà Đình thờ bà Đống, làng Đông Yên
Trang 17thờ bà Banh, làng Lũng Sơn thờ bà Liễu Giáp, làng Thượng Đồng (xã Vạn An) thờ bà Chúa Lẫm, làng Xuân Viêm (xã Hoà Long) thờ bà Chúa Sành.v.v
“Hầu như tất cả các chùa làng trên vùng quê này đều có ban thờ Mẫu hoặc
điện Mẫu - nơi tập trung các hoạt động tín ngưỡng của giới nữ với nhiều hình thức hết sức phong phú và sinh động” [46, tr 164]
Từ hiện tượng hàng trăm làng của một vùng đất cổ gắn với tín ngưỡng thờ nữ thần như đã và đang tồn tại trong văn hoá dân gian, có thể nhận ra những nét chung trong nhận thức và ý thức của người dân làng quê Bắc Ninh
đối với phụ nữ, những đối tượng giữ vai trò trọng yếu trong đời sống tinh thần
và là chỗ dựa tâm linh cho con người trên tiến trình làm ăn và đánh giặc Trên cơ sở của loại hình tín ngưỡng đó, một môi trường nhân văn đa dạng, sinh
động và mang tính tôn nghiêm được hình thành, tạo đà cho quá trình nảy sinh
sự phức hợp của đời sống văn hoá làng quê trong mối quan hệ giao lưu, khắc hoạ những đặc trưng văn hoá độc đáo cho văn hoá truyền thống Kinh Bắc
Trên phông nền của môi trường nhân văn đặc sắc đó, tín ngưỡng thờ phụng Bà Chúa Kho hay Bà Chúa nói chung của hàng trăm làng thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang đã và đang ẩn chứa trong đó nhiều giá trị văn hoá vừa mang sắc thái nghi lễ - tín ngưỡng vừa thể hiện nhận thức xã hội của con người kế tiếp nhau qua các thời đại Và trong đó, nhân vật Bà Chúa (Bà Chúa Kho) vừa
có bóng dáng huyền thoại vừa có dấu ấn lịch sử, tạo ra một phức hợp văn hoá với nhiều tầng ý nghĩa nhân văn
Theo truyền tích dân gian, vùng Kinh Bắc có 72 nơi thờ Bà Chúa Kho làm phúc thần Lần theo những truyền thuyết dân gian về Bà, chúng tôi đã mở rộng địa bàn khảo sát, nghiên cứu một số làng của vùng đất này - nơi đầy ắp những huyền tích, truyền thuyết về Bà, và nhận thấy rằng: tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho là một hiện tượng khá phổ biến ở các làng xã vùng Kinh Bắc, và hiện nay còn lại một số nơi thờ Bà: khu Cổ Mễ, làng Quả Cảm, Làng Thượng
Đồng, làng Trung Đồng, làng Đại Tảo và phường Vệ An… trong đó trung tâm
Trang 18thờ tự sôi động nhất là đền Bà Chúa Kho làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh Những kết quả nghiên cứu ở đây không chỉ làm sáng rõ hơn diện mạo trong bức tranh tín ngưỡng thờ phụng Bà Chúa Kho ở Quả Cảm mà còn giúp chúng tôi nhận ra những khuôn dạng mới trong bức tranh toàn cảnh của hiện tượng tín ngưỡng này ở vùng Kinh Bắc
Trong quá trình đi điền dã, chúng tôi đã thu thập được khá nhiều tư liệu
về Bà Chúa Kho và nhận thấy rằng: những truyền thuyết dân gian về Bà ở mỗi vùng, mỗi nơi một khác; thậm chí mâu thuẫn và trái ngược nhau Do biến thiên lịch sử và sự chồng xếp các lớp văn hoá trong quá trình phát triển xã hội, những truyền thuyết dân gian cũng như những tập tục chung quanh sự phụng thờ Bà là không nhất quán Điều này thật dễ hiểu, bởi theo GS.TS Ngô Đức Thịnh: “Bà vốn không phải là một nhân vật lịch sử, mà là một nhân vật huyền thoại được lịch sử hoá Do vậy, mỗi địa phương, mỗi thời kỳ lịch sử, tuỳ theo nhu cầu và cảm quan của dân chúng mà Bà được lịch sử hoá theo những kiểu khác nhau” [67, tr 149]
1.1.1 Thần phả và truyền thuyết về Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm
Mục đích nghiên cứu của luận văn là việc phụng thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm, do đó trong luận văn chúng tôi đã dành một phần ở chương 2
nói về làng Quả Cảm trong không gian văn hoá Kinh Bắc
Tại làng Quả Cảm, dân làng thường gọi Bà Chúa Kho là Bà Chúa Bản thần phả ghi lại sự tích Bà Chúa (Bà Chúa Kho) được chép lại vào năm Gia Long thứ 9 (1810) gồm 3 trang giấy có khổ 45cm x 15cm, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng khoảng 20 chữ Hán, hiện còn lưu trữ tại đền làng Quả Cảm; bản thần phả này được nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Nguyễn Đình Bưu dịch,
có nội dung như sau:
Bản Đức là người quả cảm, sinh vào năm thứ tư Thiên ứng Chính Bình triều Trần, dáng vẻ trần tục, thái độ không tầm thường Cha mẹ ngài là
Trang 19người lương thiện, làm ruộng và bán hàng, chăm chỉ công việc, không
hề tranh cạnh hiếu thắng, đã ngoài 30 năm (Xuân thu) điềm sinh con chưa được báo mộng thì nghĩ thầm rằng: Trời đất vốn công bằng sao ta lại không nghỉ ngơi mà cầu nguyện sinh con nhỉ? nghĩ rồi làm ngay Trong tuần nhật cầu nguyện trước phật, một đêm khoảng quá canh ba, thân mẫu ngài đánh thức thân phụ ngài dậy để nói cho biết là bởi chăn gối, quần áo, màn trướng có hương thơm phức vẫn chưa tan hết Thân phụ ngài tỉnh dậy, bất giác gật đầu bảo: “Điềm phúc đằng bà ra đó” thân mẫu ngài vui sướng hỏi là thế nào thì thân phụ ngài nói: “Lúc canh khuya yên tĩnh được tiếp một bà cụ ngồi trên toà sen tới cho vợ chồng
ta một đoá hoa ưu văn (mây đẹp) tôi bái một lạy nhận lấy” thân mẫu ngài nói “tôi cũng mộng như vậy”
Rồi ngày tháng trôi qua tốt đẹp đến khi lâm bầu sinh ra Bản Đức Bản
Đức thuở nhỏ ngài đi chơi thường không trang điểm, đến lúc trưởng thành thì tài khéo (công), dáng vẻ (dung) đều hơn người
Đời vua Anh Tông ngài theo mẹ lên Trường An bán hàng Một hôm
đang đi thì xe nhà vua thẳng đến, quay đi nhưng chung quanh đã che kín Mẹ con chỉ được một đoạn đường đứng tụm lại, ai cũng dễ trông thấy Bỗng viên trung sứ đi tới nói rằng: “Chỗ này có đám mây trắng xuất hiện, nhà vua trông thấy, người nào nấp ở đây mau theo lệnh chỉ”
Mẹ con bàng hoàng rụng rời chân tay, vội sửa quần áo để ra mắt nhà vua Vua cho lên xe theo về, rồi cho phép thân mẫu ngài về quê và đãi ngộ xứng đáng
Mấy năm sau, ngài được vua yêu mến nên cha mẹ ngài được nhà vua
vỗ về, ban nhiều ân tứ Thời gian đó, ngài hầu vua đã có mang được ban sắc làm Hoàng phi Đệ tam cung, hưởng ân huệ lâu dài, đặc biệt lấy
72 dân trang làm bổng riêng Cố hương Quả Cảm không thể không
được xưng tụng, vinh dự Đó cũng là năm sao di Ngài mang thai ốm
Trang 20mất Vua thân đến bên giường khóc bi si, rồi làm lễ, truy tặng làm Hoàng Hậu, ban bổng riêng cho dân trang thờ làm phúc thần, sai quan trạng thần đem binh, mã, tượng bảo hộ và đưa về quê an táng tại lăng ở Quả Cảm, địa đầu núi Hoàng Nghinh [75, tr 2 - 3]
Ngoài bản thần phả được giới thiệu trên đây, trong đền còn lưu giữ văn
tế, sắc phong cho Bà Chúa Điều đáng chú ý là trong tập văn tế có ghi lại tự
điển “Đại vương Duệ Hiệu”, của hai vị thành hoàng làng là Đức Thánh Tam Giang (tức Trương Hống, Trương Hát) và Duệ Hiệu (còn gọi là Mỹ Tự của Bà Chúa làng Quả Cảm)
Thần phả, văn tế và các sắc phong là những tài liệu lịch sử quý để chúng ta hiểu rõ hơn về thân thế và sự nghiệp Bà Chúa Kho Nhà Hán học Mai Xuân Hải đã phiên âm và dịch nghĩa bản văn tế (nội dung văn tế xin xem bản dịch ở phần Phụ lục của luận văn) Và đặc biệt, để tìm hiểu sự thật lịch sử trên, Viện sử học Việt Nam, Ban Nghiên cứu lịch sử địa phương và Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã đối chiếu với tư liệu hiện có tại phòng Lưu trữ, Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam, cho phép nhận diện tính hệ thống của các nhóm tư liệu:
Trong bản kê sự tích Đức thánh làng Quả Cảm (tổng Châm Khê, huyện
Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh) năm 1938 do các chức sắc ở địa phương gửi lên báo cáo Viện Viễn Đông Bác Cổ lúc đó có các sắc phong sau của Đức Thánh Tam Giang:
Trang 21- Tứ Đức tam thập niên (1880)
- Duy Tân tam niên (1909)
- Khải Định cửu niên (1924)
Trong số này hiện Bà Chúa làng Quả Cảm chỉ có 3 đạo sắc phong, gồm:
- Một đạo đời vua Cảnh H−ng thứ 44 (1783)
- Một đạo đời vua Gia Long thứ 9 (1810)
- Một đạo đời vua Khải Định thứ 9 (1924)
Tuy nhiên, trong báo cáo của làng Viêm Xá cùng Tổng Châm Khê, huyện Võ Giàng lúc đó (thời điểm năm 1938) sắc phong rất đầy đủ, cụ thể nh− sau:
- Chiêu Thống nguyên niên (1787)
- Quang Trung ngũ niên (1792)
- Thành Thái tam niên (1891)
- Duy Tân tam niên (1909)
- Khải Định nhị niên (tặng phong một vị thần Giáp Ngọ) (1917)
Về đời vua Khải Định tứ niên (1919) tặng 5 vị 5 sắc phong:
Trang 22Các vị trên đều có trong bản văn tế của làng Quả Cảm
Trong báo cáo cũng ghi rõ ràng làng Hữu Chấp và làng Viêm Xá cùng
chung nhau lập nghè thờ Đức Thánh Tam Giang Ngày 6 - 8 là ngày Kỵ nhật
của Đức Giáp Ngọ (Dân dự) Cũng theo báo cáo trên thì “từ đời Vĩnh Thịnh
lục niên (1710) cho đến triều tây Sơn Bảo H−ng nhị niên (1802), tất cả các vị thành hoàng trên đều đ−ợc phong sắc chung” [79, tr 20]
Bắt đầu từ năm Minh Mạng thời Nguyễn, các làng này mới tách ra để
thờ riêng Riêng vị thần Giáp Ngọ đến năm Khải Định nhị niên (1917) mới
thấy có sắc phong riêng của triều Nguyễn
Tuy nhiên, ở phần cuối của báo cáo có viết nh− sau:
“- Đức Thánh Tam Giang thờ ở nghè chung (do sự kết nghĩa giữa Hữu Chấp và Viêm Xá)
- Vị Nam Hải thờ ở đền
Nh− vậy, Đức Giáp Ngọ, Đức Vua Bà là một và tổng hợp cả hai hệ thống sắc phong cho thấy Bà Chúa (Bà Chúa Kho) có 5 sắc phong và công trạng của Bà đã đ−ợc các triều đại ghi nhận và tôn thờ
Trang 23Theo báo cáo của làng Quả Cảm gửi lên Viện Viễn Đông Bác Cổ thì
ngày 6 - 8 là ngày Đại Kỳ Phước Toàn Dân Dự
Điều này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các làng xã thuộc Tổng Châm Khê, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn thế kỷ XVIII, XIX và huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn đầu thế kỷ XX với thời điểm trên trong việc thờ Bà Chúa làng Quả Cảm và Đức Thánh Tam Giang Hệ thống sắc phong của các vị thánh gần như tương đồng (qua tự điển Duệ Hiệu) đã thể hiện trong văn tế của làng Quả Cảm, gồm có: Đức Thánh Tam Giang, Đức Nam Hải, Bà Chúa Quả Cảm (tức Đức Giáp Ngọ) và Ngũ Vị
Văn bản của các thần phả, văn tế và đặc biệt là qua phần tự điển Duệ Hiệu (được trích từ những sắc phong của các triều đại ban tặng trong suốt 3 thế kỷ được tổng kết vào năm 1810) đã cho thấy rõ sự biến động của vùng đất văn hoá lịch sử này là rất lớn Và mặc dù xã hội luôn có biến động, các vương triều này thay thế vương triều kia, nhưng việc ghi nhận về sự nghiệp của Bà Chúa Kho ở các thôn gần nhau trong cùng một không gian là nhất quán
Việc hiện tồn các bản sắc phong qua các thời điểm lịch sử của triều đại phong kiến đã chứng tỏ sự ảnh hưởng và vai trò của nhân vật được phụng thờ trong đời sống xã hội người Việt nói chung và các làng quê ở Bắc Ninh nói riêng là rất lớn Đó cũng là sự khẳng định của một thiết chế văn hoá theo xu hướng lịch sử hoá các nhân vật huyền thoại, chứng tỏ quyền uy của giai cấp thống trị và quan điểm sử dụng các đối tượng được phụng thờ để làm sức mạnh tinh thần, chế ngự dân chúng, thu nạp dân chúng và vô tình góp phần tạo ra cơ sở bền vững cho truyền thống văn hoá tâm linh ở các làng quê, trong
đó có các làng thờ Bà Chúa (Bà Chúa Kho)
Ngày nay, lăng mộ Bà Chúa Chúa Kho đã được nhân dân làng Qủa Cảm
và quý khách thập phương tu sửa vào năm 2007 Trên tấm bia còn lưu giữ nơi
đây gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với nội dung như sau:
Trang 24Bản đức là người làng Quả Cảm, bố họ Trần, mẹ họ Dương, lấy vua đời nhà Trần Bà có công giúp nước lo việc quân lương giúp vua chống giặc ngoại xâm Bà được vua rất sùng ái, phong Bà làm hoàng phi đệ tam cung, ban cho Bà 72 trang ấp làm bổng lộc, Bà mất ngày 10 tháng giêng Nhà vua vô cùng thương tiếc, truy phong Bà là hoàng hậu và đưa thi hài Bà về quê làng Quả Cảm chôn cất Nơi đây là lăng mộ Bà Chúa, cũng là đền thờ Bà Chúa Sau khi Bà mất, 72 trang ấp đều lập đền thờ
Bà làm phúc thần, riêng trang ấp làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh xây đền thờ Bà ở núi Kho, do vậy nhân dân gọi là đền Bà Chúa Kho Tưởng nhớ công ơn to lớn của Bà, năm 2007 nhân dân Quả Cảm và quý khách thập phương xây lăng mộ Bà Chúa để lưu công danh cho muôn đời sau
Đối chiếu bản thần phả với nội dung của văn bia ở làng Quả Cảm, chúng tôi nhận thấy nguồn gốc và công trạng của Bà được ghi ở văn bia và thần phả là giống nhau Như vậy, việc tu sửa lại lăng mộ và văn bia vào năm
2007 đã dựa trên những cứ liệu của bản thần phả mà tác giả Nguyễn Đình Bưu
Cổ Mễ nằm ở phía bắc phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh; phía
đông và phía bắc giáp Đáp Cầu và con sông Cầu, phía tây và phía nam giáp phường Phúc Sơn, Thị Cầu và xã Hoà Long Cổ Mễ có một địa hình khá phức tạp, trên thềm phù sa rộng dài gần 2km với nhiều cơ quan, nhà máy, đơn vị bộ
đội đóng xung quanh địa bàn
Trang 25Cổ Mễ nằm ở vùng thềm sông với những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp nên nguồn sống chủ yếu của người dân là nghề trồng lúa nước Trước đây, Cổ Mễ là một làng thuần nông Vài chục năm qua, người dân khu Cổ Mễ bên cạnh công việc nghề nông đã bám vào di tích tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho để làm dịch vụ nên đời sống kinh tế của đa số các hộ gia
đình khá hơn trước Cổ Mễ có nhiều dòng họ cư trú, mà tiêu biểu là các dòng
họ Nguyễn, họ Phạm, họ Bùi
Nằm trong dải đất văn hoá của 47 làng ven sông Cầu với truyền thống
đấu tranh chống ngoại xâm, truyền thống xây dựng văn hoá, nông nghiệp, thủ công nghiệp và buôn bán, thành phần cư dân Cổ Mễ đa dạng nên đã hình thành một đời sống văn hoá truyền thống phong phú Xưa kia, làng có 7 lễ hội trong năm, trong đó có lễ hội ngày 10 - 4 là ngày hoá của vị thành hoàng được xem là lễ hội chính và tiêu biểu cho văn hoá lễ hội Cổ Mễ Ngày 10 - 4 với hội
đua thuyền nhằm ghi nhớ công thuỷ chiến của Đức Thánh Tam Giang Quy
định xưa của làng là vào những năm mưa thuận gió hoà, thiên thời địa lợi thì làng mở hội ba ngày Năm nào khó khăn, mùa màng thất bát, làng không mở hội mà chỉ lễ thánh ở đình Trung tâm của lễ hội trong năm đều được tiến hành ở đình
Xưa kia, với 7 lễ hội trong năm, Cổ Mễ thuộc vào danh sách các làng có nhiều nghi lễ sinh hoạt văn hoá truyền thống trong vùng Ngày nay, cùng với thời gian và do tác động xã hội, nhiều nét văn hoá của làng bị mai một dần Người dân gần như chỉ đầu tư công sức cho các hoạt động dịch vụ tại khu vực
đền Bà Chúa Kho, cho nên nhiều lễ hội không được tổ chức quy mô như trước Vì vậy, sinh hoạt tín ngưỡng tại đền diễn ra quanh năm “Thường thường trong một năm bất kể lúc nào du khách cũng có thể đến lễ và xin hoặc vay ở đền Bà Chúa Thời gian quan trọng nhất là vào đầu năm và cuối năm Đầu năm là đi vay, đi xin, còn cuối năm là đi trả và đi tạ ơn Vì thế, rộ nhất và sôi động nhất
là ba tháng đầu năm âm lịch và ba tháng cuối năm ấy” [49, tr 46]
Trang 26Theo truyền thuyết dân gian: ngôi đền khu Cổ Mễ thờ Bà Chúa Kho, Bà
là người có công trông nom kho tàng và tích trữ lương thực cho nhà Lý Đền
Bà Chúa Kho nằm ở phía Bắc khu Cổ Mễ Đền là một trong ba di tích của làng bên cạnh đình làng, chùa làng; tất cả đều được Nhà nước công nhận xếp hạng
di tích lịch sử năm 1989 Trong hai năm 1991 - 1992, ngôi đền được trùng tu lại Bố cục bài trí của ngôi đền gồm: hậu cung thờ Bà Chúa Kho, hai bên tả hữu là Ban chầu Bà, Ban Đức Ông; phía trước là Tam toà Thánh Mẫu; gian ngoài là ông Hoàng Bơ, ông Hoàng Bảy, Ban công đồng tứ phủ, Bát bộ sơn trang, Ban Cô, Ban Cậu; ngoài sân có đài cửu thiên, bể hoá vàng
Sự tích Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ được lưu truyền lâu nay đều gắn với địa danh Quả Cảm Những câu chuyện dân gian ở đây phảng phất hơi hướng tinh thần của thần tích, nhưng dân gian có lối kể riêng, tạo nên một sức sống riêng Truyền rằng:
Bà vốn xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm, vốn người chịu khó hay làm, nên sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở
đây phì nhiêu, màu mỡ bị bỏ hoang, nên Bà đã xin với vua cho đi chiêu dân và cắm đất làm đồn điền Lúc đó vào khoảng tháng tám, nước dâng ngập khắp các vùng, tay đeo bị trấu, Bà đi dọc từ Quả Cảm xuống núi Bài, Nham Biền vãi trấu xuống mặt nước, gió đông bắc đưa trấu trôi đi đến đâu, Bà cắm địa giới đồn điền tới đó Buổi
ấy vua đặt ở Cổ Mễ những kho lương lớn giao cho Bà trông nom Ngoài việc trông nom kho tàng, Bà còn phải cai quản số đông tù binh Chàm do nhà Lý bắt được sau mỗi cuộc chiến tranh và đưa họ
về làm ở các trang ấp Dân các làng từ Đại Tảo Sở, Cổ Mễ, Quả Cảm đến Thượng Đồng đều là những phạm nhân làm ruộng cho
Bà Sau mỗi vụ thu hoạch, thóc từ các làng được đưa về tập trung ở
Cổ Mễ và Thượng Đồng Đường vận chuyển thóc xưa, nay còn lại dấu vết là dãy dọc sâu chạy suốt từ sau làng Cổ Mễ tới Thượng
Trang 27Đồng Dân vẫn cấy lúa, làng Thượng Đồng nay mang tên làng Lẫm
từ đấy [8, tr.163]
Bên cạnh truyền thuyết dân gian, trong đền Bà Chúa Kho Cổ Mễ hiện
có ba tấm hoành phi:
- Chủ Khố từ (Đền Chúa Kho)
- Chủ Khố linh từ (Đền thiêng Chúa Kho)
- Hiển linh từ (Đền linh thiêng)
Và hai đôi câu đối:
- Lê triều chưởng khố chương hồng liệt Nữ giới di danh trọng phúc thần
(Giữ kho tàng nhà Lê, công tích lớn lao rạng rỡ Tên tuổi bà còn để lại, là vị phúc thần đáng kính)
Và
- Chủ khố linh từ lưu đà tính Anh linh thần miếu liệt sơn cao
(Đền thiêng Bà Chúa Kho còn lưu dấu vết Phật Miếu thần anh linh lẫm liệt chốn núi cao)
Nội dung hai câu đối trên đã giúp chúng ta hiểu rõ về Bà Chúa Kho là người có công với dân với nước trong việc trông nom kho tàng, sau khi mất,
Bà được nhân dân lập đền tôn thờ như một vị liệt nữ anh hùng
Như vậy, rõ ràng Bà Chúa Kho có gốc tích từ Quả Cảm Công lao coi kho của Bà ở núi Kho, Cổ Mễ đã được ghi nhận “Núi Kho, tương truyền là nơi có kho lương của nhà Lý, nên nhân dân địa phương gọi là núi Kho” [76, tr 5] Tuy nhiên, chỉ qua các tài liệu về Bà Chúa Kho ở đền Cổ Mễ đã cho thấy thời điểm xuất thân của Bà là khác nhau: truyền thuyết ở Cổ Mễ nhắc đến Bà sống ở đời Lý, nhưng đôi câu đối thờ ở đền lại ghi Bà sống ở đời Lê
Trang 281.1.3 Truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở làng Thượng Đồng, Trung
Làng Thượng Đồng (phường Vạn An, thành phố Bắc Ninh)
Thượng Đồng còn gọi là làng Lẫm, xưa là “Đại Tảo xứ, Thượng Đồng thôn” thuộc tổng Châm Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Thượng Đồng
là một trong 4 thôn của xã Vạn An (Đương Xá, Thượng Đồng, Vạn Phúc, Thụ Ninh) nằm kề với thôn Quả Cảm
Thượng Đồng vốn là một làng cổ có bề dày lịch sử, các công trình tín ngưỡng văn hoá của Thượng Đồng đều được xây dựng sớm, quy mô và giá trị nghệ thuật cao, gồm hai đình, một chùa Đình, chùa Thượng Đồng là một cụm
di tích đã được Nhà nước ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hoá năm 1994 Ngoài đình và chùa, thôn Thượng Đồng còn một ngôi đình mới làm năm 1995 ở giữa làng
Cư dân làng Thượng Đồng sinh sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra còn có các nghề phụ hỗ trợ cho phát triển kinh tế trong làng như buôn bán, làm mộc, nấu rượu, làm hàng sáo Thượng Đồng xưa còn có nghề thêu ren nhưng đã bị mai một từ trước năm
1980
Sinh hoạt văn hoá dân gian ở làng Thượng Đồng khá đặc sắc, được biểu hiện khá rõ trong sinh hoạt hát quan họ Trong sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng nổi bật nhất là lễ hội Bà Chúa Lẫm (tức Bà Chúa Kho) Trước đây, mỗi năm làng mở hội một lần vào ngày 10 tháng giêng (ngày giỗ Bà Chúa Kho) Hội tổ chức từ chiều ngày 9 tháng giêng, có tế lễ và các trò diễn, tổ chức rước từ chùa
về đình, hết hội lại rước về hoàng cung Do cùng liên quan mật thiết đến vùng
Trang 29đất khai phá của Bà Chúa, cả ba làng Thượng Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo
từ xưa đến nay kết chạ với nhau Xưa, cả ba làng đều mở hội cùng một ngày trong năm Đến nay, thực hiện ba năm mở hội một lần ở mỗi địa phương để có dịp ba anh em (ba làng) quy tụ
Đình Thượng Đồng thờ Đức Vua Bà Chúa Lẫm (Bà Chúa Kho) và Đức Cao Sơn Đại Vương Đình nằm theo hướng đông nam, xung quanh là nhà dân Xưa kia, trước đình có hai cái ao lớn, nhưng nay không còn Năm 2003, nhân dân làng Thượng Đồng đã trùng tu lại ngôi đình trên cơ sở ngôi đình cũ Đình
có bố cục 5 gian tiền tế và một gian hậu cung, lợp ngói nam, cột kèo chạm trổ Trong đình còn ba đôi câu đối, hai bức đại tự Ngay gian giữa là hương án, hai bên là bát bửu Hậu cung đình đặt tượng thờ Bà Chúa Kho và Đức Cao Sơn
Đại Vương, phía trước thờ ba thanh kiếm Song song với nơi thờ tượng có một tấm bia lớn:
Hai mặt kích cỡ 65cm x 120cm, dày 20cm, bằng chất liệu đá xanh Trán bia chạm “Lưỡng long triều nguyệt” (hai rồng chầu mặt trăng), xung quanh viền hoa dây Dưới trán bia khắc bốn chữ lớn “Thượng
đẳng tối linh” (Linh thiêng tuyệt đỉnh) Lòng bia gồm 24 dòng, mỗi dòng khoảng 30 chữ Hán xen Nôm Nội dung bia nói về thần tích hai vị phúc thần thờ ở đình làng là Đức Vua Bà (Bà Chúa Kho) và Đức Cao Sơn Sự tích Vua Bà được khắc ở mặt trước phía bên phải của tấm bia
Số chữ và nội dung đúng như bản thần phả Bà Chúa Kho hiện có ở đền thờ Bà tại làng Quả Cảm Cuối bia ghi thời hiệu Tự Đức thứ 21 (1868) [68, tr 41]
Theo tác giả Nguyễn Huy Thức thì văn bản tấm bia này là ghi chép từ bản thần phả ở làng Quả Cảm
Làng Trung Đồng (x∙ Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang)
Trung Đồng là một trong năm làng thuộc xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Làng Trung Đồng có vị trí phía đông nam giáp sông
Trang 30Cầu, bên kia sông là xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; phía bắc giáp xóm 1 và thôn Vân Cốc cùng xã; phía đông giáp thôn Bài Xanh và thôn Trúc Tay cùng xã; phía tây giáp thôn Núi Hiểu thuộc xã Quang Châu, Việt Yên
Làng nằm trong phạm vi vòng cung của dãy Nham Biền hiểm trở Nơi
có vị trí chiến lược quan trọng, tạo nên một phòng tuyến vững chắc rất thuận lợi về quân sự, an ninh, quốc phòng Chính vì vậy, trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, nơi đây luôn là phòng tuyến quan trọng chặn giặc ngoại xâm bảo vệ kinh đô Thăng Long Mùa xuân năm 1077 - năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 2 - thời Lý, với vị trí chiến lược, tại đây đã diễn ra những trận tấn công dữ dội của quân chủ lực và dân binh nhà Lý vào cụm doanh trại phía trái của quân nhà Tống do Quách Quỳ chỉ huy
Với vị trí “đắc địa” cả trong thời chiến cũng như thời bình, vùng đất này
đã được cư dân Việt đến khai phá từ lâu đời Là một làng cổ ven sông Cầu, người dân Trung Đồng từ xưa đã quen nghề sông nước Nguồn sống chính của người dân xưa kia là đánh cá và làm ruộng Nhà nào cũng có một chiếc thuyền
để đánh cá, chuyên chở hàng hoá, vật liệu Truyền thống này còn giữ được
đến tận ngày nay, khi mà đường thuỷ nội thôn: dẫn từ đồng vào trong làng kéo dài tới hơn 10km
Nghè Trung Đồng là một di tích nằm trong cụm di tích: đình làng, chùa làng và nghè Bà Chúa của làng Nghè Trung Đồng nằm giữa làng, ngoảnh theo hướng đông Nghè được xây dựng đơn giản, bố cục mặt bằng hình chữ
“nhị” gồm một toà tiền tế và cung thờ Tại cung thờ đặt tượng Bà Chúa Kho và khám thờ Nghè là nơi thờ Bà Chúa Kho - người có công đưa dân đến lập làng Theo các cụ cao niên trong làng truyền lại, cư dân vùng này xưa vốn gốc
là người ở Quả Cảm Vào thời Trần, bà Hoàng phi vợ vua Trần Anh Tông là người làng Quả Cảm đã tâu với vua cho khai hoang lập làng ấp mới Được vua
Trang 31Trần Anh Tông ủng hộ, Bà đã đưa con em Quả Cảm vượt sông Như Nguyệt (sông Cầu) khai phá đất đai và lập lên làng Trung Đồng như ngày nay Những cư dân đầu tiên theo Bà Chúa đến khai đất lập làng là người của dòng họ Nguyễn, họ Trần, họ Ngô Cũng tương truyền rằng, khi Bà Chúa đưa dân đến Trung Đồng, nơi đây chỉ là vùng đất hoang vu Cả một dải đất rộng ven sông chỉ có một chiếc lều nhỏ nằm trên gò đất cao Trong chiếc lều đó có hai bố con người họ Hoắc ở, làm nghề đánh cá Thấy đất đai nơi đây tươi tốt, lại có các gò mô tự nhiên bao quanh nên Bà quyết định cho dân ở lại dựng làng Địa danh Trung Đồng được ghi nhận trong các văn bia, sắc phong, công văn từ thời Lê: “Từ Sơn Phủ, Yên Phong huyện, Đại Tảo sở, Trung Đồng thôn” Từ
đó đến nay trải qua nhiều đời, người họ Trần dần phiêu bạt, không còn sinh sống trên đất làng nữa, người họ Ngô cũng chỉ còn hai ba hộ Trung Đồng đón thêm người họ Dương, họ Vũ từ Thái Bình đến Trong thôn hiện nay, họ Hoắc chiếm tới 70% số hộ, phát triển rộng lớn với nhiều chi họ
Làng Trung Đồng kết chạ với làng Thượng Đồng và Đại Tảo Tục kết chạ vốn là một nét văn hoá truyền thống tốt đẹp của nhiều làng xã thuộc châu thổ Bắc Bộ, nhằm tạo ra sự đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống giữa các cộng đồng làng xã Song ở ba làng này, tục kết chạ còn là môi trường để văn hoá quan họ tồn tại, phát triển và ngược lại văn hoá quan họ vùng quê này đã thắt chặt mối quan hệ giữa các làng chạ bởi những giá trị đầy tính nhân văn của nó mang lại cho đến ngày nay
Làng Đại Tảo, hay còn gọi là làng Hạ Đồng (x∙ Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh)
Đại Tảo là một trong 5 thôn của xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh “Thời Phong kiến, làng Đại Tảo thường gọi nôm là làng Hạ Đồng, là một bộ phận của làng Thượng Đồng chuyển về làm ăn và sinh cơ lập nghiệp trên đất phong ấp của Bà Chúa Quả Cảm ở vùng đất Long Khám - Việt Đoàn ngày nay” [78, tr 4] Trải qua nhiều thế kỷ, tuy hai làng Thượng Đồng và Đại
Trang 32Tảo ở cách nhau trên 10km nhưng vẫn cùng nhau giữ gìn tập tục cũ, duy trì tình cảm, cùng phụng thờ chung thành hoàng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân địa phương
Truyền rằng: “Vào triều Lê, sau khi từ làng Thượng Đồng về sinh cơ lập nghiệp ở làng Đại Tảo ngày nay, dân làng đã tìm đất đặt nơi thờ cúng Đức Vua Bà Đến đời Vua Lê Huyền Tông (khoảng năm 1663) dân làng xây một ban lộ thiên trên đất đồn trú của quan quân triều đình nhà Lý cũ, gọi là xóm Trại (Hạ Đồng), triều Vua Anh Tông thuộc Đại Tảo sở Đến thời Vua Lê Duy Phương (khoảng năm 1729) nhân dân xây một gian hai trái, mái lợp rạ để thờ cúng” [78, tr.7 - 8] Riêng ngày lễ hội hàng năm, người dân làng Đại Tảo vẫn
về quê cũ là làng Thượng Đồng và Quả Cảm để thờ cúng, tế lễ Đức Vua Bà ở
đình Làng
Đình làng Đại Tảo thờ Bà Chúa Quả Cảm và Đức Cao Sơn Đại Vương làm thành hoàng Tài liệu tại Bảo tàng Bắc Ninh ghi: “Đại Tảo làng, tổng
Đông Sơn thờ hai vị thần: Hà Dương Công Chúa và Cao Sơn Đại Vương” [51,
tr 445] Hiện trong đình còn 9 đạo sắc phong, một bản sự tích chữ Hán 29 trang và còn lưu giữ được một số hiện vật như: ngai thờ, tượng Đức Vua Bà, mâm bồng, bát bửu cùng một số đồ thờ có giá trị mỹ thuật
Hiện nay, ở Đại Tảo, nhân dân vẫn truyền tụng nhau về truyền thuyết của Bà Chúa như sau: Bà Chúa Quả Cảm tên thật là Trần Thị Ngọc, vốn người phúc hậu, xinh đẹp “sắc nước hương trời”, Bà được triều đình nhà Trần tuyển chọn vào cung làm nguyên phi của vua Trần Anh Tông Sau khi vào cung, với tài trí thông minh của mình, Bà đã giúp vua Trần nhiều việc lớn như: ngoại giao, chăm lo và mở mang việc sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là phát triển nghề tầm tang, gốm sứ Bà đã về quê hương (làng Quả Cảm - Thượng Đồng) khuyến khích nhân dân khôi phục và duy trì nghề làm gốm cổ truyền có từ thế
kỷ thứ X Bà đã được nhân dân địa phương tôn sùng phong là Đức Vua Bà Bà còn giúp nhà vua cải tạo tù binh và những người lầm lỗi Do có công lao đóng
Trang 33góp cho triều đình, Bà được vua Trần Anh Tông sủng ái, ban cho nhiều thực
ấp ở Quả Cảm, Thượng Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo Khi mất, Bà được nhân dân địa phương tôn thờ ở đình làng và được các triều đại phong kiến Việt Nam phong là: “Đức Vua Bà, Bản Đức Đại Vương, Hà Dương Phương khiết trai trang thục thận công chúa” ban mỹ tự: “Lệnh nghi, y đức, Chinh thuần công chúa” Sắc cho nhân dân địa phương, hàng năm đến ngày tiểu kỳ phúc
15 - 8 âm lịch làm lễ sinh nhật Đức Vua Bà
1.1.4 Truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh
Bên cạnh những làng thờ kể trên, hiện nay tại phố Thiên Đức phường
Vệ An, thành phố Bắc Ninh có đền Bà Chúa Kho Trung Cơ thờ Bà Chúa Quả Cảm làm phúc thần Đền có diện tích 40m2, nằm ở phía tây thành phố Bắc Ninh, xung quanh là nhà dân, đền quay ra phía đường phố Ngôi đền này có lịch sử từ lâu đời, nhưng trải qua năm tháng đã được xây dựng và tu bổ nhiều lần Đền có kiến trúc kiểu chuôi vồ, gồm 3 gian tiền tế và một gian hậu cung, mái lợp ngói ta Năm 1992, gian tiền tế và hậu cung đều được trùng tu lại với kết cấu đơn giản Trước đây, đền vốn được xây dựng ở khu đất cạnh chân cột
cờ thành phố Bắc Ninh Năm 1920, thực dân Pháp chiếm đóng nên không cho người dân vào trong thành lễ, vì vậy đền được chuyển ra phường Vệ An
Hiện nay, đền còn bảo lưu được một số cổ vật như kiệu thờ, tượng thờ, câu đối Tại gian hậu cung đền, ở hàng đầu tiên là tượng hai cậu, và tiếp đến là ngũ vị tôn ông Hàng hai là tượng Bà Chúa Kho, dáng vẻ uy nghi đĩnh đạc, khoác xiêm y lộng lẫy Trên cùng thờ ba vị thánh Mẫu là: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn
Tại gian giữa thờ các hương án Bên phải gian giữa từ cửa vào thờ Đức
Ông và Bà Chúa Thượng Ngàn Bên trái thờ Đức Đại vương triều Trần và nhị
vị Vương cô Trong đền hiện còn hai đôi câu đối:
Trang 34Vị liệt thánh trung thiên chủ khố Anh linh thần nữ thế gian vô
(ở ngôi Thánh làm chủ kho trời
Là nữ thần linh thiêng, thế gian chẳng có)
Và:
Vị liệt nữ trung thần cơ trọng Tùng Thành thương khố chủ
Đức vi thiên hạ mẫu trường thuỳ Bắc trấn hiển linh thanh
(Ngôi thần trọng vọng trong giới nữ, Bà là chủ kho tàng chốn Thành Tùng
Đức xưng là mẹ thiên hạ, để lại mãi sự linh thiêng nơi trấn Bắc)
“Truyền thuyết ở đây nói rằng ngôi đền thờ Bà Chúa Kho nằm ở phía cửa tiền thành Bắc Ninh Nên khi mở cửa thành, bao giờ cũng phải mở cửa hậu trước Ngược lại, nếu mở cửa tiền trước, thì thường xảy ra ốm đau, tang tóc ở
địa phương Phải chăng, đây là ý niệm chỉ sự linh thiêng về việc phụng thờ Bà” [68, tr 39]
Trên đường đến đền thờ Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ, nhân dân thành phố Bắc Ninh vẫn thường xuyên đến đền Bà Chúa Kho Trung Cơ đi lễ để tưởng nhớ đến những nơi Bà đã đi qua
1.1.5 Thần tích và truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở làng Giảng Võ,
Hà Nội
ở đây, chúng tôi xin đưa ra những truyền thuyết nằm ngoài không gian văn hoá tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở vùng Kinh Bắc, đó là truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở Giảng Võ, Hà Nội và Bà Chúa Kho ở đền Bản tỉnh thành phố Nam Định để làm rõ hơn về thần tích và công trạng của Bà Chúa Kho ở vùng Kinh Bắc Bởi đã có rất nhiều người nhẫm lẫn và nghĩ rằng Bà Chúa Kho ở ba nơi này là một Tuy nhiên, thực tế lại không phải vậy, Bà Chúa Kho ở ba nơi này là ba nhân vật khác nhau, nhưng cùng có một tên chung mà nhân dân gán
cho là Bà Chúa Kho
Trang 35Khác với Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng
Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo vốn là nhân vật huyền thoại được lịch sử hoá,
Bà Chúa Kho ở làng Giảng Võ chính là nhân vật lịch sử Bà là Khố Nương công chúa Quản Chưởng Quốc Khố Đại Phu Nhân, là người có công lớn với nước với dân
Câu chuyện về Bà Chúa Kho ở làng Giảng Võ được kể lại như sau: Châu Nương tên thật là Lý Thị Châu, là con gái của Điện hộ binh lương nhà Trần tên là Lý Quỳnh với người vợ thứ là Nguyễn Thị Duyên, quê ở làng Giảng Võ Châu Nương có sắc lại có tài, thường giúp cha việc sổ sách kho tàng hàng ngày, nên rất thông thạo mọi việc Năm cô mười tám tuổi thì cha mất Năm hai mươi tuổi, khi hết tang cha cô lấy Quan Thái Bảo họ Trần làm chức Đốc Bộ ở Hoan Châu (Nghệ Tĩnh) Trong cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Thái Bảo được lệnh đem quân chống cánh quân của giặc từ Chiêm Thành đánh ra Châu Hoan Nhưng do thế giặc rất mạnh, nên
ông phải rút quân về Diễn Châu để củng cố lực lượng Bà Châu Nương khuyên chồng sắp đặt trận thế và chặn giặc ở tiền phương còn mình tự nguyện lo lắng việc chỉ huy quân phòng ngự, bảo vệ kho tàng để tiếp tế cho binh sĩ, cho nên quân địch không thể nào phá nổi thành Quân ta thừa thế lập mẹo, chia quân làm hai ngả phản công làm cho giặc phải rút chạy Sau thắng trận này, vợ chồng Châu Nương đã được vua Trần khen ngợi và triệu về kinh để phong chức Thái Bảo nhậm chức Tiền Quân Dực Thánh là chức coi sóc đạo quân bảo vệ nhà vua và bảo vệ kinh đô Còn Châu Nương thì nhận nhiệm vụ coi kho Phủ Phụng Thiên Giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta lần thứ hai, vua quan nhà Trần phải rút khỏi kinh đô Thăng Long để bảo toàn lực lượng Trong trận chiến chặn giặc ở phía nam sông Hồng để quân ta rút lui được an toàn, Trần Thái Bảo đã tử trận Nghe tin chồng mất, Châu Nương khóc cố nén đau thương
để đốc thúc quân lính chôn giấu và chuyển của cải, binh khí đi nơi khác để không rơi vào tay giặc Khi bị giặc bắt, Bà đành lấy cái chết để báo đền ơn
Trang 36nước, chọn nghĩa với chồng Bà đã lấy khăn hồng phủ lên mặt rồi hoá trước cửa kho
Sau khi Bà hoá, có mấy chuyện lạ đã được các quân sĩ sống sót kể lại: Chiếc khăn hồng phủ mặt Bà đã bay vút lên trời và hạ xuống làng Giảng Võ - nơi sinh của Bà Khi giặc Nguyên tiến vào kho thì có một con rắn lớn phun lọc phì phì xông ra ngăn cản quân giặc Ai cũng tin hồn Bà đã nhập vào chiếc khăn để sai khiến rắn thần Đất nước thanh bình, nhà vua bình công khen thưởng đã truy tặng cho Bà chức Quản Chưởng Quốc Khố Công Chúa (Bà Chúa giữ kho của quốc gia), chuẩn cho hai nơi Giảng Võ (Hà Nội) và Diễn Châu (Nghệ An) đều được lập đền thờ Bà Sau đó nhiều nơi khác cũng thờ vọng Bà Cả thảy đến hai mươi đền miếu
Hiện nay, tại đình làng Giảng Võ còn lưu giữ duy nhất một bản thần tích của Bà Chúa Kho được sao năm Vĩnh Hựu 3 Nội dung của bản thần tích
có nhiều điểm trùng với truyền thuyết nói trên
1.1.6 Thần tích, truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở đền Bản Tỉnh, Nam Định
Tại thành phố Nam Định hiện nay có một ngôi đền cũng thờ Bà Chúa Kho, đó là đền Bản Tỉnh Theo bản thần tích còn lưu giữ tại đền và theo sử sách ghi chép lại, thì Bà Chúa Kho ở đền Bản Tỉnh là một nhân vật chính sử ở triều Nguyễn
Đời vua Tự Đức (1848 - 1883), quan Vệ uý coi kho thành Nam
Định có con gái là Bạch Hoa giỏi võ nghệ, không chịu lấy chồng Năm 1872, thực dân Pháp đưa binh thuyền ra Bắc theo sông Hồng lên Vân Nam để kiếm cớ đánh Bắc Kỳ Quan Vệ uý giao việc coi kho cho con gái để mình hiệp sức với các quan đầu tỉnh chuẩn bị công việc thành trì Ngày 10 - 12 - 1873, quân Pháp tấn công thành Nam Định và chúng tràn được vào thành ngày hôm sau Quan vệ uý lúc đó đang chỉ huy quân sự giữ Cột Cờ, bị địch vây Cột Cờ mỗi lúc
Trang 37một đông, thế trận lâm vào cảnh muôn phần nguy ngập Nàng Bạch Hoa vội chia quân, một nửa ở lại coi giữ kho lương còn một nửa cùng nàng theo lối hẻm xông đến Cột Cờ trợ chiến nhằm phá vòng vây của cha Trước ưu thế vũ khí tối tân của địch, các tướng sĩ giữ Cột Cờ thành Nam Định đều hy sinh, nàng Bạch Hoa cũng tử chiến dưới chân Cột Cờ này Ngày 15 - 3 - 1874, quân Pháp rút khỏi Bắc
Kỳ, vua Tự Đức xét công phong tặng những người tiết nghĩa, nàng Bạch Hoa được tặng phong: “Tiết Liệt Anh Phong Giám thương công chúa” (Công chúa coi kho - Anh Phong - Tiết Liệt) Hạ chiếu xây miếu thờ ở chân Cột Cờ Nhân dân thành Nam Định tôn công chúa coi kho làm Thành hoàng Đương cảnh - Bản xứ - Thổ thần, xây đền thờ Bà ở phía bắc Vọng Lâu Cột Cờ, gọi là đền Bản Tỉnh [59, tr 66]
Như vậy, truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở ba nơi: Kinh Bắc (trong lịch sử), Hà Nội, Nam Định đã giúp chúng ta hiểu hơn về thân thế, sự nghiệp của mỗi Bà
Việc tìm hiểu không gian văn hoá và truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở các làng xã vùng Kinh Bắc cho thấy hiện tượng tín ngưỡng Bà Chúa Kho đã ra
đời và tồn tại trong một môi trường tự nhiên - kinh tế - xã hội mà trong lịch
sử, nơi đây nguyên là những vị trí trung tâm của các tuyến giao thông xưa (chủ yếu là trên bến dưới thuyền), nằm trong vùng đất có lịch sử lâu đời, kinh
tế trù phú và các hoạt động giao thương buôn bán từ xưa đã khá sầm uất Đặc biệt, những di tích thờ Bà Chúa Kho nơi này đều nằm ở trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của vùng đất Bắc Ninh thuộc Kinh Bắc trong lịch sử Tìm hiểu mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên - kinh tế - xã hội và sự phân bố các nơi thờ Bà Chúa Kho vùng Kinh Bắc là những bước đi đầu tiên trên con đường
đi tìm bản chất của hiện tượng tín ngưỡng này
Trang 38Hiện tượng phụng thờ Bà Chúa Kho diễn ra trong một không gian văn hoá trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau và là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hoá tâm linh, tín ngưỡng của cư dân vùng Kinh Bắc Qua dọc dài lịch sử, quá trình lịch sử hoá Bà Chúa Kho đã diễn ra và hoạt
động tín ngưỡng thờ Bà phản ánh khá đậm nét đời sống xã hội của cư dân trong vùng Tuy cũng chịu những thăng trầm của lịch sử và đã có nhiều đổi thay, nhưng những địa danh này vẫn giúp chúng ta có thể nghiên cứu và tìm hiểu ý nghĩa của việc phụng thờ này từ nguồn gốc ra đời cho đến sự vận động, phát triển và lan toả
1.2 Bước đầu nhận diện hiện tượng phụng thờ Bμ Chúa Kho
bà nhập vào chiếc khăn theo luồng gió bay lên trời, rồi hạ xuống làng Giảng Võ; linh hồn Bà sai khiến cho rắn thần ra uy hiếp giặc Nguyên Truyền thuyết
về Bà Chúa Kho ở hai nơi này được xây dựng trên nền cảm hứng ngợi ca người anh hùng giữ nước
Và như vậy, trong lịch sử đã có hai vị thần công chúa coi kho đó là:
“Công chúa giữ kho Nhà nước (Giám chưởng quốc khố công chúa) là Lý Châu Nương và Tiết liệt Anh phong Giám thương công chúa (Công chúa coi kho -
Trang 39Anh phong - Tiết liệt) là Bạch Hoa Thần tích hai công chúa coi kho tục gọi là
Bà Chúa Kho một người ở triều Trần, một người ở triều Nguyễn” [59, tr 66] Vấn đề nghiên cứu trong luận văn này là việc phụng thờ Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm Sở dĩ luận văn đề cập đến truyền thuyết về Bà Chúa Kho ở Giảng Võ, Hà Nội và ở đền Bản Tỉnh, Nam Định là vì chúng tôi muốn làm rõ nguồn gốc và công trạng của Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm Thông qua thần phả, thần tích, truyền thuyết ở làng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo, chúng tôi đi đến khẳng định: Bà Chúa Kho ở làng Quả Cảm, Cổ Mễ, Thượng Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo là một, và là nhân vật huyền thoại được lưu truyền trong dân gian, là người có công với nước với dân “được tôn thờ ở trong vùng lưu vực sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và sông Tiêu Tương xưa, trong đó trung tâm thờ tự là đền Bà Chúa Kho thuộc
khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh” [46, tr 161] Sự tích về Bà
ở các địa phương này là những truyền thuyết dân gian, chứa đựng những tình tiết không giống nhau Tuy nhiên, phần cốt lõi của truyền thuyết đều thống
nhất ở chỗ: gốc tích xuất xứ của Bà từ vùng đất này chính là làng Quả
Cảm, hiện nay tại làng còn cả lăng mộ Bà và các ngôi mộ song thân của Bà
Truyền thuyết về Bà Chúa (Bà Chúa Kho) ở làng Quả Cảm, Thượng
Đồng, Trung Đồng và Đại Tảo đã nhắc đến ngày tháng sự kiện và hành trạng nhân vật mang tính xác định, khẳng định: Bà là người quê gốc ở làng Quả Cảm, xuất thân trong một gia đình nề nếp, lấy vua đời nhà Trần ở đây, truyền thuyết hoàn toàn không nói về việc Bà coi giữ kho tàng Trong truyền thuyết cũng như trong tâm tưởng của người dân làng Quả Cảm thì Bà là một cô gái thôn quê đẹp người đẹp nết, có công lao khai khẩn đất hoang, tạo dựng làng xóm, lập nên ruộng đồng Truyền thuyết ở làng Quả Cảm, chất kỳ ảo không nhiều, duy nhất chỉ có chi tiết nói về những giấc mơ trùng lặp của song thân
Bà Chúa: về việc sinh hạ ra Bà và giấc mơ đó trở thành hiên thực Chúng tôi
Trang 40cho rằng, cốt lõi của truyền thuyết này có nhiều điểm đáng tin cậy và nó là duy nhất được ghi trong bản thần phả được lưu giữ tại đền làng Quả Cảm
Bà Chúa Kho trong truyền thuyết ở Cổ Mễ cũng là một cô gái quê ở làng Quả Cảm Tuy nhiên, những chi tiết trong truyền thuyết dân gian ở Cổ
Mễ đã kết hợp giữa tính cụ thể, xác định và tính phiếm chỉ khi nói đến việc khai dân lập ấp, giữ kho lương thảo của Bà Chúa Kho Là vợ vua, nhưng bà lại lựa chọn một nghề nghiệp bình dị “Điều này bắt nguồn từ cảm quan dân gian
về vị trí của các Bà từ nhận thức về vai trò của người phụ nữ thấm trong tâm thức người dân cả ý thức lần vỗ thức: các Bà là nội tướng” [5, tr 400] “Trong truyền thuyết, chi tiết Bà rắc trấu trôi theo dòng nước để cắm địa giới là theo mô típ dân gian Nhiều truyện về các nữ thần trong huyền thoại đều có cốt truyện này Chuyện khai dân lập ấp sử dụng tù binh Chàm hay Trung Quốc cũng thường gặp trong dã sử” [6, tr.18 - 19] Truyền thuyết đã đặt ra cho chúng ta câu hỏi, vì sao một người con gái nông thôn mà được lấy vua Lý, và
là đời vua nào? Chuyện mở đồn điền, lập kho lương rất thích hợp để gắn vào nhiều vùng có cái tên Mễ Thôn, Mễ Sở Nhưng theo cảm quan người dân, trong tín ngưỡng không yêu cầu sự phân tích khoa học như những nhà nghiên cứu khách quan Họ chấp nhận hành động vĩ đại và tôn vinh người có hành
đang tài giỏi, có công chiêu dân dựng làng lập xóm: làng Quả Cảm, Cổ Mễ,