1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc phụng thờ thánh bạch hạc tam giang tại đền đuông (xã bồ sao, huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc)

157 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nằm trong dòng văn hóa phụng thờ những người có công với dân, với nước, việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc là một minh chứng tiêu biểu cho truyền thống và đạo lý nhớ về cuội nguồn của dân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

*******&******

LƯU NGỌC THÀNH

VIỆC PHỤNG THỜ THÁNH BẠCH HẠC TAM

GIANG TẠI ĐỀN ĐUÔNG

(XÃ BỒ SAO, HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC)

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số : 60 31 70

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T S NGUYỄN XUÂN HƯƠNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LÀNG BỒ SAO, TRUYỀN THUYẾT, THẦN TÍCH

11

1.2 Thánh Bạch Hạc qua truyền thuyết, thần tích 27

Chương 2 VIỆC PHỤNG THỜ THÁNH BẠCH HẠC TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN ĐUÔNG

38

Chương 3 BẢN CHẤT CỦA VIỆC PHỤNG THỜ THÁNH BẠCH HẠC, Ý NGHĨA

CỦA VIỆC PHỤNG THỜ NGÀI TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG

Trang 3

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CNXH Chủ nghĩa Xã hội

TCN Trước Công nguyên

THĐT Tổng hợp Đồng Tháp

VHDG Văn hóa dân gian

VHDT Văn hóa dân tộc

VHNT Văn hóa Nghệ thuật

VHTT Văn hóa thông tin

VHTTCS Văn hóa Thông tin cơ sở

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam với chiều dài lịch sử vài nghìn năm dựng nước và giữ nước, trong quá trình đó, những nhân vật huyền thoại đã lập lên những công trạng để các thế hệ mai sau luôn luôn nhớ tới Bạch Hạc - người anh hùng huyền thoại, là một vị tướng tài ba và đã lập rất nhiều công trạng dưới thời đại các vua Hùng Ngài là người có công trị nạn hồng thủy tại khu vực ngã ba sông Đáy để cứu giúp cư dân trong vùng và mở mang phát triển bờ cõi Đức thánh đã trở thành một biểu tượng cao đẹp cho tinh thần kiên cường, bất khuất anh dũng trong quá trình đấu tranh chống lại thiên tai và tạo nên một dấu ấn quan trọng trong câu chuyện lịch sử ở các địa phương vùng đất Tổ Thánh Bạch Hạc đã đi vào lịch sử vùng đất này như một huyền thoại, đồng thời được người dân dọc vùng sông Hồng, qua nhiều thế

hệ ngưỡng mộ và phụng thờ Qua khảo sát và thống kê bước đầu cho thấy, thánh Bạch Hạc được thờ tại nhiều làng, tập trung chủ yếu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc Trong đó, ở di tích đền với tư cách ngài là một vị thánh gồm có: đền Đuông (huyện Vĩnh Tường), đền Đông Cao (huyện Mê Linh)…; ở di tích đình với tư cách ngài là vị thành hoàng gồm: đình làng Diệm Xuân, đình làng Lang Đài (huyện Vĩnh Tường), miếu cây Sanh (xã Văn Khê, huyện Mê Linh)…

Xuất phát từ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cùng với triết lý cao cả “sinh vi danh tướng, tử vi thần” (lúc còn sống thì làm tướng giỏi, lúc mất đi hiển thần linh) người dân Việt Nam từ bao đời nay luôn tôn thờ những người anh hùng có công với dân, với nước bằng lòng thành kính ngưỡng mộ và sự biết ơn sâu sắc Nhân dân ta đã huyền thoại hóa, lịch sử hóa, địa phương hóa, các nhân vật thờ đã trở nên linh thiêng và được xem là những phúc thần, thành hoàng trong cộng đồng các làng xã, chính điều đó đã tạo ra

Trang 5

một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc sắc: Tín ngưỡng thờ các vị thánh thần trong các khu vực, vùng, miền ở đất nước ta, tín ngưỡng thờ các vị thánh thần có công với cộng đồng các làng xã vẫn luôn chiếm vị trí thiêng liêng trong đời sống tinh thần của con người và mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc

Trong các vùng quê cùng thờ thánh Bạch Hạc, việc phụng thờ ngài ở đền Đuông, xã Bồ Sao (huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) có ý nghĩa khá đặc biệt Bởi nơi đây có ngôi đền Đuông gắn với việc thờ cúng và tưởng niệm đức thánh cũng như câu chuyện dân gian kể về công trạng của ngài Đặc biệt, lễ hội đền Đuông làng Bồ Sao chính là nơi thể hiện một cách tập trung nhất về thái

độ, tình cảm, lòng ngưỡng mộ của nhân dân dành cho vị thần của cộng đồng cư dân Việt cổ

Nằm trong dòng văn hóa phụng thờ những người có công với dân, với nước, việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc là một minh chứng tiêu biểu cho truyền thống và đạo lý nhớ về cuội nguồn của dân tộc Vì vậy, tìm hiểu việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc ở đền Đuông làng Bồ Sao không chỉ giúp chúng ta hiểu kỹ hơn đời sống tín ngưỡng ở một vùng đất, đồng thời còn góp phần vào việc tìm hiểu những biểu hiện đa dạng và phong phú của các giá trị văn hóa ẩn chứa trong dòng chảy văn hóa tín ngưỡng của hệ thống các làng xã

cổ truyền của người Việt - một hướng nghiên cứu đã và đang được đặt ra trong những năm gần đây

2 Lịch sử vấn đề

Những tập hợp và thống kê bước đầu cho thấy, có một số công trình nghiên cứu ở nước ta từ trước đến nay đã đề cập về đức thánh Bạch Hạc, cụ thể như:

2.1 Các sách đề cập đến vị thần Bạch Hạc

- “Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam” khu vực phía Bắc của

tác giả Hoàng Lương biên soạn, tại chương III, ở phần “Nhiên thần” trong

Trang 6

mục “Thần nước” (trang 69), tác giả đã đề cập đến các địa điểm thờ các nhân vật là vị thần nước đã được gọi khác đi, trang trọng hơn như: Thủy Bá đại vương hay Bạch Hạc Tam giang… Tác giả đã kết luận, đó chính là các

vị thần nước

- “Thần và người đất Việt” của Tạ Chí Đại Trường, tại chương II, mục

“Nhiên thần” (trang 33) có viết: khi nhắc đến ở đỉnh vùng lưu vực sông Hồng thời kỳ Bắc thuộc, cuốn sách có đưa ra những câu chuyện “Thổ lênh trưởng” (quan niệm Hán) phải thi đua với người khác mới được là phúc thần vùng Bạch Hạc ngã ba sông, đó là các vị thần nước, thần núi, thần cây…

- “Linh thần Việt Nam” của hai tác giả Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh

Thảo đã giới thiệu một cách khái quát nhất về hệ thống các vị thần linh được thờ

ở hầu hết các di tích trong các làng xã ở nước ta Tuy không đề cập đến địa điểm

di tích đền Đuông có thờ vị thánh này, nhưng ở trang 65 của cuốn sách, các tác giả đã giới thiệu tên các vị thần, trong đó có nói đến tên vị thánh Bạch Hạc được phối thờ cùng với Tá Bộ, Càn Tuy, Ngọc Trì đại vương hiện được thờ ở xã Trung Hậu, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Có thể nói đây là vị thần được thờ ở nhiều di tích trên địa bàn của tỉnh Phú Thọ

- Thống kê lễ hội Việt Nam, tập 2, Bộ VH, TT & DL - Cục VHTTCS thực hiện năm 2008 cho thấy: trong thống kê về các lễ hội tỉnh Phú Thọ (tr.133 - 156) có 07 di tích tổ chức lễ hội tưởng niệm thánh Bạch Hạc; tại tỉnh Vĩnh Phúc có 06 di tích tổ chức lễ hội, đặc biệt trong đó có ghi: lễ hội đền Đuông được tổ chức vào ngày 12 âm lịch (không ghi rõ tháng) Ngoài ra, tại thủ đô Hà Nội có khoảng 15 di tích tổ chức lễ hội tượng niệm ngài…

- “Địa chí văn hóa dân gian Vĩnh Phú” do Hội Văn nghệ dân gian tỉnh

Vĩnh Phú chủ biên, tại mục viết về các vị thần linh, cuốn sách đã có giới thiệu gần 02 trang về lai lịch, nguồn gốc, công trạng của đức thánh Bạch Hạc và khẳng định đức thánh có tên mỹ tục là Thạch Khanh, đó là một vị thần nước đã được lịch sử hóa thành một vị tướng dưới thời Hùng vương

Trang 7

- “Việt Nam, cái nhìn địa - văn hóa” của tác giả Trần Quốc Vượng, khi

giới thiệu về vùng đất Vĩnh Phú địa - chính trị và bản sắc địa - văn hóa, tuy tác giả không giải thích về vị thánh Bạc Hạc tam giang, nhưng ở trang 31, 50,

51, tác giả đã nói đến cụm từ “Bạch Hạc” chính là một trong những cái tên hành chính của vùng đất Tổ, cụ thể như sau:… trong bài Tày đăm Tày khao (viết chung với Cầm Trọng, Hoàng Lương, Từ Chi), tác giả đã viết: ngã ba Hạc là huyền thoại sau được ghi lại muộn màng trong Lĩnh Nam chích quái (chuyện Mộc tinh) về cây đại thụ vũ trụ, cao hơn ngàn nhận, cành lá xum xuế, không biết che rợp tới mấy ngàn dặm, lại có chim “Hạc trắng” đến đậu nên đất chỗ đó gọi là Bạch Hạc”

- “Địa chí Vĩnh Phúc” do UBND tỉnh Vĩnh Phúc chủ biên, trong mục các địa danh văn hóa thuộc vùng đất Tổ xưa, các tác giả đã giải tích khá rõ về cụm từ “ngã ba Bạch Hạc” tức là ngã ba hợp lưu của hai con sông, nơi có cồn đất, lại có chim Hạc trắng về làm tổ Vì lẽ đó mà vùng đất này được đặt tên như vậy Ở vùng đất này có thờ một vị thần nước và qua thời gian thần được gọi với cái tên là Bạch Hạc…

2.2 Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài

- Khóa luận tốt nghiệp “Di tích đình - miếu làng Đăm” của Nguyễn

Ngọc Nam thực hiện năm 2002, tại khoa Bảo tàng Trường đại học Văn hóa Hà Nội Trong khóa luận, tác giả đã miêu thuật chi tiết về di tích đình - miếu, về lễ hội làng Đăm Đặc biệt, trong mục 1.2.3 (từ trang 24 đến trang 28 ở chương 1), tác giả đã ghi chép một cách chi tiết về tiểu sử, cuộc đời và những công trạng, hành trạng của vị thần Bạc Hạc Tam giang, tác giả cho biết đức thánh chính là

vị thần có tên Thổ Lệnh - vị tướng tài dưới thời Hùng Duệ vương, ngài đã có

công đánh giặc và trị thủy trên sông Hồng để cứu giúp dân chúng

- Hồ sơ Lý lịch khoa học di tích đền Đuông do Bảo tàng tổng hợp - Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Vĩnh Phú cũ lập vào năm 1993, trong hồ sơ bao gồm

Trang 8

các nội dung liên quan đến di tích này như: đường đến di tích, không gian tồn tại của nó, niên đại đền Đuông, đặc trưng kiến trúc, điêu khắc di tích, xác định các giá trị của di tích, thống kê các di vật, có ảnh và các bản vẽ minh họa… Đặc biệt trong hồ sơ này đã có giới thiệu một cách khái lược về tiểu sử của vị thần được thờ tại di tích, đó là thánh Bạch Hạc Tam giang, ngài có tên húy là Đông Hải Long vương, ngài có công chống giặc ngoại xâm và giúp dân chống lại nạn hông thủy thời các vua Hùng Nhưng trong lý lịch khoa học này không

có tư liệu về lễ hội đền Đuông xã Bồ Sao

- Luận văn cao học “Lễ hội bơi chải truyền thống Bạch Hạc” của Trần

Thị Tuyết Mai thực hiện năm 2002, tại trường đại học Văn hóa Hà Nội Trong luận văn, tác giả giới thiệu một cách khái quát nhất về lịch sử hình thành vùng đất, các di tích lịch sử văn hóa và diễn trình của lễ hội bơi chải… Đặc biệt, tác giả đã dẫn nguồn thông tin từ các sách khi nói về hai từ “Bạch Hạc” như: ở trang 10 luận văn, tác giả đã dẫn sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết vào thời Nguyễn cho biết: Bạch Hạc là tên địa danh có từ thời Lê Quang Thuận ở vào thế kỷ XV (1460), ở trang 25 của luận văn cũng đã dẫn lời của cuốn sách trên

về sự tích của thánh Bạch Hạc và khẳng định ngài chính là thánh Thổ Lệnh Người có liên quan đến thánh Thạch Khanh và vết chân khổng lồ còn để lại trên vùng đất ngã ba sông; trong sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi có ghi cái tên Bạch Hạc xuất xứ là: “Nơi ấy có cây chiên đàn, chim Hạc trắng đậu trên cây nên gọi tên thế…”

Những tập hợp và phân tích trên đây có thể xác định được rằng, cho đến nay hiện chưa có một công trình nghiên cứu về đền Đuông và việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc ở đây

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc Tam giang tại đền Đuông xã Bồ Sao, huyện

Trang 9

Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” Qua nghiên cứu thần tích, truyền thuyết, điện

thờ, nghi lễ; đồng thời mở rộng đến các đối tượng khác cùng thờ đức thánh như:

đền, đình… trong không gian văn hóa phụ cận đền Đuông để làm tư liệu so sánh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu ở đây là tín ngưỡng, vì

vậy khuôn vấn đề ở các nội dung: Về nhân vật được phụng thờ; Điện thờ, nghi thức nghi lễ; nghiên cứu mở rộng ra một số nơi thờ ở địa phương khác Đặt việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc trong diện mạo sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng ở một số vùng lân cận (làng Lang Đài, làng Diệm Xuân…) để so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra những nét chung nhất và tìm ra cái riêng trong hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng liên quan đến vị thánh này Từ đó thấy được ý nghĩa của việc phụng thờ ngài ở khu vực Vĩnh Phúc nói chung và làng Bồ Sao nói riêng

3.2.2 Phạm vi không gian nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc ở một không gian văn hóa cụ thể là đền Đuông, xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

- Ngoài ra còn mở ra một cái nhìn rộng hơn về việc phụng thờ ngài ở phạm vi rộng lớn dọc sông Hồng, đồng thời trên cơ sở đó có thể so sánh, đối chiếu với các khu vực lân cận như: việc phụng thờ thánh Trương Hống, Trương Hát dọc ven sông Cầu; việc phụng thờ hai Bà Trưng và các bộ tướng

ven sông Hồng

3.2.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu điện thờ - quá trình hình thành đến nay

- Nghiên cứu nghi lễ: lễ hội hiện nay và có so sánh với lễ hội xưa để nhận ra sự biến đổi

Trang 10

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu không gian văn hóa xã Bồ Sao

và văn hóa tín ngưỡng phụng thờ đức thánh Bạch Hạc Tam giang tại di tích đền Đuông

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp và phân tích các tư liệu đã viết trước đây về thánh Bạch Hạc

- Nghiên cứu đặc điểm không gian văn hóa xã Bồ Sao

- Tìm hiểu và miêu thuật về nguồn gốc truyền thuyết, thần tích, điện thờ, nghi lễ trong việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc

- Mở rộng nghiên cứu đến một số nơi thờ khác để so sánh và tìm ra những đặc điểm của hiện tượng văn hóa tín ngưỡng này

5 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học như: sử liệu học, mỹ thuật học, văn hóa học, bảo tàng học, văn hóa dân gian, xã hội học…

- Sử dụng phương pháp khảo sát, điền dã: quan sát, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, tham dự, ghi âm, phỏng vấn…

- Tập hợp, hệ thống hóa những tư liệu liên quan đến đề tài để phân tích, đánh giá, so sánh và đối chiếu…

6 Những đóng góp của luận văn

- Trong phạm vi của luận văn, với sự kế thừa bước đầu đã hệ thống hóa

tư liệu về việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc từ truyền thuyết, thần tích, thần điện đến lễ hội và những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng liên quan tới đức thánh Bạch Hạc ở một di tích, một không gian văn hóa cụ thể là đền Đuông, xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 11

- Tìm hiểu việc phụng thờ đức thánh Bạch Hạc ở xã Bồ Sao không chỉ giúp chúng ta hiểu kỹ hơn đời sống tín ngưỡng ở một vùng đất mà còn góp phần vào việc tìm hiểu những biểu hiện đa dạng và phong phú của các giá trị văn

hóa vật chất ẩn chứa trong “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng của người Việt” -

một hướng nghiên cứu mới đã và đang được đặt ra trong những năm gần đây

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đấu (08 trang), Kết luận (06 trang), Tài liệu tham khảo (05 trang), Phụ lục (34 trang), luận văn được chia làm 03 chương như sau:

Chương 1: Thánh Bạch Hạc trong không gian văn hóa làng Bồ Sao, truyền

thuyết, thần tích (27 trang)

Chương 2: Việc phụng thờ thánh Bạch Hạc tại di tích và lễ hội đền Đuông

(38 trang)

Chương 3: Bản chất của việc phụng thờ thánh Bạch Hạc, ý nghĩa của việc

phụng thờ ngài trong đời sống cộng đồng (37 trang)

Trang 12

Chương 1 THÁNH BẠCH HẠC TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG

BỒ SAO, TRUYỀN THUYẾT, THẦN TÍCH

1.1 KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG BỒ SAO

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Bồ Sao là một trong số các làng cổ của huyện Vĩnh Tường, phủ Tam

Đái xưa, theo tư liệu khảo cổ học trên vùng đất huyện Vĩnh Tường hiện nay cho biết, làng Bồ Sao và các làng quanh đó được hình thành từ TCN Thời Lý

- Trần, Bồ Sao là vùng đất trù phú của phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây và mang đặc điểm “Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ”

Ngày nay, làng Bồ Sao thuộc địa phận xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Làng nằm về phía Tây Bắc của huyện Vĩnh Tường, cạnh đường quốc lộ 2 (Hà Nội - Lào Cai), có chợ cổ với tên Nôm là Bầu, cách trung tâm thành phố Vĩnh Yên khoảng 25 km Từ Hà Nội, đi lên phía Tây Bắc theo quốc lộ 2, qua đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài, rồi rẽ phải vào quốc lộ 2 qua thị xã Phúc Yên và các huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, thành phố Vĩnh Yên Từ thành phố Vĩnh Yên chạy dọc theo quốc lộ 2 khoảng 25 km

là tới chợ Bồ Sao - địa phận xã Bồ Sao (nằm ở hai bên đường quốc lộ 2)

Bồ Sao nằm ở tả ngạn sông Đáy, một nhánh của dòng sông Hồng là một trong các địa danh quần cư sớm nhất thuộc vùng đất của huyện Phong Châu xưa Chính vì vậy, khi nhắc đến Bồ Sao là nói đến một vùng đất cổ trù phú

với cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền Làng nằm ở phía Tây Bắc của huyện

Vĩnh Tường, phía Đông giáp xã Lũng Hòa, phía Tây giáp thôn Mộ Hạ và Lang Đài thuộc phường Bạch Hạc (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), phía Nam giáp xã Cao Đại, phía Bắc giáp xã Việt Xuân (huyện Hoài Đức)

Trang 13

Bồ Sao nằm ven sông Đáy (xưa gọi là sông Phó Đáy), tọa lạc trên doi đất cao Theo nguồn tư liệu trong sách địa chí Vĩnh phúc, phần địa hình địa mạo cho biết, đất đai của Bồ Sao thuộc loại đất đồi trước núi và đất phù sa cổ cạnh sông, rất phù hợp cho việc phát triển lâm - nông nghiệp

Về mặt khí hậu, cũng như bao làng quê khác ở châu thổ Bắc Bộ, khí hậu của Bồ Sao mang tính chất nóng, ẩm Nhiệt độ về mùa hạ tương đối cao do ảnh hưởng của gió Tây Nam.Về mùa đông, gió mùa Đông Bắc làm cho nhiệt

độ giảm xuống đáng kể Làng nằm trong khu vực có lượng mưa vừa phải của tỉnh Vĩnh Phúc trung bình khoảng 1600 mm/năm

Với địa thế cao và bằng phẳng, phía trước có sông lớn, phía sau có đồi cao, cùng với khí hậu ôn hòa, Bồ Sao là một trong những vùng đất đẹp mang trong mình những điều kiện thuận lợi cho việc cư dân quần tụ ở nơi đây Từ

đó tạo đà cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương trong các giai đoạn lịch sử sau này

1.1.2 Tên gọi và lịch sử hình thành làng

lắm hạt”, có thời kỳ còn gọi là “Bầu Sao” (裒秒) với hàm nghĩa chỉ việc tập hợp nhiều bông lúa tốt lại với nhau Ngày nay, tên Bồ Sao vừa là tên làng vừa

là tên xã, mà trước cách mạng tháng Tám được gọi là “Nhất làng nhất Tổng” Trong các thời kỳ lịch sử từ thời Hùng Vương cho đến nay, địa vực của làng

Bồ Sao vẫn thuộc vùng đất Vĩnh Tường [38, tr.18]

Thời đại Hùng vương, nước ta có quốc hiệu là “Văn Lang”, gồm 15

bộ, trong đó bộ Văn Lang nằm ở khu vực hợp lưu của ba con sông: Sông Thao, sông Đà và sông Lô Lãnh thổ trải rộng ra hai bên sông Hồng từ dãy

Ba Vì sang dãy núi Tam Đảo, lúc này làng Bồ Sao thuộc địa hạt của vùng đất Phong Châu

Trang 14

Bước sang tời đại nhà nước Âu Lạc, bộ Văn Lang bị thu hẹp một phần

ở phía Bắc và Đông Bắc, chỉ còn lại vùng đất với tên gọi thổ ngữ là “M’ring” hay “M’linh” và sau gọi là Mi Linh hay Mê Linh (tương đương với địa phận tỉnh Vĩnh Phúc và Sơn Tây ngày nay) Thời kỳ này, làng Bồ Sao nằm trong địa hạt Phong Châu thuộc địa danh Mê Linh [38, tr.18]

Từ năm 111 TCN đến 243 SCN, nước ta dưới sự đô hộ của nhà Hán và chia làm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Lúc này, dưới quận là đơn

vị cấp huyện và làng Bồ Sao vẫn trực thuộc huyện Mê Linh

Thời kỳ Tam Quốc và thời Lưỡng Tần (TK III - TK V), làng Bồ Sao nằm trong địa phận huyện Gia Ninh thuộc quận Tân Xương Sang thời nhà Tùy (TK VI), làng Bồ Sao thuộc địa phần giáp danh của hai huyện Gia Ninh

và Tân Xương

Năm 621, nhà Đường thay nhà Tùy, chế độ cai trị cũng có sự thay đổi thành các châu, quận Lúc này, khu vực Bồ Sao thuộc địa phận huyện Gia Ninh, Phong Châu Thừa Hóa quận (gọi tắt là Phong Châu)

Thời kỳ Thập nhị sứ quân (994-967), các thế lực phong kiến địa phương mỗi người cát cứ một nơi: Kiều Công Hãn chiếm giữ vùng Phong Châu (Bạch Hạc Việt Trì đổ ngược); Nguyễn Khoan chiếm giữ miền Tam Đái (Vĩnh Tường - Yên Lạc) Giai đoạn này, làng Bồ Sao thuộc huyện Vĩnh Tường, phủ Tam Đái (Đới)

Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng chia nước ta làm 10 đạo và làng

Bồ Sao thuộc đạo Sơn Tây Đến nhà Tiền Lê đổi đơn vị hành chính từ đạo sang lộ và lúc này Bồ Sao vẫn thuộc vùng đất Sơn Tây

Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, làng Bồ Sao thuộc huyện Vĩnh Tường, châu Tam Đái, lộ Đông Đô Sang thời Hậu Lê, Bồ Sao thuộc huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây

Trang 15

Trước năm 1822, niên hiệu Minh Mệnh, Bồ Sao thuộc huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái sau đổi thành phủ Vĩnh Tường Năm 1899, thành lập tỉnh Vĩnh Yên, nhưng phủ Vĩnh Tường vẫn là đơn vị hành chính độc lập trong đó

có huyện Bạch Hạc (làng Bồ Sao) Đến năm 1907, xóa bỏ huyện Bạch Hạc, lúc này Bồ Sao vẫn thuộc tổng Mộ Chu, phủ Vĩnh Tường

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Bồ Sao là một thôn của

xã Bộ Lĩnh (1945-1950), sau đổi thành xã Trưng Trắc (1950-1957) Năm

1958, thành lập xã Bồ Sao gồm có ba thôn Bồ Sao, Lang Đài, Mộ Chu Hạ Năm 1965, làng Bồ Sao tách riêng để thành lập xã Bồ Sao thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên Đến năm 1968, Bồ Sao thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phú (khi hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ) Năm 1977, sát nhập thôn Lang Đài, thôn Mộ Chu Hạ của xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường vào thành phố Việt Trì và lúc này làng Bồ Sao trở thành một xã riêng lẻ trực thuộc huyện Vĩnh Tường Từ sau năm 1977 đến nay, làng Bồ Sao vẫn thuộc huyện Vĩnh Tường và không có sự thay đổi về mặt hành chính cũng như địa vực

1.1.3 Đặc điểm dân cư

Cho đến nay, theo một số tài liệu cho biết, cư dân Việt cổ đã sống quần

cư ở vùng Bồ Sao vào thời kỳ dựng nước Điều này được minh chứng bằng việc các nhà khảo cổ học đã tìm ra di chỉ khảo cổ tại Lũng Hòa (cách Bồ Sao khoảng trên 5km về phía Hà Nội) có niên đại khoảng 3.500 năm, lúc này người Việt cổ đã biết làm nông nghiệp trồng cây lúa nước Bên cạnh nghề nông, thủ công nghiệp đã đóng vai trò quan trọng với các nghề làm đá, làm gốm, làm đồ xương, dệt vải, đan lát và đặc biệt là luyện đồng Vào thời kỳ thuộc Hán, cư dân Bồ Sao đã sinh sống cùng với cư dân Hán, điều này đã được chứng minh qua việc phát hiện ra một số ngôi mộ cổ của người Hán trên địa phận của làng và các khu vực lân cận như Hòa Loan, Thổ Tang… Bước vào thời kỳ độc lập tự chủ (thế kỷ X trở đi), số lượng cư dân địa phương ngày càng phát triển mạnh mẽ

Trang 16

Theo các cụ cao niên trong làng cho biết, từ xưa đến nay làng Bồ Sao có những dòng họ gốc như: Nguyễn, Đỗ, Lê, Vương Văn, Đinh Văn Các dòng

họ trên lại được chia thành nhiều chi (nhánh) khác nhau như: họ Nguyễn chia thành Nguyễn Duy, Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu; họ Lê tách thành Lê Văn và Lê Thế… Trong số các dòng họ nêu trên, dòng họ Nguyễn chiếm số lượng lớn (khoảng 700 đinh), dòng họ Vương Văn ít nhân khẩu nhất (chỉ có khoảng 100 đinh).Tuy nhiên đây lại là một trong 3 dòng họ (Nguyễn, Đỗ, Vương Văn) có

mặt sớm nhất ở làng Bồ Sao Theo Tiền Hán thư cho biết, TCN dân số Bắc Bộ

có gần 800 ngàn người, như vậy dân số Bồ Sao lúc này chỉ có khoảng một vài trăm người sống tập trung trên các gò đồi cao trong các xóm như: xóm Đồi, xóm Chùa, xóm Đình, mỗi xóm đều cử người trông nom đêm ngày gọi là phiên xóm; chế độ này còn giữ được cho đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945

Theo cuốn Địa chí Vĩnh Phúc (Sơ khảo) cho biết, đến thế kỷ XVII - XVIII, cư

dân huyện Vĩnh Tường, cư dân đã sinh sống theo kiểu “Mật tập” với số lượng lớn, tạo nên sự đông đúc sầm uất không kém gì miền xuôi Điều này đã được dân gian tổng kết thành câu ca “Nhất Tam Đái, nhì Khoái Châu”, mà Bồ Sao là một trong những đơn vị làng nằm ở trung tâm của phủ Tam Đái xưa

Sang thế kỷ XIX, làng Bồ Sao cũng như các làng quê khác ở Bắc Bộ đều

có sự xuất hiện của các dòng họ mới Cụ thể, làng Bồ Sao tiếp nhận thêm một chi (từ dưới xuôi lên làm ăn sinh sống) xin vào họ Nguyễn thông qua việc kết nghĩa anh em Đặc biệt tại thời điểm này, trong làng xuất hiện tổ chức giáo họ được tách ra từ họ Nguyễn Những người thuộc giáo họ ở làng Bồ Sao đã sinh

cơ lập nghiệp, con cháu đông đàn (hiện nay đã có đến gần 50 hộ gia đình thuộc xóm Đình), làng sắp xếp họ vào tổ chức giáp để lo các công việc của làng, đồng thời tạo ra mối quan hệ Lương - Giáo đồng hòa, ổn định làng xóm Đồng thời, người dân trong làng giúp đỡ giáo họ xây dựng nhà thờ với quy

mô nhỏ Sau năm 1930, Toà thánh Vĩnh Yên giúp đỡ giáo họ xây dựng nhà thờ như ngày nay

Trang 17

Ngoài ra, sau cải cách ruộng đất còn có thêm họ Phan Văn Cùng với quá trình phát triển, trong làng đã xuất hiện thêm nhiều tên họ mới như: họ Trần

họ Lê từ nơi khác đến định cư tại làng (chủ yếu là đến làm kinh tế) Có thể nói, tổ chức họ là cái nôi nuôi dưỡng các cá nhân từ lúc sinh ra và lớn lên để

họ biết được nguồn gốc và trách nhiệm đối với họ tộc Hàng năm, cứ đến ngày giỗ Tổ của các dòng họ, các thành viên dù ở xa cũng về dự lễ giỗ Tổ, họ cùng nhau gặp mặt trước là thực hành các nghi thức, nghi lễ sau là trò chuyện

và cùng dùng chung bữa cơm thân mật mang tính cố kết Trải qua các giai đoạn lịch sử, 07 dòng họ lớn đã cùng nhau chung vai sát cánh, xây dựng quê hương, cùng nhau khai phá vùng đất đồi gò, thùng vũng, chống chọi với hạn hán, bão lụt, đắp bờ, giữ cõi để tạo nên vùng đất ruộng canh tác có diện tích rộng lên tới hàng trăm ha Các dòng họ cùng nhau giao hảo bằng nhiều hình thức như: cưới xin, nhận kết nghĩa… từ đó tạo thành các mối quan hệ chằng chịt và mang tính bền vững cao trong cộng đồng làng Có thể nói, mỗi dòng

họ là một đơn vị xã hội bất biến với những nét bản sắc riêng trong truyền thống dòng tộc, chính những điều này đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy và tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế, văn hóa của làng Đặc biệt mối quan hệ huyết thống này đã tạo nên sức mạnh gắn kết chặt chẽ, tinh thần đoàn kết cao giữa những người trong cùng một dòng họ và giữa những người dân trong làng

Các dòng họ ở làng Bồ Sao được phân bố vào bốn giáp: giáp Nhất, giáp Nhị, giáp Tam, giáp Tứ Trong đó, giáp Nhất có số lượng đinh nhiều nhất và giáp Tứ do được tách ra từ giáp Nhất nên số lượng đinh ít nhất trong bốn giáp

Tứ giáp ở Bồ Sao lại được chia thành hai phe: Đông và Đoài Việc phân chia thành hai phe như trên dựa vào vị trí của đền Đuông Tứ giáp ở Bồ Sao trước đây đều có nhà thờ Tổ riêng, có ruộng canh tác để phục vụ cho những ngày giỗ tết Nhưng từ sau năm 1945, chế độ giáp không còn nữa và thay vào đó là dòng họ, nhà thờ phần thì bị phá bỏ, phần thì do chính quyền địa phương sử

Trang 18

dụng làm văn phòng Ngày nay, kinh phí để tổ chức các việc của làng như tết nhất, hội hè đều dựa vào các dòng họ trong làng đóng góp

Hiện nay, theo báo cáo của UBND xã Bồ Sao cho biết, làng Bồ Sao có trên 300 hộ dân với khoảng 1.000 nhân khẩu Cư dân sinh sống chủ yếu ở đây

là người bản địa (sống từ 5 - 7 đời trở lên) và nhiều người từ nơi khác đến nhập cư, xây dựng cuộc sống ở nơi đây Họ cùng nhau chung sống, góp phần tạo dựng thành một làng trù phú với số lượng dân cư đông đúc cùng nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau

1.1.4 Đời sống kinh tế

  Bồ Sao là một xã thuần nông, có diện tích nông nghiệp khoảng trên

100ha Địa hình tuy cao, song tương đối bằng phẳng, xen kẽ là các ao hồ, đầm nước lớn Từ xưa đến nay, kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của địa phương, trong đó chủ yếu là trồng lúa nước, hoa màu và chăn nuôi một số gia súc, gia cầm Theo cụ Nguyễn Hữu Bổ, 92 tuổi, người làng Bồ Sao cho biết: Trước năm 1945, ở làng canh tác cây lúa 02 vụ/năm, song năng xuất chưa cao, vào vụ Đông có trồng rau, dưa, đậu, mía Công việc đồng áng của dân thường làm theo mùa vụ, điển hình như mùa Hạ, tháng

Chạp gieo mạ, tháng Giêng cấy lúa, đến tháng Tư, Năm thì thu hoạch Sản

xuất nông nghiệp chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, sản xuất manh mún mang tính thủ công, phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên việc canh tác mất rất nhiều công sức và tiền của Vào thời kỳ này, để cải thiện cuộc sống, một bộ phận dân cư nhờ đường thuỷ thuận lợi nên họ đi lên các vùng Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ mang các sản vật xuống vùng xuôi trao đổi buôn bán

Trước cách mạng tháng Tám, cuộc sống của người dân nơi đây bị nhiều tầng áp bức bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến Với tô thuế nặng nề nên mặc dù quanh năm suốt tháng “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng cuộc sống của người nông dân vẫn cùng cực, đói rách, có đến trên 90% dân số không biết chữ [57, tr.60]

Trang 19

Sau cách mạng tháng Tám, cuộc sống của người nông dân nơi đây có nhiều đổi thay lớn lao, người dân đều phấn chấn tin và đi theo cách mạng Sau bao nhiêu năm sống trong chế độ phong kiến hà khắc, cuộc sống lâm vào tình cảnh túng quẫn, cùng cực, đến nay họ được tự do sống trong một chế độ xã hội mới, được học hành, cuộc sống được cải thiện dần và có những thay đổi đáng kể so với trước

Năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng đi lên xây dựng CNXH, sản xuất nông nghiệp đã bước đầu ứng dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất tập trung quy mô lớn, thuỷ lợi phát triển nên nhiều diện tích đất bỏ hoang trước đây đã được đưa vào canh tác 2 vụ lúa/năm Nhờ những điều kiện trên đã làm cho năng suất lúa tăng lên Ngoài sản xuất lúa, nhân dân còn tận dụng các ao

hồ, đầm nước để cải thiện sinh hoạt

Ngày nay, trong sự nghiệp CHN-HĐH đất nước, nhờ điện khí hoá nền kinh tế, áp dụng các thành tựu KHKT, công tác khuyến nông của địa phương được bảo đảm Vì vậy, năng suất lao động được nâng cao, canh tác lúa có thể tiến hành 2 vụ/năm, với năng suất lúa có thể đạt từ 2 tạ - 2,5 tạ/1sào Bắc Bộ

Cơ cấu cây trồng cũng được thay đổi cho thích ứng với nhu cầu của thị trường, canh tác các loại cây hoa màu cũng mang lại thu nhập khá cho người lao động [58, tr.5]

Ngoài sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề công nghiệp cơ khí, dịch vụ

đã từng bước phát triển đem lại nhiều việc làm và thu nhập khá cho người dân Nhờ vậy, đời sống nhân dân ngày một nâng cao, nhà cửa khang trang, tỷ

lệ những ngôi nhà ngói còn ít mà thay thế bằng các nhà cao tầng, nhất là ở khu vực mặt đường quốc lộ 2 (khoảng trên 100 gia đình có nhà từ 3 tầng trở lên) Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm đều được đảm bảo, đường làng ngõ xóm đã được bê tông hoá, nhiều cửa hàng, cửa hiệu thực phẩm, quán ăn, may mặc, điện tử, cây xăng, các dịch vụ giải trí được

Trang 20

mở ra ở hai bờn đường quốc lộ 2 Đến nay, 100% gia đỡnh đều mua sắm cỏc

đồ dựng thiết yếu phục vụ sinh hoạt hàng ngày như: xe mỏy, tivi, nước sạch ;

xó đó phổ cập xong cấp THCS Ngày nay, diện mạo quờ hương Bồ Sao cú nhiều khởi sắc, với sự lónh đạo của Đảng và Nhà nước, chớnh quyền và nhõn dõn xó Bồ Sao đang cố gắng vươn lờn xõy dựng và phỏt triển quờ hương giàu mạnh trong thời gian tới

1.1.5 Đời sống văn húa xó hội

* Phong tục tập quỏn

- Lệ làng: Trước năm 1945, ở làng Bồ Sao cũn giữ được nhiều tập tục cổ

truyền như: Lệ vào làng, lệ mua nhiờu và tư văn, lệ khao vọng Những tập quỏn này đó tạo nờn nột văn húa đặc trưng của một làng quờ cú bề dày về

truyền thống lịch sử

+ Lệ vào giỏp: đối với người con trai khi bước sang tuổi 13 thỡ phải làm thủ tục "vào giỏp", đú là việc đúng gúp theo nghĩa vụ và gánh vác cỏc cụng việc mà làng giao cho Những gia đình có trai đinh theo lệ vào giỏp phải chuẩn bị lễ vật gồm: một con lợn 30kg, trầu cau, hoa quả mang ra đình để lễ thành hoàng làng và làm thủ tục trình với làng xã

+ Lệ mua Nhiêu và Tư văn: Con trai từ 18 tuổi trở lên thì được mua Nhiêu Người đã mua Nhiêu thì được chính quyền phong kiến miễn cho các việc như: phu phen, tạp dịch, lính tráng Người từ 25 tuổi trở lên khi đã mua Nhiêu thì

có thể mua Tư văn Người mua Tư văn được vào hội Tư văn, được đi tế, được ra

đình dự các tuần tiết, nghi thức nghi lễ và được quyền tham gia việc làng… giá của một lần mua Nhiêu là 10 quan tiền, mua Tư văn là 15 quan tiền Theo lệ làng, khi một người mua cả hai chức nói trên thì phải tổ chức cỗ bàn để khao các quan viên hàng tổng và khao làng trong thời gian 1 ngày

+ Lệ khao vọng: Cũng giống như các làng quê khác ở huyện Vĩnh Tường nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, làng Bồ Sao có nhiều lệ khao làng như:

Trang 21

khao chức dịch (Trúng các chức vụ: Lý trưởng, Chánh tổng hoặc thăng quan, tiến chức từ cấp huyện trở lên), khao đỗ đạt, khao lên lão

* Việc cưới hỏi: Đây là một trong những thời điểm quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành trong vòng đời của mỗi con người Thời xưa, ở làng Bồ Sao

cũng như các làng quê khác, việc dựng vợ, gả chồng đều do cha mẹ chọn lựa và quyết định Khi đến tuổi kết hôn, cha mẹ cô gái thường dựa vào nguyên tắc “lấy chồng kén giống”, còn là con trai thì “lấy vợ kén tông”, họ lựa chọn sao cho môn đăng hộ đối, nghĩa là hai bên thông gia phải cân đối về: tuổi tác, địa vị, kinh tế Song nguyên tắc kén chọn ở đây chỉ mang tính tương đối mà thôi

Ngày xưa, đám cưới ở làng Bồ Sao khá đơn giản, Đối với những nhà giàu có, nhà gái thách cưới gồm: 40kg thịt lợn (tương đương bằng một con lợn sống), 40 kg gạo, 05 lít rượu, hoa quả, trầu cau Đối với những gia đình nghèo, nhà gái chỉ yêu cầu nhà trai sắm một mâm lễ nhỏ với các thứ như: thịt lơn, gạo nếp, gạo tẻ, rượu, trầu câu, hoa quả Lễ cưới được tổ chức theo các bước: Dạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới, lễ cưới, lại mặt Lệ cưới này được quy định thành hai mức rất rõ trong hương ước của làng Ngoài ra, trong đám rước dâu, khi nhà trai trên đường rước dâu về gần tới nhà sẽ gặp một dám tiểu đồng (khoảng 5 đến 7 đứa trẻ khoảng trên dưới 7 tuổi) chăng sợi dây làm bằng bẹ cây chuối ngang qua đường và hát bài đồng dao chúc mừng cô dâu chú rể để xin tiền nì xì cầu may Theo các cụ cao niên trong làng cho biết, đến năm

1940, làng bắt đầu bỏ dần lệ thách cưới và sau năm 1945 thì chấm dứt hẳn

Ngày nay, cùng với việc thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội đã có nhiều thay đổi Trong việc cưới, tục lệ ăn hỏi không còn rườm rà và cỗ bàn được mở theo điều kiện của từng gia đình Trong xu thế phát triển như hiện nay, việc tổ chức đám cưới có sự biến đổi về thời gian, vật chất và cách thức tổ chức: Về thời gian, thường hai gia đình cô dâu và chú rể thống nhất với nhau để ghép ngày ăn hỏi vào hôm trước ngày cưới để tiết kiệm thời gian và kinh tế ; về vật chất, do thời gian được rút ngắn nên không tốn

Trang 22

kém tiền của cho việc tổ chức lễ thành hôn; về cách thức tổ chức, trước đây lễ cưới phải trải qua các bước: dạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới, lễ cưới và lại mặt Hiện nay, do thời gian được rút ngắn nên chỉ còn lại ba bước: Dạm ngõ, xin cưới và

tổ chức lễ thành hôn Đây chính là những yếu tố làm biến đổi lễ cưới ở một làng quê người Việt nói chung và ở Bồ Sao nói riêng Song kết hôn vẫn đảm bảo đúng Luật Hôn nhân và Gia đình, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không có tình trạng cưỡng ép, cản trở trong việc hôn thú hoặc tảo hụn Trong một số năm gần đây, UBND xã Bồ Sao đã đưa ra quy định: nếu gia đình nào cam kết thực hiện việc cưới theo nếp sống mới thì sẽ nhận được 7 triệu VNĐ của chính quyền địa phương Hiện nay, việc cưới xin ở làng Bồ Sao đã dần đi vào nếp văn minh, lịch sự và thực hành tiết kiệm

*Tang ma: Đối với mỗi một con người, tang ma là thời điểm khép kín nghi

thức vòng đời ở làng Bồ Sao hiện nay, khi có người mất, nhà chủ báo cho lãnh

đạo thôn, ông trưởng thôn có trách nhiệm đi báo cho các tổ chức đoàn thể và toàn dân được biết để đến chia buồn Đồng thời, gia đình có người mất, cử người đi mời thầy cúng trong hoặc ngoài thôn xem giúp giờ khâm niệm, nhập quan và giờ

đưa ma ra khỏi nhà Đối với người có tuổi, giờ nhập quan cho người quá cố thường được tiến hành từ 1h-2h chiều ngày hôm trước, rồi để linh cữu qua một

đêm và đến sau 8h sáng ngày hôm sau bắt đầu tiến hành nghi thức đưa tang Đối với người chết trẻ, việc khâm niệm, nhập quan và đưa tang được tổ chức trong một ngày Đối với người chết ở ngoài đường, nhất là người ít tuổi bị tại nạn thì không được mang linh cữu về nhà mà phải đưa ra nhà quản trang để tổ chức lễ tang Xưa kia việc tang ma trong làng Bồ Sao diễn ra theo một cách thức với nhiều nghi lễ khác nhau

- Lễ Nhập quan được tổ chức từ 1 đến 2h chiều hôm trước Nghi lễ này được

ông thầy cúng phát lệnh đánh một hồi trống cái xin lệ làng cho linh cữu được nhập quan

Trang 23

- Lễ tế Phát phục, đó là việc phát khăn tang và đồ đám được tiến hành ngay

sau khi làm lễ Nhập quan, ông trưởng họ phát quần áo tang, phát khăn tang cho những người trong họ tộc

- Lễ Chuyển cữu được tổ chức vào 12h đêm ngày hôm trước (24 giờ theo

giờ Tây) vào chính giờ chuyển giao ngày cũ và ngày mới Ông thầy cúng đọc bài khấn chuyển cữu, sau đó cử người vào chuyển cữu Theo quy định khi chuyển cữu, nếu người chết là đàn ông thì phải quay 7 vòng quanh nhà nếu là nữ giới thì quay 9 vòng, khi chuyển cữu xong, các cụ bà đọc kinh niệm Phật để cầu cho linh hồn người đã khuất siêu thoát

- Lễ đưa tang, được tổ chức vào buổi sáng ngày hôm sau, những người thân trong gia đình cùng làng xóm láng giềng đưa linh cữu lên kiệu đòn khiêng và đưa linh cữu về nơi an nghỉ cuối cùng

- Lễ Tam kỳ lộ, khi đến các ngã ba đường, ông thầy cúng ra hiệu cho đoàn

đưa ma dừng lại và tiến hành cúng lễ Mục đích của việc hành lễ là để cho linh hồn người đã khuất có thể siêu thoát và nhớ đường về gia đình

- Lễ Hạ huyệt, hay còn gọi là lễ chôn cất người quá cố, được tiến hành từ khi hạ quan tài xuống huyệt cho tới khi đắp xong nấm mồ mà dân gian thường gọi là “mồ yên mả đẹp”

Hiện nay, những nghi thức trên vẫn còn được bao lưu, song nội dung và cách thức tiến hành đã có phần giản lược để việc tổ chức lễ tang ma tiết kiệm,

đơn giản và gọn nhẹ

* Về tôn giáo, tín ngưỡng

+ Tôn giáo: Hiện nay, khoảng 92% người dân trong làng Bồ Sao theo

đạo Phật, còn lại 8% người dân theo đạo Công Giáo Hiện nay, trong làng có 1 ngôi chùa và 1 nhà thờ Công giáo:

1/Chùa Bồ Sao hay còn gọi là Thiên Phúc tự: ngôi chùa này nằm ở vị trí

cách đền Đuông khoảng 300m, cách vị trí của đình làng xưa khoảng 100m Ngôi

Trang 24

chùa được làm theo kiểu chữ đinh và được tu bổ, tôn tạo lại vào năm 2008 Tuy

là công trình kiến trúc mới được xây dựng lại, song ngôi chùa đã có lịch sử hàng vài trăm năm, điều này căn cứ vào các tư liệu thành văn còn lưu giữ tại ngôi chùa này Hiện nay, trong chùa hiện còn bảo lưu được nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị như: hệ thống tượng Phật cùng các đồ thờ tự khác có niên đại vào cuối thời Nguyễn (đầu thế kỷ XX) Về giá trị phi vật thể, chùa Bồ Sao chính là không gian thiêng để cộng đồng cư dân trong làng thực hành các nghi thức, nghi lễ của đạo Phật Điều này được biểu hiện qua các hoạt động như:

- Vào ngày 01 Tết Nguyờn đỏn, cỏc cụ cao niờn trong làng ra chựa thắp hương, xin lộc cầu phỳc cho một năm mới Sau đú, mỗi người cụng đức một

ớt tiền cho chựa để làm lễ đầu năm Từ ngày 15 thỏng Giờng trở ra, cứ vài ba

hộ lại chung nhau xin một lỏ sớ giải hạn ở chựa rồi cựng dõng hương cầu mỏt, làm lễ cầu yờn cho gia đỡnh trong năm mới

- Vào ngày mồng một và ngày rằm nhõn dõn trong làng đều ra chựa thắp hương cầu Phật Trong năm, đặc biệt là ngày rằm, mồng một, cỏc sư tăng trong chựa thu hỏi hoa quả chớn trong vườn chựa, mựa nào thức ấy để thắp hương cầu Phật, sau đú hạ lễ và ban lộc cho con em cỏc gia đỡnh sinh sống quanh ngụi chựa

- Vào ngày lễ Vu Lan Rằm thỏng Bảy (dõn gian cũn gọi là ngày xỏ tội vong nhõn), nhà chựa cũng làm lễ cỳng chỏo bố thớ cho cỏc oan hồn, ma đúi

về ăn mày cửa Phật Cỏc sư trong chựa và con quy (người phụ nữ đến tuổi 49

- 50 tuổi phải đi quy cửa Phật ) đọc kinh niệm Phật cầu mong cho cỏc oan hồn được siờu thoỏt

Trong làng, cỏc bà, cỏc mẹ từ 45 - 50 tuổi trở lờn đều ra quy tại chựa Hàng thỏng vào tuần Rằm, mồng Một phải ra chựa dọn dẹp, thắp hương niệm Phật Để được đi quy phải xin điệp ở chựa, hàng ngày sống giản dị, tiết kiệm, buổi tối niệm Phật tại gia trước khi đi ngủ để tõm trong sạch Trước kia,

Trang 25

những người đi quy có nghĩa vụ mỗi năm một hoặc hai lần khi nhà chùa giáo hoá thì phải đi cày, cấy, gặt hái cho nhà chùa Ngày nay, nhà chùa không còn ruộng đất nên một số quy định nói trên không còn được thực hiện

2/Nhà thờ công giáo: Như chúng tôi đã nói ở trên, đến thế kỷ XX, Bồ

Sao có thêm một họ giáo Những năm 1930 - 1931 được sự giúp đỡ của Toà

thánh Vĩnh Phúc , nhà thờ được xây dựng Nhà thờ Thiên chúa giáo nằm ở vị

trí xóm đình giữa làng, nhà thờ được khởi công xây dựng vào năm 1934, trải qua một thời gian dài, đến năm 2004, kiến trúc của nhà thờ mới được tu sửa

lớn, phía trước có gác chuông cao khoảng 25m Về không gian cảnh quan, nhà thờ được xây trên một gò đất cao, xung quanh trồng các cây xanh lâu niên tạo ra sự hài hòa trong không gian và môi trường của nhà thờ Về kiến trúc nhà thờ, đây là ngôi nhà được làm với quy mô lớn, phía ngoài trang trí các hoa văn khá cầu kỳ vừa mang yếu tố nội sinh truyền thống lại vừa mang yếu

tố ngoại nhập Phía trong nhà thờ được chia thành hai không gian: không gian thiêng - thánh đường được bài trí trang trọng, đó là nơi đặt tượng thờ và cây thánh giá - biểu tượng của đạo Công giáo; không gian dành để các giáo dân đọc kinh, hát thánh ca và xưng tội trước đức Chúa Trên các bức tường trong không gian nhà thờ có treo và vẽ các bức tranh theo một chủ đề diễn tả cuộc đời sinh ra, lớn lên và đi truyền giáo của Chúa Giesu

Về nguồn gốc của việc truyền đạo vào làng Bồ Sao, theo vị linh mục Nguyễn Khánh Đạo trụ trì nhà thờ cho biết, từ năm 1920, ở Bồ Sao bắt đầu có người đi theo đạo Công giáo, con đường truyền đạo được tiến hành qua việc hôn thú giữa người Công giáo với người không theo đạo Điều này được đánh dấu bằng việc, vào năm 1920, có một người họ Nguyễn ở làng lấy vợ là người Công giáo ở Việt Xuân Sau đó, cùng với quá trình truyền đạo, ở Bồ Sao đã

có một họ đạo là họ Nguyễn Sau này có thêm họ Đỗ theo đạo Công giáo, với

Trang 26

lý do người con trai họ Đỗ lấy vợ họ Nguyễn nên đạo Công giáo đã bước đầu được họ Đỗ chấp thuận

Nhà thờ Bồ Sao do Ban hành giáo, ông trùm và các vị chức sắc họ đạo trông nom Đây là nơi sinh hoạt tôn giáo, nơi thực hiện các nghi lễ tôn giáo của một bộ phận người dân của làng theo đạo Thiên chúa

Hiện nay, tại làng Bồ Sao có khoảng 30 hộ gia đình trong làng theo đạo Thiên chúa giáo Toàn bộ các hộ gia đình này sống tập trung tại xóm Đình của làng Vào những ngày cuối tuần, lễ thành hôn và nhất là dịp lễ Giáng sinh, các gia đình theo đạo Công giáo lại đến nhà thờ để rửa tội, đọc kinh, tâm niệm những điều răn của đức Chúa để sống “tốt đời đẹp đạo”

+ Tín ngưỡng

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Cũng như các làng quê truyền thống của

người Việt, người dân Bồ Sao (trong đó người theo đạo Công giáo) đều thờ cúng tổ tiên Đối với đại bộ phận người dân Bồ Sao (trừ người theo đạo Công giáo) còn tôn thờ các vị thần linh có công với làng với dân với nước

Trong lịch sử của dân tộc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những tín ngưỡng dân gian có lịch sử lâu đời, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Việc lập bàn thờ tổ tiên mang một ý nghĩa nhân văn và thể hiện đạo lý cao đẹp của người Việt “uống nước nhớ nguồn”,

“ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay quan niệm con người có tổ tông, dòng giống Tục thờ cúng tổ tiên thể hiện lòng biết ơn của thế hệ sau đối với thế hệ trước, của con cái với cha mẹ, cháu chắt với ông bà tổ tiên, những người đã có công sinh thành và dưỡng dục

Trong tâm thức của người Việt cho rằng, có một thế giới bên kia (cõi âm) dành cho những người đã khuất núi, khác với thế giới hiện thực mà con người đang sống (cõi trần) Dân gian vẫn thường có câu “trần sao âm vậy”, vì vậy khi chết, con người chỉ mất đi phần thể xác, còn phần hồn vẫn tồn tại

Trang 27

Trong mỗi gia đình, bàn thờ được đặt ở vị trí trung tâm của gian chính giữa, đối với những ngôi nhà cao tầng, thì bàn thờ được đặt ở tầng cao nhất Nơi đặt bàn thờ phải gọn gàng, sạch sẽ nếu không các bậc tổ tiên sẽ quở trách và trừng phạt con cháu Vì trong quan niệm của người dân tin rằng, hàng ngày ông bà tổ tiên của họ vẫn ngự trên đó, đang theo dõi và che chở cho con cháu của mình Vào những ngày tết Nguyên đán, giỗ chạp, mồng một hoặc ngày rằm, những ngày lễ quan trọng của gia đình như việc hiếu, hỷ bao giờ người chủ trong gia đình cũng sắm lễ, thường là hoa và quả, bánh kẹo, cùng mâm cỗ mặn, thắp nén nhang tỏ lòng thành kính và biết ơn đến ông bà tổ tiên chứng giám và phù hộ độ trì cho con cháu được bình an, ăn lên làm ra Đối với người theo đạo Công giáo ở Bồ Sao trước đây không được phép thờ cúng tổ tiên, nhưng từ khi giáo hội Vatican II đã đồng ý cho giáo dân ở các nước được phép thờ cúng tổ tiên theo phong tục truyền thống bản địa Lúc này, các giáo dân ở Bồ Sao bắt đầu lập bàn thờ tưởng nhớ tới cha mẹ, ông bà của mình Song việc thưc hành nghi thức, nghi lễ có những điểm khác biệt như: Không dùng lễ mặn dâng cúng ông bà tổ tiên, tổ chức hát thánh ca chúc phúc và ca ngợi ân đức sinh thành của ông bà cha mẹ Đó chính là nét đẹp trong văn hóa tín ngưỡng của người theo đạo Công giáo kính hiếu với tổ tiên của mình

Có thể nói, tín ngưỡng thờ tổ tiên là một nét văn hoá đặc sắc của người Việt, cùng với lễ giỗ quốc tổ Vua Hùng, phong tục văn hoá này đã trở thành một di sản văn hoá tinh thần quý báu, có giá trị giáo dục đạo lý đối với mỗi cá nhân trong gia đình tưởng nhớ đến các bậc tổ tiên và đó cũng là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” dân tộc ta từ ngàn đời nay Điều này góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và xa hơn là làng xã và dân tộc

Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay có sự tác động của nền kinh tế thị trường và nhận thức lệch lạc về ý nghĩa thiêng liêng của tập tục này, cộng thêm những cám dỗ vật chất nên có lúc, có nơi một bộ phận không nhỏ trong

Trang 28

xã hội đã lợi dụng việc hiếu hỷ, giỗ chạp để mưu lợi, làm mất đi giá trị nhân văn cao đẹp của phong tục tập quán này

Tín ngưỡng thờ thánh/thần với tư cách là thành hoàng làng: Đây cũng

là tín ngưỡng cơ bản và phổ biến giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng cư dân Theo tác giả Nguyễn Duy Hinh cho rằng,

Thành hoàng làng của người Việt là một vị được dân thờ từ trước, sau mới được vua phong tước vương với chức danh thành hoàng, là vị thần bảo hộ làng được khoác lên chiếc áo tín ngưỡng phong kiến Trung Hoa, hay nói cách khác, thần bảo hộ làng về mặt văn hóa đã bị Trung Hoa hóa mang chức danh Thành hoàng [20, tr.140-141]

Vị thánh/thành hoàng làng Bồ Sao là Bạch Hạc tôn thần (tức Đông Hải đại vương), có công đối với dân với nước ở thời đại sơ khi cảu dân tộc Việt Nhân dân Bồ Sao thờ ngài Bạch Hạc với tư cách vừa là một vị thánh, vừa là một vị thành hoàng của làng để tưởng nhớ công lao đối với dân và cầu mong thánh/thần phù hộ cho cộng đồng cư dân trong làng bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt Vì sự hệ trọng trong tục thờ thánh/thành hoàng làng, nên việc chuẩn bị cho các nghi thức tế lễ thánh trong ngày hội làng được chuẩn bị rất chu đáo, cẩn trọng Sự cao quý nhất của tục thờ cúng thánh Bạch Hạc là giáo dục các thế hệ phải biết tôn trọng và biết nhớ về cuội nguồn và công lao của người xưa Việc thờ một nhân vật với hai chức năng vừa là thánh, lại vừa là thành hoàng làng là một phong tục tốt đẹp đã ảnh hưởng đến hoạt động xã hội của cộng đồng cư dân ở hiện tại cũng như trong tương lai

1.2 THÁNH BẠCH HẠC QUA TRUYỀN THUYẾT, THẦN TÍCH

1.2.1 Những truyền thuyết lưu truyền ở địa phương

Qua quá trình khảo sát tại làng Bồ Sao, tác giả luận văn đã sưu tầm và ghi chép lại được một số truyền thuyết về thánh Bạch Hạc được lưu truyền tại địa phương qua lời kể của các cụ cao niên trong làng

Trang 29

Truyền thuyết về vị thành được ghi chép lại theo lời kể của cụ Lê Văn Thuyết, 75 tuổi, thôn Bồ Sao, xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

con thứ 25 của Lạc Long Quân, làm vương ở vùng đất Phong Châu Ngài cùng với Định Giang quan đã có công trị nạn Hồng thủy trên vùng sông Đáy, mà Bồ Sao, Lang Đài, Diễm (Diệm) Xuân là khu vực trung tâm Lúc này ngài đã lấy vợ là Hoàng bà và đã sinh hạ được một công chúa đặt trên là Thục Trinh Cả gia đình ở trên đồi Đuông (đồi Long - chính là đền thờ hiện nay) Sau khi trị xong nạn Hồng thủy, ngài cùng vợ

đã có công huy động dân làng san lấp thùng vũng tạo thành các thửa ruộng lớn, dạy dân trồng lúa nước và đánh bắt cá trên sông Đáy Sau một thời gian dài, nạn Hồng thủy không còn xuất hiện, nhân dân có cuộc sống yên bình; ngài và Định Giang quan cùng hóa trong một cơn giông bão lớn; ít lâu sau vợ và con của đức thánh cùng hóa theo Để tưởng nhớ công lao của ngài, các triều đại đều ban tặng sắc phong để nhân dân Bồ Sao phụng thờ

Truyền thuyết về vị thánh được ghi lại theo lời kể của cụ Nguyễn Văn Học, 70 tuổi, thôn Bồ Sao, xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

như sau: Vào thời quốc gia Văn Lang, vùng đất Phong Châu có nạn Hồng

thủy rất lớn, lúc này triều đình đã cử một vị vương hầu có tên là Đông Hải, húy Bạch Hạc tôn thần đem quân đi trị thủy tại vùng trung tâm gồm các làng: Bồ Sao, Lang Đài, Diệm Xuân Thánh Bạch Hạc lấy Hoàng bà và sinh hạ được một người con gái đặt tên là Thục Trinh (hay còn gọi là Mục Sinh) Thánh cùng gia đình sinh sống ở đồi Long, khi nạn Hồng thủy không còn, ngài còn kêu gọi người dân ba làng mở rộng đất đai và dạy dân trồng lúa, thuần dưỡng súc vật… Sau đó, đức thánh còn được cử xuống xứ

Trang 30

Hải Đông trị thủy và hiện nay ở đó vẫn còn đền thờ Ngài cùng vợ, con đã hóa vào hai ngày khác nhau ở xứ đồi Long (tức đền Đuông ngày nay) Dân

ba làng Bồ Sao, Diễm Xuân, Lang Đài cùng nhau xây dựng ngôi đền (đền Đuông) thờ phụng và được các triều đại ban tặng sắc phong

Truyền thuyết về vị thánh được ghi lại theo lời kể của cụ Nguyễn Văn Nghiêm, 87 tuổi, làng Diệm Xuân, phường Bạch Hạc, T.p Việt Trì, tỉnh Phú Thọ như sau: Đình làng tôi là nơi thờ vọng thánh Bạch Hạc,

còn nơi thờ chính là ở đền Đuông thuộc làng Bồ Sao Tôi được các cụ truyền lại câu chuyện về lai lịch của vị thánh được thờ ở đình làng mình, đó là đức thánh Bạch Hạc hay còn gọi là Đông Hải Long thần, là người sống ở thời đại sơ khai ở nước Việt Ngài là con thứ 25 của Lạc Long Quân và Âu Cơ được phong vương, giao cho cai quản khu vực từ Quảng Đông đến Phong Châu (theo cụ cho biết, đó là một địa phận lớn của nước Xích Quỷ xưa) Thánh lấy vợ là Hoàng bà rồi sinh hạ được công chúa Thục Trinh Vào năm quốc gia gặp nạn đại Hồng thủy, triều đình đã cửa ngài cùng với người em là Định Giang vương đi trị thủy ở vùng đất của ba làng: Bồ Sao, Diễm Xuân và Lang Đài hiện nay Khi đến đây, ngài cho quân lính đóng doanh trại ở trên đồi Đuông (đồi Long), cùng nhân dân địa phương ra sức đắp đất trị thủy (tôi cho rằng

đó là các doi đất cao để sau này có thể đắp được đê chắn sóng) Ngài còn dạy dân trồng lúa và hiện nay làng vẫn còn giữ được nghi lễ Tịch điền để kỷ niệm sự kiện đó Sau đó, thánh Bạch Hạc còn đi trị thủy ở vùng Hải Đông (Hải Dương sau này) Khi đất nước thái bình, thánh trở

về xứ đồi Long và cùng gia đình hóa tại đây trong một cơn mưa giông bão tố rất lớn Nhân dân làng Bồ Sao đã lấy gỗ tại đồi Long lập ngôi đền thờ nhỏ để phụng thờ ngài và gia đình

Trang 31

Truyền thuyết về vị thánh được ghi lại theo lời kể của cụ Trịnh Xuân Hiện, 89 tuổi, thôn Lang Đài, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

như sau: Làng tôi và làng Bồ Sao cùng thờ chung vị thánh Bạch Hạc tôn thần, hay còn gọi là Đông Hải long vương Ngài được phong vương và sống ở thời đại sơ khai của nước ta, khi vùng đất Phong Châu có nạn Hồng thủy, triều đình đã sai thánh Bạch Hạc đem quân về đóng ở đồi Long để trị nạn Hồng thủy Ở đây, ngài cùng quân lính và nhân dân tìm mọi cách ngăn dòng nước lớn vây quanh vùng ngã ba sông Khi đó, đức thánh lấy Hoàng bà và sinh hạ được một người con gái và đặt tên là Thục Trinh… Về sau, đức thánh còn được cử xuống trị thủy ở vùng Hải Đông (tỉnh Hải Dương và một phần tỉnh Hưng Yên hiện nay) Sau khi xong việc, ngài trở về xứ đồi Long đoàn tụ cùng gia đình rồi mất trong một cơn giông bão lớn tại nơi cũ (xứ đồi Long) Nhân dân đã lập đền thờ phụng từ

đó đến nay và được các triều đại phong kiến ban tặng các đạo sắc phong

* Nhận xét chung

Một số truyền thuyết lưu truyền trong dân gian được tác giả luận văn ghi lại chủ yếu dựa theo trí nhớ của các cụ cao tuổi trong ba làng Bồ Sao Lang Đài, Diễm Xuân Đó chỉ là những mẩu chuyện nhỏ với những sự kiện lịch sử không rõ ràng, đôi khi được sắp xếp chưa theo một trình tự, có thể là những mảnh vụn trong thần tích, với lời kể mộc mạc, nội dung có phần sơ lược hóa

đi nhiều so với bản thần tích đã được dịch Điều này chúng ta hoàn toàn có thể lý giải được, bởi lẽ thời gian và tuổi tác đã khiến họ không còn nhớ một cách chi tiết, đầy đủ và chính xác những sự kiện lịch sử diễn ra theo trình tự không gian và thời gian như trong thần tích đã ghi chép hoặc do trong quá trình lưu truyền đã xảy ra hiện tượng “tam sao thất bản”, khiến giữa các câu chuyện truyền thuyết có những chi tiết khác nhau - dị bản Nhưng một điều dễ nhận thấy là ở những truyền thuyết này các sự kiện lịch sử thường ít hơn

Trang 32

những yếu tố thần kỳ, cuộc đời và hành trạng của thánh Bạch Hạc gắn liền với địa danh của các địa phương (đó là quá trình địa phương hóa) Vì vậy, đức thánh rất gần gũi và gắn bó với những người dân nơi đây Điều này chứng tỏ rằng: trong tâm trí của người dân ở các làng ven sông Đáy, sông Hồng nói chung và cư dân làng Bồ Sao nói riêng luôn lưu giữ hình ảnh tốt đẹp về vị thánh/thần Bạch Hạc Bạch Hạc đã trở thành biểu tượng văn hóa của quê hương gắn với công lao trị thủy thời khai thiên lập quốc, một người có tài có đức “sinh thần kỳ, chết thần kỳ” có khả năng sai khiến được long thần Với tình cảm kính trọng, ngưỡng vọng người anh hùng văn hóa/biểu tượng văn hóa của mình, nhân dân đã thêu dệt thêm những câu chuyện giả lịch sử (gắn nhân vật được thờ với các sự kiện của lịch sử) khiến cho vị thánh trở thành một hình tượng đẹp, kỳ vĩ trong lòng dân chúng, bất tử với non sông đất nước Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét:

Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch

sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và miệng, chắp đôi cánh của trí tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích [17, tr.38]

1.2.2 Thần tích

Trong quá trình điền dã tại địa phương, tác giả luận văn đã sưu tầm được 03 bản thần tích được lưu giữ tại 03 di tích đền Đuông làng Bồ Sao, đình làng Diễm Xuân và đình làng Lang Đài Sau khi dịch và hiệu đính lại 03 bản thần tích, tác giả luận văn nhận thấy rằng, phần nội dung chính nói về thánh Đông Hải đại vương tức Bạch Hạc tôn thần là giống nhau, còn phần mở đầu và phần cuối của các bản thần tích có sự khác nhau Cụ thể, ở phần mở đầu và phần cuối của bản thần tích ở đền Đuông được viết khá kỹ với các nội dung: phần mở đầu giới thiệu từ thời đại Kinh Nam vương nước Xích Quỷ, đến thời đại Lạc Long Quân và Âu Cơ cho đến thời đại Hùng Vương; phần

Trang 33

cuối viết về các triều đại kế tiếp từ nhà Thục đến Hai Bà Trưng Đặc biệt là việc Thái Bà (vợ của vua Lê Chiêu Tông) trên đường chạy chốn nhà Mạc, bà

đã nghỉ lại ở đền Đuông một đêm và đã nằm mộng thấy thánh Bạch Hạc truyền rằng: Nhà Lê sẽ giành lại ngôi báu từ tay nhà Mạc Trong khi đó, hai bản thần tích ở đình làng Diễm Xuân và Lang Đài viết rất sơ lược và đôi chỗ không đề cập đến, nhất là sự kiện Thái bà về và nằm mộng thấy thánh Bạch Hạc ở đền Đuông Do có sự giống nhau ở phần nội dung nói về tiểu sử và hành trạng của thánh Bạch Hạc Vì vậy, tác giả xin trích phần nội dung chính

của bản thần tích được sao lại vào ngày lành tháng 8 năm Kỷ Hợi niên hiệu

Thành Thái thứ 11 (1899) lưu giữ tại đền Đuông (Bản thần tích này được

chép lại từ bản thần tích do Hàn lâm viện Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn Bản dịch do tác giả luận văn thực hiện năm 2010)

đầy nhà, trong phòng hương thơm ngào ngạt, qua một tuần sinh ra Lạc Long Quân, tư chất phi thường có tướng đế vương nên đã lập làm Hoàng thái tử Bấy giờ có con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, trở về ở quê mẹ là động Long Tiên,

đi chơi ở châu Trường Sa Long Quân thấy nàng có nhan sắc tuyệt trần nên lấy làm vợ, lập làm Hoàng phi Thế là Kinh Dương Vương sai Lạc Long Quân đến ở thành Phong Châu, núi Nghĩa Lĩnh làm quốc vương, Kinh Dương Vương ở ngôi 215 năm, thọ 266 tuổi Năm Tý, Lạc Long Quân kế vị liền đổi tên là Hùng Hiền Vương Lúc này Âu Cơ có thai đã 3 năm 30 ngày, trên núi Nghĩa Lĩnh có mây lành ngũ sắc rực rỡ, nàng sinh ra một bọc có 100 chứng,

nở ra 100 con trai, họ đều có tư chất hơn người, anh hùng cõi thế Đến khi trưởng thành, liền phong cho tước hầu, chia nước làm 15 Bộ (một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Đông, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Vô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hoá, mười một là Cao Bằng, mười hai là Tuyên Quang, mười ba là là Lạng Sơn, mười bốn là là Quảng Tây, mười năm là Quảng Đông) Thế rồi Lạc

Trang 34

Long Quân nói với Âu Cơ: ta là giống rồng, nàng là giống tiên hai loài khác nhau nên phải chia tay; 50 người con theo cha cai quản sông biển, 50 người con theo mẹ cai quản núi rừng Họ đều là thân thuộc, vua đặt quan chức, Văn gọi là Lạc Hầu, Vũ thì gọi là Lạc tướng Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, Hữu Ty được gọi là Bố Chính Bấy giờ có hoàng tử thứ 25 tên là Sâm Vương đã được chia quyền cai trị Quảng Đông tức là Đông Hải Quan Lang (Vương là một trong các con sinh ra từ trăm trứng, Đông Hải công tức Thuỷ Bộ) Ngài vẫn còn tính trẻ con tuy đã ở ngôi quan tước nhưng không muốn ở trong cung, ông lấy vợ ở đất Hoan Châu (xứ Nghệ An) là con út của họ

Từ tên huý là Thanh (xưa Từ Quang lấy bà họ Lý, huý là Vân) Thái bà 49 tuổi mới có thai, mộng thấy có chim ưng Năm Giáp Thìn, ngày mồng 7 tháng Giêng thì sinh Nương, nàng thật sinh đẹp thích nước sạch, nước ngọt, ca tụng hương hoa, ngày ấy Thanh Nương đủ cả công - dung - ngôn - hạnh, hiếu đễ tự hào, miệng tươi như hoa, nhan sắc tuyệt trần, quả là tiên ở bồng lai xuống thế gian, chứ không phải người thường Do vậy, người đời có thờ khen:

“Sắc như trăng sáng chiếu hồ thu,

Chim không bằng nổi, cá lững lờ

Hoa thơm vườn uyển nào sánh được, Tiếng kia còn mãi chẳng phai mờ”

Bấy giờ, ở đất Phong Châu, hai bờ sông Đáy đang bị hồng thuỷ làm hại

và lở đất đến tận Sơn Dương, Đông Dao, Tam Dương lúa mía đều bị hại, tất

cả lùa má, trang ấp, ruộng bờ bên sông đều bị sụt lở; nhân dân bị hại, mọi người kinh sợ mà trốn đi, mùa màng đều bị hại nặng Lúc đó (ngày mồng 2 tháng 5 vua sai cho Đông Hải Quan Lang và An Giang - là quan thuỷ do trăm trứng sinh ra), hai vị thuỷ quan ngự trên hồng thuỷ ở hai đầu sông (tức là sông Đáy, sông Lô đi đến sông Bạch Hạc, chỗ Tam Giang vào thành Phong Châu lúc ấy một chi của sông Đáy xâm nhập vào phá hoại Địa Mặc, Bồ Sao, Lang Đài, Sắc Xuân xâm nhập núi Tam Đảo tức bản chi Thanh Long) Đông Hải

Trang 35

quan và Định Giang, hai vị hoàng tử khâm mệnh vua cha đem quân lên thuyền xuống hẳn sông Đáy lên bờ quan sát địa giới (Tức địa giới Bồ Sao, Sắc Xuân, Lương Đài), Đông Hải quan ngay lập tức truyền cho quân sĩ và nhân dân địa phương xây dựng cung tả để hai vị ở

Ngài xây dựng cung sở cho đóng quân tại xứ đồi Leng, xã Bồ Sao, còn Định Công thì xây cung thấy đóng đồn tại xứ Đồi Leng bên sông xã Sắc Xuân Quân sỹ sẵn sàng cùng với nhân dân bản địa và nhân dân ven sông Bồi Trúc trấn trị cửa sông

Một hôm vào lúc đêm tối, hai ông ngự giá đi tuần hai bên sông bỗng thấy có 3 bè gỗ lớn trên cắm cờ đen đi từ núi Tam Đảo ra sông Đáy Hai ông cho quân sỹ bắt lại đưa bè vào bãi phía Đông nhưng không tài nào đi được, trên bè có rắn, thuồng luồng tự lăn xuống nước Chốc lát thấy thuyền rồng nổi lên mặt nước Trong thuyền có tiếng người nói:

“Vâng mệnh của long quân thuỷ quái quốc kiến lập long cung Do vậy nên

sức tiểu thần đến Tam Đảo chọn lấy gỗ tốt đem về, vả lại Thánh đế dương đài và Long quân thuỷ quốc là cùng huyết mạch (mẹ của Lạc Long Quân cũng là con gái của của Thuỷ quốc long vương), có lẽ nào lại dám bắt lại” Hai ông mắng rằng: “Thuỷ quốc và Dương Đài (nước trên mặt đất), tuy âm dương khác biệt, nhưng huyệt mạch tương đồng Nay việc cai trị của vua ta trên dương thế cũng giống như thuỷ đế Tam Đảo vốn là long

vị bên tả chầu về Nghĩa Lĩnh để cùng trời đất đã an bài để làm quốc mạch trường tồn, nên thuỷ quốc lại làm thông thuỷ đạo, phá hoại địa mạch tả long, phá hoại mùa màng, làm hại nhân dân Thế chẳng phải phạm sao? Tuy vậy Dương thế và Thuỷ quốc tốt hơn hết là sửa sai lầm ấy mà bồi đắp địa mạch chu toàn như xưa, nếu không nghe thì sau đừng có hối hận”

Hai ông nói xong, bè gỗ liền chìm xuống nước Các ông ra lệnh cho binh

sĩ và nhân dân địa phương đều nghỉ không được bồi trúc gì nữa Trong chốc lát nước tự rút đi, bồi đắp trả lại cho đê điều, đồng ruộng, đồi gò như

cũ Nhân dân địa phương đều vui mừng

Trang 36

Hai ông trị thuỷ mọi việc bình an, xa giá trở về triều kiến vua cha, các ông hứa sẽ trở về ở các cung của địa phương (tức trong địa phận Bồ Sao, Ngụ Lộc án ngữ bên sông giữa đất tả thanh long - đất Tam Đảo) để đề phòng thuỷ đạo trị đầu nguồn sông Đà Đông Hải Quan và Định Giang Quan trở về Tiền

Sa và ở lại đây đi tuần sông, án ngữ địa giới núi Tam Đảo (tức là hai ông bảo

vệ cả một vùng sông Đáy, Bồ Sao, Tam Đảo) Nhà vua phong cho Đông Hải Quan làm Bạch Hạc Long thần đại vương, Định Giang Quan làm An Giang Khước Địch đại vương, ngự trấn vùng đất Thanh Long Lại nói Đông Hải Quan ở đất này (tam vị thánh chính cung, xứ Long (đồi Bồ Sao) được mấy tháng thì hoàng phi chính cung có thai, ngày 15 tháng 5 năm Giáp Tuất sinh được một người con gái xinh đẹp như hoa, đặt tên là Thục Nương, sau đổi tên

là Mục Lại nói hai ông ở đất này được ba năm thì vùng đất Hải Đông lại bị nước phá hoại, vua sức điều các ông đi nhiệm chức ở Hải Đông đồng trị thuỷ Sau khi nhiệm chức được mấy năm thì không thấy có thuỷ tai nữa, hai mẹ con Hoàng phi lúc này vẫn ở Cựu Sở (cung Bồ Sao)

Bấy giờ Hùng Hiền Vương (Lạc Long Quân) ở ngôi đã 269 năm thọ 506 tuổi, ngày 15 tháng 5 năm Bính Thìn, sinh Lạc tướng, ngày mồng 9 tháng Giêng quy hải làm thủ tinh Động Đình long quân đế vương Sau thái tử Hùng Vương Lên ngôi Ông Đông Hải Công lại về triều làm việc được một năm đến ngày 20 tháng 3 thì trăm vương đều hoá (Đông Hải, An Giang cũng là một trong các vương sinh ra trong bọc có trăm trứng) Bấy giờ quốc vương nhớ lại công ơn các tiên thánh vương, chia nước phân đất lập các bộ, Thuỷ Tinh, Sơn Tinh, Bách vương sau thành họ chia nhau ra ở núi rừng sông biển trùng cửu một phương

Năm mươi vị trấn trị trên núi rừng đều gọi chung là Duệ Thần tôn phò

xã tắc, năm mươi vị thần trị sông biển đều gọi chung là Thuỷ Vương Linh Thần, bảo hộ nhân dân, phò xã tắc, hương hoả đến vô cùng vậy

Lại nói Hoàng phi phu nhân và Thục Nương công chúa sống ở cung Bồ Sao, sau khi Đông Quan hoá, quốc vương lại cho phép ở và ăn lộc tại đây (xã

Trang 37

Bồ Sao) Hôm ấy, vào ngày 12 tháng 9 tiết thu, Hoàng phi phu nhân ngồi trên gác bỗng thấy nước sông sóng nổi cuồn cuộn, nhưng lại trong xanh dồn đến tiền điện, gió nổi lên mây kéo đến, mưa đổ ầm ầm, sấm chớp rền vang, nhân dân địa phương đều kinh sợ trốn cả, bỗng thấy thuyền rồng hai chiếc song song tiến đến cung sở, thấy Đông Hải Công cùng binh lính lên bờ vào cung sở rước Hoàng cung phi phu nhân và Hoàng phi công chúa trở về phủ quốc Cả gia nhân và quan thị hầu đều theo cả Nhân dân đều chứng kiến sự việc này,

họ bang hoàng làm lễ, khi làm lễ xong bỗng thấy hai ông đưa Hoàng phi và Thục Nương xuống thuyền Tự nhiên thấy tất cả chìm xuống nước biến mất, trong khoảng cách họ đi cả xuống thuỷ đạo phong vũ, lôi vân cũng tạnh hẳn, bốn bề trong xanh Quốc vương sức cho xứ thần đến tận cung sở xem xét, nhân dân địa phương cũng tề tựu đầy đủ (nhân dân của Bồ Sao đều đến) chỉ thấy 10 con rắn ngũ sắc ở cửa cung Xứ thần và nhân dân không dám vào mà trở về điện Phong Châu tâu xin quốc vương ngay ngày hôm đó Quốc vương (ngày 12 tháng 9) sức cho quan hầu đến cung điện làm lễ tế, khi đang tiến hành tế lễ thì thấy mây gió nổi lên Trời đất tối sầm, mưa gió ầm ầm, đến lễ xong trời quang mây tạnh Vua thấy hiển linh như thế bèn lập tức gia phong

mỹ tự, truyền cho dân sở tại phải phụng thờ các vị, vào các dịp Xuân - Thu nhị kỳ sai quan đến tế, hương hoả lưu truyền mãi Quốc vương lại gia phong cho Đông Hải là Bạch Hạc Long Vương, Hiển Ứng đại vương Một đạo, phong cho Cung phi Hoàng hậu là Hoàng Bà công chúa, ba nơi của Bồ Sao phải phụng thờ

Lại nói nơi vương đã qua là trong Diễm Xuân lại được phong mỹ tự, cho trong này lập đền thờ phụng còn cung điện nơi ở trước đây của Đại vương cho Diễm Xuân phụng thờ Bầy giờ quốc vương đã lên ngôi 221 năm Hùng Hòa Thái tử kế tự, Họ Hùng lại kế tiếp trị vì trải 18 đời thánh quân được thờ ở

cổ miếu (miếu Đông Quan) cũng hiển ứng, hương hoả phụng thờ mãi mãi Nhân dân địa phương cắt cử trai thanh, đôi gái trinh nữ trông nom hương

Trang 38

đăng suốt ngày (cứ mỗi năm có đến chục người ở đó để trông nom hương khói ngôi đền) Lễ nhạc hội hè vui vẻ, linh ứng rõ ràng, nhân dân địa phương không

bị bệnh dịch, các thanh đồng trinh nữ đã giúp đỡ dân địa phương tỏ rõ linh nghiệm cầu mưa cầu gió biến hoá vô cùng, quốc đảo dân cầu đều được linh ứng, xuất nhập biến hoá vô cùng.v.v

Nhìn chung, phần nội dung trên của 03 bản thần tích lưu giữ tại 03 di tích nêu trên đã kể lại một cách khá đầy đủ và chi tiết về cuộc đời, công trạng

và hành trạng của thánh Bạch Hạc trong buổi đầu dựng nước Từ khi thánh sinh ra với tài năng và khí phách phi thường cho đến công trạng trị thủy cứu dân và cái chết thần kỳ… Điều chúng ta dễ nhận thấy là trong các bản kể về cuộc đời và hành trạng của thánh Bạch Hạc đều gắn liền với các địa danh cổ quanh vùng đất Bồ Sao như: Cửa Ngò, Bến Đuông, núi con Voi Có thể nói, quá trình địa phương hóa đã đưa thánh Bạch Hạc trở thành một biểu tượng của vùng đất có bề dày về truyền thống lịch sử, văn hóa Và làng Bồ Sao từ bao đời nay đã trở thành nơi phụng thờ chính của thánh Bạch Hạc

Trang 39

Chương 2 VIỆC PHỤNG THỜ THÁNH BẠCH HẠC TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN ĐUÔNG

2.1.1.1 Không gian cảnh quan và bố cục mặt bằng tổng thể

* Không gian cảnh quan: Di tích đền Đuông (hay còn gọi là đền Bồ

Sao), sở dĩ có tên gọi là “Đuông” vì xưa kia có bến Đông ở gần đồi cây Đuông,

nơi di tích tồn tại Nhưng vì kiêng không được phép nhắc đến tên huý của đức

thánh Bạch Hạc tức Đông Hải đại vương nên đã đọc Chệch từ “Đông” thành

“Đuông” Cũng có ý kiến cho rằng, người dân nơi đây đã lấy tên di tích gắn

liền với tên một loại cây “Đuông” đã từng có mặt phổ biến ở vùng đất bán sơn địa này Ngày nay, đền Đuông thuộc địa phận xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Xưa kia, vị trí của đền nằm ở khu vực trung tâm của làng xã có những đặc điểm nổi bật, đó là “Nhất cận lộ, nhị cận giang, tam cận thị”, nghĩa

là đền Đuông nằm ngay cạnh con đường kinh lý từ Thăng Long lên chốn Tổ Vua Hùng ở Phú Thọ; đồng thời lại nằm ngay cạnh ngã ba của hợp lưu sông Hồng và phía sau là không gian văn hóa chợ (đây là một trong các chợ lớn của phủ Vĩnh Tường xưa) Vì vậy, di tích này đã được người dân xa gần biết tới từ rất sớm Hiện nay, di tích nằm cách đường quốc lộ 2 khoảng 200m, cách ngã

ba Bạch Hạc khoảng 1km Đây là điều hết sức thuận lợi cho việc du khách thập phương đi đến di tích bằng nhiều cách khác nhau, nhưng thuận tiện nhất là đi ô

Trang 40

tô theo đường quốc lộ 2 đến chợ Bồ Sao rẽ vào; hoặc có thể đi đường thuỷ, đường sắt từ Việt Trì Xuống (cách khoảng gần 3 km)

Về không gian cảnh quan, mặt bằng tổng thể cũng như quy mô kiến trúc: Cốt lõi của tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó bảo trợ cho cuộc sống của họ, đó là niềm tin thể hiện

sự ngưỡng vọng vào một thế giới thần linh huyền bí so với thế giới trần tục Việc xây dựng các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng, đặc biệt là kiến trúc các ngôi đình, đền, chùa cũng bị chi phối bởi niềm tin thiêng liêng ấy Không nằm ngoài quy luật đó, trong kiến trúc cổ và dân gian Việt Nam: Kinh đô của một triều đại phong kiến, chùa chiền nhà Phật, lăng mộ của người đã chết, những ngôi nhà ở dân gian của người đang sống và đặc biệt là những kiến trúc của các ngôi đền thờ… cha ông chúng ta đã biết tìm

và lựa chọn vị trí, thế đất để công trình kiến trúc dựng lên vừa thoả mãn nhu cầu sử dụng của đời sống, lại vừa có giá trị thẩm mỹ nhất định tuỳ theo từng loại hình Những di tích điển hình như: đình Tây Đằng, đình Thuỵ Phiêu, đình Thanh Lũng, đình Ngọc Than, đình Xuân Dục, đền Hùng, đền Kiếp Bạc… Ngoài cái đẹp bản thân của kiến trúc còn có cái đẹp từ vị trí, nơi công trình kiến trúc tọa lạc có thể phóng xa tầm mắt ngắm nhìn non xanh, nước biếc, cây cỏ tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên sẵn có để công trình kiến trúc dựa vào góp phần tôn thêm vẻ đẹp, tô điểm cho bức tranh phong cảnh thêm phần hoa mỹ; còn có những cây cổ thụ xum xuê, hồ nước trong xanh với bóng mái đền cổ kính đã làm cho mối tương quan giữa kiến trúc với cảnh quan và môi trường thiên nhiên càng thêm gắn bó và có sự tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Tương truyền, đền Đuông nằm chọn vẹn trên đồi Long, sau lưng là động Ngọc, trước mặt là cửa Đuông, phía Tây là cửa Nghè, phía Nam là gò con Voi Với vị trí đó, đền được đặt ở trung tâm của bốn địa danh, đó cũng chính là bốn phương Đông - Tây - Nam - Bắc Với vị trí tọa lạc như trên, di tích đền Đuông mang ý nghĩa

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w