Là sinh viên khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tương lai trở thành cán bộ quản lý văn hóa với mong muốn góp phần vào việc gìn giữ và phát huy các giá trị vă
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT
-
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ NGHỆ THUẬT
VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI THÁI
Ở HUYÊN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ ANH QUYÊN Sinh viên thực hiện : HÀ THỊ TRANG
Lớp : QLVH 12C
Khóa học : 2011 - 2015
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tận tình giảng dạy trong quá trình học tập và tạo điều kiện cho em được thực hiện khóa luận này Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Anh Quyên, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình để em hoàn thành khóa luận Đồng thời, em cũng xin cảm ơn Huyện ủy, UBND và Phòng VHTT huyện Quan Sơn cùng với nhân dân người Thái huyện Quan Sơn đã giúp đỡ cung cấp tư liệu và có những nhận xét bổ ích trong quá trình thu thập tư liệu và hoàn thành bản thảo
Do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên
đề tài nghiên cứu của em không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài khóa luận của em được đầy đủ và chi tiết hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 26/05/2015
Hà Thị Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Anh Quyên
Những trích dẫn đều được ghi rõ nguồn và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố dưới bất
kì hình thức nào
Em xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục đích 10
3.2 Nhiệm vụ 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng 11
4.2 Phạm vi 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của đề tài 12
7 Bố cục khóa luận 13
Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN QUAN SƠN VÀ DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUAN SƠN 14
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của huyện Quan Sơn 14
1.2 Đặc điểm tự nhiên 15
1.2.1 Vị trí địa lý 15
1.2.2 Địa hình 16
1.2.3 Khí hậu 16
1.2.4 Tài nguyên thiên nhiên 16
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 18
1.3.1 Cơ sở hạ tầng 18
1.3.2 Văn hóa – xã hội 19
Trang 51.4 Dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn 20
1.4.1 Dân cư 20
1.4.2 Đặc điểm kinh tế 20
1.4.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội 22
Tiểu kết 29
Chương 2 SỰ BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI THÁI HUYỆN QUAN SƠN 31
2.1 Văn hóa ẩm thực của người Thái huyện Quan Sơn giai đoạn 1990 – 2005 31
2.1.1 Quan niệm về ăn uống 31
2.1.2 Nguyên liệu chế biến món ăn 32
2.1.3 Các đồ ăn, đồ uống 36
2.1.4 Cách ứng xử trong ăn uống 44
2.1.5 Giá trị của văn hóa ẩm thực của người Thái ở Quan Sơn giai đoạn 1990 – 2005 48
2.1.6 Kỹ thuật chế biến một số món ăn đặc trưng của người Thái huyện Quan Sơn giai đoạn 1990 – 2005 50
2.2 Văn hóa ẩm thực của người Thái huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2005 đến nay 58
2.2.1 Quan niệm về ăn uống 58
2.2.2 Nguyên liệu chế biến món ăn 59
2.2.3 Các đồ ăn, đồ uống 62
2.2.4 Cách ứng xử trong ăn uống 66
2.2.5 Giá trị của văn hóa ẩm thực của người Thái ở Quan Sơn từ 2005 đến nay 66
2.2.6 Sự biến đổi trong cách chế biến của một số món ăn đặc trưng của người Thái huyện Quan Sơn từ 2005 đến nay 69
Trang 6Tiểu kết 72
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA HUYỆN QUAN SƠN 74
3.1 Nguyên nhân biến đổi các giá trị văn hóa ẩm thực của người Thái Quan Sơn 74
3.1.1 Các yếu tố khách quan 74
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 77
3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực của người Thái huyện Quan Sơn 78
3.2.1 Hoàn thiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa của địa phương 79
3.2.2 Sưu tầm, nghiên cứu, kiểm kê 80
3.2.3 Tăng cương thông tin, quảng bá 81
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong các trường học 82
3.2.5 Nâng cao hiểu biết, nhận thức cho cộng đồng 83
3.2.6 Xây dựng nguồn lực về tài chính 85
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống,
trải qua nhiều thăng trầm khác nhau nhưng vẫn là anh em một nhà, đều là
“con Lạc cháu Rồng”, thống nhất trong đa dạng Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có
những đặc trưng riêng đã được đúc kết và lưu truyền từ thế hệ này sang thế
khác Từ ăn, mặc, ở,… cho đến tiếng nói, chữ viết và đến cả những câu ca
dao, tục ngữ, thành ngữ,… đều là tinh hoa của mỗi dân tộc Từ xưa đến nay ở
tất cả mọi nơi trên thế giới nói chung và 54 dân tộc ở nước ta nói riêng, mỗi
một quốc gia, một dân tộc tuy rất khác nhau về địa lý, về phong cách sống
nhưng có một cái chung duy nhất là dân tộc nào hay dù là ai đi chăng nữa
cũng cần phải ăn uống Bởi vậy, ăn uống là nhu cầu thiết yếu của con người
trong cuộc sống Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu ăn uống cũng không
ngừng biến đổi, con người từ “ăn sống nuốt tươi” cho đến bây giờ là “ăn ngon
mặc đẹp” nhưng không dừng ở đó, con người luôn quan tâm đến cách ăn
uống như thế nào Qua cách ăn uống và cách ứng xử trong ăn uống của mỗi
dân tộc, chúng ta có thể đánh giá con người và biết đến văn hóa ứng xử của
tộc người đó được thể hiện giữa con người với con người, con người với môi
trường tự nhiên và biết thêm được phần nào về phong tục, tập quán, đời sống
vật chất cũng như đời sống tinh thần của một dân tộc
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa, nước ta đang trong thời kỳ hội nhập,
giao lưu kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở các vùng trong cả nước và cả nước
với nước ngoài và sự giao lưu văn hóa cũng đang diễn ra hết sức phức tạp với
những luồng văn hóa đang ồ ạt tràn vào nước ta; không chỉ ở các đô thị, các
thành phố lớn mà nó còn xuống tận các làng bản miền núi, biên giới xa xôi;
không chỉ có những luồng văn hóa tốt đẹp mà còn có cả những luồng văn hóa
Comment [i1]: Căn lề bằng hai bên
Trang 8xấu, lai căng ảnh hưởng không nhỏ đến các phong tục, tập quán, lối sống
cũng như các truyền thống văn hóa tốt đẹp ở nước ta và làm cho chúng đang
có nguy cơ bị mất và mai một
Quan Sơn là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Thanh Hóa, có cửa khẩu
Na Mèo Nơi đây hoạt động buôn bán diễn ra tấp nập, thông qua cửa khẩu
người dân hai nước Việt – Lào có thể giao lưu với nhau một cách dễ dàng tạo
điều kiện thuận lợi cho các nguồn văn hóa bên ngoài càng dễ xâm nhập vào
Cùng với đó, quá trình cộng cư với các dân tộc khác từ nhiều mặt làm cho các
giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần nói chung và văn hóa ẩm thực nói
riêng ở nơi đây có rất nhiều biến đổi Là sinh viên khoa Quản lý Văn hóa
Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tương lai trở thành cán bộ quản
lý văn hóa với mong muốn góp phần vào việc gìn giữ và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung và văn
hóa ẩm thực của người Thái ở huyện Quan Sơn nói riêng nên tôi quyết định
chọn đề tài: “Văn hóa ẩm thực của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh
Thanh Hóa” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ẩm thực là một thuật ngữ Hán Việt có nghĩa là “ăn” và “uống” Nói đến văn
hóa ẩm thực chính là nói đến tập quán ăn uống , Từ lâu nay đã là đề tài thu
hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới cũng như
Việt Nam
Ở nước ta hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về ẩm thực Trước hết
phải kể đến tác giả Phan Văn Hoàn với tác phẩm “Bước đầu tìm hiểu về văn
hóa ẩm thực Việt Nam” (2006) Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát
được khá đầy đủ về khái niệm ăn uống, tập quán ăn uống, sự giao lưu trong
ăn uống của người Việt Nam với các nước khác như: Trung Quốc, Pháp một
cách toàn diện có hệ thống và phác thảo một bức tranh toàn cảnh về ăn uống
Comment [i2]: Đề nghị đánh số trang
Trang 9của người Việt Nam nói chung Tác giả Vương Xuân Tình với tác phẩm “Tập
quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc” (2004) Trong tác phẩm này,
tác giả đề cập khá toàn diện về các món ăn, đồ uống của người Việt vùng Kinh Bắc Công trình đã có nhiều đóng góp lớn trong việc nhiên cứu và là nguồn tài liệu tham khảo rất bổ ích cho những đề tài nghiên cứu về ẩm thực Nhưng phần lớn các tác phẩm chỉ đề cập đến cách ăn uống của người Kinh (Việt)
Ngoài ra, còn phải kể đến tác phẩm nói về văn hóa ẩm thực chuyên sâu của
đồng bào các dân tộc thiểu số ở các vùng như: “Văn hóa ẩm thực của người
Thái đen ở thị xã Sơn La” của Nguyễn Thị Hồng Mai (2006), (luận văn thạc sĩ
Văn hóa học); “Văn hóa ẩm thực Mường” của Hoàng Anh Nhân (2002), “Văn
hóa ẩm thực” của Trương Sỹ Hùng (1999), “Truyền thống ăn uống của các dân tộc Tày - Thái” của Ngô Đức Thịnh (1998),
Đã có nhiều tài liệu viết về người Thái, phong tục ăn uống của người Thái
trong cả nước như: “Văn hóa vật chất của người Thái Thanh Hóa và Nghệ
An” của tác giả Vi Văn Biên (2006); “Về người Thái đen ở Việt Nam” của
Hoàng Lương (2001); “Văn hóa trong ăn uống” của Đinh Gia Khánh
(1998)… Trong các tác phẩm này, các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống và khá đầy đủ về các món ăn truyền thống, các phong tục tập quán trong ăn uống của người Thái ở trong cả nước nói chung Nhưng cũng cùng là một dân tộc nhưng sống ở các vùng miền khác nhau, các điều kiện tự nhiên, văn hóa – xã hội khác nhau nên mỗi nơi lại có một phong tục tập quán về sinh hoạt ăn uống khác nhau
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề có thể thấy, tuy đã có nhiều tác phẩm viết
về phong tục tập quán hay cách thức tổ chức ăn uống của người Thái nói riêng và của các dân tộc khác nói chung nhưng chưa có tác phẩm nào nghiên cứu về người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa và những khía cạnh về
Trang 10văn hóa của họ Đồng thời, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu những giá trị tốt đẹp về văn hóa trong ăn uống trước sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội như hiện nay của họ Những nghiên cứu đó chỉ đi bao quát chung về văn hóa ẩm thực của người Thái, của các dân tộc khác và các vùng trong cả nước nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở mô tả, phân tích về văn hóa ẩm thực truyền thống như các món ăn,
đồ uống trong bữa ăn hàng ngày, trong ngày lễ, ngày tết và những nét ứng xử của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa nhằm đánh giá thực trạng, những nguyên nhân biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay
Đồng thời, nghiên cứu và tìm hiểu những nét chung và nét riêng về phong tục tập quán trong ăn uống của họ so với người Thái ở vùng khác trong cả nước nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong văn hóa
ẩm thực truyền thống của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Mô tả, phân tích về văn hóa ẩm thực trong truyền thống nhằm sưu tầm các món ăn, đồ uống, cách ứng xử trong ăn uống và giá trị của văn hóa ẩm thực truyền thống và hiện đại của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
để bổ sung vào tư liệu về văn hoá ăn uống của người Thái, góp phần bảo lưu
và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa nói riêng và dân tộc Thái nói chung Đồng thời đánh giá thực
Trang 11trạng biến đổi văn hóa ẩm thực của họ trong giai đoạn hiện nay và đề xuất
một số giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp ở trong đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là văn hóa ẩm thực của người Thái ở
huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đó là tri thức về các món ăn truyền thống,
cách chế biến, nguyên liệu chế biến món ăn, đặc biệt chú trọng đi sâu nghiên
cứu văn hóa ẩm thực truyền thống và hiện nay để thấy rõ được những thay đổi
về ẩm thực của người Thái ở huyện Quan Sơn qua từng giai đoạn
4.2 Phạm vi
Khóa luận tập trung nghiên cứu những yếu tố về văn hóa ẩm thực trong giai
đoạn hiện nay Phạm vi thời gian là từ năm 1990 cho đến nay Địa bàn khảo
sát gồm 13 xã, thị trấn thuộc địa bàn huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bằng những phương pháp nghiên: nghiên cứu tài liệu,
nghiên cứu, điền dã tại thực địa, điều tra, phỏng vấn
Phương pháp thu thập tư liệu tại các thư viện, viện nghiên cứu chuyên
nghành: ở các thư viện Dân tộc học, thư viện huyện Quan Sơn, thư viện tỉnh
Thanh Hóa, thư viện của trường Đại học Văn hóa Hà Nội,… Tại đây tôi đã
tiếp xúc với nhiều tài liệu nghiên cứu về người Thái nói chung và văn hóa ẩm
thực nói riêng của những người đi trước, học hỏi được ở đó nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học rất bổ ích để tiến hành các bước tiếp theo đi thu
thập tài liệu ở thực địa
Comment [i3]: Viết lại các dòng đầu của
nhiệm vụ nghiên cứu.
Trang 12Phương pháp điền dã dân tộc học: trong qua trình học tập, sinh sống nhiều năm bản thân tôi đã được đi khảo sát thực tế, trực tiếp tìm hiểu được nhiều vấn đề trong ăn uống như: được tiếp xúc với nguồn lương thực, thực phẩm của vùng và được tham gia trực tiếp vào các ngày lễ, ngày tết, vào trong các đám cưới, đám tang của địa phương Để thu thập tài liệu cho khóa luận, tôi đã
đi xuống các xã qua đó tiến hành điều tra nghiên cứu Do đặc điểm người dân vùng núi sống rải rác, xen kẽ với người Kinh, Mông và Mường rất khó điều tra nên ở mỗi xã tiến hành điều tra 1 đến 2 bản có số lượng người Thái tập trung đông làm điểm nghiên cứu chính
Phương pháp phỏng vấn, nói chuyện cùng những người cao tuổi, các cô, các bác, các chị em người Thái,… về cách tổ chức bữa ăn, cách chế biến món ăn
và học hỏi một số kinh nghiệm, cách làm một số đồ ăn uống của đồng bào Bản thân cũng được tham gia quan sát, làm trực tiếp trong quá trình chế biến thức ăn, tham gia ăn uống cùng với các gia đình và được “kiểm định” lại nững
gì thu thập được bằng thính giác, thị giác, vị giác,…
Cuối cùng, là các phương pháp phân tích, tổng hợp được áp dụng để xử lý tài liệu và viết khoá luận Để có sự nhất quán nên các từ ngữ tiếng Thái trong khoá luận được phiên âm theo từ điển Thái – Việt, bên cạnh đó vẫn chú thích
có phiên âm riêng của người dân trong vùng
6 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở kế thừa những kết quả của các tác giả đi trước, tác giả khoá luận
cố gắng đi sâu vào một số nét chính nổi bật nhằm mục đích đóng góp thêm cho vấn đề này như:
Cung cấp thêm tư liệu về văn hóa ẩm thực của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, giúp người đọc hiểu thêm một số đặc điểm khái quát về đặc
Trang 13điểm kinh tế, văn hóa và những giá trị văn hóa của họ, nhất là những nét đặc trưng riêng biệt trong văn hóa ẩm thực của họ với đồng bào Thái ở các vùng khác
Giúp cho các dân tộc khác hiểu thêm về văn hóa ẩm thực của dân tộc Thái cũng như vốn văn hóa nói chung của họ và thấy được những nét biến đổi trong tập quán ăn uống của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực truyền thống của người Thái ở huyện Quan Sơn
Trang 14Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN QUAN SƠN VÀ DÂN TỘC THÁI
Ở HUYỆN QUAN SƠN 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của huyện Quan Sơn
Quan Sơn là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây tỉnh
Thanh Hóa, giáp với Lào, ra đời trên cơ sở 9 xã được tách ra từ huyện
Quan Hóa theo Nghị Định số 72/NĐ – CP ngày 18/11/1996 của Chính
phủ Quan Hóa nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, trước khi chưa
chia tách thành 3 huyện ( Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát) là một
huyện miền núi vùng cao, địa bàn rộng lớn (lớn hơn 1/5 diện tích tự
nhiên toàn tỉnh), đường giao thông thủy – bộ còn nhiều hạn chế, trình
độ dân trí còn thấp, sự chênh lệch về kinh tế - văn hóa so với các huyện
vùng đồng bằng – ven biển trong tỉnh khoảng cách còn khá lớn… điều
đó tạo ra khó khăn, hạn chế trong việc quản lý phát riển kinh tế - xã
hội Nhằm tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng yêu cầu tiến hành sự nghiệp
công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thực hiện theo đề nghị của UBND
thỉnh Thanh Hóa, ngày 18/11/1996, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định 72/CP điều chỉnh địa giới huyện
Quan Hóa ra thành 3 huyện: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát
Khi mới thành lập, huyện Quan Sơn chỉ gồm 9 xã (Trung Xuân,
Trung Thượng, Trung Hạ, Sơn Hà, Tam Lư, Tam Thanh, Sơn Thủy,
Sơn Lư, Sơn Điện) Trải qua quá trình phát triển huyện Quan Sơn đã
thành lập thêm một thị trấn, gọi là thị trấn Quan Sơn nằm ở lòng xã Sơn
Lư Ngoài ra, huyện còn lập thêm các xã: Mường Mìn, Na Mèo “Năm
Comment [i4]: Yêu cầu về trình bày cần thống nhất như sau:
-Viết hoa tên chương -Sau các chữ số của đề mục phải có dấu -Các đề mục có 2 chữ số: font chữ thường, đậm
-Các đề mục có 3 chữ số: font chữ thường, đậm, nghiêng
-Các đề mục có 4 chữ số: font chữ thường, nghiêng
Trang 152009, xã Trung Tiến được thành lập từ một phần được chia tách từ xã Trung Thượng cũ Hiện nay Quan Sơn đã có 13 đơn vị hành chính bao gồm 1 thị trấn và 12 xã Đó là thị trấn Quan Sơn và các xã: Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Tiến, Trung Xuân, Sơn Thủy, Sơn Điện, Sơn
Lư, Tam Lư, Tam Thanh, Mường Mìn, Na Mèo” [3, tr 28] Quan Sơn gồm có 4 dân tộc Thái, Mường, Kinh, Mông cùng sinh sống
Từ ngày thành lập cho đến nay, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Quan Sơn đã phát huy truyền thống cách mạng, phát huy các yếu
tố thuận lợi, khắc phục những hạn chế khó khăn, tạo sự biến đổi sâu sắc, toàn diện trong điều kiện tự nhiên, xã hội vốn có của mình
1.2 Đặc điểm tự nhiên
1.2.1 Vị trí địa lý
Quan Sơn là một huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa, liền kề với biên giới Việt – Lào Phía Đông Nam và phía Đông của huyện Quan Sơn giáp huyện Lang Chánh; phía Đông Bắc giáp huyện Bá Thước; phía Bắc giáp huyện Quan Hóa, các huyện giáp đều thuộc tỉnh Thanh Hóa Về phía Tây Bắc, phía Tây và phía Tây Nam huyện Quan Sơn là biên giới Việt – Lào Giáp với các huyện Viêng Xay, Sầm Tớ (tỉnh Hùa Phăn, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào).Trên địa bàn huyện có sông Luồng là nhánh đầu nguồn của sông Mã, chảy theo hướng Tây – Đông Ngoài sông Luồng, còn có sông Lò cũng là một nhánh nhỏ của sông Mã Cả 2 con sông này đều bắt nguồn từ Lào và kết thúc ở sông Mã
Trang 16nơi giao lưu về cả văn hóa lẫn kinh tế của nhân dân Việt – Lào ở vùng biên giới
1.2.2 Địa hình
Huyện Quan Sơn là huyện miền núi nằm dọc theo hai con sông là sông Luồng và sông Lò, hai bên sông là đồi núi cao bao quanh Địa hình Quan Sơn có độ nghiêng thoải dần từ Tây sang Đông, phần lớn diện tích là núi rừng điệp trùng hiểm trở Núi đồi huyện Quan Sơn thuộc dạng đồi núi cao, nằm ở phía Tây Thanh Hóa (có chiều rộng từ sông
Mã ở phía Bắc đến hết lưu vực sông Chu và kéo dài 130km từ Lào đến Bắc Nghệ An) Đây là bộ phận của hệ thống núi có tên là “cánh cung sông Mã”
Dạng địa hình phổ biến là loại đồi núi cao và núi đá vôi phân bố
ở hầu hết các xã của huyện Quan Sơn
1.2.3 Khí hậu
Quan Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh buốt; lượng mưa bình quân hàng năm là 2.262,2mm; lượng nắng bình quân hàng năm là 1.404 giờ, nhiệt
Trang 17tổng diện tích là 92.858,06 ha nhưng chỉ có 730 ha cấy lúa nước, còn lại là đất rừng, đất lâm nghiệp và đất khác
- Tài nguyên nước
Hệ thống sông suối trên địa bàn huyện Quan Sơn tương đối dày đặc, nhưng chủ yếu chỉ có sông Luồng và sông Lò là đem lại lợi ích cao Sông Lò bắt nguồn từ mường Pao (huyện Sầm Tớ, tỉnh Hùa Phăn, Lào), chảy vào huyện Quan Sơn qua các xã: Tam Thanh, Tam Lư, Sơn
Lư, Thị Trấn, Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Xuân và đổ ra sông Mã Sông Luồng từ cửa khẩu Na Mèo chảy vào huyện Quan Sơn qua các xã: Na Mèo, Sơn Thủy, Mường Mìn, Sơn Điện và một số xã thuộc huyện Quan Hóa chảy vào sông Mã Hai con sông này không chỉ cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp mà còn là nguồn thủy sản, là đường giao thông quan trọng
- Tài nguyên rừng
Do khí hậu ẩm mát, địa hình hiểm trở nên rừng ở Quan Sơn phát
triển xanh tốt, phủ kín núi đồi Sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết:
“Núi Lư Sơn ở Trịnh Điền và Sơn Thủy cách châu lỵ Quan Hóa 97 dặm
về phía Tây, đá núi trắng toát, sắc cây xanh rờn, bên núi có sông nhỏ, trong núi có động, trong động có hai con tê ngưu đen và trắng sừng sang như đuốc, lại có một đàn linh dương ra vào động: vì núi thiêng nên không ai dám săn bắn” [2, tr 10]
Với địa núi đồi trùng điệp, Quan Sơn có nguồn tài nguyên rừng
vô cùng phong phú, với diện tích đất rừng còn khá rộng, chiếm hơn 70% diện tích đất tự nhiên, độ che phủ của rừng là 72 % [2, tr 10] Vì vậy ở đây có nhiều loại gỗ quý như: sến, táu, trò chỉ, lát, dỗi, vàng
Trang 18tâm,…và một số loại lâm sản khác như: luồng, nứa, vầu,… Đồng thời cũng có nhiều loại động vật quý hiếm như: gấu, hươu, nai, hoẵng, lợn lòi, khỉ, rắn, nhím,các loại chim,… Do khí hậu tương đối đa dạng nên động thực vật ở trong rừng có sự phong phú về cả số lượng cũng như chủng loại Tuy các loại đông thực vật rất đa dạng nhưng hiện nay do nạn phá rừng và săn bắt thú rừng nhiều nên nhiều là đã không còn nữa
và một số loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
- Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện cũng tương đối phong phú và có nhiều loại khoáng sản quý như: vàng, bạc Ngoài ra, còn có các loại khoáng sản khác như: than, đất sét, đất đỏ, sắt, đá vôi, sỏi, cát, núi đá,… có thể khai thác làm vật liệu xây dựng.Nguồn tài nguyên khoáng sản tuy đa dạng, phong phú nhưng nhìn chung có trữ lượng không lớn và phân bố không tập trung nên rất khó trong việc khai thác
và phát triển công nghiệp khai khoáng Hiện nay, đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát do kiểm soát không chặt chẽ
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.3.1 Cơ sở hạ tầng
Về giao thông:
Trước đây giao thông đi lại rất khó khăn, hầu hết đường đi vào các thôn xã đều là đường đất, mùa mưa bị sạt lở và lầy lội Đến nay, mạng lưới giao thông trong huyện đang dần được đầu tư và nâng cấp, khắc phục những khó khăn trong đi lại Quan Sơn được thụ hưởng đầy
đủ các chương trình dự án đầu tư của Nhà nước, của Chính phủ như nguồn vốn: 134, 135, 30A, 159, 174, VWB, 20,… mạng lưới giao
Trang 19thông trong huyện từ trung tâm cho đến các xã tương đối tương đối thuận lợi Ngoài ra, hiện nay Nhà nước đang tu bổ, nâng cấp đường quốc lộ 217 liên tỉnh góp phần thúc đẩy giao thông trao đổi buôn bán với các vùng khác, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển, đảm bảo tốt an ninh quốc phòng
1.3.2 Văn hóa – xã hội
Về giáo dục – đào tạo:
Trên địa bàn toàn huyện hiện nay có 40 đơn vị trường học Toàn huyện hiện nay đã phổ cập xong giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, xây dựng trường cao tầng và kiên cố hóa hệ thống trường phổ thông Chất lượng dạy và học đang được đầu tư, nâng cấp, các cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học cũng đang dần được hoàn thiện, đáp ứng cho nhu cầu dạy và học, đạt được nhiều thành tích cao trong những năm gần đây
Về y tế:
Mạng lưới y tế trong huyện cũng đang dần được nâng cấp và hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân Với một
Trang 20bệnh viện đa khoa huyện và 12/13 xã, thị trấn có trạm y tế riêng cùng với đội ngũ y bác sĩ, y tá ngày càng được bổ sung, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ xuống tận các xã chăm sóc sức khỏe cho bà con
Cho đến nay hệ thống bệnh viện, trạm xá đang được kiên cố hóa Đặc biệt, bệnh viện đa khoa huyện được đầu tư nâng cấp cả về cơ sở vật chất cũng như được đầu tư trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu khám
và điều trị của nhân dân
1.4 Dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn
1.4.1 Dân cư
“Theo số liệu điều tra hiện nay, dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn có khoảng 29.350 nhân khẩu, chiếm 83,71% dân số toàn huyện Người Thái phân bố đồng đều ở các xã, thị trấn với mật độ dân số khoảng 35,0 người/km2” [2, tr 15] Người Thái Quan Sơn chủ yếu là người Thái đen,
họ có tiếng nói, chữ viết và phong tục tập quán riêng Hiện nay tỉ lệ người mù chữ và trẻ em bỏ học ngày càng giảm, tỉ lệ người có trình độ
vă hóa tăng, trình độ dân trí của người dân được cải thiện rõ rệt
1.4.2 Đặc điểm kinh tế
Người Thái đến miền Tây Thanh Hóa vào thế kỷ thứ XII, sinh sống bằng nghề cấy lúa nước, làm nương rẫy, săn bắn, làm các nghề thủ công như: đan lát, rèn, đúc, đục đá, làm gạch ngói, nghề mộc, thêu ren, dệt thổ cẩm Đặc biệt, nghề dệt thổ cẩm là nghề thủ công truyền thống, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trong thời kỳ đổi mới, mọi thành phần kinh tế bung ra sản xuất kinh doanh chính vì thế kinh tế của người Thái nơi đây cũng dần phát
Trang 21triển, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Tuy nhiên nền kinh tế vẫn còn mang tính tự cấp tự túc, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu
số loại cây công nghiệp Ngoài ra, đồng bào Thái còn chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và phát triển một số nghành nghề thủ công
Về trồng trọt:
Cũng giống như các dân tộc khác, trồng trọt là nghành chính và cung cấp thức ăn chủ yếu trong đời sống hàng ngày cho đồng bào Các loại cây trồng gồm có nhiều loại khác nhau như: cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp,…
Cây lương thực gồm có các cây như: cây lúa nước, cây ngô, cây lúa nương, cây sắn,… Trước đây đồng bào chỉ làm một vụ một năm nhưng hiện nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì hầu hết các ruộng đều trồng được 2 vụ một năm Nguồn nước tưới tiêu chủ yếu là lấy
từ sông, suối Ngoài ra, họ còn đắp đập để ngăn nước tưới tiêu và làm các kênh mương để dẫn nước từ các khe suối về các cánh đồng Ngoài các cây lương thực, họ còn trồng thêm các cây thực phẩm, cây ăn quả và một số loại cây công nghiệp
Về chăn nuôi:
Trang 22Nghề chăn nuôi của người Thái tuy không phát triển nhưng trên thực tế lại là nghành đem lại nguồn thu nhập cao, đặc biệt là chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: trâu, bò, lợn, dê Chăn nuôi không chỉ tận dụng thức ăn thừa từ các sản phẩm nông nghiệp mà đồng thời đó còn là phương tiện để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: cày, kéo và làm nguồn thực phẩm cho con người
Các nghành nghề thủ công như: đan lát, dệt vải, làm mộc,… chủ yếu chỉ để phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày
Bên cạnh các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi thì hoạt động săn bắt hái lượm cũng có ý nghĩa thiết thực góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày Như vậy, các hoạt động kinh tế của người Thái ở huyện Quan Sơn phần lớn là tự cung tự cấp để phục vụ đời sống hàng ngày
1.4.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội
Văn hóa vật chất:
Làng bản: từ rất lâu đời, người Thái huyện Quan Sơn sống tách
biệt với các dân tộc khác Người Thái thường tập trung sống thành các làng bản dưới các chân đồi, các cánh đồng có dòng suối chảy qua hay những nơi có vị trí thông thoáng thuận lợi cho sinh hoạt, đi lại và sản xuất nông nghiệp như dọc theo hai con sông Luồng, sông Lò, các con suối, Các làng bản thường có 30 đến 40 nhà Tổ chức làng bản rất chặt chẽ, họ liên kết với nhau trong việc sở hữu đất đai, trong các công việc như: đám cưới, đám ma, trong lao động sản xuất họ thường kết thành nhóm, phường hội để giúp đỡ nhau khi các gia đình có việc Những công việc nhỏ sẽ có người đứng đầu nhóm, phường hội chỉ đạo; còn những việc lớn trong bản sẽ do Trưởng bản lãnh đạo
Trang 23Nhà cửa: ngôi nhà truyền thống của đồng bào Thái là ngôi nhà
sàn Trước kia, họ làm nhà sàn với mục đích tránh thú dữ, còn ngày nay
họ ở nhà sàn bởi nhà sàn rất mát và thông thoáng Họ tận dụng các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như: tre, luồng, gỗ, nứa, lá,… để làm nhà Việc lựa chọn gỗ làm nhà chủ yếu dựa vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình, nhưng thường là các loại gỗ tốt như: trò, lim, nghiến, táu,…được sử dụng làm khung nhà như: cột, kèo, rầm, xà,… “Nhà cửa của người Thái vừa trang nhã vừa chắc chắn Nhà sàn được trang trí nhiều hoa văn họa tiết rất tinh xảo, nhà có 4 mái, được trang trí theo
kiểu hình mai rùa, có “khau cút” (khau cút là hai tấm ván đóng chéo
nhau hình chữ X trên đòn nóc để chắn gió)” [4, tr 46]
Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là kỹ thuật thủ công, công việc này do một đội thợ và người trong bản giúp đỡ nhau dựng nhà Việc xây dựng ngôi nhà đòi hởi rất nhiều thời gian và công sức Ngôi nhà sàn của người Thái là một ngôi nhà tổng hợp được bố trí chặt chẽ, hợp lí và tận dụng một cách tối đa để phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Nhà sàn thường cao từ 8m đến 10m, ngôi nhà thường được chia thành các tầng sử dụng khác nhau: gầm nhà là nơi dùng để chứa dụng cụ sản xuất như: cày, bừa, cuốc, xẻng,… và là nơi nhốt gia cầm; trên mặt sàn
là nơi dành cho người ở, nơi đặt bàn thờ, bếp, nơi bảo quản lương thực, thực phẩm và các đồ dùng sinh hoạt khác,… Nhìn vào ngôi nhà sàn có thể thấy rõ được phong tục, tập quán, nề nếp, trật tự của từng gia đình người Thái nơi đây Trong nhà được chia thành nhiều gian khác nhau, trình tự sắp xếp các gian cũng được quy định rất chặt chẽ, nơi đặt bàn thờ, gian ngủ dành cho ông bà, cha mẹ và con cái,…
Trang 24Ngày nay, do đời sống kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi , các nguyên liệu tự nhiên như: gỗ, tre, nứa,lá cọ,… ngày càng cạn kiệt, cùng với sự xuất hiện của nhiều vật liệu xây dựng mới như: gạch, xi măng, cát, tôn,… cùng với xu thế phát triển chung, hiện nay có một số người Thái ở huyện Quan Sơn đã chuyển sang làm nhà xây nhưng số lượng
đó cũng chưa nhiều
Trang phục: huyện Quan Sơn chủ yếu là người Thái đen, trang
phục được phân biệt rất rõ trong từng quan hệ như: trang phục hàng ngày, trang phục trong lao động, trong sinh hoạt, trong lễ hội Trang phục người Thái đen ở huyện Quan Sơn khác với người Thái đen ở các tỉnh phía Bắc Trang phục thường nhật của phụ nữ Thái đen là áo khóm (xửa cong) mầu tối cổ tròn, chui đầu, cài cúc phía vai, khác với áo phụ
nữ Thái trắng cài cúc bạc tạo hình bướm, ve, ong Riêng cách búi tóc của người phụ nữ Thái trắng, Thái đen giống nhau, chưa chồng thì búi sau gáy, có chồng thì búi trên đỉnh đầu
Trước đây, nguyên liệu làm trang phục là sợi lấy từ cây bông, thuốc nhuộm lấy từ nhiều lại lá cây khác nhau Ngày nay, nguyên liệu dệt có thể mua sẵn, những khi cần thiết họ mới tự dệt cho mình những
bộ trang phục truyền thống; những ngày bình thường họ không còn mặc trang phục truyền thống nữa mà thay vào đó họ mặc quẩn áo như người Kinh
Trang phục gồm có: quần, áo (đối với nam giới); váy, áo, khăn piêu, dây thắt lưng và đồ trang sức (đối với nữ giới) Tùy vào từng đối tượng và chức năng sử dụng mà có nhiều kiểu khác nhau như: quần áo phụ nữ, nam giới, trẻ em, quần áo cưới, quần áo tang,… Đối với phụ nữ
họ thường để tóc dài, đội khăn piêu Áo của người phụ nữ là kiểu áo
Trang 25khóm thân ngắn đến lưng, tay dài, cổ chui, có dây thắt ở cổ; váy thường
có màu đen, chân váy và đầu váy được thêu dệt thành các hình thù của các con thú như: con voi, con ngựa, con nai,… Kết hợp với bộ váy áo sẽ
là chiếc thắt lưng xanh và chiếc dây bạc đeo ở bên cạnh sườn làm tôn thêm vẻ nữ tính, duyên dáng, thanh lịch của các cô gái Thái Quần áo nam giới thì đơn giản hơn, quần ống rộng, màu tối, áo tương tự áo của người Kinh, họ cắt tóc ngắn Trong các đám tang, cả nam giới và nữ giới đều mặc đồ màu trắng, thiết kế đơn giản, không trang trí hoa văn, màu sắc Còn trong các ngày lễ họ mặc những bộ trang phục mới, trang trí lộng lẫy và nhiều màu sắc sặc sỡ Đồ trang sức như: vòng bạc, hoa tai, vòng tay, nhẫn,… bằng bạc phụ nữ và trẻ em hay đeo
Ẩm thực: từ bao đời nay, người Thái ở huyện Quan Sơn sống gắn
bó với nghề sản xuất nông nghiệp Do vậy, lương thực thực phẩm chính của họ đều là các sản phẩm từ hoạt động sản suất, chăn nuôi, săn bắt hái lượm được Các món ăn thức uống được chế biến phong phú, đa dạng
Văn hóa tinh thần:
Quan hệ gia đình – dòng họ: các gia đình người Thái ở Quan
Sơn chủ yếu là các gia đình nhỏ, phụ hệ gồm có: bố mẹ, con cái Ngoài
ra, còn nhiều gia đình ông bà vẫn ở chung với con cái Ông bà thường ở chung với con trai, là con trai cả trong gia đình Trong gia đình, người đàn ông, nhất là người con trai cả có vai trò rất quan trọng, là trụ cột trong gia đình, có vai trò quyết định các vấn đề của gia đình như: sản xuất, cưới xin, tang ma,…và có quyền thừa kế tài sản Tuy nhiên, trong thời buổi xã hội phát triển như ngày nay thì những quyết định của người đàn ông cũng phải có sự bàn bạc và thống nhất của người phụ nữ; con gái trong nhà đi lấy chồng cũng được chia một phần tài sản
Trang 26nhưng phần nhiều vẫn dành cho người con trai Trong nhà, các thành viên trong gia đình có sự phân biệt chặt chẽ với nhau như: trong quan
hệ giữa bố chồng, anh chồng với con dâu, em dâu,… Người Thái rất coi trọng những người trong cùng dòng họ, thân tộc, họ yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau trong mọi vấn đề như: lao động sản xuất, cưới xin, tang ma hay những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày Họ nội luôn được coi trọng hơn họ ngoại, con gái phải theo con trai về làm dâu, ít trường hợp về ở rể, con cái sinh ra phải lấy họ bố Anh em sau 5 đời mới được phép kết hôn với nhau (có thể hơn nếu anh
em họ hàng ở gần nhau) nên người Thái chủ yếu là kết hôn ngoài dòng
họ
Đám cưới: chế độ hôn nhân của người Thái ở huyện Quan Sơn
cũng giống như các dân tộc khác, về cơ bản là hôn nhân một vợ một chồng trường hợp đa thê hầu như là không có Trước kia, trai gái vẫn được tự do yêu đương nhưng để quyết định đi tới hôn nhân lại chịu sự sắp đặt của bố mẹ và có một phần mang tính chất mua bán, thể hiện qua các khoản tiền thách cưới rất cao, cùng với đó là những món đồ mà hai bên trao cho cô dâu chú rể cũng rất đắt tiền Ngoài ra, nhà trai còn phải nộp các lễ vật cho nhà gái trước và sau lễ cưới Vì vậy, các chàng trai nhà nghèo thường rất khó lấy vợ Nếu hôn nhân bị phá bỏ mà do bên nhà gái chủ động hoặc mắc lỗi thì nhà gái phải hoàn trả lại tiền và các
lễ vật cho nhà trai Các nghi thức trong cưới xin của họ cũng rất phức tạp, gồm có nhiều nghi thức phức tạp như: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, cưới lần một kèm đăng ký kết hôn, cưới lần hai (cưới to, ít nhất là 50 mâm cỗ), lễ lại mặt,…Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các quan niệm trong cưới xin đã được thay đổi, nam nữ được tự do yêu đương và không còn chịu sự sắp đặt của cha mẹ khi kết hôn, cha mẹ chỉ
Trang 27có quyền góp ý cho sự lựa chọn bạn đời của con; các khoản tiền thách cưới, các lễ vật và các nghi thức trong cưới xin cũng được cắt bớt khá nhiều
Tang ma: xuất phát từ quan niệm lâu đời là vạn vật đều có linh
hồn và con người sau khi chết linh hồn vẫn còn tồn tại ở thế giới bên kia nên khi có người chết người Thái phải thực hiện hàng loạt các nghi
lễ tang ma Các nghi lễ mà người sống làm cho người chết thể hiện quan hệ tình cảm, lòng hiếu thảo, biết ơn và sự thương tiếc của người sống đối với người chết Mặt khác, nghi lễ trong tang ma còn giúp cho linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vương vấn, oán hận điều gì ở nơi trần tục, không quay trở lại quấy phá, làm hại người sống
Do vậy, có hai mặt trong nghi thức tang ma của người Thái, đó là thương tiếc và sợ hãi Tang ma của người Thái ở huyện Quan Sơn được
tổ chức rất chu đáo, gồm có nhiều nghi lễ chính như: lễ tắm rửa, lễ khâm liệm, lễ nhập quan, lễ tiễn linh hồn lên trời, lễ tạ ơn, lễ đưa ma, lễ
hạ huyệt, lễ mở cửa mả,… Một lễ tang được tổ chức từ 2 đến 3 ngày, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình Đặc biệt, trong tang
ma, thầy cúng có vai trò rất quan trọng, xuyên suốt trong các nghi lễ để đưa linh hồn người chết về trời Sau 3 năm họ làm đám giỗ và không có tục bốc mộ như người Kinh
Tín ngưỡng – tôn giáo: người Thái huyện Quan Sơn không theo
một tôn giáo nào, họ chỉ bị ảnh hưởng của một số tôn giáo như Phật giáo, Nho giáo, các tôn giáo này tác động đến quan niệm và lối sống của họ Chẳng hạn người Thái thờ tổ tiên, kính trọng ông bà cha mẹ, vấn đề trọng nam khinh nữ, phụ quyền,…của Nho giáo hay ảnh hưởng của Phật giáo như: lòng yêu thương con người, từ bi, bác ái, làm điều
Trang 28thiện tránh điều ác,…Về tín ngưỡng, họ quan niệm “vạn vật hữu linh” cho nên họ có tín ngưỡng đa thần, thờ ông bà tổ tiên và thờ các vị thần như: thần sông, thần núi,… Trong quan niệm về ma thì có ma hiền là
ma ông bà, tổ tiên và ma ác là ma đi làm hại người như ma gà, ma rừng,… Trước kia, đồng bào còn thiếu hiểu biết, mỗi khi có bệnh tật họ thường mời thầy cúng về làm vía, cúng bái để xua đuổi tà ma; hay trong cưới xin, tang ma họ cũng mời thầy mo về làm lễ vừa để xua đuổi
tà ma, tiễn đưa người chết về trời vừa để xin các ma tốt phù hộ cho người sống
Lễ hội: trong một năm họ không có nhiều lễ hội, chỉ có hai lễ hội
lớn là lễ hội Mường Xia và lễ hội mang tính chất tâm linh là lễ “ chá chiêng” Người Thái nơi đây không ăn tết Thanh Minh hay ăn Rằm tháng 7 như những các dân tộc khác nhưng ngược lại, tết Nguyên Đán lại ăn rất to, họ tự làm bánh chưng, dành các loại thịt ngon nhất cho ngày tết và họ mời họ hàng, làng xóm và bạn bè đến nhà cùng ăn uống, chung vui đón tết Họ thường ăn tết trong ba ngày là mùng 1, mùng 2, mùng 3, sau ba ngày tết họ dọn dẹp nhà cửa và trở lại các hoạt động đời thường
Văn học, nghệ thuật dân gian: từ lâu đời, họ đã sáng tạo cho
mình một kho tàng văn học nghệ thuật vô cùng phong phú, đa dạng và giàu tính đặc thù Họ có tiếng nói, chữ viết riêng (chữ Phạn) Về văn nghệ dân gian thì nơi đây nổi tiếng với hát Khắp, múa xòe, múa quạt, khua Luống, Khèn Bè,… Trong đó, nổi bật nhất là hát Khắp (hát Khắp
là loại hình sinh hoạt, diễn sướng văn nghệ dân gian và phổ biến trong đời sống của người Thái với ý nghĩa ngợi ca quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa và ca tụng công lao của tổ tiên), Khắp Thái là những bài thơ
Trang 29tự sáng tác để hát, để ngâm có đệm đàn Người Thái có nhiều loại Khắp như: Khắp bao sáo (điệu hát trai gái), Khắp Lồng Tồng (điệu hát ngoài đồng), Khặp ca (hát chèo thuyền),…Múa Xòe của người Thái cũng rất đặc biệt, đó là những điệu múa được đệm đàn tính, đàn bầu, nhị, khèn, khua Luống, trống, chiêng vừa âm vang vùa xao xuyến Nói về thể loại văn học thì không thể không nhắc đến chuyện thơ “Săng trụ son sao”,
“Chàng Khum Lù nàng Úa”, trường ca “Út Thêm” đã được lưu truyền rộng khắp Bên cạnh đó, còn có kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca,… phản ánh đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, cách ứng xử của người Thái giữa người với người, giữa con người với tự nhiên và những kinh nghiệm trong lao động sản xuất [2, tr 15]
Tiểu kết
Nhìn chung, người Thái ở huyện Quan Sơn sống trong vùng có
vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp tương đối đa dạng và phong phú với nhiều giống cây trồng
và vật nuôi, đặc biệt là khí hậu và địa hình nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp Là một huyện miền núi biên giới mới được chia tách tuy còn nhiều khó khăn về đời sống kinh tế, cơ sở hạ tầng nhưng nhờ có sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền nơi đây đang dần khắc phục những khó khăn, chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang giao lưu buôn bán với các vùng lân cận Cùng với đó, họ có một số truyền thống văn hóa được đúc kết và lưu truyền bao đời nay có nhiều giá trị về văn hóa tinh thần Không những thế, huyện Quan Sơn còn có một nền văn hóa thật sự phong phú và đa dạng bởi sự xen cư và cộng cư ở trong đó Điều đó đã tác động không nhỏ đến văn hóa – xã hội của nhân dân trong huyện Sự hòa nhập, giao
Trang 30lưu và tiếp biến văn hóa đó đã tạo ra một nét đặc trưng riêng của người Thái nói chung và người Thái huyện Quan Sơn nói riêng
Trang 31Chương 2
SỰ BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI
THÁI HUYỆN QUAN SƠN 2.1 Văn hóa ẩm thực của người Thái huyện Quan Sơn giai đoạn
1990 – 2005
2.1.1 Quan niệm về ăn uống
Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới có rất nhiều quan niệm về ăn uống Ăn uống không chỉ là hoạt động để con người duy trì sự sống và phát triển mà nó còn thể hiện bao gồm cả những nét văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc ở trong
đó Ăn uống phản ánh quá trình lao động sản xuất, cách ứng xử của con người với con người, của con người với tự nhiên Thông qua ăn uống chúng ta có thể hiểu được phần nào đặc trưng văn hóa của dân tộc đó Người Kinh có quan niệm về ăn uống được thể hiện trong câu thành ngữ sau: “Có thực mới vực được đạo”, hay người Tày cũng
có câu: “Mảy hất tạu khẩu hất rèng”, nghĩa là cây làm gậy chống, cơm làm sức khỏe Như vậy, từ xa xưa con người đã sớm nhận thấy sự quan trọng của ăn uống, có ăn thì con người mới có sức khỏe, có sức khỏe con người mới làm được việc Tuy có sự khác nhau về cách nói nhưng người Thái cũng có quan niệm về ăn uống khá giống so với các dân tộc khác, quan niệm này được thể hiện qua câu: “Dác khấu dác sụt xi, mi khấu xi du khướng” Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng trong ăn uống được thể hiện trực tiếp qua “khẩu” (cơm gạo), “xi” (suốt đời) đối với đời sống của con người Không chỉ có thế, thông qua ăn uống chúng ta có thể thấy hoạt động kinh tế, đời sống vật chất, ăn uống thể
Trang 32hiện được tình cảm và cách đối nhân xử thế của người Thái nói chung
và người Thái huyện Quan Sơn nói riêng
Như vậy, ăn uống không chỉ đơn thuần là để sống mà nó còn chứa đựng cả một nền văn hóa của một dân tộc Qua ăn uống chúng ta
có thể hiểu thêm phần nào về đời sống tình cảm của họ rất phong phú, luôn yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau, kính trọng nhau Thông qua ăn uống, họ còn nêu lên những kinh nghiệm, quan niệm, tiêu chuẩn của mình về các món ăn cũng như các đồ uống: “Cay xáng áp xục” (gà luộc còn sống, vịt luộc chín) Mặc dù, mỗi người có một khẩu vị ăn uống khác nhau nhưng nhìn chung về gia vị, chuẩn mực các đồ ăn, thức uống có nhiều nét tương đồng Ví dụ như món canh uôi và canh môn không thể thiếu gạo tẻ hay xôi và món bánh trưng khi nấu không thể thiếu gạo nếp,… Ngoài ra, trong quan niệm về ăn uống của người Thái Quan Sơn cũng có một số kiêng kỵ như: không được gõ bát đũa, không được ngồi xổm khi ăn, không được ăn dở bát và một số kiêng kỵ khác đối với sản phụ như: không đươc ăn các món làm từ thịt chó, lươn, phải
ăn cơm lam và mọi thức ăn nấu cho sản phụ đều không dính mỡ
2.1.2 Nguyên liệu chế biến món ăn
Người Thái huyện Quan Sơn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi Trong đó, chủ yếu là trồng lúa, ngô, sắn; nuôi lợn, trâu, bò Bên cạnh đó, còn có các hoạt động săn bắt, hái lượm nên nguồn lương thực, thực phẩm rất phong phú và đa dạng
Các sản phẩm từ trồng trọt
Cây lương thực:
Trang 33Lúa (khấu): có hai loại lúa là lúa nếp và lúa tẻ Lúa tẻ thường được trồng ở các ruộng lúa nước; lúa nếp nương thường lấy giống lúa
cổ xưa Cây lúa là loại lương thực chính, quan trọng nhất cung cấp trong các bữa ăn hàng ngày Lúa nếp nương thường được dùng để làm
các loại bánh, xôi trong các dịp lễ tết, làm các loại canh
Ngô (đưới), sắn(min co): đây là hai loại lương thực có vai trò quan trọng chỉ sau lúa, cũng là nguồn lương thực bổ sung trong các bữa
ăn hàng ngày Đặc biệt, những lúc giáp hạt, mất mùa thì ngô và sắn được độn với một ít cơm, làm lương thực chính cung cấp cho bữa ăn hàng ngày của người dân Ngoài ra, ngô và sắn còn được dùng để làm thức ăn chăn nuôi và nấu rượu
Ngoài ra, còn phải kể đến các loại khoai như: khoai lang, khoai
sọ, khoai tím, khoai môn,… Đây cũng là nguồn lương thực cung cấp cho đồng bào Thái vào những khi mất mùa hoặc làm dùng làm lương thực cho các bữa phụ
Cây thực phẩm: thường được trồng ở trong vườn xung quanh
nhà, trồng gần bờ sông suối hay trên nương Tùy vào từng mùa có các loại rau khác nhau, được dùng làm thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày Có nhiều loại rau quả được trồng như: rau cải, rau muống, rau lang, rau bí, các loại đỗ, quả bí đao, bí đỏ, mướp, bầu, cà, đu đủ,… Những loại rau quả này chủ yếu dùng để xào và nấu canh Ngoài ra,
còn có một số loại hạt như: hạt vừng, lạc,…
Các loại cây gia vị: người Thái huyện Quan Sơn không chỉ sử
dụng các loại gia vị làm gia vị đơn thuần mà họ còn dùng các loại gia
vị này với nhiều đặc tính chữa bệnh, đặc biệt là gừng và tỏi Cây rau
Trang 34thơm (phặc hom) phổ biến là các loại cây như: rau mùi tàu (phặc hom nám), rau mùi (phặc chi pén, chi la), hành (phặc hanh), tỏi (phặc tiêm), rau răm, lá lốt (phặc lớt),… Các loại củ như: gừng (khinh), nghệ (nghín), giềng (kha),… Các loại quả làm gia vị như: ớt (mác ướt), tiêu (mác khẻn),… Ngoài ra, một số loại lá như: lá gừng, lá chanh,… cũng được dùng để làm gia vị Người Thái cũng dùng các loại mắm như người Kinh, người Tày, người Mường là dùng mắm tôm, mắm tép, nước mắm Khi pha nước chấm họ thường cho thêm các loại gia vị khác như: xả, chanh, ớt, tiêu, hành, tỏi,…
Gia súc: họ nuôi các loại gia súc như trâu (khoai), bò (ngua), chó
(ma), mèo (meo) và lợn (mu) Trung bình mỗi gia đình người Thái Quan Sơn nuôi 3 con trâu, còn bò được nuôi với số lượng ít hơn.Trâu
và bò chủ yếu dùng để lấy sức kéo, chó và mèo chủ yếu nuôi chỉ để trông nhà, lợn được nuôi nhằm mục đích lấy thịt
Gia cầm: họ thường nuôi gà (cay) và vịt (pệt), đây là nguồn thực
phẩm dự trữ trong mỗi gia đình, cung cấp cho bữa ăn hàng ngày, những
ngày có khách hoặc các dịp lễ cần cúng bái
Thủy sản: Nhiều gia đình nuôi cá bằng ao, những gia đình có ao
thì họ không chỉ thả cá mà còn thả ốc, tôm, cua,…dùng làm thức ăn bổ sung hàng ngày Các loại cá thường được nuôi trong các ao là cá trắm,
cá trôi, các chép, cá trê,…
Nguồn lương thực, thực phẩm khai thác từ tự nhiên
So với nguồn lương thực, thực phẩm tự nuôi trồng thì nguồn lương thực, thực phẩm khai thác từ tự nhiên có vai trò quan trọng
Trang 35không kém, bổ sung trong các bữa ăn hàng ngày, nhất là những lúc giáp hạt, mất mùa,…
Cây lương thực: có củ mài và củ khoai rừng, là loại củ được
dùng làm lương thực bổ sung cho bữa ăn hàng ngày những năm mất mùa hoặc những bữa ăn phụ
Cây thực phẩm: có nhiều loại cây thực phẩm có thể dễ dàng tìm
kiếm trong tự nhiên như: ngót rừng, rau rền, rau má, rau diếp cá, rau
bợ, hoa chuối, quả núc nác,… Đặc biệt, Quan Sơn là khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các loại cây họ tre, nứa phát triển chính vì vậy ở đây có rất nhiều loại măng như: măng tre, măng luồng, măng nứa, măng vầu, măng bương, măng đắng,…Măng là loại thực phẩm rất được đồng bào ưa thích, là nguồn thực phẩm chủ yếu trong các bữa ăn hàng ngày và nhất là các dịp lễ tết Ngoài ra, nấm cũng là loại thực phẩm tự nhiên được ưa thích, có vị ngọt, mọc vào mùa mưa và dùng để nấu canh
Các loại động vật: có nhiều loại động vật như: nai (tố phan), hoẵng (tố quáng), lợn lòi (tố mu pá), sóc (tố học), chuột (tố nu), gà rừng (tố cay pá), rắn (tố ngu), nhím (tố mín),… Họ thường tổ chức đi săn hoặc đặt bẫy vào thời gian nông nhàn vừa để bảo vệ mùa màng và
để cải thiện trong các bữa ăn hàng ngày Hiện nay, do săn bắn nhiều nên một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc giảm về số lượng Bên cạnh đó, còn có một số loài côn trùng như: châu chấu (tặc tén), ong (tén), trứng kiến (sáy một),… và một số loài thủy sản sống dưới nước như: cá cám (pá toong teng), : ếch (cộp), nhái (khuyết), tôm (cúng), cua (pú), ốc (hói),…
Trang 36Một số loại lá cây dùng để uống, ăn như: lá chè (bơ che), lá trầu (bơ pu),…
2.1.3 Các đồ ăn, đồ uống
Trong các bữa ăn ngày thường
Đối với người Thái ở Quan Sơn bữa ăn hàng ngày được chia làm
ba bữa chính, bao gồm: Bữa sáng (lau leng), bữa trưa (lau ngai), bữa tối (lau pau) Tất cả các bữa trong ngày kể cả bữa sáng họ đều ăn cơm, ít khi họ ăn bánh thay cho bữa sáng Thời gian ăn uống tùy thuộc vào từng gia đình, từng mùa cụ thể như mùa đông tối nhanh hơn nên thường ăn sớm hơn, còn mùa hè và những mùa thu hoạch nông sản thì
ăn muộn hơn Ngoài bữa ăn chính ra thì còn có các bữa phụ và những bữa ăn phụ thường chỉ ăn các loại bánh, củ quả
“Bữa chính là những bữa cơm cả nhà cùng ăn cơm chung và ăn
no, cơm và thức ăn nhiều và phong phú hơn Bữa phụ đơn giản hơn nhiều so với bữa chính, ăn ít cơm, ăn cho qua bữa và cả nhà người ăn trước người ăn sau…” [15, tr 23] Ngoài Ra, bữa phụ có thể không ăn cơm mà ăn bánh, củ, quả, ăn ít hơn, ăn cho đỡ đói Vì vậy, chúng ta thấy được tầm quan trọng của các bữa chính là bữa sang, bữa trưa và bữa tối, các bữa phụ chỉ ăn để chống đói
- Cơ cấu bữa ăn: “Trong các bữa ăn ngày thường của nhân ta nói chung
được tổng kết như sau: Bữa ăn = cơm + thức ăn
Cụ thể hơn ta có: bữa ăn = cơm + (rau + thịt hoặc cá)
Trên thực tế, cơm và thức ăn là hai yếu tố quan trọng tạo nên bữa
ăn thường ngày của nhân dân ta, không thể thiếu một trong hai yếu tố
Trang 37Trong trạng thái bình thường, tự nhiên vốn có của nó, người Việt khi vào bữa cơm không thể thiếu thức ăn, tuy nhiên thức ăn như thế nào còn tùy thuộc vào điều kiện từng gia đình và khẩu vị của từng người Như vậy, bữa ăn ngày thường của nhân dân ta bao giờ cũng có 2 thành
tố cơm và thức ăn” [15, tr 240] Đối với người Thái ở huyện Quan Sơn cũng vậy, trong bữa ăn của họ cũng không thể thiếu cơm và thức ăn, đó
là hai yếu tố quan trọng không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày
- Hệ thống, đặc điểm của các món ăn truyền thống trong ngày
thường của người Thái Quan Sơn:
Những ngày bình thường của đồng bào là những ngày làm việc, lao động sản xuất nông nghiệp vì thế các món ăn thường được chế biến rất đơn giản, dẽ làm và nhanh nhất Tuy nhiên các món ăn phải đủ chất dinh dưỡng, đủ để ăn no, theo đó mà các món ăn cũng thường rất đa dạng và phong phú Tùy từng mùa mà có các lương thực, thực phẩm, các món ăn và các cách chế biến khác nhau Và sau đây là một số món chính trong ngày thường của người Thái huyện Quan Sơn:
Trang 38cùng với các loại thịt như món canh hầm đu đủ, thịt gà xào măng khô,… Đây là những món ăn chế biến cực kỳ đơn giản, ít tốn thời gian nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng
Một số món ăn có nguồn gốc từ động vật: cũng giống như các món ăn chế biến từ thực vật, các món từ động vật cũng thường được xào, luộc, rán, nướng,… Khi xào thịt họ cho đậm gia vị để ăn với cơm, các gia vị thường dùng đó là xả, gừng, tỏi, hành, kiệu,…Đó là đặc điểm chung của các món xào và cũng là đặc trưng ăn uống của người Thái huyện Quan Sơn
Ngoài ra, các loại thủy sản như cá, tôm, cua, ốc,… họ thường chế biến rất đơn giản Với các loại cá nhỏ thì họ thường chế biến như các món nấu xào, rán; các loại tôm, cua ốc thì có thể rang hoặc nấu canh
Trong các bữa đám, lễ tết
Bữa ăn ngày lễ: tuy không nhiều dịp lễ tết nhưng người Thái huyện Quan Sơn cũng rất quan tâm đến bữa ăn trong những ngày này bởi đó là dịp quan trọng để họ tỏ lòng biết ơn đối với ông bà, tổ tiên; là lúc con cháu được sum họp và cũng là dịp để cầu xin sự may mắn, xua đuổi tà ma, đẩy lùi bệnh tật và làm ăn phát đạt Bữa ăn ngày lễ là bữa
ăn phải gắn liền với lễ, trước khi bữa ăn diễn ra phải thực hiện phần lễ trước, tức là phải tiến hành cúng bái Vì vậy, trong bữa cơm ngày lễ họ rất coi trọng và làm chu đáo Cho dù những ngày thường không có gì
ăn, chỉ có cơm với rau nhưng ngày lễ, tết thì nhất thiết phải có rượu, thịt và và cơm xôi Vào những ngày này, họ thường tổ chức làm các đồ cúng để dâng lên tổ tiên, cho nên khâu chọn lựa thực phẩm và cách chế biến là rất quan trọng
Trang 39- Cơ cấu bữa ăn ngày lễ: cơ cấu bữa ăn của người Thái cũng gần giống như người Kinh, nên được tổng hợp như sau:
Bữa ăn ngày lễ là bữa cỗ Cơm bao gồm xôi và bánh Vậy, bữa ăn ngày lễ = xôi + bánh + (thịt + cá + rau)
Bữa ăn = cơm + (rau + cá +thịt) Như vậy, cơm luôn là thứ nhất, còn mức độ của các món ăn được tính theo chiều giảm dần, rau là chủ yếu, còn thịt và cá là thứ yếu Còn đối với các ngày lễ, tết thì ngoài cơm ra còn có các loại bánh và xôi; thức ăn thì thịt, cá là chủ yếu, rau là thứ yếu Không chỉ có vậy, khác với bữa ăn ngày thường thì các bữa ăn ngày lễ tết là bữa ăn mời khách,
họ hàng gần xa, bạn bè đến dự, sum họp gia đình,…
- Hệ thống đặc điểm của một số món ăn trong các ngày lễ, tết
Người Thái Quan Sơn không ăn nhiều tết như các dân tộc Thái, Tày ở khu vực phía Bắc, họ chỉ ăn tết Nguyên Đán và thường ăn tết theo lịch âm Tết Nguyên Đán của người Thái Quan Sơn thường đón mừng năm mới như các dân tộc anh em khác, đây là lễ tết lớn nhất trong năm nên các đồ ăn, thức uống được chuẩn bị hết sức chu đáo Mỗi nhà thường chuẩn bị gà trống thiến để cúng, họ mổ cả trâu, bò và lợn chia nhau để ăn tết, cũng với ý nghĩa như người Kinh “ngày 30 tết thịt treo trong nhà” Số thịt được chia làm nhiều phần để làm các món khác nhau, chủ yếu là ăn bữa hôm giao thừa và bữa ăn tết chính, bữa tết chính thường ăn rất to, nhiều món ăn và họ thường mời họ hàng, làng
Trang 40xóm, bạn bè đến dự Ngoài ra, số thịt muối thừa lại sau các bữa ăn có thể đem treo lên gác bếp để ăn dần, một số khác họ mang ra rán ép lấy
mỡ hoặc xào ăn trong những ngày sau tết Ngày tết của người Thái không có nhiều loại bánh, chủ yếu là bánh chưng (khau túm) và bánh
ốc (khau bén),… đó là các món không thể thiếu trong ngày tết Các đồ
ăn, thức uống thường được chuẩn bị từ hôm 27 tháng Chạp, riêng gà và lợn thì được chuẩn bị từ trước đó 5 tháng Những ngày giáp tết là những ngày xôi động nhất, mọi người cùng nhau háo hức đi lấy lá dong
về để gói bánh, chuẩn bị nấu rượu, chuẩn bị gạo để làm bánh, mổ trâu,
mổ bò, mổ lợn để lấy thịt ăn tết,… ai cũng bận rộn với công việc của mình Mọi thứ đều được làm rất công phu, để ăn tết đầy đủ nhất với ý nghĩa cho một năm no đủ Trong ngày tết Nguyên Đán nhất thiết phải
có các món như sau:
Bánh chưng (kháu túm): nguyên liệu gói bánh tương tự như người Kinh nhưng họ có kinh nghiệm gói bánh riêng sao cho bánh vừa thơm vừa dẻo lại vừa chắc, màu sắc đẹp, họ chỉ buộc hai dây lạt và có thể gói bánh bằng lá dong hoặc lá dừa
Xôi (kháu nứng): người Thái Quan Sơn ít khi làm xôi màu, chủ yếu là xôi trắng để đặt mâm cúng
Thịt gà luộc (cay luốc): đó là con gà trống thiến dùng để cúng tổ tiên, luôn để cả con và mổ moi Ngoài dùng để cúng thì thịt gà trong ngày tết còn được dùng để chế biến thành các món xào, nấu khác nhau với gừng, măng,…