Trong các bài viết nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Thái nói chung và ẩm thực của dân tộc Thái nói riêng, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu vềcác món ăn có giá trị và chức năng giải
Trang 1MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từ hàng trăm năm trước, họ có nhiều kinhnghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy nước làm ruộng nêntrong dân gian thường truyền câu ca ''Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước'' Mộttrong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩm thực Dân tộc Thái
ưa thích vị đậm đà của món nướng được chế biến từ thịt của các loại động vậtnhư: trâu, bò, cá, gà, và đặc biệt là các món ăn giàu chất dinh dưỡng Chính vìthế, trong các bữa ăn của người Thái thường không thể thiếu các món ăn giảinhiệt chế biến từ các loại rau rừng, là các món ăn lạ miệng và được xem như loạithảo dược có tác dụng chữa bệnh đường ruột, chống đầy hơi, tiêu mỡ và giảirượu trong ngày hè nóng nực và trong các dịp lế tết,hội hè
Trong các bài viết nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Thái nói chung và
ẩm thực của dân tộc Thái nói riêng, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu vềcác món ăn có giá trị và chức năng giải nhiệt Vì vậy, “Các món ăn giải nhiệttruyền thống của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là đề tài mà
em lựa chọn cho bài nghiên cứu của mình Qua bài viết này, người đọc có thểhiểu thêm về văn hóa ẩm thực đa dạng của dân tộc Thái Ngoài ra, tìm hiểu về
ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một việcthiết thực, có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học và thực tiễn góp phầnnghiên cứu văn hóa tộc người, bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyềnthống của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
2. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về ẩm thực của dân tộc Thái không phải là một đề tài mới Tuynhiên, các món ăn giải nhiệt truyền thống của người Thái lại chưa được mộtnghiên cứu nào khai thác sâu Trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay, sự mởcửa của nền kinh tế thị trường, sự du nhập và giao thoa văn hóa, sự thay đổi củamôi trường xã hội, sự xen kẽ giữa các tộc người, quá trình giao lưu văn hóa với
Trang 2các vùng khác đặc biệt là sự thay đổi trong phương thức canh tác truyền thống
đã có ảnh hưởng rất lớn tới nền văn hóa ẩm thực bản địa của người Thái
Với nguồn tư liệu của bài tiểu luận do chính em đã tìm hiểu,nguồn tư liệu
từ địa chí của địa phương, tài liệu tham khảo, đã góp phần tìm hiểu rõ về nguồngốc, vai tròcủa các món ăn giải nhiệt trong ẩm thực của người Thái ở huyệnThường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Cụ thể, đề tài không chỉ tìm hiểu về văn hóa ẩmthực, về các món ăn giải nhiệt của người Thái ở một địa phương cụ thể ở khíacạnh văn hóa mà còn ở khía cạnh thuộc lĩnh vực y học Qua đó,người đọc có thểhiểu rõ hơn về văn hóa Thái và trình độ phát triển của một bộ phận nhỏ ngườiThái sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đối tượng nghiên của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu về các món ăn giải nhiệt truyền thống củangười Thái ở huyện Thường Xuân,tỉnh Thanh Hóa qua các vấn đề: cách chếbiến các món ăn, công dụng đặc biệt của các món ăn, những biến đổi của cáchchế biến món ăn truyền thống, những câu chuyện văn hóa về nguồn gốc của cácmón ăn
- Phạm vi nghiên cứu:
• Thời gian: từ năm 1837 đến nay
• Không gian: người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Vận dụng phương pháp điền dã Dân Tộc Học như: tham gia khảo sát trên địabàn, quan sát thực tế, quay phim chụp ảnh, phỏng vấn sâu
- Tổng hợp, phân tích tài liệu: so sánh, xử lí thông tin
- Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm của đảng trong nghị quyết TW V khóaVII của Đảng về việc bảo tồn và phát huy những gía trị văn hóa
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI THÁI
Trang 3Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử của huyện Thường Xuân, Thanh Hóa.
1 Điều kiên tự nhiên.
1 Vị trí địa lý
Huyện Thường Xuân là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thanh Hóa, cáchthành phố Thanh Hóa 55 km về phía Tây, với diện tích tự nhiên là:1.105,05 km², Thường Xuân hiện là huyện rộng nhất tỉnh Thanh Hóa Vị trí địa
lý của huyện khá thuận lợi: phía Bắc giáp huyện Lang Chánh, Ngọc Lặc, phíaTây giáp tỉnh Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào, phía Đông giáp huyện ThọXuân; phía Nam giáp huyện Triệu Sơn, Như Xuân và Như Thanh
Địa hình toàn huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phía Đông
và Nam Có nhiều dãy núi cao như Chòm Vịn xã Bát Mọt cao 1.442m so vớimặt nước biển Địa hình bị chia cắt bởi các sông như sông Khao, sông Chu, sôngĐặt, sông Đằn Có nhiều đối bát úp, đất nông nghiệp nhỏ lẻ
Trang 4Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2012, dân số toàn Huyện có18.236 hộ với 86.120 nhân khẩu ( Nam: 190 người; Nữ: 43.930 người ) Mật độdân số trung bình là 77 người/km2 Dân cư phân bố không đều, tập trung phầnlớn ở vùng thấp.tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,87% Gồm có bốn dân tộc chủ yếusinh sống trên địa bàn là: Thái, Kinh, Mường và Thổ Trong đó Thái là dân tộc
có số dân đông nhất trong Huyện: 44.72 người, chiếm 52%
Dân tộc Thái là dân tộc vốn có truyền thống lâu đời, có vốn văn hóa dângian phong phú gắn liền với sự hình thành, phát triển và nuôi dưỡng tộc người từthuở ban đầu Trong kho tàng đó phải kể tới nền ẩm thực truyền thống đa dạng
và mang đậm tri thức dân gian của dân tộc qua các bài thuốc chữa bệnh, cácmón ăn giải nhiệt
2 Môi trường lịch sử
Thường Xuân là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hoá, đượcthành lập năm 1837 (năm Minh Mạng thứ XVIII) với tên gọi Châu Thường, sauCách mạng Tháng Tám năm 1945 đổi tên là huyện Thường Xuân Huyện cóchung đường đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộnghoà Dân chủ nhân dân Lào Vùng đất cổ Thường Xuân từ ngàn xưa được 3 dântộc Thái, Mường, Kinh cùng đoàn kết gắn bó với nhau trong cộng đồng các dântộc Việt Nam, xây dựng nên bề dày truyền thống văn hoá son sắc, thuỷ chung,thương người - vì nghĩa và tình yêu quê hương đất nước Những truyền thống tốtđẹp ấy kết thành vùng đất "Thiên thời, địa lợi, nhân hoà", vùng đất đã từng đượccác bậc quân vương chọn làm hậu cứ, chiêu tập hiền tài để kháng chiến chốnggiặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc
Năm 2012, huyện Thường Xuân tròn 175 năm (1837 - 2012) Với truyềnthống văn hoá, truyền thống lịch sử vẻ vang của ông cha trên vùng đất đã từngchịu nhiều gian khó nhưng rất đỗi hào hùng - truyền thống tốt đẹp của nhân dâncác dân tộc Thường Xuân Một vùng "địa linh" của núi rừng quê Thanh anhhùng bất khuất; sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách ở khu Bảo tồn thiên nhiên
Trang 5Xuân Liên kỳ thú và công trình thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt - công trình trọngđiểm Quốc gia đã hoàn thành Nhiều di tích văn hoá hấp dẫn khác như: LũngNhai - nơi diễn ra hội thề của 18 tướng lĩnh cùng Bình Định Vương Lê Lợiquyết tâm chống giặc Minh thế kỷ XV, Đền Cầm Bá Thước, Đền Mẫu chúaThượng ngàn và quần thể khu di tích cách mạng trên đất Thường Xuân.Thường Xuân là một vùng đất cổ, đã qua quá trình hình thành và phát triển hàngngàn năm lịch sử.
2 Khái quát về người Thái.
1 Lịch sử người Thái.
Người Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái Hiện nay, các tộc ngườithuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái có gần trăm triệu người cư trú ở Trung Quốc,Việt Nam, Lào, Thái Lan, bang Myanmar và vùng Assam miền đông Ấn Độ.Theo tổng điều tra dân số và nhà ở của tổng cục thống kê năm 1999, người thái
ở nước ta có 1.328.725 người, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu,Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An…Người Thái ở Thanh Hóa
là một bộ phận của người Thái ở Việt Nam sinh sống chủ yếu ở Thường Xuân,Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh…
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng, rất có thể người Thái đã
có mặt trên mảnh đất của mình thuộc lưu vực sông Chu, sông Mã Trong thời kìBắc thuộc, người Thái đã nhiều lần nổi lên chống lại các quan lại phong kiếnTrung Quốc sang cai trị nước ta Bị đàn áp, người Thái phải chạy ngược theocác dòng sông lên miền núi cao thượng nguồn lập bản mường mới ví dụ ngườiThái có Mường ôm, Mường Ai nằm ở vùng đầu nguồn sông hồng được coi làmường tổ tiên của người Thái ở đó có câu:
“Mường Ống lái khoai
Mường Ái lái mó, viếng
Nghĩa là:
Mường Ống nhiều trâu
Mường Ái nhiều nồi, miếng.”
Trang 6Trong quá trình lịch sử, người Thái ở Thanh Hóa đã nhiều lần tiếp nhận cáccụm di dân từ Tây Bắc vào, và di chuyển vào phía Nam Ở vùng Thường Xuân,lang đạo họ Cầm dẫn người di cư từ Tây Bắc qua địa phận Lào vào lập nghiệpdọc theo sông chu, lấy Chiềng Vạn làm nơi trung tâm, dến đời cầm Bá Thước làđời thứ 13
Theo khảo sát thực tế bộ phân người Thái ở Thường Xuân có tiếng nói,thần thoại, cổ tích đặc biệt là trò chơi dân gian phong phú Họ tự ý thức đượcrằng phía dưới có người kinh ( keo), phía trên có người Lào, người Xá ỞThường Xuân không phân biệt về Thái Đen và Thái Trắng mà chỉ phân biệt giữaTay Dọ và Tay Mươi Như vậy về mặt lịch sử, người Thái ở Thanh Hóa đượchình thành và phát triển từ một nhóm Tày cổ bản địa, trải qua nhiều biến cố lịch
sử, được bổ sung thêm một phần từ nhiều địa phương phía Bắc vào, đã tạo nênbản sắc riêng vừa mang đặc trưng Thanh Hóa, vừa phản ánh cộng đồng ngườiThái nói chung
2 Đặc điểm văn hóa truyền thống.
1 Văn hóa mưu sinh
Hình thành kinh tế tập thể, tình hình kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tự cấp
tự túc Nghề sống chính là làm ruộng, làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầmkết hợp với khai thác nguồn thức ăn trong tự nhiên ( thịt rừng, cá nước, rau trời.một số vật phẩm có giá trị như đại gia súc ( trâ, bò, ngựa…) thổ cẩm mỹ nghệmang bán hoặc trao đổi, các loại dụng cụ lao động và dụng cụ sinh hoạt như đồgốm, đồ đồng, đồ sắt và muối
Là cư dân vốn có truyền thống trồng lúa nước từ lâu đời đã tích lũy đượcvốn kho tang kinh nghiện trông lúa về nước, phân, cần, giống đặc biệt chú ý vềcác biện pháp thủy lợi,thời vụ và phòng trừ sâu, chuột phá hoại nổi tiếng với hệthống mương, phai, lái lị Người ta quen với quan niệm về một cuộc sống ổnđịnh là “Tắng chặng kin pà, phứa na kín kháu” (chặn nước ăn cá, làm ruộng ăncơm) bản người Thái định cư ở vùng thung lũng chân núi Con trâu là loại gia
Trang 7súc chủ yếu, vừa dùng để cày bừa, làm thịt, cúng tế, vừa bán lấy tiền trước đâyngười Thái chỉ làm ruộng mỗi năm một vụ, vào vụ mùa (tháng năm đến thángmười) về sau do nhu cầu lương thực tăng, người Thái đã làm ruộng mỗi năm hai
vụ để đáp ứng nhu cầu lương thực, trong đó ruộng thấp canh tác quanh năm,ruộng cao, bậc thang chỉ một vụ sản phẩm nông nghiệp tương đối phong phú,
có nhiều giống lúa trồng ở ruộng và nương
Nghề làm nương, phổ biến là phương pháp quảng canh và xen canh.NgườiThái rất quan tâm đến việc tìm tòi giống, các loại giống trồng đều được ngườiThái kế thừa từ người Mường, người Khơ mú, người Lào
Các nghề thủ công truyền thống phổ biến nhất là nghề thêu dệt thổ cẩm,đan lát, chặt đẽo bằng dìu,dao Nghề dệt thổ cẩm đẫ tổng hợp được phần lớn kỹthuật và hoa văn của người Thái vùng Tây Bắc, sản phẩm dệt là váy, áo, chăn,túi, khăn, chăn màn, gối, đệm của hồi môn cho cô dâu về nhà chồng
Đối với người con trai Thái khi lớn lên phải học công việc đầu tiên là đanlát bằng các vật liệu như tre, nứa, mây, giang các vật dụng như giỏ đeo, sọtgánh, nong, nia, ép cơm,thúng mủng
2 Văn hóa vật chất.
Trong năm có 4 tháng kiêng kỵ cưới vợ, gả chồng, làm nhà, khai ruộng làtháng giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng 10 (âm lịch)
Trong sinh hoạt hàng ngày người Thái ăn cơm nếp, ở nhà sàn, phụ nữ mặc
áo ngắn ( xứa cóm), váy dài có thêu hoa văn, có phần đầu váy trùm lên trênngực, khăn đội đầu màu đen thêu hoa văn ở hai đầu trước đây phụ nữ nhuộmrăng đen, ăn trầu
Nhà sàn cột chôn hoặn cột kê tảng, thường là số gian lẻ (3.4.7 gian), bắcthang lên hai đầu.trong nhà có một vách ngăn ở giữa phần sinh hoạt của phụ nữ
và đàn ông Bàn thờ thường đặt trên đầu sàn có vách ngăn không để cho kháchnhìn thấy nhà có hai bếp lửa để sưởi ấm và nấu nướng, đồng thời cũng là nơikhách ngồi tạm trước khi chủ săp xếp chiếu ngồi trong nhà có hai cây cột quan
Trang 8trọng khi dựng phải làm thủ tục cúng tế, đó là cây cột dựa bàn thờ ma nhà (gọi làxáu hóng) và cây cột dựa bếp chính ( gọi là xáu tau).
Nhà sàn ở Thanh Hóa nói chung không có khau cút ở đầu nóc như TâyBắc xà dọc chạy suốt chiều ngang không bị cắt cụt hướng nhà thường dựa vàothế núi , quay cửa sổ nhìn thẳng về chỗ thấp, gốc cây dầm sàn quay về phía đầungười nằm
Ở trên nhà sàn thường có những kiêng kỵ không ngồi trên bậc cửa ra vào,thả chân xuống cửa sổ, nằm ngang sàn Khách đến nhà phải lên thang giành chogiới tính, không được tự ý qua lại gian nhà khác giới
Trong tập quán sản xuất thì bằng kinh nghiệm quan sát thiên nhiên để dựđoán thời tiết như: nghe tiếng sấm động đầu năm, người ta có câu:
“Phạ họng húa xăm pénh xá Phạ họng húa má pénh xiêm”
xa, xướm xa, cân xa, khóa ngàng, cân trong, xướm trong, kim trong và khóa đỏ.Trong các ngày đó có ngày khóa ngàng kỵ làm các việc mang tính chất khởi đầunhư dựng nhà, cấy lúa, lấy vợ…người ta có câu:
“Cấy lúa không cấy khóa ngàng
Đi đàng không đi ngày khóa đỏ.”
3 Văn hóa xã hội.
Trước năm 1945, xã hội người Thái tồn tại dưới hình thức mường bản.bản
là đơn vị quần cư ổn định theo ruộng nước, có từ năm bảy đến hàng trăn nócnhà Bản có tên gọi riêng, có một người là đạo bản hay quan bản quan lí Nhiềubản trong một khu vực địa lý, thường là trong một thung lũng có quan hệ gắn bó
về mặt huyết thống, kinh tế, văn hóa hợp thành một mường
Trang 9Thành phần xã hội trong mường được chia làm ba tầng lớp:
- Tầng lớp trên cai quản toàn bộ lãnh thổ và dân mường là nhà Tạo mỗi mường,mỗi poọng, mỗi bản có một gia đình, dòng họ cha truyền con nối tạo mường, tạopoọng có ông mụ trông coi về việc hành chính, lễ lạt và các công việc cưới xin,tang ma, thờ cúng nhà tạo tạo mường có quyền sinh, quyền sát được luật lệ chophép và hưởng nhiều quyền lợi kinh tế về sở hữu đất đai, tài nguyên, sức laođộng và cống nạp
- Tầng lớp đông đảo nhất là dân mường, tiếng Thái gọi là phú hay Đó là nhữnggia đình nông dân có tài sản, ruộng đất riêng, có quyền khai thác các nguồn lợi
Con cháu rất tôn trọng ông bà, cậu mợ bên ngoại: khi có việc quan trọngphải xin ý kiến quyết định của bên ngoại khách đến nhà, chủ nhà phải lên tiếngchào trước, người ta quan niệm người nhà chủ là người có trách nhiệm nếukhách là con gái từ mường xa đến, trai làng có thể đến chơi, hỏi thăm, uốngrượu cần và hát giao duyên với nhau
Trong hôn nhân: người Thái thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồngtheo chế độ phụ quyền từ lâu đời người Thái ở Thường Xuân duy trì hình thức
ở rể có thời hạn phổ biến đôi trai gái yêu nhau và muốn đi đến hôn nhân thìngầm bố trí một cuộc trộm vợ và khi đến nhà trai phải thực hiện một loạt cácnghi thức nhưng phải sếp đặt gọn nhẹ, im lặng
Các thủ tục ăn hỏi, cưới xin được thực hiện đơn giản: au khoán, ăn hỏi, đón
dâu.Phong trong sinh đẻ: người Thái quan niêm sinh đẻ là việc riêng của phụ
Trang 10nữ, đàn ông không được đến gần, khách đến trong khi nhà có người sinh thì phảitránh đi nơi khác Khi đứa trẻ chào đời, các bà đặt bé vào một cái nia hắt lên, hắtxuống ba lần để báo cho Mẹ Bảu trên trời biết đứa trẻ đã được làm người, sau đódùng lách nứa cắt rốn.
Sau sinh xong, hai mẹ con nằm cữ, bên cạnh bếp lửa, ăn cơm lam, uốngnước thuốc, chườm lá vào lưng Sau ba ngày ttor chức ra cử (ooc phay).ngườiThái không có lễ đặt tên riêng, nhưng mỗi đời người được gọi tên nhiều lần : tênkhai sinh(tên tục), tên trai, gái( gọi theo tên em, tên cháu),tên bố mẹ( gọi theotên con), tên ông bà (gọi theo tên cháu)
• Phong tục trang tang ma: người ta dùng cồng để báo hiệu có người sắp chết,
đánh một hồi ba tiếng là báo hiệu cho con cháu Một hồi không tiếng gọi concháu về gấp ba hồi không tiếng, báo cho bản biết người nhà đã chết
• Việc khâm liệm được tiến hành theo các thủ tục: tắm rửa bằng nước lá thơm,thay quần áo mới, lấy sợi chỉ buộc ngón chân cái và ngón tay cái chôn cất xong
Mộ của người Thái tập trung tại một nghĩa địa của bản Khi chôn đầu quay vềphía núi, chân phía nước, để tang và kèm theo những kiêng kị chung của bản.Người Thái không có tục làm giỗ ngày mất, chỉ khi nào làm lễ tết hoặc cóviệc đột xuất mới thờ cúng ma nhà
4 Văn hóa tinh thần.
Trước đây, do địa hình chia cắt, đường sá đi lại khó khăn, đặc điểm kinh tếnông nghiệp tự cấp tự túc, vì vậy đời sống kinh tế cũng mang đặc điểm tự cấp tựtúc, phạm vi hoạt động khíp kín trong mường tuy nhiên do ý thức truyền thốngdân tộc, bản chất giao lưu của văn hóa và các mối quan hệ tình cảm đã hìnhthành những nét chung về đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở ThườngXuân là:
- Giữ được và phát huy những đặc trưng cơ bản của cộng đồng người Thái như:văn học dân gian, các hình thức sinh hoạt văn nghệ, sử dụng chữ Thái trong mọimặt đời sống như chữ phổ thông
Trang 11- Hệ thống văn học dân gian mang tính dị bản hoặc xuất xứ tại đại phương có địadanh và đặc điểm đời sống xã hội của từng vùng Một số tác phẩm văn họcViệtđược sáng tác tại địa phương viết về đề tài địa phương Như Khăm Panh, Tư MãHai Đào, Ót Mọt Ót Đanh Khặp Hiến Pú Le, Khặp Vào Pha Dua…
Có đặc điểm riêng về tiếng địa phương, các làn điệu dân ca, tiết tấu nhạccụ.làn điệu khắp ơi khỏe khoắn, vang vọng trong vùng sông núi như một điệu
hò, khặp son láy tỉ tê, tha thiết khi đối đáp giao duyên trên nhà sàn, ru con đằmthắm
• Tín ngưỡng: cơ sở hình thành các hoạt động tín ngưỡng của người Thái là quan
niêm về thế giới ba tầng: trời, đất, nước và mọi vật có linh hồn trong điều kiệnsản xuất nông nghiệp chưa chế ngự được thiên nhiên, cuộc sống còn nhiều mối
đe dọa giải thích về sự hình thành trời, đất người, vạn vật người Thái có bài ca “tách nặm, tách đin” Gần giống như trường ca “ Đẻ đất đẻ nước” của ngườiMường.Tiếp theo, loài người tiếp tục đấu tranh vượt qua nhiều thử thách nhưbắn chin mặt trời để tránh khỏi khô hạn, gọi mặt trời lên để có ánh sáng, họccách tạo ra lửa để khỏi ăn sống nuốt tươi, lên trời xin các loại giống, các thứnghề, xin chữ viết…
Các nhân vật huyền thoại như Then, Ái Tà Đằm, Tà Đanh, Lang Cặp, Lang
Kè, bảy an hem Ẵm Ếch làm ra lửa… được người xưa tôn làm những bậc thầntối cao, thờ cúng hàng năm Trong đó, Then ( ở Mường Trời) được coi là thầntối cao nhất Then có những người giúp việc lien quan đến số mệnh, sinh tử củacon người, được người Thái cầu cúng như: Mé Bán, Phi Chướng, Then CặpThen Cóng…
Các loại ma, loại thần có nguồn gốc thiên nhiên đều xoay xung quanhtruyền thuyết về đẻ đất, đẻ nước quan niệm tiếp theo là con người có linh hồn.người Thái cho rằng mỗi con người có một cái bóng vô hình, lởn vởn bên ngoài
cơ thể, chỉ nhận thấy được trong giấc mơ Người ta gọi là vía hay linh hồn, tiếngThái gọi là Phi Khoắn Phi Khoắn tồn tại bất tử, có trước thân xác Mẹ Báu, vị
Trang 12thần trông coi về việc sinh đẻ và trẻ em, cho linh hồn từ trên trời xuống, đầu thaivào cơ thể mẹ, sinh ra con người khi người chết, linh hồn được thầy mo hướngdẫn lên trời trình báo rồi trở lại ngự trị ở bàn thờ và nghĩ địa, trở thành ma nhà( Phi Hươn) che chở cho con cháu Nếu Phi Khoắn người chết không được làm
ma, không có ông mo hướng dẫn thì sống lang thang và trở thành ma có hại
Về tín ngưỡng kiêng kỵ và thờ cúng các loài vật tổ ( tô tem) gắn với từngdòng họ mỗi dòng họ có một câu chuyện để giải thích Họ Kha (Hà) kiêng đánhbắt và ăn thịt chim cột kha Họ lộc kiên, thờ ông cọp.họ ngân kiêng ăn cá, lươn,
và rùa Họ lò kiêng chim Ú Lo…
Người những hình thức thờ cúng, kiêng kỵ, ngườ thái xưa còn có một sốcách thể hiện khác phản ánh nhận thức thế giới của họ:
Hiện tượng nhật thực cho là hến đớp mặt trời, nếu không hả ra thiên hạ sẽtối tăm mù mịt.hiện tượng nguyệt thực người ta cho là ếch ăn mặt trăng Khixuất hiện những hiện tượng đó, dân bản khua trống, gõ long (máng giã gạo),khua chiêng, đáng mõ, bắn súng nỏ lên trời, huyên náo cả gầm trời nhằm giảithoát cho mặt trăng, mặt trời
Tín ngưỡng của người Thái trong các bản mường phản ánh trình độ nhậnthức sơ khái về vũ trụ, thiên nhiên và ước mơ, nguyện vongjcos cuộc sống yên
ổn, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, phát triển nòi giống, bằng phương pháp tư duytưởng tượng và hình thức phản ứng tượng trưng Tín ngưỡng chi phối tưduy,hành vi mỗi người góp phần hình thành phong tục tập quán địa phương
• Tôn giáo: người Thái chưa duy trì hoạt động của một tôn giáo chính thống nào.
Nói đến tôn giáo phải kể đến các giáo lý, giáo hội, cơ sở thờ tự và tín đồ Từ xưamặc dù có một số hoạt động truyền bá đạo Phật và Thiên chúa từ bên ngoài vào,nhưng chưa đủ hình thành tổ chức và hoạt động tổ chức tôn giáo trên địa bàn cưtrú của người Thái
• Lễ hội: trong điều kiện sản xuất nông nghiệp cá thể ở miền núi, hàng ngày
người dân bản cặm cụi, âm thầm bên công việc của gia đình, do đó rất khát khao
Trang 13mong muốn có những dịp sinh hoạt để giao lưu, gặp gỡ, thổ lộ tình cảm củamình xuất phát từ bản chất trong sáng, hồn nhiên, vô tư người Thái rất lạc quan,yêu đời cuộc sống ít va chạm xã hội, mâu thuẫn ít gay gắt, chưa bị ảnh hưởngbởi tham vọng và các thủ đoạn bất nhân, cho nên các hoạt động tập thể luônmang đến cho người ta sự đồng cảm, tự do, giao lưu học hỏi tính chất dân chủcộng đồng còn khá đậm nét: quyền lực xã hội, tôn giáo, thần quyền chưa canthiệp sâu vào đời sống văn hóa, tạo ra tâm lý thoải mái không bị ràng buộc dểnày sinh ngẫu hứng sáng tạo, hòa nhập cộng đồng đó là cơ sở nảy sinh các hoạtđộng văn hóa cộng đồng đó là những sinh hoạt văn hóa lấy nội dung làm căn cứ
để sáng tạo ra các hình thức thể hiện phong cách, điều kiện của từng địaphuowng, các nội dung sinh hoạt theo nghi thức và tín ngưỡng trong bản, mừngnhư mở đầu một vụ gieo trồng, mừng kết quả mùa màng, cầu trời đất cho mưathuận, gió hòa, cầu sức khỏe, ghi ơn những người có công xây dựng bản mường,giữ gìn đất nước, mừng công ban thưởng… thu hút hầu hết các thành viên cộngđồng tham gia.tùy theo điều kiện địa lý, hoàn cảnh kinh tế, số lượng và mật độdân cư mà các hoạt động tập thể có quy mô lớn, nhỏ khác nhau Trong phạm vimột bản thông thường chỉ tổ chức các nghi thức tín ngưỡng kêt hợp với vui chơi,giải trí tự do, tùy hứng vào những kỳ nông nhàn và khi tết đến xuân về
Tại Mường Dôn lễ hội tổ chức tại Chiềng Vạn, thờ ba địa điểm: nhà thầnMường, thần vua Lê và nhà thờ dòng họ Cầm ( Cầm Bá Thước)
Các lễ hội trong năm cũng rất phong phú mang tính cộng đồng, tết nguyênđán là tết mừng năm mới thường được đồng bào tổ chức ăn tết to nhà nào cũng
mổ lợn cũng như người Việt và một số dân tộc khác đều gói bánh trưng, ngoài
ra đồng bào còn có thêm bánh ít, bánh rán Vào ngày mùng một tết nhà nào cũngmời ông mo đến làm lễ
Ngoài ra còn một số nghi lễ khác: trong chu kỳ đời người đó là các nghi lễtrong và sau khi sinh đẻ, cưới xin, tang ma.và lễ hội của cộng đồng như Kinchiêng óc mạy, Xin Na( Thượng Điền), Làm cụm hay xin bản, xin mường
Trang 14Tiểu kết:
Giống như đại bộ phận người Thái sinh sống trên lãnh thổ nước ta, người Thái ở huyện Thường xuân cũng có nền văn hóa truyền thống đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, mang dáng dấp của văn hóa địa phương, văn hóa của người Thái ở huyện Thường Xuân vẫn có những điểm riêng biệt Trong ẩm thực truyền thống, cư dân nơi đây đã có những nhận thức tiến bộ về mặt y học, tạo nên giá trị của các món ăn dân dã mang đậm văn hóa Thái.
Trang 15CHƯƠNG 2: CÁC MÓN ĂN GIẢI NHIỆT TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
2.1 Dấu ấn thiên nhiên trong văn hóa ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
2.1.1 Thiên nhiên trong đời sống mưu sinh
Từ xa xưa, người Thái có kinh nghiệm lập mường, lập bản dọc theo cáccon sông, suối thuận lợi cho nghề canh nông phát triển “ Táy kin nậm” hoặc “
o lóc có noong xoong hươn có bản” Nghĩa là: Người Thái ăn theo con nước; mộtvũng nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản Gắn liền với những kinh nghiệm lậpbản là những kinh nghiệm quý được coi là vốn sống của đồng bào Thái như :Đắp mương đắp đập : Làm cọn nước ( xe hàn ) đưa nước về ruộng sản xuất, vềbản sinh hoạt hằng ngày Điều đó chứng tỏ họ là những cư dân nông nghiệpcanh tác cây lúa nước từ lâu đời nay Tuy nhiên, lúa nếp luôn là lương thựcchính trong các bữa ăn hằng ngày của người dân tộc Thái
Ngoài việc trồng lúa , đồng Thái cũng trồng ngô, khoai, sắn, rau màu cácloại Và nghề rừng, nghề dệt thủ công lâu này đã tạo thêm nhiều nguồnlợi sống quan trọng cho người Thái Trong các nghề thủ công của người Tháiđược phân định khá rõ : Phụ nữ Thái tinh tế, văn hoa trong công việc dệt thổcẩm truyền thống; Người đàn ông Thái tinh xảo trong đan lát mây tre, nghềmộc Đặc biệt, những chiếc xuồng độc mộc đuôi én chở hàng hoá vượt thácghềnh, sông suối đã phản ánh nét riêng khá độc đáo của người Thái - nơi thựơngnguồn các sông suối nói chung
Cũng như người Thái sinh sống ở khu vực khác, văn hóa mưu sinh củangười Thái ở huyện Thường Xuân Tỉnh Thanh Hóa cũng gắn liền với thiênnhiên, tạo nên một bản sắc văn hóa riêng
Đặc điểm về ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân
Trang 16a. Đồ ăn:
Người Thái chủ yếu làm ruộng nước, nhất là những thung lũng lớn Lương
thực chính của họ là gạo, xưa kia chủ yếu là gạo nếp Khẩu phần ăn của họ: “cư
dân thung lũng chân núi, ăn xôi đồ từ úa nếp ”; các loại xôi của họ bao gồm:
xôi trắng, xôi đỗ, xôi sắn, xôi nhiều màu sắc Đặc biệt trong tết Xíp Xí (mườibốn tháng bảy) phải có xôi các màu làm lễ vật
Đồ ăn của người Thái phần lớn lấy từ thiên nhiên và sử dụng nguyên liệu
từ thiên nhiên để chế biến Trước đây, các loại thịt thường được người dân lấyđược từ việc săn bắn, bẫy thú rừng là nguồn sống chính Ngày nay, họ thườngnuôi các loại gia súc, gia cầm để mổ thịt Các loại thịt tươi sống như: thịt trâu,thịt bò, thịt lợn, thịt gà, cá, được sử dụng nhiều
Người Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng của món nướng.Món thịt trâu hoặc bò, cá, gà nướng, Những món này được người Thái tẩm,ướp gia vị rất cầu kỳ Gia vị để ướp là tiêu rừng hay còn gọi là “mắc khén”, ớt,tỏi, gừng, muối Trước khi đem ướp với thịt, các gia vị cũng được nướng lêncho chín, tỏa mùi thơm Trong mâm cơm của người Thái có nhiều món ăn, mỗimón đều có hương vị đặc trưng Các loại thịt gia súc, gia cầm, hay thủy sản đều
có thể nướng Thịt thái miếng, ướp gia vị, dùng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lênthan hồng; hoặc thịt băm nhỏ, bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá dong, kẹplại, nướng trên than đỏ hoặc vùi tro nóng; khi chín, thịt rất thơm, ăn không ngán.Món cá nướng hấp dẫn bởi hương thơm của cá, vị cay của ớt Món “pỉnh tộp”cũng là cá nướng, nhưng thường dùng cá to như chép, trôi, trắm mổ lưng, đểráo nước, xoa một lớp muối rang nổ; tẩm ớt tươi nướng, nghiền nát, mắc khén,
để cá ngấm gia vị, cứng thịt lại rồi đặt lên than hồng Cá chín có vị thơm hấpdẫn, dùng để uống rượu rất độc đáo Sản phẩm cá được người Thái chế biến ranhiều món ăn khác nhau, đặc trưng và ngon: cá hấp trong chõ gỗ, người Thái gọi
là cá mọ; món “pa giảng” là cá hun khói
Trang 17Ngoài ra, các món chế biến từ thịt cá, người Thái còn chế biến các mónluộc, xào, canh, canh, nộm, Nguyên liệu chế biến chủ yếu lấy từ thiên nhiênqua việc hái lượm, các loại rau được sử dụng như: măng, mộc nhĩ, nấm,củ quả,rêu đá, các loại lá cây và rau rừng.
Do đặc thù vùng cao, người Thái thường để dành cá sấy trong bếp Khi cókhách, nhà xa chợ, chưa làm kịp món ăn thì bỏ cá ra nướng lại cho thơm, rótrượu mời khách nhâm nhi Và ở bếp, người nhà tiếp tục chế biến món ăn, tiếptừng món lên đãi khách.Đây là cách giữ chân khách, thể hiện sự hiếu khách củađồng bào vùng cao
b. Đồ uống:
Đồ uống của người Thái chủ yếu là các loại rượu Rượu của họ gồm hai
loại chính: rượu cất và rượu cần (lảu siêu và lảu xá) Rượu cần không phải là đồ
uống truyền thống của người Thái mà là loại đồ du nhập qua quá trình giao lưuvăn hóa với các dân tộc thuộc nhóm Môn-Khome Gọi là rượu cần vì uống rượubằngcần, dùng bằng thân mây đã dùi lỗ, số lượng cần cắm ở chinh bao giờ cũngphải số chẵn, tùy thuộc vào lượng người uống: 2,4,6… cần
Rượu của người Thái cũng chưng cất, pha chế bằng những nguyên liệuhoàn toàn là tự nhiên Những hũ rượu được ủ bằng thứ men lá của vùng cao TâyBắc sẽ cho ra loại rượu nồng, êm, dịu và có thể làm say lòng bất cứ ai khithưởng thức mà không lo bị nhức đầu mà còn tỉnh nhanh Những loại rượu chuốihột, rượu táo mèo, rượu ngâm cây mật gấu… sẽ là món quà tuyệt vời mà thựckhách có thể dùng để tặng người thân và bạn bè để có thể cảm nhận được sựhoang sơ và hiếu khách của vùng núi cao Với những ai không uống được rượu
có thể thưởng thức sự mát lành của nước cây khúc khắc có tác dụng bổ máuđược pha chế dung hằng ngày như người miền xuôi pha chè
2.1.2 Những kiêng kị trong ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân.
Người Thái có nhiều kiêng kị trong việc ăn uống, ví dụ như:
Trang 18Trong bữa cơm, khi gắp thức ăn cho trẻ, người Thái kiêng không gắp chân
gà (tin cáy), đầu gà (hua cáy), quả tối táp lưm, vì người Thái quan niệm rằng: ănchân gà sau này lớn lên không giữ được tiền, ăn đầu gà khi nói sẽ không ai nghetheo, ăn quả tối sẽ quên tất cả
Trong bữa ăn nếu có uống rượu, nếu trên đầu mâm có hai chén nhỏ đặtsong song thì gọi là chẻn nóng Người ngồi gần chẻn nóng là người cao tuổihoặc được quý trọng Trước khi uống chén rượu đầu, bao giờ mỗi người cả chủ
và khách đều phải san chút rượu từ chéncủa mình vào chẻn nóng và rót vài giọtxuống sàn để mời tổ tiên và hồn vía của khách, tỏ lòng kính trọng và cầu chúctốt lành
Tính biện chứng được âm – dương được thể hiện trong sự quân bình
âm – dương trong cơ thể, người Thái cũng sử dụng thức ăn như nhữngvịthuốc Ví dụ: đau bụng nhiệt (dương) thì ăn những thứ hàn (âm): chè đậuđen, đồ ăn mát Đau bụng hàn thì ăn gừng, riềng (tính nhiệt) Tính biệnchứng còn được thể hiện trong sự cân bằng âm – dương giữu con người và
tự nhiên
2.2 Các món ăn giải nhiệt của người Thái ở huyện Thường Xuân
2.2.1 Canh lá đắng
2.2.1.1 Nguyên liệu chế biến và cách thưởng thức món canh lá đắng:
Như chính tên gọi của nó, lá đắng có vị đắng đặc trưng nên có nơi còn gọi
là lá mật vịt Cây đắng vốn là loại cây rừng, thường mọc nhiều ở các khe núi, ởven rừng.Khi lá đắng trở thành thứ rau ngon, người dân mới đem về trồng trongvườn Cây lá đắng mọc cao, thẳng, gần như cho lá xanh tốt quanh năm, nhưngcây lá đắng phát triển mạnh nhất trong là vào mùa mưa Lá đắng thon dài, tỏa rathành chùm như lá sắn.Người dân thường chọn những lá bánh tẻ để chế biến