Nhận thức được những giá trị văn hoá to lớn mà cha ông ta đã để lại cho chúng ta trong đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống các di tích lịch sử văn hoá, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài :
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu 04
1 Lý do chọn đề tài 04
2 Mục đích nghiên cứu 05
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 06
4 Phương pháp nghiên cứu 06
5 Bố cục khoá luận 06
CHƯƠNG 1: DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ ĐÌNH LÀNG HOÈ THỊ 07
1.1 Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại 07
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 07
1.1.2 Lịch sử hình thành làng Hoè Thị và xã Xuân Phương 08
1.1.3 Đặc điểm dân cư và truyền thống cách mạng 09
1.1.4 Một vài đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội của làng Hoè Thị 11 1.1.4.1 Đời sống kinh tế 11
1.1.4.2 Truyền thống văn hoá giáo dục 14
1.2 Đình làng Hoè Thị trong tiến trình lịch sử 17
1.2.1 Vài nét về đình làng Việt Nam 17
1.2.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của đình Hoè Thị 18
1.2.3 Lịch sử nhân vật được thờ trong đình Hoè Thị 19
1.3 Đánh giá 23
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC-NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH HOÈ THỊ 24
2.1 Giá trị kiến trúc-nghệ thuật 24
2.1.1 Không gian cảnh quan 24
2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 25
Trang 32.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc 26
2.1.4 Nghệ thuật trang trí kiến trúc 29
2.2 Các di vật trong di tích 30
2.2.1 Di vật bằng gỗ 31
2.2.2 Di vật bằng gốm 33
2.2.3 Di vật bằng đồng 33
2.2.4 Di vật bằng vải 34
2.2.5 Di vật bằng giấy 34
2.2.6 Di vật bằng đá 35
2.2.7 Các cây cổ trong phạm vi di tích 35
2.3 Lễ hội đình làng Hoè Thị 36
2.3.1 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội 36
2.3.2 Công tác chuẩn bị cho lễ hội 36
2.3.3 Diễn trình lễ hội 37
2.3.3.1 Phần lễ 39
2.3.3.2 Phần hội 47
2.4 Ý nghĩa của lễ hội đình làng Hoè Thị 48
2.5 Các lớp tín ngưỡng trong việc thờ thần tại đình Hoè Thị 50
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH HOÈ THỊ 53
3.1 Thực trạng di tích đình Hoè Thị 53
3.1.1 Hiện trạng chung của một số di tích và nguyên nhân tác động 53
3.1.2 Thực trạng kiến trúc đình Hoè Thị 55
3.1.3 Thực trạng các di vật 55
3.1.4 Thực trạng các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng và lễ hội 56
3.2 Một số biện pháp bảo tồn , trùng tu di tích đình Hoè Thị 57
Trang 43.2.1 Một số vấn đề cần quan tâm 57
3.2.2 Các giải pháp bảo tồn, tôn tạo di tích đình Hoè Thị 59
3.2.2.1 Giải pháp bảo tồn giá trị văn hoá vật thể 60
3.2.2.2 Giải pháp bảo tồn giá trị văn hoá phi vật thể 64
3.3 Khai thác và phát huy giá trị của di tích lịch sử đình Hoè Thị 64
KẾT LUẬN 67
THƯ MỤC THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt chặng đường dài phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, từ buổi sơ khai đấu tranh chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội,cũng như quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã để lại cho thế hệ sau một kho tàng
di sản văn hoá vô cùng quý báu Trong số đó phải kể đến giá trị của hàng vạn
di tích bao gồm đền, đình, chùa, miếu…trên khắp mọi miền của đất nước Mỗi di tích lịch sử, kiến trúc chứa đựng biết bao tình cảm, tâm huyết của các thế hệ trước Những đường nét hoa văn hoạ tiết dưới bàn tay tài hoa của người thợ tài hoa Việt Nam trở nên mềm mại, gần gũi.Trải qua bao thác ghềnh của lịch sử cùng với những bước đi của dân tộc, di tích mang trong mình dấu ấn và hơi thở của lịch sử.Chính vì vậy di tích là nơi hội tụ bản sắc văn hoá của dân tộc, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn người Việt Nam qua các thế
hệ, là địa điểm mà bạn bè quốc tế thấy lại một vóc dáng lịch sử, văn hoá của Việt Nam Tựu chung, di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý giá không chỉ của mỗi dân tộc mà của toàn nhân loại
Tuy vậy, qua bao năm tồn tại, với sự khắc nghiệt của tự nhiên, sự huỷ hoại nặng nề của các cuộc chiến tranh liên miên và những hành động thiếu hiểu biết không thể kiểm soát được của con người đã tàn phá và huỷ hoại rất nhiều di tích Vì vậy ngày nay chúng ta cần phải giữ gìn, bảo vệ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của nhiều thế hệ thông qua những giá trị của di tích cho cuộc sống hôm nay trở nên có thêm nhiều giá trị Con người chúng ta không thể chỉ sống cùng các thành quả khoa học kĩ thuật của thời hiện đại mà bao giờ cũng có xu hướng hướng về quá khứ, tìm về cội nguồn văn hoá truyền thống phát huy những mặt tốt để sống tốt đẹp hơn, tiến xa hơn trong cuộc sống hiện tại
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải biết bảo vệ những di sản văn hoá vô giá của cha ông đã để lại cho thế hệ sau
Trang 6cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta có nghĩa hơn Đó cũng là đường lối đúng đắn mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nhận thức được những giá trị văn hoá to lớn mà cha ông ta đã để lại cho chúng ta trong đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống các di tích lịch sử văn hoá, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài : Tìm hiểu di tích đình Hoè Thị” để làm bài khoá luận tốt nghiệp nhằm góp phần tìm hiểu nội dung văn hoá ấy và góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc bảo vệ di tích lịch sử văn hoá của dân tộc
2 Mục đích nghiên cứu
Đình Hoè Thị đã được các cơ quan văn hoá chức năng khảo sát, tìm hiểu
về các giá trị kiến trúc và lễ hội để lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1990 Những thông tin trong hồ sơ di tích đã cho chúng ta thấy được khái quát về hiện trạng của ngôi đình trước đây Bên cạnh đó đã có một số tờ báo, cá nhân đã tìm hiểu và viết bài về lễ hội của đình Tuy vậy những thông tin đó chỉ dừng lại ở mức khảo tả, đưa ra những nhận xét khái quát, chưa có tính chuyên sâu
Khoá luận: “Tìm hiểu di tích đình Hoè Thị” của tôi là bài viết trả môn trước khi tốt nghiệp nên mục đích nghiên cứu không nằm ngoài việc tìm hiểu các giá trị văn hoá, lịch sử, kiến trúc của đình và đưa ra một số giải pháp của
cá nhân nhằm bảo tồn và phát huy giá trị củaA di tích Nhưng với tính chất của một công trình nghiên cứu khoa học, bài viết của tôi đã có sự chuyên sâu tìm hiểu về giá trị văn hoá của lễ hội đình làng Hoè Thị nhằm phản ánh một đời sống tinh thần phong phú, độc đáo và giàu ý nghĩa của người dân nơi đây
Nó làm nên tính khác biệt của làng Hoè Thị so với các làng quê khác của Hà Nội Điều này rất cần thiết cho các cơ quan chức năng phát hiện và bảo tồn những giá trị văn hoá lễ hội của một ngôi đình nhỏ ở Hà Nội, tránh sự mai một trong đời sống hiện đại
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đình làng Hoè Thị nằm ở thôn Hoè Thị, xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khái quát toàn cảnh di tích Hoè Thị trong không gian, thời gian, lịch sử văn hoá, xã hội của vùng đất nơi di tích tồn tại
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm bài khoá luận này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp điền dã dân tộc học
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Phương pháp liên ngành lịch sử, khảo cổ học, văn hoá học
5 Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bài viết của tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Diễn trình lịch sử đình làng Hoè Thị
Chương 2: Giá trị kiến trúc-nghệ thuật và lễ hội đình làng Hoè Thị Chương 3: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình Hoè Thị Đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi nhằm trả bài tốt nghiệp khoá 25 khoa Bảo Tàng, trường Đại học Văn Hoá Hà Nội Bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô, bạn bè tham khảo góp ý kiến với tôi nhằm bổ xung thêm những nội dung còn thiếu sót Tôi xin chân thành cảm ơn
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn văn Tiến là người đã hưỡng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khoá luận tốt nghiệp Thầy
đã tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu tài liệu liên quan đến di tích và gợi ý, hướng dẫn tôi cách làm bài để tôi có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 8Chương 1 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ ĐÌNH LÀNG HOÈ THỊ
1.1 Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Đình Hoè Thị ngày nay nằm ở thôn Hoè Thị, xã Xuân Phương là một trong mười sáu xã, thị trấn của huyện Từ Liêm ngoại thành phía tây Hà Nội
Xã Xuân Phương phía bắc giáp các xã Minh Khai, Phú Diễn Phía đông giáp xã Mỹ Đình và thị trấn Cầu Diễn Phía nam giáp xã Tây Mỗ Các xã, thị trấn trên đều nằm ở huyện Từ Liêm Riêng phía tây, Xuân Phương tiếp giáp với xã Vân Canh huyện Hoài Đức
Con đường đến thăm di tích không khó khăn chút nào Từ Hồ Gươm ở trung tâm Hà Nội theo con đường Tràng Thi qua Cửa Nam, Kim Mã sang Cầu Giấy theo đường Quốc Lộ 32 đến thị trấn Nhổn rẽ trái theo đường 70 chừng 2
70 chạy từ Hà Đông lên thị trấn Nhổn qua xã Xuân Phương theo hướng bắc nam Con sông Nhuệ chạy men phía đông của xã ngược lên phía bắc ra sông Hông, xuôi về hạ lưu xuống thị xã Hà Đông và về tận Cầu Rẽ Xuân Phương nằm ở vùng có vị trí địa lý khá thuận lợi như vậy nên có nhiều điều kiện để giao lưu phát triển kinh tế văn hoá với các vùng miền khác nhau
Trang 91.1.2 Lịch sử hình thành làng Hoè Thị và xã Xuân Phương
Hoè Thị là một trong bốn thôn của xã Xuân Phương rộng lớn gồm: Hoè Thị, Thị Cấm, Ngọc Mạch và Tu Hoàng Sở dĩ làng có tên gọi là Hoè Thị bởi gắn liền với giai thoại tướng Lý Phục Man thời Lý Nam Đế đánh giặc đi qua vùng này Năm 545, nhà nước Vạn Xuân non trẻ phải đương đầu với quân xâm lược nhà Lương từ phương Bắc Vua Lý Nam Đế đã tổ chức đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc Lý Phục Man là một thủ lĩnh nghĩa quân, đứng đầu hàng quan văn võ của nhà nước Vạn Xuân Quê ông ở làng Cổ Sở (nay là Yên
Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội) được phụ trách giữ thành bên sông Tô Lịch (Hà Nội), nơi giặc Lương công phá dữ dội Lý Phục Man cưỡi ngựa trắng trực tiếp xông ra đánh tướng giặc là Trần Bá Tiên Vì giặc đông thế mạnh vây hãm quân ta, Lý Phục Man bị thương nhưng vẫn ung dung ngồi trên ngựa tiếp tục chiến đấu phá vòng vây Vết thương quá nặng không chống đỡ nổi, Lý Phục Man phi ngựa thẳng về quê hương Khi đi qua đất của làng thấy người đàn bà đứng ở cửa đình ông xuống ngựa xin nước uống Ông hỏi chuyện thì người đàn bà sợ hãi mà không nói gì, thấy vậy ông buột miệng nói: “thị câm” (tức người đàn bà không nói) Ông lại lên ngựa đi tiếp lên làng trên, ông đứng ngựa hỏi một người đàn bà xem mình có còn sống được nữa không, người đàn bà này chỉ cười và không nói gì Ông buột miệng nói: “hoè thị” ( tức là người đàn bà cười) Từ tích đấy mà khi đặt tên làng, dân làng đã chọn tên là Hoè Thị còn làng dưới có tên đọc chệch là Thị Cấm
Ngoài tên gọi là Hoè Thị, làng còn có một tên khác là làng Canh Cái tên Hương Canh (hương có nghĩa là làng) vốn là tên cũ của xã Xuân Phương Các thôn trong xã đều dùng tên nôm là Canh như: Canh Thị Cấm, Canh Hoè Thị… thế nhưng tên Canh còn được sử dụng để gọi một vùng đất rộng lớn hơn bao gồm các xã Xuân Phương và xã Vân Canh thuộc huyện Hoài Đức ngày nay
Trang 10Ngược lại dòng lịch sử, xã Xuân Phương có rất nhiều lần thay đổi tên gọi
và vị trí hành chính Vùng đất Xuân Phương từ đời nhà Đinh đến đời Trần đều thuộc về lộ Quốc Oai Năm 1466 Xuân Phương thuộc về Thừa Tuyên- Quốc Oai Năm 1469 lại đổi Quốc Oai thành Thừa Tuyên- Sơn Tây Qua mấy trăm năm đời Lê Trung Hưng và đời Tây Sơn, Xuân Phương có tên là Hương Canh thuộc về huyện Từ Liêm-phủ Quốc Oai-trấn Sơn Tây Năm 1831 Hương Canh thuộc tổng Hương Canh- huyện Từ Liêm- Phủ Hoài Đức- tỉnh
Hà Nội Năm 1884 đời vua Kiến Phúc, Hương Canh đổi tên là Phương Canh Năm 1902 khi nội thành Hà Nội cắt cho Pháp làm nhượng địa, xã Phương Canh thuộc về tỉnh Hà Đông
Năm 1959 xã Phương Canh đổi thành xã Xuân Phương thuộc huyện Hoài Đức- tỉnh Hà Đông Năm 1961 xã Xuân Phương được cắt về huyện Từ Liêm cho đến ngày nay
1.1.3 Đặc điểm dân cư và truyền thống cách mạng
Xuân Phương là mảnh đất cổ nằm trong dòng chảy văn hoá Sơn Tây- Thăng Long nên có một bề dày truyền thống đậm bản sắc, góp phần tạo dựng một Thăng Long Hà Nội nghìn năm văn hiến Di chỉ khảo cổ học ở cánh đồng Ngoạ Long hay còn gọi là cánh đồng Trầm (nay thuộc xã Minh Khai) cách Xuân Phương gần hai cây số tìm được những di vật có niên đại từ đầu thời đại
đồ đồng thau (khoảng 4000 năm trước đây) chứng minh khu vực này đã có dân cư đến tụ cư từ rất sớm Mảnh đất này thấm đượm bản sắc văn hoá dân tộc Truyền thống lịch sử, văn hoá, lao động sản xuất được tích luỹ hàng ngàn đời không ngừng chảy trong mỗi thế hệ người dân nơi đây Theo thần phả ở hai đình Hoè Thị và Thị Cấm thì từ thời Hùng Vương, đây là mảnh đất trù phú cây cỏ tốt tươi, phong tục thuần hậu Một vị tướng Tản Viên Sơn Thánh
là Phan Tây Nhạc đã chọn nơi đây là nơi xây dựng Tây hành cung để sống cùng ba bà vợ của mình Sau này ngài và ba bà vợ đã trở thành Thành Hoàng của hai làng Hoè Thị và Thị Cấm Sau này, đến đời Lý Nam Đế vùng đất này lại gắn với những truyền thuyết liên quan đến các vị tướng của nhà nước Vạn Xuân như việc tướng Lý Phục Man đánh giặc đi qua làng
Trang 11Xuân Phương từ xưa đến nay luôn gắn liền với lịch sử mảnh đất và con người của huyện Từ Liêm Từ Liêm là một vùng đất cổ, nằm ngay sát với kinh thành Thăng Long, với một hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận tiện Sách
“Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn cho biết tên “Từ Liêm” được đặt từ năm
Vũ Đức thứ tư (621), tính ra đến nay đã được gần một ngàn năm trăm năm Còn theo cuốn “Nguyên hoà quận huyện chí” thì cái tên Từ Liêm được đặt cho mảnh đất này là do có con sông Từ Liêm (chính là sông Nhuệ) chảy qua
Từ khi Thăng Long trở thành kinh đô của nước Đại Việt (năm1010), mọi biến
cố chính trị- văn hoá đều có tác động ngay đến Từ Liêm Những khi Thăng Long bị ngoại xâm thì Từ Liêm là nơi tập trung quân để giải phóng thủ đô Quang Trung đã bí mật đưa quân ra tập trung ở Mễ Trì, Nhân Mục và Phùng Khoang để đánh vào quân Thanh ở Đống Đa năm 1789 Hoàng Kế Viêm đã
tụ quân ở đây rồi đánh hai trận Cầu Giấy nổi tiếng năm 1873 và 1883 Nói về thế hiểm của huyện Từ Liêm trong bản tấu gửi Vua Minh Mệnh năm 1832,
Nguyễn Văn Hiếu tổng đốc Hà Nội đã viết: “Từ Liêm là một huyện lớn đất
rộng dân nhiều, tiếp giáp địa đầu 2 xứ Tây Bắc thực là sung yếu…, công việc tuần phòng phải rất được coi trọng…”
Sang thế kỉ XX, nhân dân Xuân Phương- Hoè Thị lại tiếp nối truyền thống yêu nước của cha ông, viết tiếp lên truyền thống lịch sử Năm 1930 đồng chí Lều Thọ Nam- Thành uỷ viên Thành uỷ Hà Nội đã về đây tuyên truyền và xây dựng các tổ chức cánh mạng Ngày 01-05-1930 các hội viên Nông Hội Đỏ của làng Hoè Thị đã treo cờ búa liềm ngay tại cây đa đình làng
Trang 121.1.4 Một vài đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội của làng Hoè Thị
1.1.4.1 Đời sống kinh tế
Là một vùng đất gắn liền với bao huyền thoại, sự tích về các vị thần xung quanh khu vực hồ Tây, sông Tô Lịch Không những thế Từ Liêm còn là một vùng đất có nhiều làng nghề nổi tiếng Mà chắc rằng khi nói đến một trong những sản vật ấy người ta sẽ nhắc ngay đến Thăng Long- Hà Nội như: Cốm làng Vòng, cam Canh, bưởi Diễn, hồng Xuân Đỉnh, nghề rèn ở Hoè Thị…Nhân dân Xuân Phương- Hoè Thị có truyền thống lao động cần cù Nhiều sản vật địa phương đã trở nên nổi tiếng và được ca ngợi khắp nơi trong
cả nước Cam Canh là một sản phẩm nông nghiệp của địa phương Quả cam Canh nổi tiếng vì quả nhỏ, vỏ mỏng chín ngọt và thơm:
“Ngọt thay cái quả cam tròn Vừa thơm vừa mát hãy còn trong Canh”
Từ lâu đời, nhân dân xã Xuân Phương vẫn lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính, chủ yếu cấy lúa, trồng thêm ngô, khoai và chăn nuôi trong gia đình Cũng như bao làng quê khác, Hoè Thị là một trong những làng sinh sống băng nhiều nghề Ruộng đất nơi đây là loại đất thó trắng nên có thể dùng làm gạch ngói rất tốt, nên nghề làm gạch ngày trước rất phát đạt Hoè Thị còn
là một làng quê có nhiều nghề thủ công cổ truyền, tên xưa là Hương Canh (làng Canh) bởi vùng này có nghề dệt vải, dệt lụa- nghề canh cửi Theo truyền thuyết, Hoa Dung công chúa, vợ ba của Phan Tây Nhạc đại vương là người có công dạy dân làng cách làm ruộng và dệt vải Dân làng đã học theo và bảo tồn nghề này qua năm tháng Nghề dệt còn phát triển đến tận những năm 1930-
1940 Nơi người làng mua sợi là Hà Đông rồi đem về làng dệt Vải của làng
Canh đã trở nên nổi tiếng mà người đời đã truyền tụng câu nói: “The La, lụa
Vạn, vải Canh” Sản phẩm được đem bán khắp nơi trong vùng Trong lễ hội
đình làng Hoè Thị ngày trước vẫn còn tổ chức thi dệt vải giữa các giáp trong làng với nhau để tưởng nhớ công ơn vợ chồng Phan Tây Nhạc đại vương và mong muốn cho các nghề vẫn mãi phát đạt
Trang 13Không chỉ có thế, nghề làm thiếc, lò rèn, vàng bạc, nghề thêu cũng rất phát triển Người dân Hoè Thị và những làng xung quanh như Thị Cấm còn vào trong kinh kỳ hoa lệ, góp phần lập nên những phố buôn nổi tiếng như phố hàng Bạc ( chuyên chế tác bạc), phố Lò Rèn, phố Sinh Từ (chuyên bán dao kéo), phố Hàng Thiếc (chuyên bán đồ gia dụng bằng thiếc) Người vùng Canh còn lập hẳn một ngôi đình tại số 1 phố Lò Rèn để người dân ra Hà Nội làm thợ tiện đường đến tế lễ Đặc biệt nghề rèn là nghề phát triển hơn cả Ca dao xưa có câu:
“Chợ Canh lắm bạc nhiều tiền
Trai giỏi nghề rèn, gái lại đảm đang”
Câu ca dao như kể về người trai đất Hoè Thị ở xóm nào cũng biết rèn và đều giỏi giang không kém nơi nào Câu ca cũng kể về các cô gái đảm đang, từ thủa xưa đã thi tài nấu cơm để được tòng quan giết giặc Đến khi thái bình các cô được Hoa Dung công chúa –vợ của tướng Phan Tây Nhạc thời Hùng Vương dạy nghề dệt vải
Nghề rèn được hình thành đầu tiên ở Hoè Thị, sau này thì lan sang Thị Cấm bởi hai làng sát cạnh nhau, nhân dân hai làng coi nhau như anh em Nghề rèn ở Hoè Thị có nhiều truyền thuyết kể về nguồn gốc:
-Tương truyền khi tướng quân Phan Tây Nhạc đóng quân tại làng, ngài
ra lệnh cho binh lính phải rèn vũ khí, người Hoè Thị có người đã học được nghề truyền lại cho con cháu
- Cũng có truyền thuyết kể rằng họ Nguyễn Đắc là một chi từ Nông Cống mang nghề ra Thăng Long và lập thành làng nghề Hiện nay ở các xóm tại Hoè Thị và trên phố Nguyễn Khuyến (Sinh Từ cũ) vẫn còn hậu duệ
- Cũng có truyền thuyết kể rằng từ thời Hùng Vương thứ 6 dân nước Văn Lang đã biết rèn, vua Hùng đã trưng tập các thợ giỏi về Phù Đổng để rèn áo giáp, ngựa sắt, gậy sắt cho Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân Lịch sử nước Việt cũng cho biết vào thời Hồ Quý Ly, dân ta rèn được cả súng thần cơ
Trang 14theo thiết kế của Hồ Nguyên Trừng Khi nhà Minh xâm chiếm Đại Việt đã bắt hết thợ giỏi và cấm dân dùng sắt, nhưng khi Bình Định Vương khởi nghĩa, vẫn có thợ rèn Vân Chàng tham gia nghĩa quân tiến về giải phóng Kinh Đô
Sơ qua về nghề rèn như vậy để thấy dù ở đâu, ở thời đại nào, người Việt tài hoa vẫn làm chủ được nghề và phục vụ thị trường
Làng Hoè Thị với 8 xóm thì trong 8 xóm đều có người làm nghề rèn, tuy nhiên mỗi chi họ, mỗi xóm lại có hàng nghề riêng biệt
Khi xưa, đường 32 chưa làm, đường thiên lý đi qua vùng Canh, nên thợ rèn làng Canh nhanh chóng hội nhập Thăng Long, làm các hàng đồ sắt phục
vụ sinh hoạt phố phường và cung đình Các sản phẩm sinh hoạt, nông cụ như cuốc, mai, liềm, hái, răng bừa, dao, kéo…được trao đổi buôn bán tới nhiều vùng trong cả nước, phục vụ đời sống nhân đân Cuối thế kỉ thứ 19, các sản phẩm rèn của làng đã được trưng bày ở hội đấu xảo bên nước Pháp Đã có câu thơ trong vùng nói về tài năng của người thợ rèn nơi đây:
“ Lưỡi dao sáng loáng lòng gang thép Mũi kéo tung hoành hội Á-Âu”
Kể ra đâu hết những bí quyết chuyên môn của nghề rèn truyền thống, trình độ kĩ thuật đạt tới mức tinh xảo, họ làm chủ được nguyên liệu, nhiệt độ nung, cách uốn, vuốt, pha sắt thép, đột lập khoan cắt trong lúc đang rèn đỏ Tiếng búa của người thợ cả lúc nhặt lúc khoan, lúc đập chắc chắn từng nhát mạnh vào vật rèn đã như bí quyết bắt thép phải vào khuân vào phép Nghề rèn được phân đơn vị theo lò Mỗi lò có bốn người: Người bễ- người cặp và hai người quai búa Người cặp có kĩ thuật cao hơn cả họ nhìn mắt biết được lửa non hay già và thường là chủ lò Người thổi bễ cũng không đơn giản, bàn tay
ù thổi như cái van hơi, khi nào dồn lửa, khi nào dừng họ đều biết cả Người học việc thường là quai búa Búa có nhiều loại: Đánh nẻ, đánh quai, đánh tay Cầm búa thì dễ nhưng quai búa thì lại khó
Nghề gò hàn thiếc, tráng gương , cắt kính đòi hỏi người thợ phải khoẻ
Trang 15rau, thùng gánh nước, chậu xô tôn, khung kính gương tủ…Ở phố Lò Rèn và phố Hàng Thiếc đa phần là người dân Hoè Thị ra buôn bán góp phần tạo dựng
và tô đẹp thêm cho đời sống kinh tế, văn hóa của Thăng Long- Hà Nội xưa Các hiệu Sinh Tài, Sinh Lợi nổi tiếng ở đất Hà Nội đều là dân Hoè Thị Điều này chứng tỏ rằng: Nghề thủ công ở đây phải đạt đến trình độ tinh xảo mới có thể đứng vững được ở Hà Nội, như tạo ra những thương hiệu thân quen mang tên những con phố.Hoè Thị nói riêng và Xuân Phương nói chung xưa kia đã trở thành nơi cung cấp thợ giỏi cho cả đất Kinh Kỳ ngàn năm văn hiến
1.1.4.2 Truyền thống văn hoá giáo dục
Tên cũ của Xuân Phương là Hương Canh Đây là một trong bốn vùng
danh tiếng của huyện Từ Liêm xưa: “ Mỗ,La,Canh,Cót tứ danh hương” Đây
là bốn vùng nổi tiếng về học hành, đỗ đạt cũng là nơi có nghề truyền thống nổi tiêng Nền văn hoá đặc sắc của vùng được bảo tồn trong những lễ hội làng
và những phong tục tập quán của nhân dân địa phương Từ xưa, dân làng đã
có tục tách ruộng công gọi là “ học điền” để cấp cho những ai đỗ kì thi hương, mỗi người năm sào để thêm lương thực tiếp tục học hành thành tài Sự học đã
và luôn được coi trọng, là công việc của mỗi cá nhân và của làng xã , làm cho vùng đất này thêm giàu có về bản sắc riêng của mình Truyền thống hiếu học
ở địa phương thể hiện qua nhiều tấm gương học giỏi và đỗ đạt cao Dưới thời phong kiến toàn xã có bốn hai người đỗ từ Thám Hoa đến Tú Tài Làng Thị Cấm có các họ Bùi, họ Mai nổi tiếng nhiều về đỗ đạt Làng Hoè Thị có họ Nguyễn như: Nguyễn Bỉnh Đức đỗ đầu khoa thi hội tiến sĩ năm Giáp Tuất (1524) thời Lê Cung Hoàng làm tới chức Thiếu phó Liêm quận công và Nguyễn Phi Thứ đỗ tiến sĩ khoa Hoành Từ Họ Khúc có Khúc Thành đỗ cử nhân, các con ông là Khúc Kiếm, Khúc Bình đều đỗ tú tài Rất nhiều người làm chức huấn đạo, đốc học, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại giao có các nhà ngoại giao tài ba là Nguyễn Nhân Uyên, đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1565, làm chánh sứ nhiều lần đi giao thiệp với nhà Minh Nhiều người đỗ đạt nhưng không là làm quan mà ở nhà dậy học như nhà giáo Vũ Trác hồi bé rất thông
Trang 16dù có đi xa đến hàng vạn dặm cũng không nản Song vì có lòng yêu nước trọng nghĩa khinh tài nên chỉ đỗ tú tài vào làm ở Viện Hàn Lâm Nhiều lần tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ ép ra làm quan nhưng ông từ chối mà ở nhà
mở lớp dậy học Nguyễn Phan Châu làm huấn đạo huyện Bình Lục, dạy nhiều học trò thành đạt, có người nổi tiếng như Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến Ông còn là người đứng ra xây dựng văn chỉ, sửa chữa đình chùa ở Xuân Phương, nay ông còn để lại bút tích trên bức hoành phi “hộ quốc an dân” ở đình Thị Cấm Truyền thống hiếu học được các tầng lớp thế hệ ở địa phương nối tiếp nhau chăm lo khuyến khích Ở Hoè Thị, nơi mảnh đất cổ xưa
ấy đã có bao con người làm rạng rỡ cho lịch sử quê hương, lịch sử daan tộc Vào cuối thế kỉ XVIII, người trong làng Hoè Thị là Vũ Thưởng lập chiến công lớn trong chiến dịch đại phá quân Thanh xâm lược giải phóng Thăng Long, nên được phong tước Võ Bá Trong sắc phong năm Quang Trung thứ hai (1789) nhà vua đã khen thưởng Vũ Thưởng “tráng sĩ dũng mãnh” (dũng cảm như hùm gấu) “ trăm trận đánh đâu được đấy, Thưởng là Võ Bá” (theo
Vũ gia thế phả 1835) Rồi đến phong trào Đông Kinh nghĩa thục, người Hoè Thị cũng là hạt nhân cuả phong trào Ông Vũ Hán (còn gọi là kép Hán), người hai lần đỗ tú tài, là thầy dạy của trường Đông Kinh nghĩa thục tại đình Hoè Thị năm 1905-1908 Ông cũng từng mời cụ Phan Chu Chinh về Hoè Thị diễn thuyết và cổ vũ tinh thần yêu nước, canh tân đất nước
Sang thế kỉ XX Hoè Thị là quê hương của nhiều nhà cách mạng, danh nhân của đất nước như: Đồng chí Xuân Thuỷ và đồng chí Trần Duy Hưng Những đóng góp của các ông được nhân dân, nhà nước ghi nhận, tên tuổi của các ông được Thành phố Hà Nội chọn đặt cho hai con đường lớn thuộc quận Cầu Giấy (vốn xưa kia cũng là đất Từ Liêm)
Đồng chí Xuân Thuỷ (1912-1985) tên thật là Nguyễn Trọng Nhàm sinh tại xóm Đới- thôn Hoè Thị Ông từng là uỷ viên BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam các khoá 2,3,4 Từng đảm đương các chức vụ: Bộ trưởng bộ ngoại giao- phó chủ tịch kiêm Tổng bí thư hội đồng nhà nước Ông là người có công rất
Trang 17Đồng chí Trần Duy Hưng (1912-1988) tên thật là Phạm Thư, sinh ở xóm Chùa- thôn Hoè Thị từng dự hội y khoa và đỗ bằng bác sĩ tại Pháp Trong kháng chiến chống Pháp ông là thứ trưởng Bộ nội vụ rồi Bộ y tế Sau năm
1964 ông là chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội liên tục cho đến năm
1977
Truyền thống văn hóa của làng Hoè Thị được các thế hệ người trong các dòng họ thay nhau vun đắp Làng Hoè Thị có rất nhiều họ lớn như Nguyễn, Bùi, Mai, Vũ, Trần, Ngô…và có nhiều chi khác nhau và có một số nhà thờ họ lớn như nhà thờ họ Nguyễn Phan, nhà thờ họ Nguyễn Vinh, các nhà thờ họ trong làng có quy mô lớn, thể hiện một tâm thức của người dân làng Hoè Thị luôn hướng về tổ tiên, luôn có ý thức bảo lưu các giá trị truyền thống mà cha ông ta đã tạo nên và không ngừng bồi đắp thêm cho các thế hệ sau này Đồng thời các dòng họ trong làng Hoè Thị vẫn luôn đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau cùng xây dựng làng phát triển về mọi mặt và sản sinh ra những giá trị văn hóa vật chất cũng như tinh thần Sự xuất hiện của nhiều nhà thờ họ ở đây cũng thể hiện đây là vùng đất có phong tục thuần hậu, đời sống con người nề nếp, gia phong, thể hiên một truyền thống hiếu học lấy việc học làm cách mở mang với đời Điều này không phải làng quê nào cũng có được
Xuân Phương là một vùng đất trù phú, mang đậm dấu bản sắc văn hoá và được bao bọc trong một không gian nhiều huyền tích đã tạo cho nơi đây một sức cuốn hút mạnh mẽ Tất cả được dồn nén và được thể hiện trong những ngôi đình trăm tuổi, khang trang lộng lẫy, mang trong mình những giá trị văn hoá bất diệt
Ta có thể thấy đình Hoè Thị tồn tại trong một không gian văn hoá linh thiêng của một vùng đất cổ, không những vậy còn có sự trù phú của mùa màng, gắn bó mật thiết vời một cộng đồng dân cư làng xã truyền thống Tất
cả đã làm tôn thêm vẻ uy nghi cổ kính cho ngôi đình này
Trang 181.2 Đình làng Hoè Thị trong tiến trình lịch sử
1.2.1 Vài nét về đình làng Việt Nam
Di tích tồn tại và phát triển dựa trên đôi bàn tay và trí óc của người dân lao động Đặc biệt với các di tích tôn giáo tín ngưỡng, thì sự chăm chút trong xây dựng của nhân dân là điều dễ nhận thấy trước tiên Thờ Thành Hoàng trong xã hội phong kiến là công việc hết sức quan trọng nhất là của làng xã, chính vì vậy mà từ những ngôi đình nhỏ, sơ sài đồ tế tự trải qua hàng trăm năm, nhân dân đã tạo ra một hệ thống kiến trúc, nội thất đặc trưng của hoạt động tín ngưỡng này
Ban đầu, “đình” theo nghĩa chữ Hán cổ là loại hình kiến trúc công cộng
để trú quân, nghỉ tạm Lịch sử phát triển của ngôi đình làng gắn với những thời kì phong kiến độc lập tự chủ từ hưng thịnh đến suy tàn Vào thời Trần, theo chiếu chỉ của vua thì nhiều địa phương đã xây dựng kiến trúc “đình trạm” tương đối rộng khắp làm nơi nghỉ cho những người đi đường dừng chân Cũng có ý kiến cho rằng: Thời kì thái bình thịnh trị này, các Thái Thượng Hoàng và vua Trần có quan hệ khá mật thiết với đời sống nhân dân, hay đi tuần du, vi hành về các địa phương, do đó đình trạm là nơi nhân dân và các quan chức sở tại đón tiếp nhà vua, sau dần trở nên thành đình làng với
chức năng giải quyết công vụ Những chữ “ thánh thọ vô cương”, “hoàng đế
vạn tuế”, “ Thánh cung vạn tuế” trên các hoành phi ở trên đình có thể thể
hiện nội dung nói trên, song cũng có thể biểu hiện chế độ quân chủ tập quyền qua kiến trúc đình làng Vào các triều đại sau này, khi nho học phát triển, từ chức năng ngôi nhà công cộng, kiến trúc đình làng dần biến đổi thành ngôi nhà đa năng, nó được thờ Thành hoàng làng Chúng xuất hiện với tư cách là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng kết hợp với điêu khắc khá hoàn chỉnh của làng xã Do vậy mà kiến trúc đình làng rầm rộ phát triển khắp các làng xã thôn quê Việt Nam với sự đóng góp của quần chúng nhân dân và thực sự trở thành công trình đầu tư và sáng tạo tập thể Do không bị quyền lực gò bó, công thức như chế độ trưng tập xây dựng kiến trúc cung đình dinh thự cho các
Trang 19vua quan nên kiến trúc đình làng mang đậm tính dân gian, độc đáo hơn tất cả các loại hình kiến trúc cổ khác, đồng thời nghệ thuật chạm khắc và những hoạt động vui chơi, giải trí mang đậm tính văn hoá dân gian khác cũng qua hội hè đình đám mà phát triển Và quan trọng nhất, trong tâm trí người xưa nơi đây thờ vị thần bảo trợ cho tất cả người dân trong một làng Con người lúc này nhìn ngôi đình với một cái nhìn tôn thờ, thành kính
1.2.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của đình Hoè Thị
Lịch sử hình và phát triển của đình làng Hoè Thị cũng không nằm ngoài lịch sử phát triển chung của đình Việt Nam Đình Hoè Thị tương truyền được xây dựng vào thế kỉ XV (1470) Qua tư liệu điều tra điền dã mà tôi biết được thì vị trí đầu tiên của đình là ở xóm Gáo và đình lúc đó có tên là đình Đụn Đình Đụn được xây dựng vào đời Lê, lúc đó ngôi đình chỉ có ba gian thờ, kết cấu hình chữ nhất, đình được xây dựng theo tập tục của làng xã Việt Nam để thờ Thành hoàng làng Người được tôn làm Thành Hoàng làng lúc đó là Phan Tây Nhạc đại vương và ba bà vợ của ông Các vị Thành hoàng đã có công giúp nước đánh giặc, dạy dân làng cày cấy, dệt vải Đến thế kỉ XVIII vào đời Minh Mệnh thứ 12(1831) ngôi đình lại được trùng tu và di chuyển ra địa điểm mới này Vào thời gian này kiến trúc ngôi đình Hoè Thị có kết cấu hình chữ nhất với một toà đại đình, Vào cuối thế kỉ XIX, do cuộc sống của dân làng ngày càng khấm khá hơn, người ta đã quyên góp tiền của để xây dựng thêm một toà hậu cung ở phía sau Lúc này đình có kết cấu hình chữ “đinh”
Những dòng chữ Hán đề trên thượng lương chỉ cho thấy những niên đại trùng tu đình về sau này Hậu cung đình trùng tu năm Canh Tuất (1910) nhà tiền tế có niên đại trùng tu năm 2004
Đến năm 1936, làng lại tổ chức bán bốn chức quan để lấy tiền xây dựng phương đình Năm 1947,làng lại tiếp tục tu bổ, xây dựng đình
Trong suốt quá trình tồn tại, đình Hoè Thị là một trung tâm văn hoá, hành chính, tín ngưỡng của dân làng, là nơi hội đồng kỳ mục họp bàn việc
Trang 20làng, nơi dân làng tiến hành các hoạt động văn hoá, văn nghệ của làng như hát chèo, hát quan họ, hát văn…Đình Hoè Thị là nơi có nhiều đóng góp đối với đời sống văn hoá, tinh thần của người dân địa phương Truyền thống yêu nước đánh giặc ngoại xâm được khởi nguồn từ Phan Tây Nhạc đại vương đã luôn được dân làng phát huy trong việc tích cực tham gia các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc Bên cạnh đó làng còn xây dựng truyền thống hiếu học bằng cách biểu dương các bậc khoa bảng trên bia tiên hiền Tới ngày toàn quốc kháng chiến, di tích mang thêm một nội dung lịch sử mới bởi sự gắn bó với các chiến sĩ anh hùng của trung đoàn thủ đô Sau khi hoàn thành cuộc chiến đấu cầm chân địch ở Hà Nội, bộ đội thủ đô đã sử dụng đình làm nơi đóng quân, trạm cứu thương và xây dựng phòng tuyến chống giặc Các thanh niên ưu tú của làng đã tích cực tham gia đong góp vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc
Hàng năm, làng luôn mở hội tại đình nhằm tưởng nhớ đức Thành Hoàng, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng đến tham dự Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, do điều kiện không cho phép nên lễ hội đình làng không thể tổ chức được Hàng năm chỉ có các vị bô lão trong làng địa diện mang lễ vật từ đình Hoè Thị sang đình Thị Cấm để phúng lễ giao hiếu Đến năm 1990, khi đất nước đã thực sự đi vào đổi mới, đời sống nhân dân khấm khá hơn trước, lễ hội đình Hoè Thị mới được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của dân làng
1.2.3 Lịch sử nhân vật được thờ trong đình Hoè Thị
Hoè Thị là vùng đất thuộc địa bàn sinh tụ chính của cư dân Việt cổ thời Hùng Vương Quanh khu vực này, khảo cổ học đã phát hiện và khai quật một
hệ thống di tích văn hoá quan trọng của thời đại kim khí cách ngày nay từ hai đến bốn nghìn năm Trong môi trường văn hoá tự nhiên và văn hoá cổ xưa đó, làng Hoè Thị cũng sớm ra đời và cuộc sống văn hoá tinh thần của dân làng gắn bó chặt chẽ với thời kì dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Các nguồn tư liệu thành văn như thần phả, sắc phong và truyền thuyết
Trang 21dân gian ở địa phương đều ghi nhận sự có mặt của những nhân vật quan trọng thời Hùng Vương là Cổ Mục Phán Quan Phan Tây Nhạc đại vương cùng ba
bà vợ là Tả Phi Nhân công chúa, Hữu Hoàng Hậu công chúa, và Hoa Dung công chúa là những Thành hoàng làng trong ngôi đình Hoè Thị
Theo cuốn Ngọc phả hiện còn do quan hàn lâm đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào đầu năm Hồng Đức (1470) và quan Quản Giám Bách thần Tri Sùng thiếu Khanh Hùng Lĩnh Bá Nguyễn Hiển soạn vào năm Cảnh Hưng thứ ba (1742) thì: Tổ tiên Phan Tây Nhạc vốn là người Hà Trung, Châu
Ái (nay là Thanh Hoá) Ở đó có gia đình ông bà họ Phan tuổi ngoài 40 giàu
có, thế lực mạnh mẽ nhưng chậm có con Trong lòng thấy buồn bã không vui Một hôm nhân ngày giỗ tổ ông bà Nhạc nhìn nhau than thở: “Không có con
nối nghiệp là tội lớn, vậy khư khư giữ tiền của để làm gì?” Thế là ông bà
chăm lo làm điều nhân nghĩa, chia thóc gạo tiền, cứu giúp người nghèo và cầu
tự nơi đình , chùa, đền, miếu Một hôm đi lễ chùa về bà nằm mộng thấy một
cụ già râu tóc bạc phơ, tướng mạo uy nghi ngồi trên bàn thờ và mấy chục người mang gươm vác kích, nghiêm chỉnh đứng đầu hai bên tả hữu Cụ già truyền hiệu và bảo rằng bà sẽ sinh hạ một cậu bé xinh xắn làm rạng rỡ tổ tông, phát huy danh tiếng trong thiên hạ Còn việc sớm hay muộn thì đã định, không nên lo ngại gì Bà tỉnh giấc mộng thì có thai Đầy tháng sinh hạ được một cậu con trai mập mạp, tuấn tú, quả đúng như lời thần báo mộng ông bà mừng lắm bèn lập đàn chay giới, tế cáo trời đất quỷ thần Khi lớn lên cậu bé
có tài năng xuất chúng, sức khoẻ hơn người lại tinh thông các phép lục pháp, thần phu không ai sánh nổi Ông bà liền đặt tên là Nhạc Phan Nhạc nghe nói trên núi Tản Viên là nơi trời đất sắp đặt, cảnh vật huyền diệu thiêng liêng, lại
có thần thánh uy phong lẫy lừng bèn tìm đến xin gặp Sau khi gặp gỡ, ông được thần Tản Viên giao cho giữ gìn mục lục của các vị thần, chức vị gọi là
Cổ Mục Phán quan
Khi ấy đất nước thái bình, vua Hùng Duệ Vương có hai người con gái đẹp là Tiên Dung công chúa đã gả cho Chử Đồng Tử và công chúa Ngọc Hoa
Trang 22thần và Phán quan cùng đi tới dự hội Với tài năng và đức độ hơn người của mình, Tản Viên sơn thần đã chiến thắng và trở thành phò mã Nhà vua thấy Phán quan là người anh tài đặc biệt, phong độ hiên ngang nên vua yêu quý và
gả cho ba người cháu gái của Hoàng Hậu là Tả công chúa, Hữu công chúa và Hoa Dung công chúa
Sau khi chiến thắng Thuỷ Tinh trong cuộc chiến ác liệt dưới chân núi Tản, Sơn Thánh và Phán Quan đi thăm thú đất nước Trên đường qua vùng đất mà ngày nay là Xuân Phương, Sơn Thánh thấy nhân dân vùng này cần cù, phong tục thuần hậu, cảnh quan tươi sáng bèn quyết định xây Tây hành cung
để Phán Quan đón ba bà vợ đến ở Khi ở Hoè Thị, vợ chồng Phán Quan đã dạy dân lễ nghi, sửa sang phong tục và canh tác làm ăn nên được mọi người yêu mến tôn làm Phan Ông Tây Nhạc
Bấy giờ lợi dụng lúc nhà Hùng suy yếu, làn sóng bành trướng về phía Nam diễn ra mạnh mẽ, thủ lĩnh của tộc Âu đem quân xâm lược nước ta Trước nạn ngoại tộc xâm lăng, vua Hùng Vương giao cho thần Tản Viên cầm quân đánh giặc và phong cho Phan Nhạc làm tướng tiên phong Cùng ra trận với Phán Quan còn có hai bà vợ của ngài là Tả công chúa và Hữu công chúa Việc bảo vệ doanh trại và Tây hành cung do công chúa Hoa Dung đảm nhận Sau khi đánh tan quân giặc, triều đình tiến hành bình công khen thưởng cho
ba quân tướng sĩ Do chiến đấu dũng cảm và lập nhiều chiến công nên Phán Quan được vua phong cho làm Tây Nhạc đại vương Tả công chúa làm Tả Phi Nhân và Hữu công chúa làm Hữu Hoàng Hậu
Sau khi mất, Tả Mục Phán Quan và ba bà vợ được làm phúc thần, các
triều vua tiếp theo đều phong sắc ban tặng “Hộ quốc tí dân”, “muôn đời
huyết thực”, “ hương hoả bất tuyệt” Để tưởng nhớ những người có công với
nước, bảo vệ và dạy dỗ dân làng, nhân dân địa phương đã tôn thờ Phán quan cùng ba bà vợ của ông làm Thành hoàng làng Những nghi thức thờ cúng, hành lễ được cả làng duy trì và được cả làng thực hiện rất thành kính, trang nghiêm
Trang 23Có thể nhận thấy rằng hệ thống thần được thờ trong di tích liên quan đến thời kì dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc Đồng thời bằng những suy luận có căn cứ, tôi tạm cho rằng, ban đầu Phan Tây Nhạc đại vương có nguồn gốc là một vị nhiên thần Thứ nhất, Phan Tây Nhạc đại vương là một vị tướng của Tản Viên Sơn Thánh, mà điều này ai cũng biết Tản Viên là một vị thần núi Do vậy, nguồn gốc của Phan Tây Nhạc đại vương ắt hẳn liên quan đến núi, đá Thứ hai, từ chính tên của Phan Tây Nhạc đại vương đã nói lên
điều này “Nhạc” trong tiếng Hán có hai từ với hai nghĩa khác nhau, trong đó chúng ta lưu ý đến từ “nhạc” [ ] có bộ “sơn” là chỉ “ngọn núi cao” Còn
“tây” [ ] có nghĩa là “phía tây” Chính vì vậy mà “tây nhạc” là chỉ
“ngọn núi cao ở phía tây” không gì khác chính là núi Ba Vì Từ hai lý do trên
mà tôi có thể khẳng định nguồn gốc Thành hoàng làng Hoè Thị là một vị nhiên thần Điều này thực ra cũng là dễ hiểu bởi vì gắn với tín ngưỡng thờ thần tự nhiên vào buổi sơ khai của lịch sử loài người Con người thời xa xưa sống phụ thuộc vào tự nhiên, họ tôn sùng và thờ cúng thiên nhiên hùng vĩ với nhiều bí ẩn mà con người lúc nó không thể giải thích được Ta có thể kể ra một số kiểu thần tự nhiên như: thần đá (thạch trụ đại vương), thần cây (Cây bao đại vương)…Bước vào xã hội phong kiến, để thắt chặt sợi dây cai trị từ triều đình đến các làng xã, nhà vua đã phong tước cho vị thần ở trong đình của mỗi làng quê Tước hiệu càng cao thì làng càng vinh dự Nhưng không vị vua nào phong tước cho những vị thần không có tên tuổi xác thực và không đóng góp cho đất nước như các vị thần tự nhiên.Chính vì vậy mà dân làng đã thay đổi tên gọi tạo nguồn gốc khác cho vị thần làng mình trên cơ sở những đặc trưng vốn có của thần Thành hoàng làng Hoè Thị cũng là một vị thành hoàng làng như vậy, đồng nghĩa với việc này cho thấy đây là một vùng đất cổ của Hà Nội, còn bảo lưu được những giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc Do tồn tại trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc, nên sự tích các vị thần được thờ trong đình đượm màu huyền thoại Sự thật lịch sử trong thần tích được gạn lọc và những giá trị đi liền với di tích sẽ là những đóng góp đáng kể trong việc đi tìm về ngọn nguồn của đời sống văn hoá dân tộc
Trang 241.3 Đánh giá
Những dòng giới thiệu trên đây cũng là bước đầu cho tôi được tìm hiểu
về đình Hoè Thị và vùng đất nơi di tích tồn tại, và cũng để có thể tìm hiểu sâu hơn về những giá trị văn hoá mà ngôi đình Hoè Thị mang lại
Đình Hoè Thị được tồn tại trong một không gian văn hóa cổ truyền, nơi
mà tên đất, tên người đã trở nên thân thuộc với tất cả mọi người Và là một trong những địa danh (làng Hương Canh) góp phần làm nên tên tuổi của Hà Nội ngàn năm văn hiến Chính truyền thống ấy là kết quả vun đắp của bao thế
hệ con người nơi đây Truyền thống ấy được bảo lưu từ đời này qua đời khác trong những gia đình, dòng họ và tất cả những công trình kiến trúc công cộng của làng xã mình Do vậy mà ngôi đình làng là nơi có thể thấy rõ nhất đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của người dân Hoè Thị
Trang 25Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC-NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI
ĐÌNH HOÈ THỊ
2.1 Giá trị kiến trúc-nghệ thuật
2.1.1 Không gian cảnh quan
Ngay từ thời xa xưa, việc chọn hướng để xây dựng nhà cửa đã được cha ông ta hết sức coi trọng Đối với việc xây dựng những công trình mang chức năng tôn giáo như đình, chùa, đền, miếu… thì công việc này đòi hỏi phải có
tính cẩn thận và chính xác cao hơn nữa Ca dao xưa có câu: “ toét mắt là tại
hướng đình…” đã cho ta thấy tầm quan trọng của công việc chọn hướng khi
xây dựng các công trình kiến trúc tôn giáo trong làng xã Khi xây dựng những công trình này, người dân phải chọn một vị trí đẹp trong làng về mặt phong thuỷ, phù hợp với chức năng sử dụng và đảm bảo tính thẩm mỹ của công trình Thông thường ngôi đình được chọn dựng trên một khu đất cao ráo, rộng rãi như trên gò, ụ chứ không phải ở giữa hoặc rìa làng Tiếp đó là phải gần con nước hoặc trước mặt là hồ hay sông…Những yếu tố này kết hợp với nhau tạo thành một điểm tụ khí thiêng của làng, ngôi đình đó sẽ nằm ở vị trí đắc địa
Ngôi đình Hoè Thị toạ lạc trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng của làng, được giới hạn bởi hệ thống tường bao bảo vệ Trước mặt đình là con đường làng to đẹp, bên phải và bên trái ngôi đình là khu dân cư đông đúc, đằng sau đình có một con ngòi khá lớn chạy từ Hoài Đức qua làng Hoè Thị để
đi xuống làng Thị Cấm Ngày nay con ngòi đã bị lấp nhiều đoạn Đình Hoè Thị được dựng theo hướng nam với một tầm nhìn về phía trước thật phóng khoáng Hơn nữa hướng nam về mặt phong thuỷ là hướng mưa thuận gió hoà,
mà theo các nhà nho là hướng của thánh nhân, người xưa có câu: “ Thánh
nhân nam diện nhi thính thiên hạ” ( nghĩa là: các bậc thánh nhân ngồi quay
Trang 26về hướng nam để nghe thiên hạ bày tỏ nỗi lòng) Đình Hoè Thị nằm bên cạnh con đường Phương Canh to đẹp Phía trước đình là ao làng to, sạch sẽ, xa xa
là khu đất rộng của làng mà hiện nay được sử dụng làm sân bóng Hai phía xung quanh đình là những ngôi nhà xây mới, hiện đại, nhưng không làm lu
mờ nếp nhà thấp của ngôi đình Ngay phía trước cổng đình là hai cây đa già trăm tuổi tạo bóng mát và tạo cho ngôi đình một vẻ cổ kính linh thiêng Trong sân đình, cây xanh mát toả bóng, đặc biệt là các cây đại trước toà tiền tế khá cân xứng với những cành cây sần sùi, khoẻ mạnh càng khiến cho ngôi đình thêm vững trãi uy nghi Dọc con đường làng to đẹp, chúng ta dễ nhận thấy ngôi đình nằm ở vị trí trung tâm, xung quanh là các công trình quan trọng của làng xã như UBND xã, trường học, nhà văn hoá…Qua khảo sát thực tế tôi nhận thấy làng Hoè Thị hiện nay vẫn còn rất nhiều ngõ cổ, nhà cổ tạo nên vẻ
uy nghi cổ kính cho ngôi làng trong thời kinh tế hội nhập cho ta thấy Hoè Thị
là một làng nề nếp, gia phong, hiếu học
2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể
Cũng như các kiến trúc tôn giáo truyền thống khác, đình Hoè Thị được xây dựng bằng những chất liệu bền vững như gach, ngói, gỗ lim Đình là một quần thể gồm nhiều hạng mục khác nhau Bố cục tổng thể là vị trí các đơn nguyên kiến trúc trên cùng một mặt bằng Trên một bình đồ kiến trúc, không phải tất cả các công trình đều có cùng niên đại, xu hướng là về sau thêm vào mặt bằng những công trình mới Nhưng cũng không có nghĩa là phát triển theo tuần tự từ đơn giản đến phức tạp Các hạng mục công trình kiến trúc cơ bản của đình Hoè Thị được bố trí theo một trục thẳng từ ngoài vào Từ ngoài
đi vào là một hồ bán nguyệt sau đó là đến nghi môn, tiếp đến là sân đình lát gạch, hình chữ nhật, tiếp đến là toà đại đình và hậu cung, hai bên sân đình là những nhà tảo mạc gồm nhiều ngôi nhà nằm thẳng hàng nhau, mặt hướng vào sân đình Bên tay trái của đình có một quần thể kiến trúc vốn xưa kia là của đình nhưng ngày nay đã trở thành hội trường của thôn và chỉ còn sót lại cái cổng và sân vốn xưa kia là nơi tổ chức đánh cờ mỗi khi có hội làng.Như vậy duy nhất có cổng đình làng nằm gần như tách biệt khỏi ngôi đình Phía sau
Trang 27hậu cung là khu vườn với nhiều cây xanh toả bóng mát tạo ra không gian mát
mẻ vào mùa hè
2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc
Kiến trúc cổ truyền của nước ta luôn có sự hài hoà về hình dáng, tầm với của con người và tự nhiên chứa đựng những giá trị nghệ thuật cao Kết cấu và trang trí kiến trúc luôn có mối quan hệ không tách rời Trang trí kiến trúc là lớp ngoài trang điểm cho kiến trúc thêm đẹp, hấp dẫn, tránh sự thô cứng Qua các mảng điêu khắc, ta còn có thể thấy triết lý cuộc sống, những ước vọng của con người
Đình Hoè Thị có một lịch sử tồn tại lâu đời, truyền thuyết dân gian hướng tới một niên đại cổ xưa cho ngôi đình làng Đình ra đời vào thế kỉ 15,
từ đó đến nay đình luôn được trùng tu sửa chữa nên khối kiến trúc vật chất hiện còn là sản phẩm của nền kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn thế kỉ 19
Hồ bán nguyệt có đường kính là 10m, xung quang bờ được kè gạch cẩn thận Bờ hồ về phía đình là một đường thẳng còn phía ngoài là một đường cong bán nguyệt, mặt hồ nước với sự hiển diện của hoa sen, hoa súng và bèo tấm xanh, phẳng lặng Giữa hồ là một hòn đảo như đảo bồng lai để dẫn con người liên tưởng đến một thế giới thoát tục Bờ đảo cũng được kè gạch đá cẩn thận, phía trên đảo trồng một số cây hoa và cây cảnh, ngày nay người ta có làm thêm một lan can bằng sắt tạo dáng như một đài sen, xung quanh hồ tiếp giáp với tường rào là một khoảng vườn trong đó trồng rất nhiều cây cối bao gồm cả các cây cổ thụ cao toả bóng mát cho ngôi đình
Nghi môn: Cách bờ hồ khoảng 1m là nghi môn Nghi môn được xây dựng bởi các cột trụ rất phổ biến trong kiến trúc thời Nguyễn Ba lối vào được tạo ra bởi khoảng cách các cột trụ Các cột trụ là thức cột vuông, có bốn mặt Cửa chính giữa rộng 3m được giới hạn bởi 2 cột trụ lớn có chiều cao 6m, cạnh ngang 50cm Cột lớn này được chia làm 3 phần rõ rệt: Phấn chân cột được đắp theo lối dật cấp, dạng chân quỳ Phần thân cột để trơn không trang trí hoa văn Phần đỉnh cột lại chia làm 3 phần tạo dáng như một cái đèn lồng, phần thân đèn là khối hộp 4 cạnh, trên đó có trang trí đề tài tứ linh Phần mũ
Trang 28đèn trang trí hình bốn con phượng, trên đỉnh đèn trang trí đề tài phượng lá lật Hai bên cột chính có 2 khoảng tường cao 1.6m rộng khoảng 3m nối đến hai cổng phụ Hai cửa phụ được xây dựng khác so với cửa chính Hai cửa phụ được xây dựng theo kiểu vòm cuốn, phía trên là mái của cửa được xây dựng theo lối chồng diêm hai tầng bốn mái tạo dáng cong đầu đao Toàn bộ hệ thống nghi môn này được quét vôi màu vàng xen kẽ vào đó là vôi trắng và vôi
đỏ Nghi môn là một bộ phận quan trọng cấu thành di tích Nghi môn báo hiệu, khẳng định vị trí và vị thế của ngôi đình Ở ngay gần nghi môn hướng
về phía sân đình có dựng một cột cờ và một số đỉnh, vạc để hoá sớ khi lễ Sân đình: Qua nghi môn là đến một sân gạch rộng hình chữ nhật, sân được lát bằng gạch Bát Tràng, được giới hạn bởi các nhà tảo mạc và tiền tế Trong sân có trang trí cây cối để tạo cảnh quan và toả bóng mát cho ngôi đình vào mùa hè, đặc biệt là hai cây đại ở trước nhà tiền tế Sân đình là nơi dân làng tụ họp, trẻ em chơi đùa, nơi đáp ứng hoạt động lễ hội hoặc hành chính của ngôi đình
Nhà tiền tế: Đi hết sân đình ta sẽ bước vào khối kiến trúc chính của đình Hoè Thị, đó là toà tiền tế Tiền tế là một công trình kiến trúc năm gian hai chái có chiều dài là 9m, chiều rộng là 6m Nền nhà tiền tế cao hơn sân đình một khoảng là 40cm Mặt trước mở rộng thông ra sân đình để lấy ánh sáng, mặt sau cũng để trống để để đi vào hậu cung, hai bên có tường hồi xây bằng gạch Đầu tường hồi hướng ra sân đình có hai cột trụ xây hình vuông, phía trước có đắp nổi đôi câu đối Sáu bộ vì kèo chia toà tiền tế thành năm gian không đều nhau có tác dụng chịu lực đỡ bộ mái nhà Các bộ vì nóc có kích thước kiểu dáng giống nhau Bộ vì có kiểu dáng thượng giá chiêng hạ kẻ bẩy Mỗi bộ vì kèo gồm sáu hàng chân cột Các thức cột gỗ tròn thượng thu hạ thách (nhỏ dần từ chân đến đỉnh cột) Các chân cột đều được đặt trên những chân tảng đá Chân tảng có hai phần: Phẩn dưới vuông, phần trên tròn Kết cấu chính của bộ vì kèo như sau:
Hai hàng chân cột được liên kết với nhau bởi một quá giang ở đỉnh cột Quá giang là một thân gỗ to tròn đỡ toàn bộ các chi tiết gộ thuộc bộ phận vì
Trang 29nóc Phía trên quá giang có hai trụ trốn đứng trên hai đấu kê Đầu hai trụ trốn được liên kết nhờ một câu đầu ngắn Hai trụ trốn và hai câu đầu này tạo dáng như một giá chiêng, lòng giá chiêng để thông không bưng gỗ Phía trên câu đầu giá chiêng đỡ một đấu kê, một dép thượng lương và trên cùng là thượng lương mái đình
Phía ngoài cột cái là hai hàng chân cột quân có kiểu dáng như cột cái nhưng kích thước nhỏ hơn Cột quân được liên kết với cột cái nhờ một xà nách có đầu ăn mộng vào đầu cột quân và thân cột cái Một thân gỗ kẻ ngỗng chạy từ đầu cột cái qua đầu cột quân xuống cột hiên
Cột hiên là hàng chân cột ngoài cùng của bộ vì Đầu cột hiên có một bẩy
gỗ để đỡ mái hiên
Các bộ vì kèo lại được các thanh xà ngang liên kết với nhau khiến cho các bộ vì tạo thành hệ thống gỗ chịu lực cho mái Phía trên các bộ vì là những con hoành gỗ dài có hình chữ nhật và các thanh rui, mè
Mặc dù tòa tiền tế có hai tường hồi hai bên nhưng mái nhà tiền tế vẫn có bốn mái Hai mái trước sau và hai mái hồi lợp ngói mũi hài và cùng kết hợp tạo thành bốn đầu đao cong vút Đường bờ nóc, bờ dải, bờ đao mái xây gờ cẩn thận Trên đó là những con kìm, con sô, đầu đao hình rồng, lân và phượng
Sau nhà tiền tế là tới hậu cung Hậu cung có năm gian có chiều dài là 8m, chiều rộng là 5,5m Tường xây theo kiểu đầu hồi bít đốc, mặt trước nhà hậu cung được ngăn với tiền tế bởi hệ thống cửa gỗ kiểu cửa bức bàn Sáu bộ
vì của hậu cung cũng có hình dáng kích thước giống các bộ vì của toà đại đình Trên quá giang còn ghi dòng chữ ghi năm trùng tu toà hậu cung này là vào nâm Canh Tuất (1910) Các hàng cột trong hậu cung cũng được làm theo thể thức tròn Mái của toà hậu cung được lợp ngói mũi hài, mái trước của hậu cung cách mái sau của toà tiền tế một khoảng là 0,5m để lấy ánh sáng Gian giữa của hậu cung là nơi đặt khám thờ của Thành hoàng làng là Cổ mục phán quan Phan Tây Nhạc đại vương Hai bên khám thờ là hai bệ gạch nhỏ thờ long ngai của hai nữ thần vợ cả và vợ hai của Phán Quan Tây Nhạc
Trang 30Bao quanh hai bên sân đình là hai dãy nhà tảo mạc Khác với các ngôi đình làng khác thường chỉ có hai toà nhà tảo mạc, đình Hoè Thị có nhiều ngôi nhà tảo mạc khác nhau Các ngôi nhà này được xây dựng nhằm mục đích là nơi các giáp họp bàn trong những ngày chuẩn bị lễ hội, đồng thời cũng là nơi các giáp chuẩn bị lễ vật vào dâng thần trong ngày hội Các ngôi nhà này đều
là những công trình được xây mới, với những vật liệu hiện đại và đều không
có cửa trước
Ở phía góc bên tay trái của phía ngoài sân đình, gần nghi môn là một đàn thờ phía trên ghi bốn chữ: “Thần linh bản thổ” cho biết đây là nơi thờ thổ địa (đàn là một công trình thờ tự không có mái che) Đàn có kiến trúc đơn sơ không có gì đặc trưng nhưng cũng được bảo vệ và giới hạn bởi hệ thống tường và lan can che chắn
Khác với các di tích khác, ngoài những thành phần kiến trúc trên thì về phía tay trái của đình Hoè Thị còn một công trình vốn xưa kia là thuộc đất của đình nhưng ngày nay đã trở thành hội trường của thôn, hiện nay chỉ còn sân gạch là nơi tổ chức đánh cờ trong những ngày hội và một công trình cổng Cổng này không nằm trên một trục thẳng với đình mà nằm chếch về phía bên tay trái của đình nhưng ngày nay lại là nơi r vào chính khi có các hoạt động vào đình Cổng này được xây dựng như một ngôi nhà ba gian, hai chái tường xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, có ba hàng chân cột Các cột đều được đổ bằng xi măng, cửa cổng và các bộ vì đều làm bằng gỗ, cửa chính giữa có bánh
xe để tiện kéo ra kéo vào
2.1.4 Nghệ thuật trang trí kiến trúc
Nếu như kiến trúc đình Hoè Thị khá bề thế và cổ kính với nhiều hạng mục công trình thì điêu khắc trang trí ở đình gần như không có gì nổi bật Các chi tiết kết cấu gỗ trong xây dựng gần như chỉ mang chức năng chịu lực, bào trơn, đóng bén không trang trí gì nhiều Những nơi tập trung trang trí là phần ngoài nóc mái, toà tiền tế và một số mảng chạm ở hương án, sập thờ… Đề tài trang trí cũng chỉ là tứ linh (long, ly, quy, phượng) và tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai) hết sức công thức và đơn điệu
Trang 312.2.1 Di vật bằng gỗ
Hệ thống di vật bằng gỗ của đình hiện còn lưu giữ bao gồm: Ba kiệu long đình, một kiệu bát cống, một kiệu rước nước, ngai thờ của các vị thần, một sàng thờ, bốn chiếc nhang án, đồ bát bửu, lỗ bộ, nhiều bộ câu đối, hoành phi.Sau đây tôi xin lần lượt giới thiệu chi tiết những di vật này:
Kiệu Long đình hay còn gọi là kiệu Ngọc Lộ, kiệu được sơn son thếp vàng, kiệu được chia làm ba phần: Phần chân, phần thân và phần mái Kiệu có bốn chân, mỗi chân dài khoảng 90cm tạo cho kiệu giống như ngôi nhà sàn, xung quanh được chắn bởi các khung gỗ Ở gần sát thân của bốn mặt
có trang trí rồng cuộn và chạm nổi hình đầu rồng Phần thân cao 90cm, có tay ngai Ở bốn góc là bốn cột nhỏ nối tiếp từ chân cho đến mái tạo cho thân kiệu
có hình dáng giống như một cái phương đình Phần này để bát hương, hoa quả khi rước Phần mái cao 50cm, ở bốn góc có trang trí bốn đầu con rồng nhô ra, phần thân và phần mái kiệu kết hợp với nhau tạo dáng như một viên ngọc vì thế mà kiệu này được gọi là kiệu Ngọc Lộ
Kiệu bát cống là kiệu chính dùng để rước Thành hoàng làng trong ngày
lễ hội Kiệu có chiều dài là 4m và được chia làm hai phần: đòn kiệu và ngai kiệu Ngai kiệu hình vuông, phần trên là lưng ngai và tay ngai, phần dưới là thân ngai Trên lưng ngai và thân ngai là những mảng trang trí cầu kì, tỉ mỉ
Trang 32với những hình vật và hoa văn quen thuộc như rồng, hoa cúc, đao mác, vân mây Phía trong của lưng và tay ngai cũng được sơn các hoạ tiết hoa văn Thân ngai trang trí hoa văn triện tàu, diềm trên và dưới trang trí mặt hổ phù được bao quanh bởi các vân mây, đao mác, hoa văn thực vật tạo ra sự uyển chuyển Ngai tỳ lên đòn kiệu nhờ mấy góc ngai Đỡ ngai là hai đòn dọc và đỡ hai đòn dọc là hai đòn ngang, hai đòn ngang lại tỳ lên bốn đòn dọc nhỏ hơn tương ứng với tám người khênh kiệu Các đòn kiệu được làm hình rồng, có hai đầu, thân đòn hơi cong có dáng giống như thân rồng, đầu rồng ngẩng cao, miệng ngậm ngọc, mũi hếch trông rất dữ tợn Rồng ở đòn ngang có vân tóc sắc nhọn bay ra phía sau Trên đòn kiệu trang trí các mảng hổ phù, nghê, hoa
lá mền mại rất đẹp, khiến cho đòn kiệu không hề đơn điệu.Kiệu trông thật lộng lẫy uy nghi
Kiệu rước nước dùng để treo nước treo choé nước lễ rước nước Kiệu gồm một đòn dọc ở phía trên, đỡ đòn dọc là hai đòn ngang, hai đòn ngang này lại được đỡ bởi hai dọc nhỏ hơn Đòn dọc trên cùng được tạo tác hình hai đầu rồng, mũi hếch như mũi sư tử Sau lưng rồng trang trí hai con cá sấu trong tư thế phủ phục, quay đầu vào nhau Hai đòn ngang được làm tương tự như hai đòn dọc Riêng bốn đòn dọc dưới cùng được làm thành bốn con rồng có đầu
và có đuôi rõ rệt, phần thân vẫn là các đòn kiệu tạo dáng hình thân rồng, chứ không tạo thân rồng hoàn chỉnh Thân đòn trang trí hai con sấu chạy về phía hai đầu và đuôi rồng Riềm trang trí phía dưới chạm mặt hổ phù
Nhang án (hay hương án, bàn thờ) gồm bốn chiếc, ba chiếc ở toà tiền tế, một chiếc ở trong hậu cung Chiếc lớn nằm ở gian giữa toà tiền tê có giá trị nhất Chiếc hương án lớn có chiều cao là 1.45m, chiều rộng là 1.73m và chiều ngang là 75cm Phong cách trang trí hoa văn cho thấy chiếc hương án lớn có niên đại thời Nguyễn Các mặt được trang trí tỉ mỉ các hình tứ linh, tứ quý, trên nền sóng nước hoa chanh lá đề, hổ phù, hoa dây bằng kĩ thuật chạm nổi
và chạm thủng Tập trung nhất vẫn ở mặt trước trong các ô lớn nhỏ, ngang dọc khác nhau Phần trên là bốn băng dọc, lớp một là những hoa chanh bốn cánh nối tiếp, sau đến là các băng hổ phù, lá đề, lưỡng long chầu nguyệt Phần
Trang 33chính tâm chia làm năm ô lớn hình chữ nhật, ô giữa lớn nhất trang trí rồng cuốn thuỷ, phượng hàm thư, long mã chở mặt trời, rùa đội hòm sách Bốn ô xung quanh là cảnh long mã tranh châu, rồng mây, long mã, hồ sen trên sóng nước Tuy ra đời trong thời Nguyễn nhưng di vật độc đáo này rất hiếm thấy trong các di tích truyền thống hiện nay Cho đến nay chiếc hương án này vẫn được bảo quản trong di tích được sơn son thếp vàng và gia cố những chỗ hỏng rất cẩn thận
Ba chiếc hương án còn lại nhỏ hơn và có hình dáng kích thước giống nhau Mỗi chiếc có chiều cao là 1,3m, chiều rộng là 1,5m và chiều ngang là 55cm Hoạ tiết trang trí trên những chiếc hương án này rất đơn giản, hình rồng chầu mặt nguyệt, hình lá sen, hoa văn hình học, hoa văn hổ phù Những chiếc hương án này được dân làng cúng tiến để đặt bát nhang, đèn, nến và lễ vật trong những ngày lễ
Long ngai đặt bài vị của thần Phan Tây Nhạc được làm vào thế kỉ XVIII Toàn thân long ngai được trang trí tỉ mỉ tinh tế các hình đầu rồng, rồng chầu mặt nguyệt Rồng có thân thon nhỏ, uốn lượn hình yên ngựa, các đao gấp nhiều lớp vươn ra từ thân như những tia chớp Loại rồng này có niên đại rất phổ biến ở thời Lê Trung Hưng
Bài vị thờ thần Phan Tây Nhạc được đặt trên ngai thờ Bài vị có chiều cao là 1m bao gồm 3 phần: Phần đế, phần thân và phần đỉnh Phần đế tạo dật cấp ở hai đầu, trang trí rồng, vân mây Phần thân được trạm trổ dầy đặc hình rồng uốn lượn bao bọc lấy phần giữa của thân có ghi chức vị và tên của Thành hoàng Phần đỉnh là hình mặt trăng cũng được trạm trổ dầy đặc hình rồng và mây bao quanh Phong cách nghệ thuật này tương ứng với phong cách nghệ thuật thế kỉ XVIII
Đồ bát bửu và lỗ bộ ở đình hiện có đều là những di vật được làm mới do
Trang 34phi Chúng đều có niên đại thời Nguyễn Loại hình câu đối chủ yếu là câu đối lòng máng, trang trí hoa văn triện, đồ bát bửu, dưới đáy có trang trí mặt hổ phù con dơi, chữ phúc Sử dụng hai loại chữ: Chân phương và khải thư Màu sắc của câu đối chủ yếu là màu đỏ thẫm sơn son thếp vàng kết hợp với nền đen
đế màu đỏ cao 7cm, xoè ra về phần cuối Phần giáp với thân là hình rồng chầu mặt hổ phù được chạm thủng ngay trên đế Ở phần viền còn trang trí kẻ màu trắng Có thể thấy đây là một hiện vật quý, lâu đời, có giá trị thẩm mỹ và kĩ thuật cao trong đình Hoè Thị
Chiếc bát nhang nằm gian giữa toà đại đình cao 40cm, đường kính 25cm Được chia làm hai phần: phần thân và phần chân Phần thân trang trí hai cặp rồng chầu mặt nguyệt và hoa văn mây, đao lửa rất tỉ mỉ và đẹp Bát hương có hai quai đắp nổi hai đầu rồng đang trong tư thế vươn thẳng lên cao Có ba chân, chạm trổ hình hoa lá, sát chân thì có lõm vào và đắp soi gờ, kẻ chỉ Theo phong cách tạo tác ta có thể đoán định đây là phong cách mỹ thuật thời Nguyễn
2.2.3 Di vật bằng đồng
Theo tôi được biết di vật bằng đồng ở di tích hiện còn là: Một qủa chuông, một cái đỉnh hương, Hai đôi hạc và một lư hương
Trang 35Chuông: theo những thông tin ghi trên quả chuông tôi cho rằng quả chuông này được đúc vào năm 1952 Tuy có kích thước nhỏ và niên đại khá mới nhưng kĩ thuật đúc chuông vẫn mang tính truyền thống cao.Quả chuông này hiện nay được treo ở toà đại đình của di tích
Đỉnh hương: Được nhân dân trong vùng đóng góp tiền của để đúc vào năm 1953, đỉnh có hình dáng như một chiếc bát tộ của nhà sư khi đi khất thực Trên đỉnh có trang trí hoa văn và chữ Hán Đỉnh được đặt trong sân đình ngay sau nghi môn
Lư hương nằm ở ban thờ giữa bái đường, cùng với đôi hạc là những đồ tế
tự còn khá mới do dân làng cúng tiến Trên đó không có giá trị gì đặc sắc Hai chiếc chiêng dùng trong tế lễ, chiếc chiêng lớn được dân làng cúng tiến, con chiếc chiêng nhỏ đã tồn tại ở đình từ rất lâu đời Trên chiếc chiêng nhỏ không chạm trổ gì ngoài những núm tròn có trên khắp mặt chiêng, giá chiêng làm bằng gỗ có chạm hình rồng ở thành đỡ trông khá đẹp mắt
2.2.4 Di vật bằng vải
Di vật bằng vải ở đình hiện còn có bộ quần áo, mũ và hia của Thành Hoàng làng Tuy đã có niên đại khá lâu đời nhưng những di vật này vẫn được các cán bộ trong ban quản lý di tích bảo quản một cách cẩn thận và cất riêng vào một nơi Hàng năm vẫn mang ra để sửa soạn, kiểm tra, tránh tình trạng nấm mốc và quá rách nát Đình cũng đã cho làm một bộ khác tương tự để thay thế cho bộ quần áo cũ
2.2.5 Di vật bằng giấy
Di vật bằng giấy có giá trị nhất mà đình Hoè Thị hiện còn lưu giữ là hệ thống các đạo sắc phong thần Do không có điều kiện tiếp cận trực tiếp để nghiên cứu các đạo sắc phong này nên tôi chỉ biết được các thông tin sau: Trong suốt quá trình lịch sử, đình Hoè Thị được ban 26 đạo sắc phong qua các triều đại từ đời Lê cho tới Nguyễn: 2 đạo sắc vào năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705), hai đạo sắc vào năm Vĩnh Thịnh năm thứ sáu (1710), hai đạo sắc vào năm Vĩnh Khánh năm thứ hai (1730), tám đạo sắc vào năm Cảnh Hưng
Trang 36năm đầu, năm thứ 14,năm thứ 28, năm thứ 44 (1740-1759-1767-1783), ba đạo sắc năm Chiêu Thống nguyên niên (1787), hai đạo sắc năm Quang Trung năm thứ năm, một đạo năm Cảnh Thịnh nguyên niên (1793), hai đạo năm Thành Thái nguyên niên (1889), hai đạo năm Duy Tân năm thứ 3 ( 1903), hai đạo năm Khải Định năm thứ 3 (1918) Nội dung các đạo Sắc ban tặng mỹ tự, phong Thần cho Cổ Mục Phán Quan và ba nữ thần là Tả Phi Nhân công chúa, Hữu Hoàng Hậu công chúa và Hoa Dung công chúa
uy nghi Theo như lời các cụ cao niên ở trong làng thì chúng được trồng khi đình được chuyển ra đây Trong tiềm thức dân gian vẫn cho rằng cấy đa là nơi thần thánh trú ngụ, nên việc trồng cây đa ở trước đình như là một ẩn ý về nơi ngụ linh thiêng của thành hoàng làng
Còn hai cây đại trước toà đài đình cũng có tuổi đời hàng trăm năm nay với những cành cây sù sì khoẻ mạnh Cứ khi mùa hè đến, cây lại ra hoa toả hương thơm ngát khắp ngôi đình Cây đại là hình ảnh tượng trưng cho những
gì có ý nghĩa lớn lao, kì vĩ như uy danh và công lao của thần Trồng cây đại trước toà đại đình người xưa muôn nâng cao vị thế của ngôi đình lên một tầm mới
Hịên nay tất cả các cây cổ trong khuôn viên đình đều còn sống, toả bóng mát và được nhân dân trong vùng chăm sóc và bảo vệ rất cẩn thận Các cây đa trước cổng đình thì được xây bồn bảo vệ trông khá đẹp mắt
Trang 372.3 Lễ hội đình làng Hoè Thị
2.3.1 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội
Năm hết, tết đến, mùa xuân về, đây là lúc nông dân xưa được nghỉ ngơi sau một năm lo toan bộn bề chuyện đồng áng Khí xuân lan tràn khắp mọi nơi, cây cối đâm trồi nảy lộc, nhựa sống, con người có thời gian nghĩ về công việc đã qua và lạc quan chuẩn bị cho công việc sắp tới Trong thời gian này
họ gác hết những công việc nhà lại và để lo cho công vịêc chung – việc làng Đình Hoè Thị là tâm điểm trong hoạt động tín ngưỡng của làng Đó là những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta
Lễ hội chính của làng Hoè Thị được tổ chức vào đầu tháng 2 và diễn ra trong 3 ngày (từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 13 tháng 2 âm lịch) để kỉ niệm ngày giỗ của Thánh
Lễ hội đình làng Hoè Thị được diễn ra ở tại làng và có lễ rước giao hiếu xuống đình Thị Cấm
2.3.2 Công tác chuẩn bị cho lễ hội
Công việc chuẩn bị lễ hội được tiến hành phân công lên lịch diễn ra từ ngay ngày mùng hai tháng hai Các cụ ông và hội phụ nữ của làng họp bàn trong đình về công tác chuẩn bị cho lễ hội Phân công đội múa lân, đội trống đánh bồng, chuẩn bị phường nhạc, chọn đội hình tế lễ nam nữ sao cho không thiếu sót, chọn đội cờ người gồm những nam thanh nữ tú chưa có gia đình Đồng thời đại diện các giáp cũng họp để cử ra những nhà nào phụ trách làm lễ vật dâng thánh là bánh giày và chè kho Lực lượng tham gia trực tiếp vào đám lên tới hơn một trăm người Tất cả các vị trí trong đội hình tế lễ, rước phải đảm bảo đúng giờ trong luyênj tập, không được vắng mặt khi đã vào đám Có như thế mới thể hiện được long thành kính với Thánh và Đức thánh mới phù
hộ cho
* Chuẩn bị Lễ vật dâng thánh
Trang 38Lễ vật chính để dâng Thánh bao gồm bánh dày và chè kho Công việc làm bánh dày và chè kho diễn ra từ ngày mùng bảy sau khi đã chọn đầy đủ nguyên vật liệu Gạo dùng để làm bánh dày là gạo nếp cái hoa vàng Cũng như khi cúng cơm nếp, xưa kia gạo dùng làm bánh là do mỗi giáp phải tự trồng và chăm sóc cẩn thận Dụng cụ làm bánh là nong, nia, sàng để sát thóc, chày cối để giã gạo, giã bột Khi đã sàng lấy gạo, người ta mới đồ lên, sau đó cho vào cối giã Cối phải lót bằng lá dừa, rắc một ít bột sáp ong vào cho đỡ dính cối Thanh niên trong làng được chon từ các giáp ra đảm nhận công việc này vì đây là công việc vất vả Bột đươc giã đến khi nào đều, mịn thì một người cao tuổi được chọn cắt bánh, những người khác thì nặn bánh, bánh có hình tròn, đường kính gần bằng một gang tay, dày độ năm phân, màu trắng mị
và chắc Bí quyết làm bánh dày được các cụ trong làng giữ kín và luôn tỏ ra
tự hào vì bánh dày làng Hoè Thị làm để được rất lâu mà không bị hỏng
Chè kho được làm bằng đậu xanh và mật Đậu xanh được dân làng trồng
và được loại những hạt đen, lép Người ta rang đậu lên, xay sát rồi bỏ vỏ Mật được làm từ mía, cô lên có màu nâu trong suốt Đậu xanh, mật và nước được cho vào nồi quân dụng, đặt lên bếp đun to lửa Khi nước sôi sùng sục thì cho nhỏ lửa đi Hai người khoẻ mạnh dùng hai chiếc đũa cả lớn quấy đều tay từ sáng cho đến chiều để tránh bị khê và cho nát đều đậu xanh Sau đó đổ vào khuôn hình vuông mỗi cạnh khoảng hai gang, dày năm phân Vừng rang lên, sát vỏ được rắc lên mặt bánh Như vậy là hoàn thành xong, chè kho có màu vàng sẫm trông thật bắt mắt Với ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh trời tròn, đất vuông, bánh dày và chè kho như kết tinh những gì tinh tuý nhất của trời đất, tâm lòng thành kính của dân làng dâng lên đức Thành Hoàng Làng Ngoài bánh dày và chè kho thì lễ vật dâng thần còn có các loại hoa quả, rượu
để dâng thần
Cũng trong thời gian ấy, các bộ phận khác như ban tổ chức, chính quyền thôn, các hội… cũng tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quyên góp tiền công đức, mời khách tham quan, treo cờ quạt, dọn dẹp vệ sinh các nẻo đường lang xóm ngõ để lễ hội làng diễn ra thành công
Trang 39- Lễ dâng hương Đưc thánh mẫu
- Rước văn, rước nước ra chùa
- Cờ bỏi- gà trọi và các trò chơi khác
- Văn nghệ tại sân đình
- Đón tiếp lễ giao hiếu (đoàn Thị Cấm rước tới làng Hoè Thị)
- văn nghệ tại sân khấu hội trường đình
- Lễ bán dạ
Ngày 13 tháng 2 âm lịch:
- Rước giao hiếu từ Hoè Thị xuống Thị Cấm
- Trung kết cở bỏi- trọi gà và các trò chơi khác
- Lễ giao hiếu tại đình Thị Cấm
Trang 40Lễ hội là những giá trị phi vật thể quý báu của ngôi đình đã được dân làng vảo lưu và coi đây là những báu vật để hãnh diện với người đời Qua những lễ hội này, cũng thể hiện những ước muốn của dân làng trong cuộc sống
2.3.3.1 Phần lễ
* Tế lễ trong lễ hội
Trong tất cả các lễ hội cổ truyền của người Việt thì tế lễ là nội dung rất được coi trọng, đây là một sự giao tiếp với thần linh của người Việt, thể hiện một thái độ tôn kính đối với Thánh Thần Lễ tế được chuẩn bị và tiến hành trong không khí trang trọng, khói hương lan toả mang sắc màu linh thiêng thần bí Nghi thức lễ trong ngày hội đình bao gồm tế lễ và rước hội Nó không
hề đơn lẻ mà bao gồm một hệ thống các nghi lễ khác nhau Bắt đầu từ ngày mười một tháng hai âm lịch các nghi lễ chính thức được tiến hành
Lễ Mộc dục là nghi lễ diễn ra đầu tiên “Mộc dục” có nghĩa là tắm rửa
tượng thần và lau chùi trong cung cấm Công việc quan trọng này được giao cho những người có tín nhiệm do dân làng bầu chọn ra Để tiến hành nghi lễ này, người ta đun nước hoa hoặc hương trầm , rồi lọc qua nhiều lần để “ bao sái”, tức là lau chùi tượng Thánh và hậu cung Nhưng trước khi tiến hàn“ bao sái” phải tiến hành lễ thập bái (lễ mười lễ) Đội lễ gồm có ông chủ tế và những người chấp sự Lễ thập bái được bắt đầu bằng bốn lễ sau đó hai chấp
sự tiến vào trong cung rót rượu ở ban chính thờ Thành Hoàng Sau đó lễ hai lễ rồi hai chấp sự rước văn ra cho chủ tế đọc, đọc xong, hai chấp sự tiến vào cung cấm rót rượu ở các ban thờ ba vị công chúa và ban thờ bộ tướng của đức Thành Hoàng rồi lễ bốn lễ, hai chấp sự đi hoá văn Lễ nhập bái kết thúc Sau
đó lễ “bao sái” được tiến hành một cách trân trọng Người ta lau chùi tượng
và lau ngai thờ, bài vị của các vi thần Thành Hoàng bằng nước thơm Khi lau xong, chậu nước được giữ lại để các vị hương lão chức sắc trong làng nhúng tay vào rồi xoa lên mặt mình một chút như hình thức “hưởng ơn thánh” Đây
là một ân huệ mà không phải ai cũng được hưởng, người ta quan niệm khi