1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình phú hữu ( xã phú sơn – huyện ba vì – thành phố hà nội)

95 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội là một vùng đất cổ, mang đậm trong mình những bản sắc văn hóa dân tộc, là địa bàn còn bảo lưu được nhiều di tích lịch sử văn hóa mà điển hình là những ngôi đình làng có giá trị ti

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

TÌM HIỂU DI TÍCH ĐÌNH LÀNG PHÚ HỮU (xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Tiến

Sinh viên thực hiện: Phùng Văn Toản

Hà Nội – 2014

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1

ĐÌNH PHÚ HỮU TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.1 Vài nét về vùng đất nơi di tích tồn tại

1.1.1 Vị trí địa lý – tên gọi di tích

1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đình Phú Hữu 1.3 Sự tích các vị thần được thờ tại đình

Trang 3

3.2.3 Các giải pháp bảo quản kiến trúc

3.2.4 Bảo quản các di vật trong di tích

3.2.5 Tôn tạo di tích đình Phú Hữu

3.2.6 Một số giải pháp quản lý và bảo vệ di tích

3.3 Giải pháp bảo vệ lễ hội đình làng Phú Hữu

3.4 Khai thác và phát huy giá trị của di tích đình Phú Hữu

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nứơc, lịch sử của cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên và cải tạo xã hội Trong quá trình lịch sử đó, cha ông ta đã để lại cho hậu thế một kho tàng di sản văn hóa

vô cùng phong phú và có giá trị, trong đó có một bộ phận văn hóa hữu hình được thể hiện dưới dạng các di tích lịch sử nằm rải rác suốt từ Bắc vào Nam

Di tích lịch sử - văn hóa là nơi ghi dấu những công sức tài nghệ, ý đồ sáng tạo của cá nhân, tập thể trong lịch sử Chúng là những tài sản vô cùng quý giá không chỉ của một địa phương, một dân tộc mà còn là tài sản của toàn nhân loại Chúng trở thành những bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc Mỗi di tích lịch sử văn hóa tồn tại chúng không chỉ đơn giản là những công trình kiến trúc, những tác phẩm nghệ thuật có giá trị mà bên cạnh đó chúng còn mang bên mình những hơi thở của thời đại lịch sử, những phong tục tập quán, những tín ngưỡng văn hóa dân gian Những di tích đó sẽ trở nên có ý nghĩa lớn lao nếu chúng ta đi sâu vào bóc tách từng lớp văn hóa chứa đựng trong nó để phần nào hiểu hơn về cội nguồn dân tộc, từ đó tìm ra các biện pháp bảo tồn khai thác và phát huy những giá trị của di tích, góp phần xây dựng một nền văn hóa của Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Đã có một thời gian dài do khí hậu khắc nhiệt, do chiến tranh phá hoại

và những nguyên nhân khác nên các di tích lịch sử văn hóa đã bị hư hại, vấn

đề bảo tồn di tích lịch sử văn hóa chưa được đầu tư thích đáng, nhiều di tích đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, các lễ hội truyền thống đang dần bị mai một Vì vậy bảo tồn di tích lịch sử văn hóa được coi là nhiệm vụ

có tính cấp thiết và quan trọng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Trang 5

Hà Nội là một vùng đất cổ, mang đậm trong mình những bản sắc văn hóa dân tộc, là địa bàn còn bảo lưu được nhiều di tích lịch sử văn hóa mà điển hình là những ngôi đình làng có giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật Đình làng ở Hà Nội phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung nhiều nhất ở Ba Vì, quanh núi Tản Theo số liệu thống kê của phòng VHTT huyện Ba Vì, hiện nay trên toàn huyện còn hơn 40 ngôi đình cổ như: đình Tây Đằng( vừa được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt), Thanh Lũng, Thụy Phiêu, Chu Quyến, Phú Hữu, Vân Sa, Viên Châu, Phú Xuyên, Bằng Tạ, Cam Thượng…

Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh hương Ba Vì giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, mang đậm những bản sắc văn hóa dân tộc, được tiếp thu những kiến thức ở trường Đại học về công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa,

tự bản thân nhận thức được bảo tồn di tích lịch sử văn hóa là vấn đề cấp thiết hiện nay, tôi mạnh dạn chọn di tích đình Phú Hữu ( xã Phú Sơn – Huyện Ba Vì – Thành phố Hà Nội) làm đề tài khóa luận của mình Hi vọng bài khóa luận sẽ góp phần vào việc giới thiệu về di tích, giá trị của di tích và góp phần đưa ra một số giải pháp bảo vệ, phát huy giá trị của di tích đình Phú Hữu

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu về vùng đất, con người nơi di tích đình Phú Hữu tồn tại, làm

cơ sở cho việc nghiên cứu di tích

- Từ những nguồn tư liệu có được, tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại của đình Phú Hữu từ khi xây dựng đến nay và xác định những giá trị của di tích trên hai phương diện:

+ Giá trị văn hóa vật thể: kiến trúc, di vật

+ Giá trị văn hóa phi vật thể: lễ hội đình làng

- Nghiên cứu thực trạng của di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy giá trị vốn có của di tích trong bối cảnh hiện nay

- Cung cấp thông tin cho những người quan tâm muốn học tập nghiên cứu, tìm hiểu về di tích đình làng Phú Hữu

Trang 6

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đình làng Phú Hữu thuộc thôn Phú Hữu, xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp khảo sát, điền dã: quan sát, miêu tả, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm…

- Tập hợp, hệ thống hóa các tư liệu liên quan đến di tích để phân tích, đánh giá…

- Phương pháp liên ngành: Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Bảo tàng học, Sử học, Mỹ thuật học, Dân tộc học, Văn hóa học, Khảo cổ học, Xã hội học, Du lịch học…

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Đình Phú Hữu trong diễn trình lịch sử

Chương 2: Giá trị kiến trúc nghệ thuật và lễ hội đình làng Phú Hữu Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Phú Hữu

Trang 7

CHƯƠNG 1 ĐÌNH PHÚ HỮU TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.2 Vài nét về vùng đất nơi di tích tồn tại

1.1.1 Vị trí địa lý – tên gọi di tích

Ba Vì là một vùng đất cổ Từ thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất này thuộc Phong Châu – kinh đô của các Vua Hùng Trải qua hàng ngàn năm lịch sử tên huyện và địa giới đã có nhiều thay đổi do việc tách nhập của các phủ huyện Xa xưa vùng đất này có tên là phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây, về sau đổi thành huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, năm 1965 huyện Quảng Oai hợp nhất với hai huyện Bất Bạt và Tùng Thiện thành huyện Ba Vì, thuộc tỉnh Sơn Tây Năm 1968 tỉnh Sơn Tây sáp nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây, năm 1975 tỉnh Hà Tây sáp nhập với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình, năm 1979 vùng đất này thuộc địa giới Thủ đô Hà Nội Từ năm

1991 lại tách thành tỉnh Hà Tây và năm 2008 đến nay đã sáp nhập về Thủ đô

Hà Nội

Ba Vì là một huyện miền núi của thành phố Hà Nội với diện tích 430km2 và dân số là hơn 250 nghìn người gồm 3 dân tộc: Kinh, Mường và Dao cùng sinh sống Huyện Ba Vì có một vị trí địa lí rất thuận lợi, nằm trong tọa độ 21,01 độ vĩ bắc, 105 độ kinh đông, cách thủ đô Hà Nội 50km về phía Tây Bắc có 2 con sông lớn chảy qua là: sông Hồng và sông Đà, có 3 hồ nước lớn là hồ Suối Hai với diện tích là 671 ha, hồ Cẩm Qùy 141 ha, hồ Xuân Khanh 154 ha Phía Nam giáp huyện Thạch Thất, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây và phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình, được ngăn cách bởi ngọn núi Ba Vì hùng vĩ

Địa hình huyện Ba Vì chia thành 2 phần chính: phần đồi gò bao quanh dưới chân núi và phần đồng bằng nằm rải rác ven các con sông

Trang 8

Khí hậu huyện Ba Vì mang đặc trưng của khí hậu miền Bắc nước ta, có hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình trong năm là 200C, lượng mưa từ 1.800mm đến 2.000mm Tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, huyện có khoảng 7.000

ha rừng tự nhiên trong đó có khoảng 1/3 diện tích là rừng che phủ

Nhân dân các làng xã ở huyện Ba Vì vẫn lưu truyền từ đời này sang đời khác một kho cổ tích kỳ diệu mà tiêu biểu nhất là truyền thuyết về người anh hùng văn hóa Sơn Tinh Nói tới Sơn Tinh chúng ta không thể không nói tới Núi Tản – Sông Đà Có thể nói Núi Tản Sông Đà là hai thực thể văn hóa của

tự nhiên, là nguồn gốc sản sinh ra giá trị văn hóa dân gian về hình tượng

người anh hùng văn hóa Sơn Tinh Theo “Bắc thành dư địa chí” của Lê Đại Cương chép: “núi này ở huyện Bất Bạt phủ Quảng Oai, hình núi như cái tán

nên gọi là Tản Viên Rộng rãi bao la, đứng cao hùng vĩ, làm trấn sơn cho cả nước, cao 2.310 trượng, chu vi 18.650 trượng, hướng Tây có Đà Giang bao

trọng không những về mặt địa lý mà còn giữ địa vị độc tôn trong tâm thức3

của người xưa Theo Nguyễn Tường Miêu trong cuốn “Núi Ba Vì – Truyền

thuyết và lịch sử” có viết: “Nếu lấy núi Nghĩa Lĩnh làm tâm điểm thì núi Ba Vì

và núi Tam Đảo là hai điểm đối xứng tạo thành thế tay ngai trong luật phong thủy do triều đại Hùng Vương tạo lập, hình thành nên Cố đô của nước Văn Lang thời sơ sử" 2 Trải qua các giai đoạn lịch sử, người dân đã sáng tạo ra

một vị thần bất tử tương xứng với tầm vóc của ngọn núi – đó là Sơn Tinh Sơn Tinh là biểu tượng cho sức mạnh chiếm lĩnh đồng bằng và ước vọng chinh phục tự nhiên của người Việt Trong tâm thức của con người xưa

thì Sơn Tinh được coi là vị chủ Sơn (thần núi) và “thờ thần núi là tín ngưỡng

(1) Lê Đại Cương (1975), Bắc thành dư địa chí, NXB KHXH, Hà Nội, tr95

(2) Nguyễn Tường Miêu (2002), Núi Tản truyền thuyết và lịch sử, sở VHTT Hà Tây, tr3

Trang 9

4 xa xôi trong dân gian Khuynh hướng này đâu đâu cũng có, người ta quan niệm về một vị thần trừu tượng, chung chung, tìm cho vị thần ấy một địa danh

đó người dân Việt cổ xưa cũng thờ Sơn Tinh làm thần núi và ngọn núi

Ba Vì được coi là địa danh linh thiêng Núi Ba Vì và truyền thuyết Sơn Tinh luôn găn bó mật thiết với nhau, nó là hai mặt của một vấn đề, hai yếu tố cốt lõi của văn hóa dân gian xứ Đoài nói riêng và dân tộc Việt nói chung

“Núi Tản sông Đà con ca nhảy

Mây trùm non Tản cánh diều bay”

Nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu – Tản Đà đã thốt lên trong bài thơ của mình như vậy khi đứng trước cảnh sắc quê hương Nói tới núi Tản là nói tới sông Đà – Nơi Sơn Tinh giao chiến với Thủy Tinh trong công cuộc chống lụt bảo vệ mùa màng cho nhân dân Sông Đà là hợp lưu chính của sông Thao, cùng với sông Lô bên tả ngạn tạo nên đỉnh Việt Trì đổ ra sông Hồng bồi đắp nên châu thổ Bắc Bộ - cái nôi của người Việt cổ

Huyện Ba Vì còn được biết tới bởi mật độ di tích lịch sử văn hóa dày đặc với nhiều loại hình khác nhau Di tích là những bằng chứng xác thực trong quá khứ còn lại đến ngày nay, qua di tích chúng ta có thể biết được cục diện của lịch sử với những ngôn ngữ thể hiện khác nhau Về di tích thuộc loại hình kiến trúc – nghệ thuật có đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, nhà thờ Thiên chúa giáo, lăng mộ…Theo thống kê của Ban quản lý di tích huyện Ba

Vì, toàn huyện hiện nay còn tồn tại 216 di tích kiến trúc nghệ - nghệ thuật trong đó có gần 100 ngôi đình, đền thờ Tản Viên Sơn Thánh Về địa điểm khảo cổ học, ngoài những địa điểm kể ở trên còn có một số địa điểm khảo cổ học ở ven sông Đà, vùng đồi Quảng Oai Di tích lịch sử cách mạng kháng chiến hiện nay còn lại trên toàn huyện cũng rất nhiều, đặc biệt là những di tích lưu niệm gắn với chủ tịch Hồ Chí Minh như đền thờ Bác Hồ trên núi Ba

Trang 10

Vì, nhà lưu niệm và cây đa bác trồng ở xã Vật Lại đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia năm 2004 Ngoài ra do có địa thế đồi núi nên Ba

Vì còn là quê hương của rất nhiều những danh lam thắng cảnh nổi tiếng như:

Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Thác Đa, Vườn quốc gia Ba Vì, Cốt 600…các địa điểm này đã trở thành tâm điểm của các tour du lịch đem lại nguồn thu nhập khá lớn cho huyện Ba Vì nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung Tất cả đã tạo nên cho Ba Vì một bộ mặt vừa mang tính lịch sử truyền thống, vừa mang tính hiện đại

Xã Phú Sơn trước đây thuộc tổng Phú Hữu, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay là huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên là 13.803

km2 Nằm ở phía tây bắc huyện Ba Vì, xã Phú Sơn hiện có 5 thôn: Phú Hữu, Yên Kỳ, Quy Mông, Cao Lĩnh, Phú Mỹ Tuy nhiều thôn và có quá trình sinh

tụ khác nhau, nhưng vốn và cùng sinh sống trên một địa bàn có điều kiện tự nhiên và xã hội giống nhau nên từ xưa nhân dân ở đây vẫn gần gũi nhau về tình cảm, thương yêu giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, đoàn kết với nhau trong đấu tranh chống thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm Về phía tây, Phú Sơn giáp sông Đà, phía tây bắc giáp các thôn Phú Nhiêu, Trung Hà, Thuận An, Thừa Lệnh và Chu Mật (xã Thái Hòa) Từ đây theo đường quốc lộ

32 (11A ra cầu Trung Hà, vượt sông Đà sang huyện Tam Nông, Thanh Thủy (Phú Thọ) đi các tỉnh Sơn La, Lai Châu thuận tiện Phía đông nam giáp thôn Tăng Cấu (xã Đồng Thái), thôn Yên Bồ (xã Vật Lại) Ở đây có đường tỉnh lộ

92 chạy từ ngã 3 Đồng Bảng qua các làng Cao Lĩnh, Quy Mông, Yên Kỳ lên Bất Bạt và tới Đá Chông Phía nam giáp thôn Đông Lâu, Yên Khoái (xã Thụy An), Tòng Lệnh (xã Tòng Bạt) có đường tỉnh lộ 84 nối tiếp với tỉnh lộ 92 ở ngã 3 làng Quy Mông, qua làng Vô Khuy, Cẩm Đài (Cẩm Lĩnh) gặp đường tỉnh lộ 88 xuôi Sơn Tây, ngược Bất Bạt dễ dàng

Phú Sơn là vùng đất bán sơn địa, đồi gò trọc chiếm tới 73% diện tích toàn xã Địa hình xã Phú Sơn không được bằng phẳng, có nhiều đồi núi do

Trang 11

tính chất địa hình vùng núi trung du Khí hậu ở đây khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có một mùa đông lạnh với đủ bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Ruộng đồng phần lớn là mấp mô, bậc thang, có nhiều gò đống nhỏ rải rác Lớp đất trồng trọt chỉ sâu khoảng 15cm, chủ yếu là đất cát pha

Về cư dân: Theo số liệu thì trước năm 1945 xã có 1900 nhân khẩu Theo số liệu thống kê đến hết tháng 12 năm 1993 xã có 6.992 nhân khẩu Tính theo mật độ dân số thì cứ 1km2 có 530 người 100% là dân tộc Kinh, nguồn sống chủ yếu là nghề nông

Làng Phú Hữu nằm lọt giữa một bên là dòng sông Đà thơ mộng, một bên là tuyến đường 32 từ Thủ đô Hà Nội chạy lên các tỉnh miền núi phía Bắc

Di tích đình Phú Hữu nằm ở phía tây cách trung tâm Hà Nội khoảng 60km Đi đến làng khách tham quan có thể đi theo đường 32 từ Cầu Giấy qua các huyện Đan Phượng, Phúc Thọ, thị xã Sơn Tây tới khu di tích Chùa Mía đi khoảng 15km nũa là tới làng Phú Hữu xã Phú Sơn Vào làng theo đường ven làng, ngược lên khoảng chừng hơn 1km là tới đình Phú Hữu

Nằm trong vùng văn hóa của Xứ Đoài xưa, làng Phú Hữu còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa cổ xưa, lịch sử lập làng cũng ra đời từ rất sớm và được bảo lưu qua các truyền thuyết dân gian và các phong tục văn hóa

Làng Phú Hữu độc đáo bởi ngôi làng này nằm trên một quả đồi cao, để đến được trung tâm của làng phải qua những con dốc dựng đứng và độc đáo bởi trong làng còn khá nhiều nhà cổ Những ngôi nhà cổ ở làng cho thấy, từ

xa xưa, người dân Phú Hữu đã phân định rõ nét hai mảng đời sống giữa người giàu, kẻ nghèo: Nhà giàu làm nhà bằng đá ong, còn nhà nghèo xây bằng đất Làng Phú Hữu còn là một làng cổ của xứ Đoài từ xưa đã có nghề nuôi ong vò

vẽ nổi tiếng giữ lại đến tận bây giờ Chính nghề nuôi ong đã góp phần làm xanh, sạch đẹp môi trường và nhiều món ngon cho người dân nơi này.Cháo ong vò vẽ Phú Hữu rất ngon và bổ Người dân nơi đây dùng món này để bồi

Trang 12

bổ sức khỏe và để bổ âm, tráng dương Cháo có thể dùng quanh năm, nhưng thời điểm tốt nhất là rằm tháng bảy, tháng tám hằng năm

Đình Phú Hữu là một ngôi đình đẹp, có nghệ thuật kiến trúc và trang trí kiến trúc độc đáo Đến nay đình vẫn còn lưu giữ được khá nguyên vẹn kiến trúc cổ, các tài liệu, hiện vật quý và một số mảng chạm khắc từ thời Hậu Lê

Vì vậy, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là hết sức cần thiết

và quan trọng Với lòng trân trọng, giữ gìn những di sản văn hóa vô giá của cha ông để lại, tập thể các cụ trong ban mặt trận làng, hội người cao tuổi cùng các cấp lãnh đạo trong thôn đã thay mặt cho nhân dân làng Phú Hữu làm đơn

đệ trình lên các cấp cơ quan chức năng của Nhà nước đề nghị xếp hạng di tích

để đặt di tích nằm trong sự bảo vệ của Luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đáp ứng nguyện vọng chính đáng đó của nhân dân Phú Hữu,

sở Văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội đã cử cán bộ chuyên môn của Ban quản lý di tích về khảo sát, nghiên cứu di tích, tiến hành lập hồ sơ khoa học pháp lý cho di tích đình làng Phú Hữu, trình Bộ văn hóa Thể thao và

Du lịch xem xét xếp hạng cho di tích

Xét trên những giá trị cơ bản của di tích, đình làng Phú Hữu đã được

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng đình là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo quyết định số 3211/QĐ – BVHTTDL ngày 02 tháng 02

năm 1994

1.1.2 Truyền thống văn hóa

* Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng

Trải qua các thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, làng Phú Hữu là nơi chứng kiến và diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đánh giặc giữ làng mỗi khi có họa xâm lăng

Dưới thời phong kiến, giặc cướp nổi lên ở các địa phương luôn luôn đe dọa uy hiếp nhân dân, chúng tiến hành các vụ cướp phá tài sản, mùa màng,

Trang 13

gây nhiều tội ác… Nhân dân Phú Hữu đã đoàn kết cùng nhân dân các làng khác chiến đấu chống lại bọn giặc cướp bảo vệ làng xã, giúp đỡ làng tổng Tình hình quân sự: Địa hình Phú Sơn có nhiều đỉnh cao nên có ưu thế

về quân sự đối với địa bàn xung quanh Ở phía nam làng Phú Hữu có đồi Cao Lĩnh nằm ở giữa một cánh đồng ruộng Trước kia quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc

đã đóng đồn vệ binh ở đó Ngoài ra còn có các đồi cao như Lỗ Gội, Chùa Cao, Phú Mỹ C, Phú Mỹ A Trên những đỉnh cao này bằng mắt thường có thể quan sát hết một dải hữu ngạn sông Đà, từ Thanh Thủy (Phú Thọ) xuống ngã

ba Hạc (Việt Trì), dọc bờ bắc sông Hồng đến thị xã Sơn Tây vào chân núi Ba

Vì Do đó khi đặt chân đến vùng này, bọn xâm lược đều có mặt tại Phú Sơn Các triều đại phong kiến phương Bắc là những kẻ đầu tiên khi sang xâm lược

đã đóng đồn ở đỉnh chùa Cao, đỉnh đồi Cao Lộng (Cao Lĩnh) Từ năm 1882, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã tràn sang đây Chúng đã chiếm Chùa Cao , phá chùa “Long Vân Tự” ở đỉnh Cao Lộng xuống xây đồn ở chân đồi Chúng tàn sát hàng loạt người ở thôn Quy Mông và thôn Phú Hữu Khi thực dân pháp kéo đến, chúng đã xây dựng đồn binh Cao Lộng vào năm 1892 Chúng mở đường 92, đường 84 vào tận chân núi Ba Vì để dễ cơ động, đàn áp các nghĩa quân Năm 1942 pháp lập sân bay dã chiến ở trên đồi thuộc ấp Phú

Mỹ C Tháng 3 năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp, Phú Sơn lại có thêm một

kẻ thù từ xứ mặt trời mọc đến Giặc Nhật nhanh chóng chiếm đỉnh cao đồi cây sung làm nơi tập trung quặng Mi-ca khai thác từ Vĩnh Phú về phục vụ cho công nghiệp quốc phòng của chúng Đến năm 1948 thực dân Pháp trở lại chiếm đóng chúng không trừ một điểm cao nào mà không xây dựng hầm ngầm, lô cốt boong – ke, kể cả chùa và trường tiểu học thôn Phú Hữu cũng đều là vị trí đóng quân và nơi giam cầm, khủng bố nhân dân Có thể nói rằng,

từ trước cách mạng tháng Tám cho đến khi hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7 năm

1954, quê hương Phú Sơn chưa bao giờ vắng bóng quân xâm lược Chính vì thế, trải qua hàng mấy thế kỷ, để tồn tại và phát triển, nhân dân Phú Sơn đã

Trang 14

sớm ý thức được tinh thần độc lập dân tộc, bền bỉ đấu tranh chống sự nô dịch của ngoại xâm

Vào năm 1888 có ông Tiền Vinh (Phú Hữu), ông Thơ Khoát (Quy Mông) gia nhập nghĩa quân Quận Cổ, Đốc Tít đánh Pháp Ông huyện Uý (Quy Mông) đã tổ chức dân binh tham gia tu sủa thành Sơn Tây chống Pháp Nhân dân thôn Phú Mỹ C đã đấu tranh đòi bồi thường cho 10 gia đình bị mất ruộng vườn khi Pháp làm sân bay

Chi bộ Đảng và nhân dân Phú Sơn rất tự hào về quê hương đã vượt biết bao gian khổ, ác liệt, cống hiến một phần nhỏ bé vào thắng lợi chung của cả dân tộc

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Chi bộ Đảng

đã lãnh đạo nhân dân Phú Sơn đạt được những thành tích sau:

- Đã quyên góp được 3 lạng vàng, một nén bạc, 3000 đồng bạc Đông Dương

- Đào được 2km hào giao thông, khoảng 16.500 m3 đất

- Góp 20.000 ngọn chông trà, phá hoại 1km đường giao thông, đắp 208

ụ chướng ngại vật, phá 2 nhà tầng, 3 cầu cống

- Đóng góp 240 tấn thóc công lương điền thổ và nuôi quân

- Huy động 20 dân công phục vụ chiến dịch Tây Bắc

- Số bộ đội và du kích tham gia kháng chiến là 49 đồng chí

- Số liệt sĩ là 33 đồng chí

- Số gia đình cơ sở và cảm tình là 70

- Diệt và làm bị thương 70 tên địch

- Diệt 7 tên tề nguy hiểm

- Gọi hàng 70 binh lính địch

Trang 15

- Số binh lính địch phản chiến 1 đại đội

- Vũ khí thu được: 1 trung liên, 3 tiểu liên, 60 súng trường, 1 súng lục,

300 quả lựu đạn

- Được Đảng và Nhà nước tặng thưởng cho cán bộ và nhân dân trong xã: + 4 huân chương kháng chiến hạng Ba

+ 11 huy chương kháng chiến hạng Nhất

+ 8 huy chương kháng chiến hạng Hai

+ 12 bằng khen

*Truyền thống văn hóa xã hội

Hà Tây xưa từ lâu đã được biết đến là vùng đất của các khoa bảng và của các danh nhân văn hóa, riêng huyện Ba Vì trong thời kỳ phong kiến có 28

khuyến học của làng được thành lập, việc khuyến học được đưa sâu vào các

dòng họ nhằm khơi dậy truyền thống văn hóa của làng nói chung và cổ vũ tinh thần hiếu học của con cháu trong dòng họ nói riêng Hàng năm có nhiều các gia đình được công nhận gia đình văn hóa Về an ninh xã hội, làng có một đội bảo vệ thường trực làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự Ngoài việc tổ chức ra đội bảo vệ thường trực thì vấn đề an ninh cũng được đưa sâu vào các dòng họ, các ngõ xóm với tinh thần tự quản là chính Ý thức bảo vệ nơi công cộng được nâng cao nhất là với tài sản chung của dân làng như: chùa, đình Trong làng không có tệ nạn xã hội, chính quyền và nhân dân luôn chấp hành

Trang 16

đầy đủ, nghiêm túc mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Đầu tư xây mới Nhà văn hóa phục vụ cho các cháu thanh thiếu niên Việc cưới xin, tang ma được thực hiện theo nếp sống mới, các chi hội đoàn thể trong làng được thành lập và hoạt động có hiểu quả, tích cực góp phần xây dựng Phú Hữu thành mô hình làng văn hóa kiểu mới

Về sinh hoạt văn hóa hàng năm nhân dân trong làng tổ chức lễ hội tại đình Lễ hội được tiến hành chính vào ngày 16 tháng Giêng nhưng mọi công tác chuẩn bị được tiến hành trước đó 1 tuần Trong ngày lễ, đường làng ngõ xóm sạch đẹp, cờ hoa rộn rã, mọi người trong làng ai ai cũng nô nức, những người con đi xa cũng về tụ họp đông đủ Phần lễ do những người trung tuổi trong làng đảm nhiệm, gồm lễ bao sái, lễ cầu an, lễ rước cấp thủy, lễ mộc dục

và đại lễ Phần hội chủ yếu diễn ra các trò chơi truyền thống như: cờ tướng, cầu lông, bắt vịt, nấu cơm thi…

Như vậy, truyền thông văn hóa, xã hội, truyền thống đấu tranh cách mạng được nhân dân Phú Hữu các thế hệ vun đắp từ ngàn xưa đã trở thành một nguồn di sản tinh thần quý giá, là niềm tự hào và sức mạnh để con cháu Phú Hữu hôm nay và mai sau tiếp tục phấn đấu vươn lên trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước và xây dựng quê hương tiến bộ, giàu mạnh

1.1.3 Dân cư và đời sống kinh tế của dân cư

*Thành phần dân cư

Với đặc thù là một làng cổ được hình thành từ rất sớm, có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và đất đai nên từ lâu Phú Sơn là địa bàn sinh sống của nhiều dòng họ lớn như: Nghĩa, Thế, Phùng, Tất, Lê Người dân đến đây với ước vọng bình an may mắn và có cuộc sống thịnh vượng, họ đem theo cả những giá trị văn hóa, nếp làm, nếp nghĩ của cha ông Hầu hết các dòng họ này hiện nay vẫn giữ được gia phả và nhà thờ họ

Trang 17

Họ Nghĩa là một dòng họ lớn nhất, hiện nay dòng họ này chiếm 1/3 số dân trong làng với gần 70 số hộ gia đình, 106 đinh Theo gia phả còn giữ lại thì tộc phả của họ Nghĩa đến đây sinh sống sớm nhất

Họ Lê và họ Phùng cũng là hai họ đến đây sinh sống khá sớm Trong các họ này đều có những người có nhiều đóng góp trong xây dựng chùa, đình Mặc dù có nhiều dòng họ sinh sống nhưng các dòng họ này đều đoàn kết gắn

bó và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng làng vững mạnh về mọi mặt Họ

là những người sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật thể (đình, chùa) và những giá trị văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục tập quán) Từ lâu ngôi đình đã trở thành biểu tượng chung và là tài sản vô cùng quý giá của người dân Cùng với đình, chùa và giếng nước cũng được coi là những bằng chứng xác thực nhất phản ánh tinh thần nhất trí và đoàn kết của các dòng tộc cùng chung sống tại đây

Khâu thủy lợi vẫn được Đảng và Ban quản lý quan tâm chỉ đạo sát sao Huyện Ba Vì đã thi công trạm bơm Trung Hà lấy nước sông Đà tưới cho hàng vạn hécta lúa Xã Phú Sơn là một trong những xã nằm trong điểm đầu của hệ thống tưới tiêu này trong huyện Ba Vì Đảng ủy đã coi đây là thuận lợi chính

để phát triển hai vụ lúa ăn chắc và tăng diện tích vụ đông Cây thuốc lá đông

Trang 18

vẫn trụ vững trên đồng đất Phú Sơn Năm 1988 toàn xã giao nộp sản lượng thuốc lá đầy đủ với Nhà nước, nâng mức thu nhập của cả xã lên 13,3 triệu đồng so với năm 1987 Tiếp đó, Đảng ủy đã chỉ đạo thi công trạm bơm “Môm Tuần”, xây dựng một cống chạy qua đường dài 22m Đảng cũng tích cực chỉ đạo giao đất, giao rừng cho các hộ xã viên có khả năng chăm sóc, chăn nuôi theo hướng nông lâm kết hợp

Nhằm thu hút số lao động nhàn rỗi, Phú Sơn đã phát triển sản xuất gạch phục vụ xây dựng các công trình công cộng Bước đầu, địa phương đã phát triển và cùng cố 2 lò gạch sản xuất hàng triệu viên/năm

Phú Hữu là một làng thuần nông nên từ xưa đến nay nhân dân nơi đây vẫn làm nông nghiệp là chính Trong nông nghiệp, cây lúa chiếm vai trò chủ đạo, bên cạnh cây lúa người dân trong làng còn trồng các loại rau, củ, quả theo mùa

vụ hoặc xen canh gối vụ Một năm có 2 vụ cấy lúa và một vụ hoa màu Do đặc điểm đất đai rộng rãi, nguồn nước tưới thuận lợi, người dân cần cù chăm chỉ nên quanh năm lúa màu đều đạt năng suất cao Chính quyền địa phương luôn quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân sản xuất

Bên cạnh làm nông nghiệp trong những ngày nông nhàn, người dân Phú Hữu còn làm thêm các nghề thủ công truyền thống đặc biệt là nghề rèn nổi tiếng với nhiệm vụ rèn vũ khí phục vụ cho triều đình phong kiến Nghề mộc cũng được đánh giá cao, bàn tay tài hoa của người thợ mộc, vẫn còn nguyên dấu vết, họ là những nghệ nhân tài hoa bậc nhất tạo nên ngôi đình Phú Hữu bề thế uy nghi Ngôi đình như còn mới nguyên và có giá trị vô cùng quý giá khi chúng ta nhìn nhận vấn đề trong chính thời điểm nó ra đời

Ngày nay, khi cuộc sống có nhiều biến đổi, một số nghề thủ công truyền thống không còn nữa, chỉ còn lại khoảng chục gia đình vẫn phát triển nghề mộc phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân trong và ngoài làng Bên cạnh

đó do địa hình đồi gò nhiều nên một số hộ gia đình đã chọn các loại cây trồng thích hợp có thu nhập khá đều và cao như cây sắn, cây dứa…

Trang 19

Làng Phú Hữu có đội ngũ lao động dồi dào, ngoài bộ phận lao động ở lại quê hương tham gia sản xuất nông nghiệp thì trong làng còn có một đội ngũ lao động đi làm ăn xa kiếm thêm thu nhập cho gia đình Bằng nỗ lực của mình người dân làng Phú Hữu đã xây dựng nên bộ mặt nông thôn ngày nay thêm khởi sắc Theo báo cáo kinh tế xã hội của địa phương năm 1999, thu nhập bình quân đầu người trong làng đạt 1000.000đ /người /năm và 200kg thóc /người /năm Đến năm 2004, mức thu nhập đó đã lên tới 1.300.000đ/ người /năm và mức sống hàng ngày được cải thiện

1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đình Phú Hữu

Di tích là sản phẩm của xã hội, nó mang trong mình những dấu ấn của thời đại nó tồn tại Mỗi di tích từ khi ra đời đều gắn với một thời gian cụ thể

Di tích phản ánh tư duy nghệ thuật của thời kỳ, và vai trò của hình thái tín ngưỡng gắn với nó Do vậy việc tìm hiểu niên đại khởi dựng di tích có một ý nghĩa vô cùng quan trọng

Như chúng ta đã biết đình làng là sản phẩm của toàn dân, đó là công trình kiến trúc lớn nhất của làng được đặt ở nơi có vị trí đẹp, thoáng đãng và thuận lợi Cho đến nay việc xác định niên đại tuyệt đối của các di tích gặp rất nhiều khó khăn vì không có tư liệu chữ viết trực tiếp để lại Nhưng dựa vào các công trình nghiên cứu về kiến trúc, trang trí mỹ thuật hay các văn bản Hán Nôm thì chúng ta phần nào có thể khẳng định được thời gian ra đời của

các di tích đó Theo Giáo sư Hà Văn Tấn và Nguyễn Đình Kự trong “đình

Việt Nam” thì kết cấu ngôi đình sớm ở Việt Nam là hình chữ nhất (-)

(-) tức là chỉ có một tòa Đại đình Đình Phú Hữu hiện nay 3 gian 2 chái nằm trên một diện tích có chiều dài là 20m, chiều rộng là 12m, các gian không bằng nhau Dựa vào những đường nét hiện còn tác giả của khóa luận cho rằng có khả năng đây là một ngôi đình được khởi dựng vào cuối thê kỷ thứ XVI đầu thế

kỷ thứ XVII Từ thế kỷ thứ XVII trở đi, chức năng tôn giáo chiếm ưu thế mạnh nên các ngôi đình thường có thêm phần chuôi vồ làm hậu cung

Trang 20

Đình Phú Hữu tọa lạc trên một khu đất rộng nằm bên rìa phía tây khu vực cư trú của làng Đình trông theo hướng Tây – Nam, hai nhà tả hữu Mạc nằm ở hai bên sân gạch trước đình Hệ thống tường bao quanh di tích và cổng tam quan ở phía ngoài cùng, nay có chỗ đã bị hư hỏng nhiều, không được như xưa nữa

Đến năm 1830, ngôi đình cũ trước kia được dân làng chuyển về vị trí hiện nay, với quy mô to, rộng hơn Tuy vậy, hầu hết bộ khung kiến trúc và các hình tượng trang trang trí đã được sử dụng lại trong ngôi đình này

Trong lần di chuyển này người ta đã dựng thêm hai bên tả mạc và hữu mạc Từ đó đến nay, đình đã sửa chữa nhỏ vài lần Lần tu sửa gần đây nhất vào năm 1965 Hiện nay các bộ phận kiến trúc gồm có đại đình, hai bên tả

hữu mạc và tam quan

Ngoài sự tác động của yếu tố tự nhiên, đình Phú Hữu còn chịu tác động của các yếu tố do con người gây nên Trong chiến tranh, đình là lớp học cho con em trong làng và là nơi sản xuất nên không thể tránh khỏi những hư hại, một số bộ phận kiến trúc không còn, hệ thống ván sàn cũng đã mất sạch nay chỉ còn lại những dấu tích lỗ mộng trên các chân cột Khi đất nước hòa bình, bước vào xây dựng và kiến thiết, quán triệt tinh thần bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa của Đảng và Nhà nước, đình Phú Hữu được cấp vốn đầu tư và cải tạo

Như vậy có thể nhìn thấy quá trình tồn tại của đình Phú Hữu từ khi khởi dựng đến nay, đó là cả một quá trình tồn tại song song với những thăng trầm của lịch sử

Trang 21

phụng sự một vị thần có làng thờ 2, 3 vị; có làng thờ 5,7 vị tức gọi là Phúc

thích: “Trong việc thờ cúng cộng đồng, các thôn xã đều lấy việc thờ phụng

Thành hoàng bản để làm quan trọng Thành hoàng ở mỗi thôn cũng như thổ công ở một nhà Ngài là vị thần linh cai quản toàn thể xã, che chở cho nhân

Thành hoàng vốn là vị thần có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhiều tác giả

cho rằng Thành hoàng bắt nguồn từ câu của Kinh Dịch “Thành phục vụ

hoàng” (Thành đổ thì trở nên hào) Như vậy Thành hoàng chỉ một cấu trúc

của một tòa thành gồm có tường thành và hào nước bảo vệ vòng ngoài Việc

thờ Thành hoàng ở Trung Quốc có từ rất sớm nhưng Thành hoàng trở thành

vị thần có nơi thờ riêng thì xuất hiện sớm nhất vào thời Tam Quốc, bấy giờ Thần Thành hoàng đã có hình ảnh của một con người và cũng từ đây Thành hoàng không còn hóa thân của thành trì nữa mà là một con người cụ thể Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc khá đậm nét khi tín ngưỡng Thành hoàng vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc cũng làm nảy sinh một số Thành hoàng mà chức năng giống như Thành hoàng Trung Quốc, là Thần bảo vệ những tòa thành nhưng bên cạnh đó ở nước ta còn có một dòng Thành hoàng khác là những vị thần được thờ ở những ngôi

đình được gọi là Thành hoàng làng hay còn được gọi là “Đương cảnh Thành

hoàng”,“Thành hoàng bản cảnh” (có nghĩa là vị thần của khu đất ấy) Thành

hoàng làng là “vị thần bảo hộ của làng xã, được nhân dân thờ từ trước, sau

đó mới được nhà vua phong tước vương để trở thành quan lại thiêng liêng của triều đình trấn giữ làng với chức danh Thần hoàng làng Như vậy Thành hoàng làng được khoác lên mình chiếc áo tín ngưỡng phong kiến, hay nói cách khác thần bảo hộ làng về mặt văn hóa đã bị Hoa hóa Đây là vị Thành

4 Phan Kế Bính (2003), Việt Nam phong tục, NXB VHTT, Hà Nội, tr.3

5 Toan Ánh (2000), Phong tục Việt Nam, NXB TPHCM, TPHCM, tr.15

Trang 22

hoàng mang đậm bản sắc văn hóa và là dòng chủ thể phản ánh bản chất tư duy tôn giáo tín ngưỡng Việt ”6

Đình Phú Hữu là một trong hơn 40 ngôi đình ở huyện Ba Vì nói riêng

và hệ thống các di tích thở Tản Viên Sơn Thánh ở tỉnh Hà Tây cũ nói chung Đình Phú Hữu được xây dựng từ lâu đời gắn với việc nhân dân từ mọi nơi đến đây khai phá lập làng đem theo những khát vọng sinh tồn may mắn Mọi ước vọng đó được gửi gắm trong hình tượng vì Thành hoàng làng Sơn Tinh và ngôi đình cổ kính

Hầu hết tất cả người dân Việt Nam đều biết đến truyền thuyết Sơn Tinh

từ thời Hùng Vương dựng nước Nhưng có lẽ không ở đâu truyền thuyết Sơn Tinh lại đa dạng và phong phú như ở vùng Ba Vì, nơi có ngọn núi Tản hiên ngang sừng sững và dòng sông Đà trong xanh thơ mộng Như chúng ta đã biết Tản Viên Sơn Thánh là hình tượng về người anh hùng văn hóa do nhân dân sáng tạo ra khá sớm trong lịch sử Khi ấy núi Ba Vì luôn là một thách thức đối với người Việt cổ, như một hiện tượng thiên nhiên buộc họ phải giải thích bằng lối tư duy Chính điều này cho thấy cốt lõi của tín ngưỡng thờ Sơn Tinh

là tín ngưỡng thờ Thần núi

Có nhiều ngọc phả, thần tích, diễn ca, truyện thơ dài ghi chép về sự tích của thần, nhưng sinh động nhất vẫn là kho tàng truyền thuyết dân gian được truyền miệng từ đời này sang đời khác Thư viện viện Hán Nôm hiện đang lưu giữ một kho tư liệu thần tích về Tản Viên Sơn Thánh khá lớn (38 bản) với những tên gọi khác nhau như:

- Tản Viên Sơn Thánh sự tích (A41): Nguyễn Tùng, Nguyễn Tuấn, Thần Vương, Tản Viên Thánh, Sơn Tinh, Sơn Thánh

- Tản Viên Sơn Thánh thực lục sự tích (A.1547): Nguyễn Tuấn, Nguyễn Huệ, Nguyễn Chiên Dung, Tần Sư, Thần Vương, Tản Viên Sơn Thánh, Sơn Tinh, Tản Viên, Sơn Thánh

Trang 23

- Tản Viên Sơn Ngọc Phả (A.2365): Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tùng, Thần Sư, Tản Viên Thánh, Tản Viên Sơn Tinh

- Tản Lĩnh Sơn Ngọc Phả (A.2135): Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tùng, Thần Sư, Sơn Tinh, Sơn Thánh

- Tản Viên Sơn Tam Vị Thượng Đẳng Phúc Thần Sự Tích A2305): Nguyễn Tùng, Sơn Thánh, Tản Viên Sơn Thánh

(VHB.83-Ngoài ra ở tất cả những di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh đều giữ những bản thần tích riêng làm tài sản của mình, trong đó có đền Và – một trong Tứ cung thuộc làng Vân Gia, xã Trung Hưng thị xã Sơn Tây có 4 quyển

Riêng đối với người Mường, thần núi Tản Viên còn mang các tên như: Bua Thơ, Bua Va Vì, Thần Khu…Ngoài ra còn có các tên gọi khác như: Bua Thơ, Bua Pun, Brua Mai, Bua Tít, Bua Ông, Bua Non, Bua Thái Hậu

Tản Viên Sơn Thánh là một vị thần được thờ phụng khá nổi tiếng ở nhiều nơi, có lúc thần là thần núi (Sơn Thần) được thờ tại các đền trên núi, có lúc thần là vị Thành hoàng làng được thờ vọng tại các ngôi đình làng, có lúc

lại là vị Thánh mà theo GS Trần Quốc Vượng thì: “Trong tâm thức Mường,

Đức Thánh Tản Viên là một vị thần núi còn phẳng phất chất thần thoại và có

Về hình tượng Sơn Tinh có nhiều chuyện kể, mỗi chuyện lại gắn liền với mỗi địa danh, địa hình, địa vật, những đồi gò, sông suối, những đền, chùa, miếu mạo Ở mỗi phương diện chúng ta khai thác được những giá trị văn hóa khác nhau

Truyện kể lại rằng: Tộc phả của Sơn Thánh là một người thủ lĩnh họ Cao ở Aí Châu (Thanh Hóa) sinh ra hai người con trai là Cao Công Hành và Cao Công Sùng Khi 18 tuổi, hai anh em lấy vợ, Cao Công Hành lấy bà Đinh Thị Điên (đọc chệch là Đinh Thị Đen) và người em Cao Công Sùng lấy vợ tên

và vùng văn hóa cổ Ba Vì”, Sở VHTT Hà Tây,tr115

Trang 24

là Trương Thị Thủy Tuy đã lấy vợ rất lâu mà cả hai anh em đều chưa có con, hai ông buồn bã vì không có người lối nghiệp và chăm sóc khi về già Trong nhà có bao nhiêu tiền bạc, tài sản hai ông đều mang ra làm việc thiện giúp đỡ dân lành nghèo khổ

Cũng theo Ngọc phả của đền Lăng Xương do ông tiến sỹ Nguyễn Hữu Công quan đô đốc Thượng Thư cùng với ông Nguyễn Công Chính và Nguyễn Minh Khai lập vào ngày 15/10/1010 đời vua Lý Thái Tổ, niên hiệu Thuận

Thiên thứ 3 có chép lại rằng: “Tương truyền như thường lệ bà Đen ngồi trên

một tảng đá cạnh giếng Thanh Thiên để múc nước tắm, bỗng có một con rồng vàng sà xuống giếng hút nước rồi phun châu nhả ngọc, bà thấy trong người

tự nhiên có mùi hương lạ tỏa ra, rồi bà mang thai 14 tháng sau vào ngày rằm tháng giêng năm Đinh Hợi, giữa giờ thìn bà sinh ra một người con trai và đặt tên con là Nguyễn Tuấn (có sách chép là Nguyễn Tuân) húy viết là Tùng Công” Nghe việc lạ, người đời có câu thơ ca tụng rằng:

Lăng Xương cốt cách ngọc tinh thần

Bả thác hoàng long giáng hạ trần Thái thủy diệc vi thiên thượng mẫu Cửu hoài hà nhược thế giai nhân

Cũng có chuyện kể rằng: trong một lần đi kiếm củi, Nguyễn Tuấn gặp Thái Bạch Thần Tinh – là ông Vua bản xứ của núi rừng Biết được Nguyễn Tuấn là người đức độ nên Thái Bạch Thần Tinh đã tặng cho Nguyễn Tuấn

chiếc gậy thần đầu sinh đầu tử và dặn: “một đầu gậy chỉ vật gì vật đó chết,

quỷ tán, thần kinh, chỉ thiên thiên khuyết, chỉ điạ địa kiệt; 1 đầu gậy chỉ nhập phục sinh” Có gậy thần, Nguyễn Tuấn trở thành người có sức mạnh thần kỳ

đi chu du khắp nơi cứu giúp nhân dân Đây là một yếu tố không chỉ “phản

ánh khát vọng của nhân dân mà hơn thế nữa nó cũng là sự tiếp xúc và hòa

Trang 25

trộn giữa tín ngưỡng dân gian buổi đầu và luồng tư rưởng đạo giáo thần tiên

Nhờ có gậy thần mà Nguyễn Tuấn đã cứu con trai của Long Vương thoát chết Để tạ ơn cứu mạng của con trai mình, Long Vương đã tặng cho

Nguyễn Tuấn một quyển sách ước với pháp lực kỳ diệu gọi là cuốn “Thần thư

bí pháp truyền” làm ra nhiều phép mầu nhiệm cứu nhân độ thế Có gậy thần

và sách ước trong tay Nguyễn Tuấn đi khắp nơi tìm các loại cây bào chế ra các loại thuốc quý chữa bệnh cho nhân dân Ở phương diện này Nguyễn Tuấn được coi là ông Tổ của nghề Y dược học Việt Nam, một người thầy thuốc có cái tâm cứu người mà không đòi hỏi đền ơn

Cũng ở phương diện khác Nguyễn Tuấn biểu tượng cho người anh hùng trị thủy gắn với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh Truyện kể rằng vào đời Vua Hùng thứ XVIII, nhà vua có hai người con gái xinh đẹp, người chị tên là Tiên Dung đã gả cho Chử Đồng Tử còn người em tên là Ngọc Hoa cũng đã đến tuổi lấy chồng, nhà vua bèn tổ chức những cuộc thi tài kén rể nhưng vẫn chưa tìm được người ưng ý Một hôm có hai người cùng đến cầu hôn công chúa đó là Sơn Tinh và Thủy Tinh Cả hai đều tài sức ngang nhau,

Vua Hùng không biết chọn ai bèn đưa ra một lễ vật thách cưới: “Voi chín

ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” mỗi thứ một đôi ai mang lễ vật đến

trước thì vua gả công chúa cho Do có gậy thần, sách ước và lại sống trên cạn nên Sơn Tinh đem lễ vật đến trước, rước công chúa Ngọc Hoa về cung Thủy Tinh đến sau không lấy được công chúa đùng đùng nổi giận dâng nước đánh Sơn Tinh, hắn dâng nước lên phá tung cả những đồi gò ở phía Bắc thành suối

Di, sông Tích ngày nay, hắn húc nghiêng cả dãy Chàng Rể phía Tây Nhưng bằng sức lao động thần kỳ và trí tuệ phi thường, Sơn Tinh đã chiến thắng Thủy Tinh một cách oanh liệt Hình tượng Sơn Tinh là hình tượng của một người anh hùng có vóc dáng khổng lồ có thể gánh núi, ngăn sông Phải chăng

chí VHDG, (soos5), tr.43

Trang 26

chỉ có hình tượng kỳ vĩ của người khổng lồ này mới phản ánh hiện thực lớn lao và sức mạnh của nhân dân ta trong cuộc chinh phục tự nhiên dọc theo quá trình tiến từ miền núi xuống đồng bằng trong lịch sử xa xưa?

Cho đến ngày nay nạn lụt lội vẫn còn hoành hành vì vậy có thể nói truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh còn thể hiện ước vọng ngàn đời của nhân dân ta trong cong cuộc chống lũ lụt mà cho đến ngày nay trong nhân dân ta vẫn có câu ca dao:

Nhớ lời xưa Sơn Tinh tròn ước cũ Rửa hận lớn thủy tộc báo thù riêng

Ở phương diện này, có người lại cho rằng truyền thuyết Sơn Tinh –

Thủy Tinh không chỉ phản ánh cuộc đấu tranh chống lũ lụt mà nó còn “mang

ý nghĩa đất và nước, âm và dương vốn quen thuộc trong suy nghĩ của con người thời cổ xưa” 9

Cũng trong một số truyền thuyết thì hình tượng Sơn Tinh còn được tái hiện là một vị anh hùng khai sáng Từ quê cũ Lăng Xương, Sơn Tinh cùng vợ

và mẹ trở về chân núi Tản khai phá lập cơ nghiệp Ở đây Sơn Tinh đã dạy dân khai phá ruộng nương, cày cấy, đánh lửa, làm nhà, đào giếng, săn thú…Ngọc Hoa dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải Không những chỉ dạy dân cách làm ăn mà Sơn Tinh còn dạy dân múa hát, lễ giáo và trau dồi phong tục Chính ông là sự hiện diện của những giá trị vật thể khởi nguyên của dân tộc

Ông được tôn vinh là “Ông tổ trăm nghề”

Ở Lớp nghĩa thứ tư, Sơn Tinh là người anh hùng liên minh các bộ tộc Truyền thuyết kể lại rằng, nhân một buổi đi săn Sơn Tinh đã dẫn xã Cẩm Lĩnh

ở chân núi Ba Vì về gặp dân Tòng Bạt ở hạ lưu sông Đà kết nghĩa làm anh

em Nhân dân xã Tòng Bạt rất tưng bừng tổ chức yến tiệc đãi bạn Tinh thần hòa hợp và thống nhất của Sơn Tinh đã thu phục được nhiều thủ lĩnh ở các

chí VHDG, (soos5), tr.42

Trang 27

vùng khác tìm đến kết giao Ngay chính trong việc cầu hôn công chúa Ngọc Hoa cũng thể hiện mối giao hòa đó với Vua Hùng ở nước Văn Lang Ở phương diện này Sơn Tinh thể hiện tinh thần đoàn kết toàn dân thành một khối thống nhất trong sự nghiệp mở mang bờ cõi, xây dựng và bảo vệ đất nước nói chung của dân tộc ta

Ở một vài truyền thuyết, Sơn Tinh lại được ca ngợi là một vị anh hùng bảo vệ đất nước chống xâm lăng Truyền thuyết ở vùng Tản Lĩnh kể lại rằng Sơn Tinh đem quân đuổi giặc vội đến nỗi phải cho quân ăn cơm sống dở Ở vùng Thanh Lạng lại lưu truyền khúc diễn ca về truyện giữa tháng 10 dân làng lau lá để nấu bánh chưng cho Sơn Tinh khao quân ăn tết trước Ở lễ hội làng Khê Thượng hàng năm vẫn diễn lại sự tích Sơn Tinh luyện võ rèn vũ khí Sơn Tinh là một vị thủ lĩnh đức độ cao cả, có lòng cứu nhân độ thế, là

người anh hùng “Hộ quốc, Bảo dân, Tế Bần, Cứu khổ” Với tài đức song toàn

nhiều lần giúp Vua đánh thắng giặc ngoại xâm, Vua Hùng đã phong ngài làm

“Nhạc phủ kiêm thượng đẳng thần” Về sau, vua Trưng Vương (Trưng trắc)

đã sắc phong ngài là “Tản Viên sơn quốc chúa Đại Vương dực bảo trung

hưng thượng đẳng thần” Vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293) sắc phong cho

ngài là “Hữu thánh hưng quốc hiển ứng vương” Vua Tự Đức năm 1883 phong là “thượng đẳng tối linh thần” Từng ấy góc độ và khía cạnh của “

chân dung” vị thần Tản Viên cũng đủ để cho ông chiếm một vị thế đặc biệt

trong tín ngưỡng dân dã tộc Việt Mường

Tản Viên Sơn Thánh không chỉ sống trong lòng dân mà cả trong văn học từ nhiều thế kỷ trước đã có nhiều ghi chép về ông Thời Bắc thuộc có

Giao châu ký, Giao chỉ ký, Ai giao châu tự, sau này có Việt điện u linh, lĩnh Nam chích quái, Đại việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục…Những công tích của ngài được nhân dân thần hóa thành các lễ hội, các

tích trò để lưu truyền cho muôn đời sau, ngài được suy tôn là:

Trang 28

kể đến hệ thống các ngôi đình cổ như: Tây Đằng, Thụy Phiêu, Thanh Lũng, Đông Viên, Quang Húc, Phú Hữu, Vân Sa Đặc biệt là những ngôi đình

được coi là nơi ngự của ngài trên núi Ba Vì hiện nay Trong “Dư địa chí” Nguyễn Trãi viết: “Thần núi Tản Viên gọi là Trụ quôc đại vương, linh hiển có

tiếng Vua Nhân Tông triều Lý sai thợ xây đền thờ trên núi thứ nhất có lầu 20

Sơn Tinh là một trong những vị thần khai sáng văn hóa, là vị anh hùng chống lụt, anh hùng chống ngoại xâm và là vị anh hùng liên minh các bộ tộc Việt Mường, là hồn thiêng sông núi, mãi mãi đi vào trong tâm thức của người dân đất Việt:

Ba Vì cao ngất tầng mây Sơn Tinh chuyện cũ đến nay còn truyền

Trang 29

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI

ĐÌNH LÀNG PHÚ HỮU 2.1 Giá trị kiến trúc

Kiến trúc là khoa học tự nhiên đồng thời cũng là khoa học của nghệ thuật nhằm liên kết vật liệu tạo nên không gian ba chiều của các công trình kiến trúc để thỏa mãn nhu cầu của con người Kiến trúc còn là chân dung của một giai đoạn lịch sử nhất định, là tổng hòa của tri thức, trình độ thẩm mỹ, nhu cầu sinh hoạt hay nói cách khác kiến trúc cũng là một loại hình nghệ thuật có khả năng biểu đạt được cái chung nhất những giá trị tinh thần của thời đại sản sinh ra nó

Là một di tích lịch sử đồng thời là một công trình kiến trúc mang tính chất công cộng, đình Phú Hữu hiện lên với một khối kiến trúc đẹp và tinh xảo hòa mình trong không gian tĩnh đã tạo nên một vẻ đẹp cổ kính, huyền bí và ẩn trong đó là cả một hệ thống văn hóa tâm linh

2.1.1 Không gian cảnh quan

Đối với mỗi người dân Việt Nam ngôi đình vừa là một cái gì đó hữu hình có tính chất khổng lồ “Chuyện tày đinh”, “To như đình” đồng thời đình

là nơi thờ Thánh nên nó lại có tính chất linh thiêng Đình cũng là ngôi nhà công cộng của làng xã, là tài sản vô cùng quý giá của toàn thể nhân dân Vì vậy khi xây dựng đình người xưa rất quan tâm đến việc chọn thế đất và hướng đình, sao cho thích hợp để khi ra đời nó tồn tại trường tồn cùng với thời gian Đất dựng đình không nhất thiết phải là trung tâm của làng xã nhưng nó phải là nơi bằng phẳng, cao ráo, là nơi hội tụ được mọi nguồn sinh lực của vũ trụ để dân làng ấm no, đặc biệt nó phải được tuân theo “thuyết phong thủy” Thuyết phong thủy chia làm 2 phái: phái hình thể và phái khí Phái hình thể tức là

Trang 30

việc nghiên cứu tìm hiểu thế đất đó phải là nơi có “tiền án hậu chẩm” tức là phải có núi cao ở phía trước án ngữ và núi thấp ở phía sau để tựa lưng Thứ hai nơi đó phải ở vào thế “Tỳ tay ngai” tức là có hai quả đồi ở hai bên mà người xưa gọi là “ tả thanh long hữu bạch hổ” Phái nghiên cứu khí tức là việc tìm hiểu về nước và gió Nơi đất dựng đình phải là nơi “tụ thủy” tức là nơi đó phải có nước hội tụ mà theo quan niệm của người xưa nước là máu của đất,

“tụ thủy” chính là “tụ linh”, “tụ phúc” – hội tụ tất cả những điều may mắn Chính vì vậy người ta thường xây đình hướng mặt ra các hồ, ao hay các dòng sông Nếu ở di tích nào không có thế “tụ thủy” tự nhiên thì người ta phải đào giếng, ao nhỏ hoặc hồ bán nguyệt ở phía trước để cảnh quan được như ý Có

lẽ việc tìm thế đất này bắt nguồn từ thời xa xưa khi các cộng đồng nguyên thủy bắt buộc phải định cư tại các nguồn nước Ngoài việc nghiên cứu về thế nước thì phái nghiên cứu Khí còn tìm hiểu về thế gió, tức là xem xét xem nơi

đó có bị ảnh hưởng của gió bão hay không

Việc chọn thế đất tốt cho di tích gắn với tính chất linh thiêng Nó phải đồng nhất giữa tính “linh” của thần được thờ trong di tích với tính “phúc” muôn mặt của nhân dân Họ cho rằng những nơi đó phải là những nơi hút được tinh túy của vũ trụ truyền xuống lòng đất cho cây cối tốt tươi, suối nguồn mát mẻ Ngoài việc chọn thế đất thì việc chọn thế đình cũng hết sức quan trọng Theo quan niệm ngày xưa mỗi hướng Nam , Bắc, Đông, Tây đều gắn với sự lý giải ý nghĩa khác nhau Hướng Bắc gắn liền với màu đen sự đen tối, gắn với thế lực tà dâm Chùa mà xây dựng theo hướng Bắc là chùa dành cho người chết và không thích hợp với việc đề cao chân lý Hướng Đông là hướng của mặt trời mọc tức là hướng của sự sống, hướng của niềm tin Hướng Tây là hướng âm, nếu mặt thần là dương thì di tích nên quay về hướng Tây như vậy nó mới phù hợp với âm dương đối đãi Còn hướng Nam là hướng được quan tâm nhiều hơn cả bởi hướng Nam là hướng của trí tuệ mà đạo phật gọi là bát nhã, có trí tuệ sẽ diệt trừ được vô minh, con người sẽ được bình an hạnh phúc Đối với người Trung Quốc hướng Nam là hướng của

Trang 31

Thánh nhân, hướng của Đế vương Ngoài ra hướng Nam còn thích hợp với khí hậu của nước ta, mát mẻ về mùa hè ấm áp về mùa đông Tuy nhiên tùy thuộc vào vị trí và điều kiện khác nhau các di tích ở mỗi địa phương có hướng khác nhau miễn sao theo quan niệm của người dân đó là hướng mang lại mọi

sự thuận lợi phát triển Dân gian ta có câu ca rằng:

“Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng toét mắt riêng mình em đâu”

Sau khi lựa chọn được thế đất tốt và hướng thích hợp người ta bắt đầu dựng đình Đình Phú hữu tọa lạc trên một khu đất khá bằng phẳng ở ven làng, một bên là khu cư trú của làng, một bên là cánh đồng lúa có trục đường 32 chạy qua Cũng như một số ngôi đình gần đó, đình trông theo hướng Tây – Nam Đình lấy dãy núi Ba Vì làm tiền án và dãy Tam Đảo làm hậu chẩm, lấy sông Đà làm nơi lưu thủy lưu phúc, lấy hệ thống đầm nước ven đồi làm nơi tụ thủy tụ linh Là yếu tố âm cùng với ngôi đình uy nghi là yếu tố dương để tạo nên thế cân bằng, âm dương hài hòa, là điềm lành để muôn loài sinh sôi nảy

nở Đình Phú Hữu quay mặt về hướng Tây – Nam , là một hướng đẹp theo quan niệm dân gian Hướng Nam là hướng chủ đạo trong việc mở hướng chọn đật của người Việt Dân gian ta có câu “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”

là vì vậy Hướng Nam còn là hướng của thánh nhân

Như vậy, đình Phú Hữu đã chọn được một thế đất đẹp, hội tụ được các yếu tố vừa hợp địa thế phong thủy vừa hợp với quy luật âm dương Với thế đất như vậy, di tích được đặt trong một không gian văn hóa đậm khí linh thiêng, vừa thâm nghiêm, uy nghi lại vừa gần gũi với thiên nhiên và gần gũi với cuộc sống con người

Theo quốc lộ 32 từ Hà Nội đi Trung Hà khoảng Km 60 rẽ tay trái chừng một đoạn khách tham quan sẽ nhìn thấy ngay bên tay trái của mình một ngôi đình cổ kính với 4 mái xòe rộng và 4 đầu đao vươn lên cong vút Trước

Trang 32

mặt là một con đường làng chạy dường như ôm gọn ngôi đình ngăn cách đình với khu dân cư

2.1.2 Bố cục mặt bằng

Nói tới bố cục mặt bằng tổng thể của di tích là chúng ta đang nói tới sự sắp xếp các đơn nguyên kiến trúc trên một mặt bằng nhất định Mỗi di tích nói chung từ khi ra đời và trong quá trình tồn tại không thể không tránh khỏi những tác động của yếu tố tự nhiên xã hội Sau mỗi lần bị ảnh hưởng, người dân lại tiến hành trùng tu, tu sửa, có khi do hư hỏng quá nặng mà người ta cũng có thể phá bỏ đi, nhưng cũng có khi do nhu cầu mới mà họ lại xây dựng thêm các đơn nguyên kiến trúc mới Những ngôi đình sớm ở nước ta chỉ có một tòa Đại đình không có tường bao bọc, điều này thể hiện tính cộng đồng cao nhưng sang thế kỷ XVII, XVIII thì chức năng tôn giáo tín ngưỡng lại lại bộc lộ khá rõ điều đó thể hiện ở việc các ngôi đình xây thêm phần hậu cung phía sau làm nơi thờ Thần hoàng làng

Kiến trúc đầu tiên ta bắt gặp khi bước vào trong di tích đó là nghi môn Nghi môn đình Phú Hữu được xây dựng sát với đường đi của làng Nghi môn đình Phú Hữu rất cao và thoáng bởi thế đất đình Với kết cấu bằng gạch đá ong các nghệ nhân đã xây dựng một nghi môn đình 2 tầng 4 mái bít đốc với 3 cửa ra vào

Qua nghi môn ta bước vào sân đình, đó là 2 sân gạch có diện tích mỗi sân không quá rộng khoảng 400m2 Sân ngoài thấp hơn sân trong 0.5m, đều được lát bằng gạch Bát Tràng cỡ 20x20cm tạo không gian sạch sẽ và thoáng mát

Ở hai bên sân đình là hai nhà tả, hữu mạc có quy mô khá lớn, mỗi nhà

có 5 gian với 6 bộ vì đỡ kiểu “kèo cầu quá giang” gối lên các cột trụ Nhà có

2 mái chảy rộng, đầu hồi bít đốc Được xây dựng vào thời Nguyễn

Đại đình có quy mô kiến trúc lớn hình chữ nhất, mái đình lợp ngói di dạng ngói nhỏ Bốn góc mái được làm thành những đao cong hình đầu rồng

Trang 33

trông về nóc mái Kết cấu bộ vì theo kiểu “chồng rường giá chiêng” Đình có Hậu cung nằm ngay phía sau của gian giữa (gian lòng thuyền) tất cả những dấu vết đó có thể nói đình được khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVII

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc

* Nghi môn

Nói tới Nghi môn người ta nghĩ ngay tới cái cổng để bước vào di tích

Ở chùa được gọi là Tam quan, ở đình, miếu được gọi là Nghi môn Nghi môn

là cách đọc chệch của từ “Nghênh môn” – tức là nơi nghênh tiếp và tiến hành nghi lễ Cũng có ý kiến cho rằng Nghi môn là cách đọc chệch của ngũ môn (5 của) Nguồn gốc của nó từ đâu và có ý nghĩa ra sao thì đến nay vẫn chưa có câu trả lời hoàn chỉnh, chỉ biết rằng Nghi môn là một công trình đầu tiên, là ranh giới giữa thế giới trần tục và cõi linh thiêng, khi bước qua Nghi môn có nghĩa là con người đã cởi bỏ mọi tham lam dục vọng, vô minh để đến với thần linh đến với trí tuệ

Theo các nhà nghiên cứu về đình thì kiểu thức Nghi môn cột trụ biểu này là sản phẩm muộn, được xây dựng nhiều vào cuối thế ky XIX đầu thế kỷ

XX và thậm trí còn muộn hơn Nhưng dù muộn thì nó vẫn tiêu biểu cho một kiến trúc có ý nghĩa sâu sắc về mặt tâm linh Đó là nơi mà con người có thể cởi bỏ mọi tham lam dục vọng của cuộc sống trần tục để bước vào cõi linh với sự tĩnh tại và lòng thành kính nhất

* Sân đình

Từ Nghi Môn bước qua “thần đạo”, xuống vài bậc tam cấp là tới sân đình Sân đình Phú Hữu gồm sân trên và sân dưới, diện tích mỗi sân nhìn chung không rộng với diện tích là 400m2 Nền sân lát gạch Bát Tràng màu nâu, giữa sân trên có đặt một cột cờ để treo trong những ngày lễ hội

Trang 34

* Hai nhà Tả Hữu

Ở hai bên khoảng sân lát gạch rộng là 2 ngôi nhà Tả, Hữu mạc có quy

mô khá lớn Với chiều dài 15m, rộng 7m Mỗi nhà có 5 gian với 6 bộ vì đỡ kiểu “kèo cầu quá giang” gối lên các cột trụ Nhà có 3 mặt để trống, 2 mái chảy rộng Đầu hồi bít đốc, tuy nhiên ở mỗi đầu hồi đều có một mái phụ khoảng 3 hàng ngói chắn mưa hắt Hai dãy hành lang được bà con lấy gỗ tại

“rừng chùa” phía trước chùa “Long Sơn Tự” về làm Kết cấu bộ vì của hai dãy hành lang là 4 hàng chân cột, nối cột cái và cột quân là kẻ ngồi Dựa vào các kết cấu kiến trúc của hai nhà Tả Hữu tác giả cho rằng đây là kiến trúc thời Nguyễn

* Đại đình

Đại đình có quy mô kiến trúc lớn, nền hình chữ nhật chiều dài 17m, ngang rộng 13,5m trên diện tích 330m2 chia 5 gian, 2 chái Khoảng cách từ nền lên tới dọt danh mái là 2,3m, mái đình lợp ngói di, dạng ngói nhỏ, mỏng,

có mũi dày hơn chút ít, bờ nóc và bờ dải được đắp bằng vôi vữa dạng chữ đinh, hai đầu có hai con kìm hướng mặt vào nhau, miệng kìm ngậm đuôi hai con hồ li Ở giữa bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật Bờ bắt đầu từ đầu bờ nóc, kéo thẳng xuống lưng chừng mái, đến khúc nguỷnh nối với bờ guột vươn

ra đầu đao Ở bốn đầu đao và giữa bốn bờ dải, mỗi bên có một con lân bằng đất nung đang chạy về nóc mái Cạnh con lân sành ở giữa bờ dải có bốn con lân có đuôi dài, to được đắp bằng vôi vữa có gắn ghép các mảnh sứ Đình Phú Hữu còn giữ được một đầu đao nguyên vẹn và hai lưỡi cày đỡ đầu đao làm bằng đất nung có tuổi thọ cách ngày nay vài thế kỷ một dải hồi văn lá đề chạm lộng chạy suốt diềm mái

Bộ khung nhà được làm vững chắc trên hàng cột to, tròn Cột cái có chu vi gần 2m, cao 5.5m Các cột cái được làm bằng những thân cây gỗ lớn, chúng có tác dụng đỡ toàn bộ hệ mái thông qua hệ thống vì và xà thượng Hệ thống cột quân cũng có chức năng đỡ phần mái thông qua hệ thống rường

Trang 35

nách và xà trung Các cột hiên có tác dụng đỡ phần mái hiên thông qua hệ thống kẻ và bẩy hiên

Kích thước các cột:

- Cột cái có chu vi 2m, cao 5.5m

- Cột quân có chu vi 1.8m, cao 3.8m

- Cột hiên có chu vi 1.2m, cao 3m

Trên tất cả các cột vẫn còn các lỗ mộng, đây là dấu vết của hệ thống ván sàn ngày xưa Tất cả các cột đều được đặt trên các chân tảng nhưng chúng không thống nhất với nhau về hình dáng và kích thước Có cột được đặt trên tảng đá có kích thước dài hơn 1m có tảng thì nhỏ hơn Đá lại đặc biệt khi bằng chất liệu đá cuội và được lấy tại chính quê hương Phú Hữu Thông thường ở những ngôi đình có ván sàn thì người ta không quan tâm nhiều đến vấn đề thẩm mỹ cho chân cột Hệ thống chân tảng ở đây có chăng chỉ là để chống lún và bảo vệ cho mối mọt không xâm hại

Nói tới kết cấu kiến trúc Việt Nam không thể không nói tới bộ vì Bộ vì

là yếu tố cơ bản liên kết các cấu kiện, nó vừa có tác dụng chịu lực vừa là đơn

vị cấu thành nên tổ chức không gian của ngôi đình Bốn bộ vì chính của đình

Phú Hữu được làm thống nhât theo kiểu “chồng rường, giá chiêng và kẻ

hiên” trên 6 hàng chân cột Cụ thể như sau: trên cùng là thượng lương,

thượng lương được đặt trên một đấu hình vuông thót đáy, đấu này nằm trên một con rường bụng lợn, con rường này tỳ lên trên hai đầu cột trốn và vươn ra

đỡ đôi hoành mái thứ nhất, hai cột trốn đứng song song với nhau và đặt trên hai đấu hình vuông thót đáy nằm trên câu đầu Từ hai cột trốn này có hai con rường cụt, một đầu ăn mộng vào trụ trốn còn đầu kia vươn ra đỡ đôi hoành mái thứ hai Nằm gần sát với câu đầu là một con rường dài hơn cũng có một đầu ăn mộng vào trụ trốn và đầu kia vươn ra đỡ đầu mái thứ ba Giá chiêng được tạo ra bởi sự có mặt của hai cột trốn đặt trên câu đầu Các rường nách

Trang 36

được đặt thưa qua một đấu kê dày hình vuông Khoảng trống giữa hai rường được bưng kín bằng những ván gỗ để trang trí Kẻ được ăn mộng qua đầu cột quân và cột hiên, trên kẻ là đường đệm để đỡ khoảng hoành

Đỡ phần trên mái hồi là hệ thống chồng rường đặt trên thanh xà ngang

to, dày Xà có đầu ăn sâu chân mộng vào cột cái, đầu kia đặt trên cột quân phía gian hồi phần mái dưới là hệ thống kẻ giống với phần hiên của 4 bộ vì chính Bốn góc mái đều có một kẻ dài chạy suốt từ thượng lương đến cột góc (còn gọi là kẻ xó góc)

Câu đầu của kiến trúc là một thanh gỗ lớn nối hai đầu cột cái với nhau Hầu hết các câu đầu đều để trơn và bao soi đường chỉ nổi hai bên, lưng và bụng của chúng vồng lên, hai đầu hơi thót lại vươn ra đỡ đôi hoành mái thứ 5 Các câu đầu tỳ lực lên cột cái thông qua các đấu vuông thót đáy mà không phải ăn mộng trực tiếp vào thân cột cái Hiện tượng này chúng ta chỉ gặp ở các di tích có niên đại sớm (thế kỷ thứ XVII trở về trước) còn ở các thế kỷ sau, hai đầu của câu đầu thường ăn mộng trực tiếp vào cột cái

Ăn mộng vào đấu và một phần cột cái là các đầu dư, phần phía trong của đầu dư dài bằng 1/3 câu đầu, được chạm hình đầu rồng đội bụng câu đầu Phần đuôi phía ngoài ngắn hơn chính là con rường thứ nhất của bộ vì nách đỡ đôi hoành mái thứ 6, con rường thứ nhất này tỳ lực lên con rường thứ 2 qua một đấu hình vuông, con rồng mái thứ 2 này có nhiệm vụ đỡ đôi hoành mái thứ 7 đầu còn lại ăn mộng vào cột cái Đỡ toàn bộ vì nách là thanh xà ngang

to ăn mộng vào cột cái kéo thẳng ra đầu cột quân

Đỡ toàn bộ hệ mái là hệ thống kẻ hiên, kẻ hiên là những thanh gỗ tròn

có một đầu ăn mộng vào cột quân có đuôi (nghé) đội bụng xà nách và đầu kia vươn ra đỡ mái thông qua một tàu mái dày 20cm, rộng 40cm Thân kẻ có dáng cong bên trên kẻ có một tấm ván dày gọi là ván dong, mặt dưới ván cong lượn theo hình cong của kẻ mặt trên bào thẳng theo chiều dốc của mái

và có khoét lỗ đặt hoành

Trang 37

Bốn góc mái hồi là bốn thanh kẻ xó chạy từ thượng lương xuống tới các cột góc tạo hình chữ V úp, thanh kẻ xó này có tác dụng đỡ toàn bộ góc mái và đầu đao

Có nhiệm vụ liên kết khung nhà là hệ thống các xà dọc và xà ngang Hệ thống xà dọc bao gồm xà thượng, xà trung và xà hạ Hai xà thượng là hai thanh gỗ to dày nối tất cả các đầu cột cái của các gian, chúng có tác dụng cố định các cột cái và đỡ câu đầu cũng như toàn bộ hệ mái Hai xà trung nối các đầu cột quân, hai xà hạ nối các đầu cột hiên Hệ thống xà ngang bao gồm xà đùi và xà đai Xà đùi là thân gỗ có một đầu ăn mộng vào thân cột cái, còn đầu kia đặt lên đỉnh cột quân phía hồi Xà đai nối hai đầu cột quân và đỡ toàn bộ mái hồi Tất cả các xà này được bào soi đơn giản, chúng là thành phần không thể thiếu trong kết cấu di tích nói chung

Quan sát từ bên trong hệ thống mái được tạo bởi hệ thống hoành và rui khá chắc chắn Tất cả các hoành được đỡ bởi các con rường ở vì nóc, vì nách

và hệ thống xà ngang Liên kết giữa rui với hoành và giữa mè với rui là các chốt tre Mái được lợp 2 lớp ngói, lớp trong là lớp ngói lót, loại ngói này hình chữ nhật lót giữa lớp ngoài lợp và rui, kích thước 12x18x1cm Lớp ngói lót mang yếu tố âm, lớp mói ngoài mang yếu tố dương, như vậy việc lợp ngói cũng nói nên tính đối đãi của âm và dương theo quy luật của tự nhiên

Lòng nhà đại đình được chia làm 5 gian 2 chái không đều nhau Gian giữa làm cung cấm để thờ thành hoàng làng, các gian bên để trống tạo không gian rộng rãi cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đình có nền khá cao so với mặt sân phía trước cách 1.2m Mặt nền đình hiện nay lát gạch bát, nhưng trước năm 1965 đình còn đầy đủ hệ thống sàn gỗ Cửa bức bàn chỉ có ở phía trước gian giữa, còn lại các mặt đều để trống Sân đình có độ cao bằng nhau, cách mặt nền 0.6m, tính được qua hệ thống mộng dầm trên các thân cột Ở hệ thống cột hiên sau đình còn giữ lại các đố ngang chắn trên mặt sân Khoảng cách giữa các gian tương đối rộng, gian giữa rộng 4.2m, các gian bên rộng

Trang 38

3.3m, chái rộng 1.7m Các khoảng cách đó nối lại thành chiều dài của Đại đình Chiều rộng được cấu tạo thành một mặt bằng 6 hàng chân cột, khoảng cách giữa 2 cột cái là 3.7m, khoảng cách từ cột cái đến cột quân là 2.2m, khoảng cách từ cột quân đến cột hiên là 1.7m

* Cung cấm

Cung cấm được làm ngay nửa sau gian giữa đại đình (gian lòng thuyền) bằng hệ thống ván cao 2.5m so với mặt nền Hai mặt bên của cung cấm được bịt gỗ, mặt trước mở 6 cánh cửa bức bàn làm bằng gỗ dày, chiều cao của mỗi khoảng 1m, ngưỡng ra vào cao 20cm Cấu trúc hậu cung này giống với một

số ngôi đình khác như Tây Đằng, Chu Quyến, Quang Húc… đặc trưng của những ngôi đình có niên đại sớm của vùng quê xứ Đoài

Khoảng rộng của cung cấm hẹp, chỉ từ cột cái đến cột quân (2.2m) Khoảng sân phía trước cung cấm được tạo bởi 2 cột vuông nhỏ cao 2.5m có

xà ngang nối với các cột cái đưa ra phía trước 1.3m Quanh hệ thống của cung

cấm có một y môn bằng gỗ chạm nổi đơn giản theo đề tài “lưỡng long chầu

nguyệt”, “tứ linh” nhưng đã bị mất phần ngang trên

2.2 Giá trị nghệ thuật

2.2.1 Trang trí kiến trúc

Một ngôi đình cổ thường do hai hiệp thợ cùng làm, vì vậy có thể ở hai thành phần kiến trúc đối xứng nhau trong một ngôi đình lại có cách trang trí hoàn toàn khác nhau Điều đó khiến cho tính chất đối xứng trong nghệ thuật trang trí được nới lỏng trở nên nhộn nhịp và phong phú hơn Sự phong phú đó được dàn đều trong tất cả các thành phần kiến trúc với nhiều đề tài và phong cách khác nhau Các đề tài ở đây tập trung chủ yếu vào tứ linh và cỏ cây, trong tứ linh thì con rồng lại chiếm ưu thế thể hiện tín ngưỡng cầu mưa của cư dân nông nghiệp lúa nước Trang trí trong di tích khiến người ta quan tâm đầu tiên phải kể đến những mảng trang trí lớn như đầu dư và các bức cốn, bởi vì ở

Trang 39

đó người nghệ nhân xưa đã tập trung tài sáng tạo Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc đình Phú Hữu được thể hiện toàn bộ trên toàn bộ khung nhà Thật kỳ diệu bởi bàn tay của các nghệ sĩ dân gian của các thế hệ kế tiếp nhau đã làm cho các mảng chạm khắc kiến trúc hòa nhập với nhau vào một tổng thể thống nhất, cả ở bên ngoài lẫn nội thất bên trong, mặc dù thời gian tạo tác của chúng được diễn ra ở vài thế kỷ liên tiếp

* Trang trí ở nghi môn

Nghi môn đình Phú Hữu được xây dựng ở phía trước đại đình cách 2 khoảng sân rộng Đây là một kiến trúc xây bằng gạch đá ong kiểu cột biểu và các bức tường hợp thành Phía trên có các bộ vì đỡ 2 tầng mái trên, tạo thành kiểu hai tầng bốn mái Trên bờ nóc của lối cổng chính đắp nổi hình “lưỡng long chầu nhật” Hình tượng rồng thể hiện sức mạnh của vũ trụ, hai con rồng thể hiện tính bao trùm của Âm Dương cùng chầu vào mặt trời biểu tượng Thái Cực sinh lưỡng Nghi (hai con rồng) Hình tượng lưỡng long chầu nhật hay lưỡng long chầu nguyệt là rất quen thuộc đối với mỗi di tích trên khắp nước

ta, hình tượng thể hiện cho uy quyền cũng như tầm quan trọng của nơi nó tồn tại Hai cửa ngách của Nghi môn cũng được thiết kế theo kiểu 2 tầng 4 mái bít đốc nhưng kích thước nhỏ hơn Phía bên phải nhìn từ ngoài vào của mỗi của đều có hai cột trụ nhỏ đắp hình lồng đèn phía trên, trên mỗi lồng đèn có hai con nghê nhỏ đứng chầu quay đầu vào nhau Trong đời sống của người dân Việt, hai con vật được coi là những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó Trâu để cày ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà phòng kẻ gian và phòng thú dữ Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma, ác quỷ Chó đá được dựng lên từ đó Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng hay xuất hiện những con chó đá để bảo vệ cả làng, tương tự trước cổng đình và ở các gia đình cũng thường xuất hiện hình tượng chó đá Con chó này mang những hình tượng cách điệu, kích thước

Trang 40

khác nhau nhưng ở đình thì hình tượng chó đá thường được biến tấu nhiều hơn Chó đá được đắp khắc với những hình oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét oai nghiêm Vì linh thiêng như thế nên được gọi là con nghê

Từ đường làng bước qua bậc tam cấp là vào tới Nghi môn đình Phía bên trong Nghi môn, 2 bên cổng chính có 2 cột biểu cao Trụ biểu có mặt cắt hình vuông, phía trên có đắp ô lồng đèn Đầu trụ biểu đắp đôi con lân đứng chầu vào nhau Rồng, lân mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn mỗi cổng đều có 2 cách cổng rộng, chắc đóng cối vào khung gỗ Hai con lân được đăt trên một đấu vuông thót đáy dưới đấu vuông là ô lồng đèn Ô lồng đèn hình chữ nhật, chiều cao là 50 cm, chiều ngang là 40 cm, ở các mặt ô lồng đèn đều có hoa văn trang trí chủ yếu là đề tài tứ linh Phía dưới ô lồng đèn là một tang trụ phình to Thân trụ cao 2m, các mặt trụ đều đắp khung hình chữ nhật Hai cột trụ lớn này tạo ra một lối đi rất rộng, đây là lối đi chính đến di tích hay còn gọi là “thần đạo” đưa con người thiện vào với cửa linh Phía trên đỉnh là hai con lân đắp nổi với tư thế đứng, đầu ngẩng cao nhìn ra phía ngoài Theo PGS, TS Trần Lâm Biền thì lân xuất hiện ở nước ta cách đây 2.000 năm, nó là sản phẩm của quá trình du nhập văn hóa Trung Hoa Nó là con vật linh thiêng dung hội (tức là hội tụ một cách đẹp đẽ) của nhiều nền văn hóa Với đạo Phật, nó là hiện thân của bát nhã, tức là trí tuệ minh triết thiêng liêng trong sáng, đẹp đẽ đầy chất huyền linh Lân là hiện thân của sức mạnh tầng trên, là sự hội tụ của dòng siêu lực tiềm ẩn, là hiện thân của sự vận động và tĩnh tịch Nói tóm lại nó là biểu tượng của chân và trí Chính vì vậy nó được thờ nhiều trong di tích với nhiều dạng khác nhau, ở đình lân được đắp nổi trên nóc mái đầu guột hoặc những trụ nhỏ của Nghi môn để làm chức năng ngăn ngừa mọi điều ác và kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương Có khi nó được tả với hình ảnh miệng ngậm ngọc, lân đôi, lân mẹ con… dù ở tư thế nào nó cũng biểu trưng cho nguồn sinh sôi hạnh phúc (lân mẹ con, lân đôi) và sự trong sáng (ngọc sáng)

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (2000), phong tục Việt Nam, NXB TPHCM, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: phong tục Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 2000
2. Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội (1994) – Hồ sơ lý lịch di tích đình làng Phú Hữu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội (1994) –
3. Ban lịch sử tư tưởng huyện Ba Vì (1980), Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Ba Vì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban lịch sử tư tưởng huyện Ba Vì (1980
Tác giả: Ban lịch sử tư tưởng huyện Ba Vì
Năm: 1980
4. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, NXB Văn hóa dân tộc, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2000"), Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
5. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2003), "Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
6. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm Biền (2001), "Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
7. Phan Kế Bính (2003), Việt Nam phong tục, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Kế Bính (2003), "Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
8. Quỳnh Cự - Đỗ Đức Hùng (2000), Các triều đại Việt Nam, NXB thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỳnh Cự - Đỗ Đức Hùng (2000"), Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cự - Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB thanh niên
Năm: 2000
9. Lê Đại Cương (1975), Bắc Thành dư địa chí, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đại Cương (1975"), Bắc Thành dư địa chí
Tác giả: Lê Đại Cương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1975
10. Nguyễn Xuân Diện (1990) “Thử tìm hiểu dấu ấn huyền thoại Sơn Tinh trong những bản thần tích”, VHDG, (số 5), trang 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Diện (1990) “"Thử tìm hiểu dấu ấn huyền thoại Sơn Tinh trong những bản thần tích
12. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tín ngưỡng thành hoàng làng Việt Nam, NXB Khoa học xã hôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duy Hinh (1999), "Tín ngưỡng thành hoàng làng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hôi
Năm: 1999
14. Vũ Ngọc Khánh (2002), Thành hoàng Việt Nam, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Ngọc Khánh (2002), "Thành hoàng Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2002
15. Trần Lâm – Hồng Kiên (1999) “những thành phần bao che trong kiến trúc của người Việt”, Kiến trúc, (số 5), trang 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Lâm – Hồng Kiên (1999) “"những thành phần bao che trong kiến trúc của người Việt”
18. Hà Văn Tấn – Nguyễn Đình Kự (1998), Đình Việt Nam, NXB TPHCM, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn – Nguyễn Đình Kự
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1998
19. Nguyễn Trãi(1960), Dư địa chí, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư địa chí
Tác giả: Nguyễn Trãi
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1960
20. Sở văn hóa thông tin (1999), Di tích Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở văn hóa thông tin (1999
Tác giả: Sở văn hóa thông tin
Năm: 1999
22. Sở văn hóa thông tin (1997), HTKH Sơn tinh và vùng văn hóa cổ Ba Vì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở văn hóa thông tin (1997)
Tác giả: Sở văn hóa thông tin
Năm: 1997
23. Sở văn hóa thông tin (1992), Lễ hội cổ truyền Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở văn hóa thông tin (1992)
Tác giả: Sở văn hóa thông tin
Năm: 1992
24. Chu Quang Trứ (1999), kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, NXB Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: NXB Mỹ thuật
Năm: 1999
25. Trần Mạnh Tường chủ biên (1998), Đình – Chùa – Lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình – Chùa – Lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam
Tác giả: Trần Mạnh Tường chủ biên
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w