Đình làng Ngô Nội được xây dựng từ khá sớm, có giá trị nghệ thuật kiến trúc – điêu khắc độc đáo, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân địa phương.. Nhận
Trang 1TRẦN THÁI XUÂN
TÌM HIỂU DI TÍCH ĐÌNH NGÔ NỘI
(Xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH BẢO TÀNG HỌC
Mã số: 52 32 03 05
Người hướng dẫn khoa học: THS NGUYỄN ANH THƯ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Chương 1: ĐÌNH NGÔ NỘI TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 6
1.1 Vài nét về vùng đất nơi di tích tồn tại 6
1.1.3 Dân cư và đời sống kinh tế 13
1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đình Ngô Nội 15
1.3 Sự tích vị thần được thờ tại đình 17
Tiều kết 25 Chương 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI
2.2.2 Hệ thống di vật tiêu biểu trong di tích 43
2.3.1 Các ngày lễ trong năm 50
Tiểu kết 63 Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH
Trang 33.2.2 Các giải pháp bảo quản kiến trúc 71
3.2.3 Bảo quản các di vật trong di tích 74
3.2.4 Một số giải pháp về quản lý và bảo vệ di tích 75
3.3 Giải pháp bảo tồn lễ hội đình làng Ngô Nội 75
3.4 Khai thác và phát huy giá trị di tích đình làng Ngô Nội 77
Tiểu kết 81
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian sưu tầm tư liệu, khảo sát và điền dã thực tế, dưới sự giúp
đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thiện bài khóa luận này
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Khoa
Di sản văn hóa đã tận tâm giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập tại Khoa
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới ThS Nguyễn Anh Thư - người hướng dẫn khoa học cho tôi ngay từ khi xác định đề
tài, xây dựng đề cương cho tới khi hoàn thiện bài khóa luận
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh, Phòng Văn hóa huyện Yên Phong, chính quyền xã Trung Nghĩa, các cụ cao niên trong thôn Ngô Nội đã nhiệt tình cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận, khảo sát di tích đình làng Ngô Nội và sưu tầm các nguồn
tư liệu có liên quan đến đề tài khóa luận
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi hoàn thiện bài khóa
luận này
Do thời gian có hạn, với điều kiện tư liệu còn ít, tản mạn và trình độ còn nhiều hạn chế của bản thân, khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2014
Tác giả khóa luận
Trần Thái Xuân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống các di tích lịch sử văn hóa của dân tộc, ngôi đình luôn chiếm một vị trí quan trọng Đối với mỗi một làng quê Việt Nam, hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình đã trở thành biểu tượng thân quen với mỗi người dân Đình làng là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt, là một trung tâm sinh hoạt văn hóa của làng xã và cộng đồng Việc tìm hiểu về các giá trị văn hóa – nghệ thuật của ngôi đình làng sẽ bổ sung nguồn tư liệu khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng Việt cổ trong đời sống xã hội hiện nay
Ngô Nội là một làng Việt cổ bên con sông Cầu thuộc xứ Kinh Bắc xưa Đình Ngô Nội là công trình kiến trúc nghệ thuật quý hiện còn của nhân dân xã Trung Nghĩa, đồng thời là di sản văn hóa của nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Đình làng Ngô Nội được xây dựng từ khá sớm, có giá trị nghệ thuật kiến trúc – điêu khắc độc đáo, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân địa phương Đình còn lưu giữ được nhiều di sản Hán Nôm có giá trị, giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc làng xã xưa
Nhận thức được tầm quan trọng của ngôi đình trong tâm thức và đời sống tinh thần của người Việt nói chung và người dân xứ Kinh Bắc nói riêng,
tôi đã mạnh dạn chọn Tìm hiều di tích đình Ngô Nội (thôn Ngô Nội, xã
Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình Nội dung khóa luận giới thiệu về di tích đình Ngô Nội, xác định và đánh giá giá trị nghệ thuật kiến trúc của di tích và bước đầu đưa ra
một số giải pháp bảo vệ, phát huy giá trị của di tích đình Ngô Nội
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về lịch sử vùng đất và truyền thống văn hóa làng Ngô Nội
Trang 6- Từ những nguồn tư liệu có được, tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại của đình Ngô Nội từ khi xây dựng đến nay và xác định những giá trị của di
tích trên hai phương diện:
+ Giá trị văn hóa vật thể: nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật trang trí kiến
trúc và hệ thống di vật…
+ Giá trị văn hóa phi vật thể: lễ hội đình làng
- Nghiên cứu thực trạng di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
bảo vệ và phát huy giá trị vốn có của di tích trong bối cảnh hiện nay
- Cung cấp thông tin cho những người quan tâm muốn nghiên cứu, tìm hiểu về di tích đình làng Ngô Nội
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích và hệ thống di vật trong đình làng Ngô Nội (thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu quá trình hình thành, tồn tại của di tích
đình Ngô Nội trong phạm vi nguồn tư liệu có được
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp khảo sát, điền dã: quan sát, đo vẽ, chụp ảnh,…
- Sưu tầm, tập hợp, hệ thống hóa các tư liệu có liên quan đến di tích…
- Phương pháp liên ngành: Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Bảo tàng học, Sử học, Khảo cổ học, Mỹ thuật học, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội
học, Du lịch học…
Trang 76 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Đình làng Ngô Nội trong diễn trình lịch sử
Chương 2: Giá trị kiến trúc nghệ thuật và lễ hội đình làng Ngô Nội Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Ngô Nội
Trang 8Chương 1 ĐÌNH NGÔ NỘI TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ
1.1 Vài nét về vùng đất nơi di tích tồn tại
1.1.1 Vị trí địa lý - tên gọi di tích
Đình Ngô Nội hiện nay thuộc địa phận làng Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Huyện Yên Phong có tên gọi từ trước thời nhà Trần, sách Bắc Ninh
toàn tỉnh Dư địa chí có viết: “trị sở từ đời Trần trở về trước vẫn có tên gọi là
huyện Yên Phong” Yên được hiểu là An 安, là mảnh đất xinh đẹp, thanh bình, hòa hợp; Phong 風là đầy đủ, phong lưu, giàu có, tốt đẹp
Huyện Yên Phong nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, có tọa độ địa lý khoảng từ 2108’45 đến 21014’30 độ vĩ Bắc và trong khoảng từ 105057’30 đến
10604’15 độ kinh Đông Phía Bắc giáp với huyện Hiệp Hòa và huyện Việt Yên của tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp huyện Từ Sơn; phía Tây Nam giáp huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh; phía Tây giáp với huyện Đông Anh và huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Yên Phong có tổng diện tích tự nhiên là 9.868,11 ha, dân số là 123.719 người, mật độ dân số 1.277 người/ km2 Địa hình chủ yếu là đồng bằng, độ cao trung bình so với mực nước biển là 4,5m Được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, trực tiếp là
3 con sông: sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và sông Cà Lồ Khí hậu nhiệt đới trung bình cả năm là 230C, nhiệt độ trung bình mùa nóng từ 24 - 290C, 3 tháng có nhiệt độ dưới 200C là tháng 12, tháng 1 và tháng 2; lượng mưa trung bình 1.512mm/năm; độ ẩm trung bình 82,5% [16]
Trang 9Nằm sát với trung tâm huyện lỵ Yên Phong, xã Trung Nghĩa có tổng diện tích tự nhiên là 777,11 ha, dân số là 9.283 người, mật độ dân số 1.195 người/km2 Xã Trung Nghĩa nằm bên bờ Bắc sông Ngũ Huyện Khê, xã có chiều dài theo hướng Đông Nam - Tây Bắc khoảng 2500m Phía Bắc xã giáp với đường tỉnh lộ 286 và đường quốc lộ 18; phía Nam giáp sông Ngũ Huyện Khê và xã Phú Lâm (Từ Sơn); phía Đông giáp xã Long Châu và xã Đông Phong; phía Tây giáp với xã Đông Thọ
Trước Cách mạng Tháng 8/1945, trên địa bàn xã Trung Nghĩa trước đó gồm có 4 xã, 1 thôn, nằm ở 2 tổng:
+ Xã Yên Từ, xã Đông Mơi thuộc tổng Mẫn Xá
+ Xã Ngô Xá, xã Tiên Trà, thôn Ngô Nội thuộc tổng Nội Trà
Khoảng những năm từ 1889 - 1907, thôn Ngô Nội được tách ra thành đơn vị hành chính cấp xã Địa bàn xã Trung Nghĩa thời điểm này gồm có 5 xã thuộc 2 tổng:
+ Xã Yên Từ, xã Đông Mơi thuộc tổng Phong Quang
+ Xã Tiên Trà, xã Phù Lưu, xã Ngô Nội thuộc tổng Nội Trà
Sau cách mạng Tháng, đầu năm 1946, đơn vị hành chính cấp tổng, cấp phủ bị xóa bỏ, một số xã nhỏ được hợp nhất thành xã lớn:
+ Xã Yên Từ, xã Đông Mơi hợp nhất thành xã Đông Từ
+ Xã Tiên Trà, xã Phù Lưu, xã Ngô Nội hợp nhất thành xã Nội Trà Năm 1948, xã Nội Trà sát nhập với xã Đông Từ thành xã Trung Nghĩa, Tên xã Trung Nghĩa là một biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống thượng võ gắn liền với truyền thống lao động sản xuất cần cù, sáng tạo Đó là sự kết tinh của đức tính trung thực, chịu đựng hy sinh và tinh thần nghĩa hiệp cao cả của nhân dân toàn xã Ngô Nội thuộc xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Từ năm 1963 – 1997, Ngô Nội thuộc tỉnh Hà Bắc, từ 1997 đến nay thuộc tỉnh Bắc Ninh
Trang 10Hiện nay xã gồm có 5 thôn: Ngô Nội, Tiên Trà, Phù Lưu, Đông Mai, Yên Từ [16]
Làng Ngô Nội nằm ở khu vực trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của
xã Trung Nghĩa Phía Tây của làng giáp với thôn Phù Lưu; phía Đông giáp sông Ngũ Huyện Khê; phía Bắc giáp thôn Tiên Trà; phía Nam giáp với đường
179 cách 5km xuôi đường về phía Nam đi Từ Sơn, theo đường quốc lộ 1A cách 20km đi Hà Nội
Ngô Nội là một trong bảy làng Chờ xưa, đó là: Chờ Phú Mẫn, Chờ Trung Bạn, Chờ Ngân Cầu, Chờ Tiên Trà, Chờ Ngô Nội, Chờ Phù Lưu, Chờ Nghiêm Xá
Trải qua các giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước, địa danh hành chính của làng cũng có nhiều lần thay đổi
Thời Lê - Nguyễn, làng Ngô Nội thuộc tổng Nội Trà, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh Ngày đó tổng Nội Trà gồm 11 xã thôn: thôn Tiên Trà, thôn Phú Mẫn, thôn Trung Bạn, thôn Ngô Xá, thôn Nghiêm Xá, thôn Ngân Cầu, thôn Trác Bút, thôn Vọng Nguyệt, thôn Nguyệt Cầu, thôn Đông Xuyên, thôn Đông Lâu
Khi đó, làng Ngô Nội còn có tên là Ngô Xá, tên Nôm là làng Ngò và chia thành 5 xóm theo 5 ngõ cổ: ngõ Tiền, ngõ Giữa, ngõ Xép, ngõ Đông, ngõ Dật Trong mỗi ngõ có cổng đi chung, trên mỗi cổng có đặt chòi canh bảo vệ làng rất chặt chẽ Say này, làng phát triển thêm 4 xóm là xóm mới 1, xóm mới
2, xóm Cầu và xóm đầu làng Như vậy, làng Ngô Nội ngày nay là đất của 9 xóm gộp lại thành làng, trong làng có nhiều họ: Nguyễn Đình, Nguyễn Đức, Nguyễn Đăng, Nguyễn Nghiêm…Trong số các họ lớn lại chia ra các chi: chi trưởng, chi thứ [17]
Đình làng Ngô Nội là một ngôi đình đẹp, có nghệ thuật kiến trúc và trang trí kiến trúc độc đáo, được khởi dựng từ thời Mạc (thế kỷ XVI) và được
Trang 11trùng tu lớn vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX) Đến nay đình vẫn còn lưu giữ được 3 sắc phong thời Mạc (bản sao), nhiều sắc phong thời Lê Trung Hưng, Tây Sơn, Nguyễn và một số mảng chạm khắc trang trí kiến trúc từ thời Hậu Lê
Vì vậy, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là hết sức cần thiết và quan trọng Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã cử cán bộ chuyên môn của Ban quản lý di tích tỉnh về khảo sát, nghiên cứu di tích, tiến hành lập hồ
sơ khoa học pháp lý cho di tích đình làng Ngô Nội, trình Bộ văn hóa Thể thao và
Du lịch xem xét xếp hạng cho di tích [8] Xét trên những giá trị cơ bản của di tích, đình làng Ngô Nội đã được bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng đình là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo quyết định số 51/QĐ -
BVHTTDL ngày 27 tháng 12 năm 2001 (Ảnh 1)
Hiện nay, điều kiện giao thông phát triển nên có thể đi đến di tích một cách thuận tiện bằng các loại phương tiện giao thông đường bộ với các tuyến đường khác nhau Từ thủ đô Hà Nội xuôi theo quốc lộ 1A về phía Bắc Ninh, đến giữa thị xã Từ Sơn thì rẽ trái vào đường tỉnh lộ 295, đi khoảng 7km nữa đến ngã tư thị trấn Chờ - trung tâm huyện lỵ Yên Phong thì rẽ phải vào đường tỉnh lộ 286, đi thêm khoảng 600m là tới đường vào đình làng Ngô Nội Hoặc
đi từ trung tâm thành phố Bắc Ninh theo đường tỉnh lộ 286 khoảng 14km tới đường vào thôn Phù Lưu, rẽ tay phải vào đường liên thôn là tới đình làng Ngô
Nội (Ảnh 2)
1.1.2 Truyền thống văn hóa
Ngô Nội là một làng Việt cổ hiện còn lưu giữ được bản sắc văn hóa độc đáo và phong phú thông qua các hoạt động tín ngưỡng tại đình, chùa và đặc biệt là việc thờ cúng tổ tiên Trong tâm thức của người dân Ngô Nội nói riêng
và người dân Việt nói chung, tục thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng Đó là
sự bày tỏ lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với tổ tiên Trong các gia đình đều có ban thờ tổ tiên, được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà, họ tin
Trang 12rằng tổ tiên mình luôn ngự trị trên đó để che chở phù hộ cho con cháu Vào các ngày mùng 1, ngày rằm, ngày lễ tiết hay trong gia đình có việc hiếu, hỷ… đều thắp hương thỉnh cầu tổ tiên về chứng giám Giá trị lớn nhất của tục thờ cúng tổ tiên là tạo thành truyền thống, nếp sống cho các thế hệ sau luôn ghi
nhớ và thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Tục thờ cúng tổ tiên còn tạo
nên sự đoàn kết giữa những người cùng huyết thống, củng cố quan hệ gia đình, gia tộc thiêng liêng
Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người dân Ngô Nội còn duy trì thường xuyên hoạt động tín ngưỡng ở đình, chùa Chùa làng có tên gọi là
“Linh Quang tự”, tọa lạc trên một địa thế đẹp, cảnh quan đẹp, cây cối xanh tốt quanh năm, trong chùa có nhiều tượng Phật Tại chùa hiện còn bảo lưu được nhiều di vật cổ vật có giá trị
Đình làng Ngô Nội thờ Thành hoàng làng là Quí Minh đại vương Ông là cận thần của Tản Viên Sơn thánh, sau khi nghe tin Tản Viên Sơn thánh được vua Hùng truyền ngôi, Thục chúa bèn đem quân đến đánh Sơn thánh đã triệu tập binh mã, đưa em trai là Nghĩa Lĩnh Hầu làm tướng tiên phong Quân Thục thua chạy, Sơn thánh dâng sớ tâu vua để nghi nhận chiến công của các tướng lĩnh Vua phong cho Nghĩa Lĩnh Hầu là Quí Minh Đại vương, sau đó Sơn thánh cùng Nghĩa Lĩnh Hầu đem quân đánh Thục ở Lạng Sơn, nhân dân nô nức đi theo hưởng ứng chống giặc Quân giặc thua chạy nhưng Nghĩa Lĩnh Hầu không may trúng tên bị thương Quân ta thắng trận chở về xứ Kinh Bắc, phủ Từ Sơn, huyện An Phong Nhân dân xã Nội Trà đem lễ ra đón mừng Nghĩa Lĩnh Hầu thấy ở khu Phú Mẫn có một khu gò có ao sâu và một con rồng uốn khúc, ông đi đến đây và hóa vào ngày 10/4 (âm lịch) Sau đó là gió mưa sấm chớp nổi lên, chỗ ông hóa biến thành một ngôi mộ lớn, nhân dân xin được lập đền thờ ông và tế lễ Ông được phong là Quí Minh đại vương thượng đẳng thần
Trang 13Để tưởng nhớ công lao của thần với dân với nước và mong thần phù hộ cho dân làng bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân Ngô Nội đã lập đền thờ và suy tôn ông làm Thành hoàng làng
Trong những phong tục tập quán xưa ở địa phương, còn duy trì được một số nghi lễ có xuất xứ và gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước như: lễ cầu mưa, cầu mát Mỗi khi gặp hạn hán, dân làng Ngô Nội lại làm lễ cầu mưa Trước khi đi rước nước, dân làng sắm sửa lễ vật để ra đình lễ Thánh Sau khi làm lễ Thánh, đám rước gồm có ông quan đám đi đầu, sau đến
là hai hàng bát biểu và tiếp đến là hai chiếc kiệu đặt chóe múc nước được trang hoàng lộng lẫy, sau kiệu là tàn lọng, chiêng, trống, bát âm cùng đông đảo nhân dân tham dự Đoàn rước bắt đầu khởi hành từ đình làng đến sông Cầu múc nước Một chiếc thuyền đã được chuẩn bị sẵn ở đó, chở người đã được lựa chọn ra sông lấy nước, nước được múc ở giữa sông, đựng vào hai cái chóe có nắp đậy, nước múc đầy rồi thuyền lại quay vào bờ trong tiếng trống giục giã náo động Chóe nước được đưa lên kiệu rồi rước về đình làng Sau lời đọc văn tế khấn trời đất, nước được té ra xung quanh trong tiếng trống cầu đảo, cầu cho mưa thuận gió hòa để dân lành cày cấy Các cụ cao tuổi trong thôn kể rằng tục cầu mưa, cầu mát ở đình Ngô Nội rất linh nghiệm, hễ làm lễ cầu đảo xong thì thể nào trời cũng mưa xuống Đây là một tục lệ rất cổ của cư dân nông nghiệp nói chung, người Việt cổ nói riêng
* Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng
Trải qua các thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, làng Ngô Nội là nơi chứng kiến và diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đánh giặc giữ làng mỗi khi có họa xâm lăng
Thời kỳ Bắc thuộc, nơi đây còn sự tích lưu truyền về Quí Minh đại vương - Thành hoàng làng, người đã có công giúp Sơn thánh đánh thắng giặc Thục và anh dũng hi sinh
Trang 14Dưới thời phong kiến, giặc cướp nổi lên ở các địa phương luôn luôn đe dọa uy hiếp nhân dân, chúng tiến hành các vụ cướp phá tài sản, mùa màng, gây nhiều tội ác… Nhân dân Ngô Nội đã đoàn kết cùng nhân dân Tiên Trà, Phù Lưu chiến đấu chống lại bọn giặc cướp bảo vệ bản xã, giúp đỡ hàng tổng Nhiều toán cướp đã bị đánh bại, được hàng tổng mến phục, cho hưởng đặc ân được quản lý riêng một cầu thịt ở chợ Chờ để thu thuế Ghi nhận công lao chống giặc cướp, tinh thần đoàn kết thượng võ và nghĩa cử cao đẹp của nhân dân ba làng Chờ, năm Cảnh Hưng ngũ niên (1744) vua Lê Hiển Tông đã ban thưởng 3 chữ vàng “Trung nghĩa dân” cho các làng Ngô Nội, Phù Lưu, Tiên Trà Bức đại tự này vẫn được treo trang trọng trong ngôi đình của ba làng
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều thanh niên yêu nước làng Ngô Nội đã tập hợp nhau lại rải truyền đơn, áp phích, tuyên truyền vận động quần chúng ủng hộ Việt Minh chống giặc Pháp
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người dân Ngô Nội đã tiếp sức người sức của để chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam [17]
Như vậy, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh cách mạng đã được nhân dân Ngô Nội qua các thế hệ vun đắp và trở thành một nguồn di sản tinh thần quý giá, là niềm tự hào và sức mạnh để người dân Ngô Nội hôm nay
và mai sau phấn đấu vươn lên trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước và xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh
Trang 151.1.3 Dân cư và đời sống kinh tế
Làng Ngô Nội hiện nay có khoảng 2.690 nhân khẩu, cư trú trong khoảng 610 hộ gia đình tự quản và có sự liên kết của các dòng họ sinh sống từ lâu đời Trong làng có các dòng họ lớn như: Nguyễn Công, Nguyễn Như, Nguyễn Văn, Nguyễn Duy, Nguyễn Hữu, Nguyễn Thế, Nguyễn Đăng, Nguyễn Quang…
Làng Ngô Nội là một làng Việt cổ truyền có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ được liên kết với nhau thông qua các mối quan hệ như quan hệ huyết thống, quan hệ xóm giềng, quan hệ phường hội, quan hệ hàng giáp…
Trong quan hệ huyết thống gồm có các quan hệ gia đình, dòng tộc, họ hàng Mọi thành viên trong gia đình và dòng họ phải chịu sự chi phối điều hành của người cha, người con trưởng, trưởng họ theo một tôn ti trật tự của 9 thế hệ và quan hệ bề bậc Bề trên dẫu có ít tuổi vẫn là bề trên, bề dưới dẫu có cao tuổi vẫn là bề dưới, bề trên nói bề dưới phải chấp hành Người dân Ngô Nội coi trọng tình cảm bề bậc anh em nhưng cũng rất coi trọng tình cảm hàng xóm, phường hội để giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày, trong sản xuất nông nghiệp, chống lại thiên tai và các tệ nạn xã hội, trộm cướp Đó là tình cảm của sự đoàn kết hữu ái giữ các thành viên trong làng
Quan hệ hàng giáp là một kiểu tổ chức theo truyền thống, chỉ có nam giới được tham gia và mang tính chất cha truyền con nối (cha ở giáp nào thì con ở giáp ấy) Xưa, làng có 4 giáp: giáp Đông, giáp Tây, giáp Giữa và giáp Nội Các giáp có nhiệm vụ tổ chức tế lễ, đình đám, hội hè, tang ma hoặc tham gia vào các công việc khác của làng
Làng Ngô Nội chủ yếu là làm nông nghiệp trồng lúa nước và các loại cây hoa màu Đặc điểm của đồng đất là lồi lõm, bậc thang Trước đây khi công tác thủy lợi chưa có điều kiện làm tốt thì đồng ruộng rất dễ bị hạn hán khi nắng và bị ngập úng khi gặp mưa, hàng năm người dân chỉ cấy được một
Trang 16vụ lúa, đời sống rất khổ cực Sau khi hòa bình lập lại năm 1954, Ngô Nội hoàn thành việc đánh đuổi bọn địa chủ phong kiến, thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất, chia ruộng lại cho dân cày Đặc biệt, các cấp chính quyền luôn quan tâm đến công tác thủy lợi, khoanh vùng chống úng cho các khu đồng, do vậy ruộng đất ngày càng phì nhiêu màu mỡ, hệ số sử dụng quay vòng ruộng đất đạt từ 3 - 4 vụ/năm So với các làng trong xã thì kinh tế Ngô Nội thuộc loại khá trong xã, huyện
Hiện nay, đời sống nhân dân ngày càng ổn định, phát triển toàn diện,
hộ giàu chiếm 14% tổng số hộ, hộ khá chiếm 46% tổng số hộ, toàn thôn không còn hộ đói, 100% số hộ có nhà ngói, 85% số hộ có phương tiện xe máy, 95% số hộ có phương tiện nghe nhìn…[17]
Nhiều công trình phúc lợi công cộng được quan tâm đầu tư xây dựng nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân như: xây dựng đường điện lưới phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, đường làng ngõ xóm đều được bê tông hóa, xây dựng trường học, trùng tu tôn tạo chống xuống cấp các di tích lịch sử văn hóa… Hoàn thành xây dựng trường mầm non của thôn, 100% các cháu trong độ tuổi đi học mầm non đều được đến trường; bậc tiểu học đạt 100% tổng số cháu trong độ tuổi; bậc trung học
cơ sở đạt 97% tổng số cháu; bậc trung học phổ thông đạt 85% tổng số cháu
Do điều kiện kinh tế xã hội nên việc học hành thi cử thời xưa ở Ngô Nội không phát đạt lắm, số người đỗ đạt không nhiều Tuy nhiên dười thời phong kiến, số người biết đọc biết viết ở Ngô Nội cũng khá đông, nhiều người cũng từng lều chõng đi thi nhưng không đạt Chỉ có ông Nguyễn Danh Phan, con trai cụ Nguyễn Danh Đắc đi thi đỗ Sinh đò, được bổ làm quan, được phong tặng Thiếu khanh Ngày nay, kế thừa truyền thống hiếu học của các bậc cha ông, nhiều thế hệ người làng Ngô Nội đã học hành thành tài, đỗ đạt cao Thôn Ngô Nội đã có hơn 100 người đỗ bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ ở
Trang 17các chuyên ngành khác nhau, tiêu biểu như ông Nguyễn Như Hải – Thiếu tướng Công an, ông Nguyễn Bá Mẫn – Giám đốc nhà máy thủy điện Thác Mơ… Những người dân làng Ngô Nội không ngừng học hỏi, nâng cao trình
độ đã góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa tiên tiến giàu bản sắc quê hương đất nước
Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của Bộ Chính trị, các cán bộ Đảng viên và quần chúng nhân dân đều đồng tình hưởng ứng tham gia đông đảo Các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao được quan tâm đầu tư xây dựng, bao gồm có nhà văn hóa và sân vận động Tự hào trước những kết quả và thành tựu đã đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội dưới sự lãnh đạo của các cấp
ủy đảng, chính quyền địa phương, nhân dân Ngô Nội đang trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn
1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đình Ngô Nội
Hiện nay, chưa xác định được chính xác đình Ngô Nội được xây dựng vào năm nào, nhưng trong đình hiện còn lưu giữ 53 đạo sắc phong, trong đó
có 3 sắc phong thời Mạc (bản sao), đạo sớm nhất có niên đại Quang Bảo năm thứ 10 (1555) thời Mạc Phúc Nguyên Do vậy, ta có thể đoán định rằng đình được khởi dựng vào kế kỷ XVI Đình Ngô Nội hiện còn lưu giữ được nhiều dấu tích kiến trúc văn hóa qua các thời kì lịch sử Đình Ngô Nội đã qua nhiều lần tu bổ, sửa chữa lớn vào thời Lê Trung Hưng – Nguyễn Đình còn lưu giữ được 01 bức cửa võng tại tòa đại bái, 01 bức đại tự (Trung Nghĩa Dân – 1744)
và một số cấu kiện kiến trúc, mảng chạm khắc trang trí mang đậm phong cách
mỹ thuật thời Lê Trung Hưng Trên hai chiếc câu đầu ở tòa đại đình còn ghi
rõ thời điểm tu bổ sửa chữa gần đây nhất vào ngày đẹp tháng 3 năm Canh Tuất thời Duy Tân (1911) Kiến trúc hiện nay của đình Ngô Nội phần lớn là sản phẩm của lần trùng tu này
Trang 18Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng thì trước đây, đình Ngô Nội
có quy mô tương đối hoàn chỉnh bao gồm: 01 tòa tiền tế làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, 01 tòa đại đình có bố cục mặt bằng hình chữ Đinh 丁, hai tòa giải vũ mỗi dãy 3 gian Đến những năm kháng chiến chống Pháp, theo lệnh “Tiêu thổ kháng chiến” thì tòa tiền tế, hai tòa giải vũ và tòa tiền tế và sàn đình ở tòa Đại đình đã bị phá đi chỉ còn lại tòa đại đình Đình hiện nay không còn sàn, nhưng trên từng chiếc cột trong hậu cung vẫn còn dấu vết lỗ mộng liên kết sàn đình cho thấy trước đây sàn đình cao 0,50m
Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, đời sống kinh tế của nhân dân làng Ngô Nội không ngừng được cải thiện Để bảo vệ, phát huy giá trị của di tích đình Ngô Nội, tháng 10 năm 2005, nhân dân làng Ngô Nội đã tiến hành công cuộc đại trùng tu tòa đại đình: lát lại nền, xây lại hệ thống tường bao, thay và gia cố hệ thống cột, thay một số hoành, rui, ngói và sơn lại hệ thống xà cột Công cuộc trùng tu được tiến hành dưới sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền theo đúng nguyên tắc của trùng tu và tôn tạo di tích nên về cơ bản đình Ngô Nội vẫn giữ được dáng vẻ uy nghi vốn có của nó
Cùng với việc trùng tu tòa đại đình, tòa tiền tế 5 gian 2 chái cùng với 6 gian nhà giải vũ nằm song song trước tòa tiền tế, bình phong va tứ trụ biểu đã được xây dựng mới
Trong đình hiện còn lưu giữ được nhiều tài liệu, hiện vật cổ như: 01 bản thần tích, 01 ngai thờ, 01 bài vị, các hoành phi, câu đối, nhang án, các đồ thờ tự như đôi cây đèn, cây nến, đôi hạc thờ, đỉnh hương trong hậu cung, đặc biệt là 53 đạo sắc phong có niên đại từ thời Mạc đến thời Nguyễn, trong đó sắc phong có niên đại sớm nhất là đạo sắc: Quang Bảo năm thứ 10 tháng 6 ngày 22 (1555) và đạo sắc được phong tặng gần đây nhất là vào thời Duy Tân năm thứ 3 tháng 8 ngày 11 (1909) Trong đình còn lưu giữ bức đại tự in 3 chữ vàng “Trung nghĩa dân” của vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng ngũ
Trang 19niên ban tặng (1744) Qua hệ thống các đạo sắc phong có thể khẳng định đình Ngô Nội là một trong những ngôi đình còn bảo tồn và lưu giữ được nhiều di sản Hán Nôm có giá trị
Như vậy, đến nay đình làng Ngô Nội đã có tuổi thọ trên vài trăm năm Trải qua thời gian, qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, đình Ngô Nội vẫn vững vàng tồn tại, được các lớp lớp thế hệ người dân Ngô Nội bảo vệ, tôn tạo ngày một khang trang Ngôi đình như một điểm sáng về văn hóa tinh thần, nơi hội tụ của tâm linh, chứa đụng nhiều giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc việt
1.3 Sự tích vị thần được thờ tại đình
Xét về chức năng tôn giáo, ngôi đình là nơi thờ thần của cả làng, thường là một vị nhưng cũng có khi là nhiều vị được gọi là Thành hoàng làng Theo GS Đào Duy Anh:
“Thành hoàng là một biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ
cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là thứ quyền uy siêu việt, một mặt liên lạc siêu hình, khiến cho làng xã thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống” [1]
Hay theo tác giả Nguyễn Duy Hinh: “Thành hoàng làng người Việt là
một vị thần được dân thờ, sau đó mới được vua phong chức tước với chức danh thành hoàng” [10].
Đình làng Ngô Nội thờ Thành hoàng làng là Quý Minh đại vương Theo nội dung của bản thần tích còn được lưu giữ tại đình Ngô Nội thì
lý lịch, công trạng của Quý Minh đại vương có thể trích lược như sau:
“Vua Hùng xây dựng cơ nghiệp đế vương được dài lâu nghìn năm muôn thủa, trải qua mấy nghìn năm dấu tích anh hùng, trên núi Tản có thư truyền: Có anh em đức thánh Tản Viên và các vị kiến thân tả hữu Về sau mà nối mười tám đời vua Duệ Vương lên ngôi đóng kinh đô ở đất Vật Chi, huyện
Trang 20Bạch Hạc, đặt tên nước là Văn Lang, kinh đô gọi là Phong Châu thành Vua Duệ Vương thao lược tài năng, thông minh, chí giỏi, bên trong sửa sang cung lăng, điện miếu, trường học, ân đức trị ân, bên ngoài phòng bị chống ngoại xâm, đất nước thanh bình, nhân dân yên ổn Than ôi, vua Hùng trị nước đã lâu, đến đây thế nước đã suy, cơ nghiệp vua Hùng đời cuối Vua Duệ Vương sinh ra hai mươi người con trai, các người con trai dần dần bỏ ngôi đi nước khác, chỉ còn hai người con gái, một người tên là Tiên Dung công chúa, một người tên là Mỵ Nương công chúa Người thứ nhất gả cho Chử Đồng Tử, quê
ở Nam Sơn đạo, Khoái Châu phủ, Đông An huyện, An Hòa xã Người thứ hai
gả cho Tản Viên sơn thánh quê ở Sơn Tây xứ, Hưng Hóa đạo, Thanh Xuyên huyện, Lăng Xương động – cha là Cao Hành, mẹ là Đinh Thị Điền
Sơn Thánh (Tản Viên sơn thánh) được thần Trượng ở núi Ngọc Lĩnh Tản Sơn được ước thư ở Động Đình thủy, để từ đấy được thần tiên chỉ phép biến hóa vô cùng, vua bèn gả cho Sơn Thánh, lúc ấy vua Duệ Vương còn người con gái thứ hai – Mỵ Nương công chúa, vua không có con trai nối ngôi, bèn kén rể cầu hiền để nhường ngôi vua Dựng một lầu ở cổng thành Việt Trì
đề năm chữ “tuyển tế cầu hiền lâu” Mong muốn cầu rể thông minh, tài chí, đức độ anh hùng có thể nhường ngôi vua Bấy giờ có Tản Viên sơn thánh và Thủy Thần đông cung cùng tới trước lầu xin vua vào ra mắt Vua nhìn xem
và khen rằng “hai người thực là người có tài, người nào sáng hôm sau đem kễ đến trước vua sẽ gả con gái cho Sơn Thánh đã có ước thư cầu được vật lạ: voi trắng chín ngà, ngựa trắng ba chân Hôm sau đem sính lễ đến sớm trức
và được vua gả con gái cho Thủy Tinh đem sính lễ đến sau thấy việc đã xong liền nổi giận không vui trong lòng bén thù oán Sơn Thánh, thường thường đem quân đánh Sơn Thánh ở núi Ngọc Tản Viên Sơn Bởi vậy hàng năm vào khoảng tháng bảy tháng tám thường có mưa to gió lớn, nhân dân ở đấy nhiều năm bị lụt hại đến nay vẫn còn
Trang 21Lui lại mà nói Sơn Thánh lấy con gái vua rồi, nước có rể hiền, vua Duệ Vương bèn quyết nhường ngôi cho Sơn Thánh lúc Duệ Vương gần trăm tuổi Thục chúa nghe tiếng Duệ Vương vô nhân kế hậu mà nhường ngôi cho con rể
là Sơn Thánh (Thục chúa là con vua nước Ai Lao, cũng là dòng dõi anh hùng) đem binh mã sang xâm lấn đất nước Vua Duệ Vương lo sợ, trong triều đình
có người tâu rằng: Nhà vua cứ yên tâm không ngại, vua tôi sẽ cùng lo việc nước, ngày mai sẽ rèn luyện quân lính, chưa tính giặc đã xâm lấn xã tắc, lấy ai
là người chống đỡ Nhất định đời vua Thái Tổ, Thái Tông lòng người đã định việc này ta cũng không lo sợ lắm, quân địch dẫu mạnh, phá hoại giang sơn đất nước mình ta sẽ viết một bức thư đưa cho địch tướng và Thục chúa xem thư
sẽ hoãn quân về sau, vua nghe phải, dùng kế ấy mời Tản Viên Sơn Thánh hỏi, Sơn Thánh tâu rằng: Hơn hai nghìn năm 17 đời vua, ơn sâu đức rộng khắp nhân dân, mà nước giàu quân mạnh, ngày nay nhà vua lấy ân đức đối phó bên ngoài, Thục quân không dám xâm lấn mạnh mẽ mà giữ phần thua, kinh nghiệm ấy đã rõ Một sớm vua tha thứ cho người có tội, lấy ân nghĩa đánh giặc thì lo gì đánh giắc mà yên, xin ba nghìn quân coi giữ bờ cõi ra vào xe cỏ đơn sơ ta sẽ bình được Thục quân Vua nghe cả mừng chọn ngày trai giới lập đàn làm lễ, tế cáo thiên địa, rồi lấy Linh quang thần nỏ trao cho Sơn thánh và bảo Sơn thánh rằng: việc nước yên hay rối là do sức của con Sau ngày hôm
ấy Sơn Thánh bái tạ nhà vua, kén chọn tướng tài, ngay hôm ấy từ bản quán Bằng Xương động cùng các vị thần phụ tá tả hữu Sơn Thánh phong cho em con nhà chú (Cẩn Công) là Trung quân nghi lĩnh hầu (Nghi lĩnh hầu quê ở Lăng Xương động), là em sơn thánh con nhà ông chú, con ông là Nguyễn Thận, mẹ là Hồ Thị Ngọc, cha ông hơn 50 tuổi, mẹ ông hơn 40 tuổi mộng thấy con voi vàngđến năm Đinh Dậu, tháng hai ngày mồng mười giờ ngọ sinh ông, đến hơn 100 ngày sau đặt tên là Nguyễn Cẩn Đến năm 15 tuổi, vốn chất tinh nhanh, sáng suốt, tài chí văn võ kiêm toàn, Sơn Thánh rất yêu mến lấy
Trang 22làm chân tay, năm tháng theo bước không rời Đến năm 31 tuổi, sơn thánh tiến dâng vua phong chức phong làm Trung quân Nghi lĩnh hầu theo Sơn thánh đánh Thục quân Còn tùy tướng hơn một nghìn viên, hùng binh ba vạn, song Sơn Thánh lĩnh mạnh đàng hoàng mà đi
Về sau mà nói Thục quân đã đến Quỳnh Nhai Châu (nay thuộc An Tây động địa phần) Sơn Thánh tiến quân đến Quỳnh Nhai ra lệnh lập trại đóng quân ở đấy, khiến em là Cẩn Công Nghi lĩnh hầu kiểm quân tướng phân làm phiên, đội, cư, ngũ tùy theo địa bàn, đón đánh và theo lệnh Cẩn Công ở đấy Sơn Thánh đem hai vạn hùng binh tiến thẳng Quỳnh Nhai Châu Sơn, đi sâu vào hơn 50 dặm hò reo gọi đánh Thục tướng đem ba mươi vạn quân lại đánh, quân Sơn thánh giả cách thua chạy Ở đấy Nghi lĩnh hầu đem quân lấp đánh hai bên vây lại, đánh nhau hơn mười hiệp chưa phân thắng bại, Sơn thánh ngồi ngắm trên núi Quỳnh nhai, lấy thần ước ra khấn, đột nhiên ở trời xuống một vị đại tướng thân mình cao năm trượng, cầm một gỗ dài ba mươi thước hình ốc sên, đứng trên núi cạnh Sơn Thánh, sấm vang gió giữ dooijthooir lại một trận gẫy cây, chốc nhà, cát đá bay mịt mù ngày đêm, thục quân cả vỡ trận thua chạy Sơn thánh bắt hết thục tướng binh mã các chi binh không sót một người, thần tướng bông nhiên lên trời biến mất Sơn thánh viết hịch tâu vua xin phép cho về kinh, khi ra về đến của quan bái tạ, vua phong Sơn thánh làm Nhạc phủ kiêm thượng đẳng thần Em là Nghi lĩnh hầu làm Quế Miêng đại vương, tả hữu kiêm thần Tả phong là Cao Sơn đô hộ đại vương, hữu phong làm Cao Sơn Quế Minh đại vương
Hai năm sau Thục quân rèn luyện quân lính, lại sang phục thù, cầu cứu nước bạn, chỉnh đớn binh lính một trăm vạn, kỵ mã tám nghìn chia làm năm đạo Một đạo chính bình ba mươi vạn, ngựa năm nghìn con, theo đường thân đạo Sơn nhạc suất, chia binh mười vạn, ngựa một nghìn năm trăm con theo đường Lạng Sơn Văn Lan châu suất, hậu binh chính chia hai mươi vạn, ngựa
Trang 23hai nghìn con, theo Đại Nam lộ suất, một đạo giữa mười vạn, ngựa năm trăm con, theo đường Bố Chính Minh Linh châu suất, một đạo thủy quân, thuyền một nghìn chiếc theo đóng ở Hoan Châu (nay là Nghệ An), thủy bộ đều tiến hò reo vang dậy Vua lấy làm lo sợ, mời Sơn Thánh đến bàn bạc Sơn Thánh lùi lại mà tâu rằng: bệ hạ làm gì phải lo, ngày nay nhà nước có giặc, tôi xin cố hết sức thay mặt thánh giá, tự chọn lấy tướng tài cùng hùng binh ba mươi vạn thì một ngày gần đây thiên hạ sẽ yên Vua cho Sơn thánh về lắng Xương Động cùng em con nhà chú là Nghi Lĩnh hầu (tức Cẩn Công) đem mười vạn hùng binh, ngựa trăm con đón đánh Thục quân ở đất Lạng Sơn, còn tả hữu kiên thần giữ ở huyện Lập Thạch, còn các tùy tướng theo Sơn Thánh đem hai mươi vạn quân đều tiến, Sơn thánh bái tạ nhà vua, ngày hôm sau đem quân đến đồn trại quân giặc chia quân cùng đánh, quân giặc mạnh như sấm sét An Thánh tự mình suất quân đại phá một trận lấy được Thục chúa binh ấn tín, Sơn thánh bèn viết thư cho chúa và bảo Thục tướng rằng: nước Văn Lang có một thần tướng, nay bọn ngươi vâng lệnh soái sư đi đánh, ngươi chớ coi thường Khi được chiếu thư, người cầm thư (là Cao Thăng) đưa cho tướng địch và nói là sứ thần của Thục chúa rồi cưỡi ngựa thẳng đến đồn chính của Thục chúa đưa thư Thục quân nhận được thư giữ chặt đồn trại cố thủ, chi bên trái nghe tiếng hoảng sợ, không kịp viết thư bèn bỏ chạy Sơn Thánh tiến quân ngày đêm hơn năm mươi dặm thẳng đến Kinh Đô Thục chúa, chia quân đánh úp, Sơn thánh đọc thần chú, ty trỏ thần trượng đại phá tặc tướng chính chi bắt sống hết, ba chi thủy bộ
tự nhiên tan vỡ, Sơn Thánh lui quân trở về bắt quân giặc về kinh tấu điệp, ngày hôm ấy vội đi không ngừng, tiến đến Quảng Đức huyện Vĩnh Thái xã (nay là
An Thái phường) địa phận xã An Loạt, ngày sau xã này xin phụng tự, nhà vua phong làm Chiêu Phong hiển hựu đại vương
Thân đệ Sơn Thánh (tức Cẩn Công Nghi lĩnh hầu) đem quân đánh Thục quân tại Lạng Sơn địa điểm, đại chiến Thục binh, đánh Thục binh tan vỡ thua
Trang 24chạy, Cẩn Công bị nỏ bắn một vết thương ở sườn bụng, đến đây Thục binh đã bình (tức ngày mồng hai tháng tư) Cẩn Công lui quân trở về đi đến Kinh Bắc
xứ, Từ Sơn phủ, An Phong huyện, Nội Trà xã (tức ngày mồng 10 tháng 4) nhân dân hành lễ đón mừng Cẩn Công biết vết thương bị bắn khó chữa bèn cười mà bảo dân Nội Trà rằng: Nhân dân cùng ta có tình nghĩa lâu dài, nay ta nhận nhân dân trong xã làm người con nhỏ trong nhà, nhân dân cả mừng và vâng lệnh Cẩn Công thấy ở đây địa phận Phú Mẫn có một khu gò, một ao sâu, một con rồng nằm quấn khúc, ông đi đến và hóa tại đây Một lúc sau tự nhiên đất dùn lên thánh ngôi mộ lớn Trong lúc ông hóa mưa to gió lớn mù mịt trong mười ngày Nhân dân tật bệnh liên miên thường mộng thấy binh mã của ông quở trách Thời gian ấy nhân dân xã Nội Trà xin lập đền thờ cúng, vua bèn sai sứ thần về địa phương, gia phong sắc chỉ mỹ tự/ Cho dân Phú Mẫn làm sở tại, xuân thu hai lần cử các quan về tế lễ, phong làm Quý Minh đại vương thượng đẳng thần Về sau vua Duệ Vương sinh nhiều con trai nhưng bị gió bạt mấy bay không người kế hậu, bèn nhường ngôi cho Sơn Thánh Sơn Thánh từ chối không nhận, bèn tâu rằng: 18 đời Hùng do trời đã định, đến nay Thục Vương gây hận với Trung Hoa, Thục chúa cũng là dòng dõi anh hùng của vua chúa đất nước Ai Lao Đất nước thay đổi do trời đã định, nhà vua làm gì mà tiếc bờ cõi nước Nam mà trái lòng trời vậy Rồi đến nỗi chiến binh giết hại sinh mệnh nhân dân, không bằng mời Thục chúa đến nhường ngôi cho thì bệ hạ thật là bậc thánh quân vậy Hơn nữa thục chúa cũng là bặc hiền quân Vua nghe lời bèn mời Thục chúa đến nhường ngôi cho Việc xong, vua Duệ Vương cùng Sơn Thánh, Ngọc Hoa công chúa, Cao tăng, tả hữu kiêm thần sáng ngày lên trời sinh hóa không rõ Bấy giờ là năm Giáp Tìn tháng riêng ngày mồng chín, Thục
An Dương Vương lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa
Vua Duệ Vương làm vua hơn năm mươi năm, đất nước thanh bình, quốc gia hưng thịnh, gia phong mỹ tự cho bách thần, sủa sang cung điện, lăng
Trang 25tẩm, đền miếu, mở mang trường học, nhất phong vi Quý Minh uy linh đại vương Tháng riêng ngày mồng 4 Thục chúa gia phong Nội trà xã phụng thờ Đến thời Đông Hán, Ngô, Tấn , Tống, Tề, Lương (Trung Quốc) hơn 340 năm, đến đây nước Nam có Đinh, Lê, Lý, Trần bốn họ khai sáng đất nước, giúp nước cứu dân thường có vua này vua khác gia phong mỹ tự, tiếng thơm muôn đời không kể xiết Đến cuối đời nhà Trần – Hồ thị tranh quyền thiên hạ rối loạn, sau nữa Ái Châu chiếu thiên phủ, Lương Giang huyện, Nam Sơn xã, họ
Lê, húy Lợi khởi nghĩa Lam Sơn ba nghìn quân lữ mạnh đẹp trừ Hồ thị bình định nước Ngô, có ngày đi qua đền ông vào mẫu lễ được âm phù thắng giặc sau được bình yên, gia phong mỹ tự lên ngôi vua ở đất Nam Sơn, niên hiệu là Thuận Thiên Thái tổ hoàng đế sau đổi thụy là Nguyễn, huyện Nam Sơn Lương
dã Lê Thái Tổ tái gia phong mỹ tự, phong là Quý Minh hiển ứng đại vương cho đến vua Lê Thái Tôn, Nhân Tôn, Thánh tôn, Hiển Tôn, Túc tôn, Cổn Dương, Chiêu Tôn Đến thời vua Chiêu Tôn, Mạc thị tranh quyền lấn ngôi vua mất nước Nhà Mạc lên ngôi niên hiệu là Minh Đức, con cháu năm đời nối ngôi Sau đến vua Lê Trang Tôn cùng đại thần Thái Úy (tức Thái Úy họ Nguyễn, Tống Sơn huyện, Gia Niên trang) lại dấy quân dẹp trừ nhà Mạc, niên hiệu là Nguyên Hòa Cầu khấn các bách thần âm phù dương trợ giúp nước cứu dân đánh Mạc thị, sau gia phong mỹ tự Bấy giờ nhà Mạc đã quét sạch, vua lên ngôi đóng đô ở Thăng Long, khao tưởng quân sỹ gia phong tướng sỹ, thiên hạ thái bình, nhà nước hưng thịnh bèn truy phong các bách thần gia phong mỹ tự trong nước rất thịnh vượng Lê Thế Tôn truy phong mỹ tự (tức ngày 14/2), là Quý Minh uy linh chiêu cảm đại vương, Nội Trà xã phụng thờ
Kỳ tịch lễ sinh hóa thần, các tiết nhật lệ, cùng tên úy thần, các sắc phục liệt kê dưới đây:
1 Mùng 10 tháng 2 sinh thần lệ: lợn đen, rượu ngọt, xôi, trầu cau làm lễ
2 Mùng 10 tháng 4 hóa thần lệ: trâu đen, bánh dầy trắng, rượu ngọt, trầu cau
Trang 263 Mùng 3 tháng giêng Thục An Dương Vương gia phong khai sắc: lợn đen, rượu, xôi, trầu cau, sướng ca một đêm
4 Ngày 14 tháng 2 lệ ra phong sắc Từ ngày 14 đến ngày 30: lợn đen, trâu, bò, chay ba mâm, sướng ca, vật, cờ, đánh gậy
5 Ngày 20 tháng 5 khánh hạ, nghinh thánh giá hoàn cung: lợn đen, xôi, rượu, xướng ca
6 Ngày mồng 10 tháng 7: lợn đen, gà trắng, xôi, rượu
7 Ngày mồng 9 tháng 9 thánh phụ hóa (lợn đen)
8 Ngày mồng 10 tháng 10 một thánh mẫu hóa: lợn đen
9 Húy tự: Thận, Cẩn, Ngọc, Quý Minh
10 Y phục cấm hoàng sắc, bạch sắc
Đời vua Hồng Phúc nhà Lê Năm thứ 2 tháng 3 ngày 10 Hàn lâm viện Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn
Thừa sao thần tích
1 Sơn Tây xứ, Vĩnh Tường phủ, Tam Giang huyện, Lanh Thám xã nội thôn hương lão, sắc mục, đồng xã đẳng kiến sự tích tại Bạch Hạc huyện, Bình Đăng xã nhân vi thử bản thôn thừa sao sự tích, tả tương hồi phụng sự
2 Bắc Ninh tỉnh, An Phong huyện, Nội Trà tổng, Ngô Xá xã, hương lão sắc mục đồng đẳng thừa sao thánh tích tại Sơn Tây, Vĩnh Tường phủ, Bình Đăng xã nhân vi thử bản thôn thừa sao sự tích, tả tương hồi phụng sự
3 Bản tổng Ô Cách xã thừa sao tại Ngô Nội xã phụng tự
4 Bảo Đại lục niên, tuế thứ Đinh Mùi, chính nguyệt cát nhật, Ngô Xá xã tái thừa sao thần tích tại Ô Cách xã tương hồi phụng sự [8]
Trang 27TIỂU KẾT
Chương một đã tập trung giới thiệu một cách khái quát về vùng đất nơi đình Ngô Nội tọa lạc, về lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích, đồng thời nêu sơ lược về lai lịch vị thành hoàng được thờ tại đây Đình Ngô Nội thờ “Quí Minh đại vương”, là danh thần có công đánh thắng giặc Thục vào thời vua Hùng thứ 18 Sau khi hóa lại hiển ứng linh thiêng, âm phù giúp quân cho các minh quân danh tiếng ,và được các triều đại phong kiến đánh giá cao về công lao to lớn của thần “Qúi Minh” và sự tre chở của thần với người dân Ngô Nội
Việc xác định niên đại tuyệt đối của đình Ngô Nội là hết sức khó khăn, Hiện nay, chưa xác định được chính xác đình Ngô Nội được xây dựng vào khoảng thời gian nào, nhưng trong đình hiện còn lưu giữ đạo sắc phong, trong
đó có 3 sắc phong thời Mạc (bản sao), đạo sớm nhất có niên đại Quang Bảo năm thứ 10 (1555) thời Mạc Phúc Nguyên Do vậy ta có thể đoán định rằng đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV-XVI Trải qua thời gian đình Ngô Nội đã qua nhiều lần tu bổ, sửa chữa lớn Lần trùng tu lớn nhất là vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX), dấu ấn của lần trùng tu này còn để lại rõ nét trên một số bức cốn, đầu dư tại toà đại đình Đến nay về cơ bản kiến trúc đình mang phong cách thời Lê –Nguyễn
Trang 28Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT
VÀ LỄ HỘI ĐèNH LÀNG NGễ NỘI 2.1 Giỏ trị kiến trỳc
Đình Ngụ Nội là cụng trỡnh kiến trỳc cũn lưu giữ được dấu ấn nghệ thuật của thời Lờ Trung Hưng – Nguyễn Đình nằm ở giữa làng trên một khu đất rộng, bằng phẳng, thoáng đãng, hướng Đông Nam, phía trước là một hồ bỏn nguyệt quanh năm đầy nước, bao quanh là sân, vườn, cây cối xanh tươi tạo cảnh quan và không khí thâm nghiêm, thoáng đãng cho ngôi đình Bờn cạnh phớa Đụng của đỡnh giỏp với ngụi chựa cổ “Linh quang tự” Sự kết hợp hài hoà giữa đình, chùa đã tạo ra một quần thể di tích kiến trúc tôn giáo phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của dân làng
2.1.1 Khụng gian cảnh quan
Đối với người phương Đụng, khi tiến hành xõy dựng bất cứ cụng trỡnh kiến trỳc nào cũng đều rất chỳ ý đến hướng và địa thế theo thuyết phong thủy Chọn hướng, chọn địa thế làm sao cho tốt, cho hài hũa giữa thiờn nhiờn và con người, sau đú mới bắt đầu xõy dựng cụng trỡnh Đặc biệt là khi tiến hành xõy dựng một cụng trỡnh tụn giỏo tớn ngưỡng cho cả làng như đỡnh, chựa, đền, miếu… thỡ việc lựa chọn thế đất, phương hướng lại càng đũi hỏi sự cẩn thận
và chớnh xỏc hơn Ngụi đỡnh là cụng trỡnh quan trọng bậc nhất của cả cộng đồng làng xó, cú ý nghĩa và ảnh hưởng sõu sắc tới đời sống của cả làng Khi lựa chọn hướng để xõy dựng đỡnh, người xưa quan niệm phải chọn thế đất
“địa linh”, tức vựng đất phải cao rỏo, sỏng sủa, đẹp đẽ, phớa trước phải rộng rói, xung quanh cú nỳi chầu về, sau lưng cú thế tựa, hai bờn cú “tay ngai” và bao giờ trước mặt cũng phải cú nguồn nước… Mảnh đất địa linh ấy phải hội
tụ được “đầu gối sơn, chõn đạp thủy”, là thế đất tốt nhất thường được chọn để xõy dựng đỡnh của cả làng
Trang 29Người dân Ngụ Nội hình dung thế đất của làng như hình một con chim phượng trong tư thế đang bay Đình làng được coi là khoảng ức của con chim phượng, hồ nước trước đình là cái diều phượng quanh năm đầy mọng, còn hai cánh phượng rải ra về hai phía Đông và phía Tây chính là các xóm Trại, Tây, Triền, Ngay, Đông của làng Phượng là một trong “tứ linh”, loài vật biểu trưng cho vũ trụ và thời gian Khi nó chuyển động là cả vũ trụ chuyển động theo Với ý nghĩa ấy chim phượng thường được coi là biểu tượng của bậc thánh thần, người có thân phận đặc biệt tôn quý
Đỡnh làng Ngụ Nội quay mặt theo hướng Tõy Nam, là một hướng đẹp theo quan niệm dõn gian, hướng về miền ấm ỏp, miền đất ụn hũa, thuận lợi cho vạn vật sinh sụi và phỏt triển
Đỡnh Ngụ Nội tọa lạc trờn một khuụn viờn đẹp, rộng khoảng 4000m2, ở phớa Bắc của làng Phớa trước đỡnh là ao làng hỡnh bỏn nguyệt, đõy chớnh là điểm “tụ phỳc, tụ thủy” Trong quan điểm cua phong thủy học, đõy chớnh là yếu tố của sự “tớch thủy lưu sơn” Phớa sau, bờn trỏi đỡnh là ngụi chựa cổ
“Linh Quang tự” Bờn phải gần hậu cung của đỡnh là một cõy thị cổ thụ Cõy
đó được cụng là cõy thị di sản 500 tuổi, thõn cõy cú đường kớnh vài người ụm,
cành lỏ xum xuờ (Ảnh 3) Theo quan điểm của người xưa, cỏc cõy cổ thụ gần
đỡnh, chựa, miếu khụng đơn thuần chỉ là nơi tạo búng mỏt tụ điểm thờm vẻ đẹp cho cảnh quan thiờn nhiờn di tớch, mà cũn tạo nờn một khụng gian linh thiờng cho cỏc di tớch tụn giỏo Cũng chớnh cõy thị này trong khỏng chiến chống Phỏp đó được sử dụng làm chũi canh quan sỏt tỡnh hỡnh địch và là trạm phỏt thanh thụng tin của xó Nội Trà
2.1.2 Bố cục mặt bằng
Ngụi đỡnh trước kia cú bố cục mặt bằng theo kiểu “Nội cụng ngoại quốc” gồm đại đỡnh, tiền tế kiểu chồng diờm, hai bờn cú nhà giải vũ, nối hai đầu giải vũ là tam mụn Ngăn cỏch giữa tam mụn và ao hỡnh bỏn nguyệt là đường đi, xung quanh khu vực đỡnh trồng nhiều cõy cổ thụ quanh năm xanh
Trang 30tôt Tiếc rằng những công trình trên hiện không còn toàn vẹn, chỉ có tòa đại đình là còn được bảo tồn khá tốt trên vị trí cũ
Ngày nay, bố cục mặt bằng đình Ngô Nội theo kiểu “tiền chữ nhất, hậu chữ đinh”, bao gồm 01 tòa tiền tế 5 gian 2 chái làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, 01 tòa đại đình 5 gian 2 chái, phần hậu cung ở phía sau tạo thành bố cục mặt bằng hình chữ Đinh 丁và hai tòa giải vũ mỗi dãy 3 gian Phía trước tòa tiền tế là khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng và nghi môn Ngoài nghi môn có 01 bức bình phong được gắn liền với hai chiếc cột đồng trụ cân đối ở hai bên, tiếp đến là hồ bán nguyệt Xung quanh là hệ thống tường bao từ phía sau hậu cung nối liền với tòa đại đình, tòa tiền tế, hai bên giải vũ tiếp nối liền với hai cổng bên trái và bên phải của đình, chạy dài tiếp
xúc với thành hồ tạo một không gian khép kín cho ngôi đình (Ảnh 4)
2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc
* Bình phong
Bức bình phong đình Ngô Nội là một công trình mang ý nghĩa tâm linh biểu tượng, có một ý nghĩa như một bức tường che chắn, trấn giữ không cho các thế lực tà ma quỉ quái xâm phạm vào đình Bức bình phong nằm trên trục thần đạo của đình, được trang trí hoa văn họa tiết mang phong cách mô phỏng phong cách mỹ thuật thời Nguyễn Trên đỉnh bình phong được đắp nổi hình rồng chầu mặt trời với những đường nét hoa văn mềm mại, thân rồng uốn lượn nhiều khúc, ở giữa trung tâm của bức bình phong được đắp nổi hình
rồng hổ phù Xung quang mặt hổ phù có các dải mây cách điệu (Ảnh 4)
* Cột đồng trụ
Để xác định gianh giới của đình, năm 2004 người dân trong làng đã dựng lại tứ trụ dạng nghi môn Nghi môn nằm vuông góc với trục thần đạo và song song với trục ngang của bờ nóc tòa đại đình Khoảng cách giữa hai trụ chính tương đồng với độ rộng gian chính giữa của đại đình Nghi môn có hai
Trang 31trụ lớn và hai trụ nhỏ Trên đỉnh của các trụ biểu đắp bốn con phượng lật bằng vôi vữa Bốn con phượng áp sát lưng vào nhau và nhìn ra bốn phía Thân và cánh phượng được thực vật hoá bởi các dải hoa lá, đầu phượng hơi chúc xuống dưới Mỏ phương giống mỏ diều hâu, mắt giọt lệ, chân to và ngắn… Với ý nghĩa biểu trưng này, bốn con phượng như tượng trưng cho sinh lực của bốn phương trời hội tụ lại vùng đất này, tăng thêm tính linh thiêng cho
không gian di tích (Ảnh 4)
* Tòa tiền tế
Qua cổng tứ trụ bình phong là một khoảng sân rộng 600m2, tiếp đến là
tòa tiền tế Đây là công trình kiến trúc mới được phục dựng gần đây (Ảnh 5) Tòa tiền tế có kết cấu kiến trúc 5 gian 2 chái làm theo kiểu chồng diêm
hai tầng tám mái Toà tiền tế có chiều dài 17.30m, chiều rộng 8,10m, chiều cao 5.8m, cao hơn sân đình 0.3m, có hai bậc gạch, mỗi bậc cao 0.15m được lát bằng gạch Bát Tràng
Chiều dài các gian của tòa tiền tế không đều nhau, gian chính giữa có chiều dài 3,25m, nền lát gạch Bát Tràng (0,25m x 0,25m) Các gian bên dài 3,05m, hai chái ngoài cùng dài 0,75m, hiên rộng 0,80m Hai gian ngoài của tòa tiền tế là nơi đặt ngựa gỗ, trống và bộ bàn ghế tiếp khách, hai chái là nơi
để bia công đức của dân làng và khách thập phương
Các cột cái trong tòa tiền tế cao 6,26m, chu vi thân cột cái 0,95m, cột quân cao 2,96m, chu vi thân cột 0,85m, khoảng cách giữa cột cái với cột cái
là 3,25m, giữa cột cái với cột quân là 3,05m Cột cái được liên kết với các cột quân nhờ một xà nách ăn mộng vào đầu cột quân và thân của cột cái, ngoài cùng là bẩy hiên, trên có trang trí hoa văn viền mây cách điệu Tất cả các cột trong tòa tiền tế đều được đặt trên chân tảng đá xanh cao, có gia cố hình trụ tròn, đầu khít với chân cột, dưới trụ đá hình vuông lát bằng mặt nền Riêng bốn cột cái gian giữa được đặt trên các trụ đá tròn cao 0,36m so với mặt nền
Trang 32Kiến trúc toà tiền tế có sáu bộ vì kèo chia toà tiền tế thành năm gian không đều nhau có tác dụng chịu lực đỡ mái nhà, trong đó có bốn bộ vì ở giữa
có kiểu dáng kích thước giống nhau (Ảnh 6)
Bộ vì mái trên có kết cấu kiểu “chồng giường giá chiêng”, hai hàng chân cột được liên kết với nhau bởi một giá chiêng ở đỉnh cột Trên cùng bộ
vì nóc là thượng lương Thượng lương lại được đỡ bởi dép thượng lương và một đấu kê, phía dưới là câu đầu đỡ toàn bộ các cấu kiện trên Câu đầu lại được đỡ bởi hai cột giá chiêng nằm dọc, song song Hai cột giá chiêng được
đỡ bởi hai chân đấu kê, có dáng giống đấu hình thuyền Phía ngoài của giá chiêng là những con rường cụt được chạm khắc đẹp, giữa hai con rường được đặt trên một đấu kê ngăn cách, tác dụng chính của những con rường này nhằm mục đích đỡ hoành mái Toàn bộ các chi tiết gỗ trên đều được đỡ bởi câu đầu, dưới câu đầu là đầu dư chạm rồng ngậm ngọc
Các bộ vì kèo cũng được liên kết với nhau bởi các thanh xà ngang tạo thành một hệ thống gỗ chịu lực cho mái Phía trên các bộ vì là những con hoành gỗ dài hình chữ nhật và các thanh rui, mè đỡ ngói
Mặt trước và mặt sau tòa tiền tế có hệ thống cửa gỗ chấn song ô đơn giản Hai bên đầu hồi có xây tường gạch ngăn cách với bên ngoài Ở phần cổ diêm ngăn cách giữa mái trên và dưới dùng chắn song bằng gỗ và ván bịt kín xung quanh mục đích ngăn mưa và lấy ánh sáng vào kiến trúc giúp cho toà tiền tế lấy thêm ánh sáng Mặt trước cổ diêm có đắp nổi hình lưỡng long chầu nhật bằng xi măng Đôi rồng trong thế uốn lượn trong những cụm mây như hình sóng nước, hình mặt trời ở giữa đang tỏa những tia lửa ra các phía
Mái tòa tiền tế được lợp ngói ta, kết cấu theo kiểu “tàu đao - lá mái”
với bốn tàu mái xòe rộng ra bốn phía, các góc đao cong uốn lượn vươn lên cao tạo vẻ thanh thoát nhẹ nhàng cho bộ mái công trình
Hai đầu dĩ xây tường chát mạch Tường đốc xây bằng Hai mái trên và dưới giống được lợp bằng hai lớp là ngói lót và ngói lợp Ngói lót có hình chữ
Trang 33nhật tỏc dụng tạo mặt phẳng cho mỏi trước khi lút lớp ngúi lợp lờn trờn, tạo độ dày cho mỏi và trỏnh thời tiết nắng, mưa thất thường Mỏi dưới dài hơn mỏi trờn, làm bệ tỡ đỡ đầu bẩy hồi và cỏc gúc đao Bốn gúc đao cong vỳt, đắp nổi bằng xi măng hỡnh đao mõy hoa lỏ cỏch điệu nhẹ nhành thanh thoỏt Bờ núc được xõy gạch, trỏt vữa tạo thành đường hơi cong xuống
* Tũa đại đỡnh
Tũa đại đỡnh cú diện tớch khoảng 240m2 (19m x 10,70m), đõy là cụng trỡnh quan trọng nhất trong đỡnh cổ
Toà Đại đình được dựng trên một cấp nền cao 20cm so với mặt sân, gồm
3 gian 2 chái 2 dĩ Mặt trước có một dãy hiên nhỏ chạy dài suốt 3 gian giữa Cửa bức bàn được mở ở 3 gian chính giữa, hai gian bên được lắp chấn song
gỗ, tạo độ thoỏng đóng và đún ỏnh sỏng vào trong đỡnh
Toà Đại bái có bộ khung gỗ lim vững chãi với 8 hàng cột ngang và 6 hàng cột dọc được liên kết bởi các vì kèo, trong đó có 6 hàng cột chính của 6 vì và 4 hàng cột phụ gồm 24 cột đỡ cho hai mái hồi Cột cái có chu vi 1,4m, cột quân có chu vi 1,2m Khoảng cỏch giữa cột cỏi với cột cỏi là 4m, khoảng cỏch giữa cột cỏi với cột quõn là 3,25m Chõn tảng đỏ kờ chõn cột gồm cú hai lớp: lớp trờn hỡnh trũn, lớp dưới hỡnh vuụng Loại chõn tảng này được gọi là chõn tảng õm dương: hỡnh vuụng phớa dưới biểu tượng cho yếu tố õm, hỡnh trũn phớa trờn biểu tượng cho yếu tố dương, theo đỳng nguyờn lý õm dương đối đói hài hũa, tạo nờn sinh lực cho trời đất
Các hàng cột đình đều được dựng theo phương thẳng đứng, thân cột
phình rộng ở giữa, hai đầu hơi thót lại theo lối “cán cân” 48 cây cột liên kết
với nhau theo thế liên hoàn bằng hệ thống xà nách và xà dọc Ngoài các mộng của hai hệ thống xà này, các cột đình nối tiếp với các vì và chịu lực nén của của các vì bằng hệ thống đấu củng
Toà Đại đình kết cấu vì kèo theo kiểu thức truyền thống “chồng rường,
giá chiêng” Cấu trỳc vỡ gồm: bẩy, cốn, con chồng kết hợp giỏ chiờng bào soi
Trang 34kỹ lưỡng và chạm khắc tinh xảo trờn con chồng và cốn Trên cùng bộ vỡ là một đấu hình thuyền dùng để đỡ thượng lương, phía dưới là hai con rường chồng lên nhau dồn lực về hai đầu cột trốn, hai cột trốn này lại tỳ lực lên câu
đầu ở phía dưới trên một chiếc đấu vuông thót đáy Ăn mộng với cột trốn là hai rường cụt được kê lên nhau bởi hệ thống đấu vuông, các rường cụt này một
đầu ăn mộng với cột trốn, còn đầu kia vươn ra đỡ các hoành Phía dưới là câu
đầu nối hai cột cái với nhau đỡ toàn bộ vì nóc Liên kết cột cái và cột quân, giữa cột quân và cột quân là các xà nách, trên xà nách là các con rường chồng lên nhau
Dưới hai cõu đầu thuộc hai gian giữa, từ cỏc đầu cột cỏi nhụ ra bốn đầu
dư chạm lộng thành hỡnh đầu rồng, túc và rõu rồng bay ngược về phớa sau Nối tiếp đầu dư là cỏc con chồng khớt lại tạo thành bức cốn, trờn bức cốn chạm nổi, chạm lộng nhiều đầu rồng cú cỏc tiờn nữ cưỡi rồng mỳa hỏt xen kẽ giữa bầy thỳ đang nghiờng ngú rất sinh động Đặc biệt trờn bức cốn gian bờn phải cũn bức chạm miờu tả đụi trai gỏi hẹn hũ bờn giếng nước đầu đỡnh giữa đờm trăng sỏng, thấp thoỏng cũn cú một chàng trai đang thổi sỏo trờu đụi trai gỏi này
Đình Ngô Nội trước đây có sàn đình, sau nhiều lần trùng tu sàn đình ở tòa đại đình đã bị dỡ bỏ, chỉ còn giữ lại phần sàn đình trong hậu cung Tuy nhiên, trên các cột cái trong đại đình vẫn còn dấu vết các lỗ mộng liên kết sàn
đình xưa Căn cứ vào các lỗ mộng còn lại có thấy chiều cao của sàn đình khoảng 0,60m -0,70m so với mặt bằng chung Những đặc điểm về kết cấu kiến trỳc trờn đõy của toà đại đỡnh đó chứng tỏ rằng đỡnh Ngụ Nội được xõy dựng từ khỏ sớm trong lịch sử
Từ phía ngoài nhìn vào toà Đại đình khá đồ sộ với mái đình xũe rộng rộng, các góc đao cong uốn lượn tạo vẻ mềm mại duyên dáng nhẹ nhàng Bờ nóc tòa đại đình được đắp một hàng ngạch hoa chanh rỗng cách điệu Hai đầu của bờ nóc có hai dải cuộn lên trông như những chiếc sừng lớn, hai đầu bờ nóc
Trang 35là hai con kìm được tạo tác là hình đầu rồng Bờ dải chạy từ đầu kìm xuôi theo mái đến khúc nguỷu, tiếp đến là bờ guột cũng được xây bằng một hàng gạch hoa chanh Trên bờ dải và bờ guột, là những con xô trong tư thế vừa chạy vừa cuời trông rất ngộ nghĩnh và thân thiện Mái đình trải rộng và có độ dốc rất lớn, từ độ cao của bờ nóc khoảng 6,2m chảy dài xuống dạ tàu cỏch nền đỡnh còn 2,2m Mái đình trước đây được lợp bằng ngói mũi hài, nay được thay thế bằng ngói ta
* Tũa hậu cung
Thực tế cho thấy, tũa hậu cung khụng phải là một đơn nguyờn kiến trỳc cú khụng gian lớn so với tiền tế hay đại đỡnh, nhưng đõy lại là phần kiến trỳc giữ vị thế quan trọng bậc nhất vỡ đú là nơi ngự trị của cỏc vị Thần được thờ Hậu cung là phần kiến trỳc nối vào gian giữa phớa sau tũa đại đỡnh Hậu cung cú bố cục khộp kớn, tạo nờn một khụng gian linh thiờng, là nơi thõm nghiờm nhất trong toàn bộ ngụi đỡnh làng núi chung Ngăn cỏch giữa hậu cung và đại đỡnh là bức cửa vừng được chia thành từng ụ và chạm khắc đề tài “tứ linh”, “tứ quý” Đỉnh của cửa vừng là đụi rồng chầu mặt trời Bờn trong hậu cung là nơi bài trớ cỏc đồ thờ mang tớnh biểu trưng và được bài trớ theo trật tự nhất định như: ngai thờ, bài vị, cõy đốn thờ, bỏt hương và một số
đồ thờ tự khỏc
Hậu cung đỡnh Ngụ Nội cú hai cấp, với 3 gian ngang Cấp trờn là một sàn bằng gỗ, nơi đặt ngai thờ và bài vị của Thành hoàng làng và cỏc đồ thờ Cấp dưới là một sập sơn son cú bàn thờ, hộp đựng sắc phong và cỏc đồ thờ
Kết cấu bộ vỡ của hậu cung được nối liền với tũa đại đỡnh bởi hệ thống
xà dọc và xà thượng Hệ thống cột cỏi và tường hồi là phần chịu lực chớnh, gỏnh toàn bộ sức nặng của cụng trỡnh Cỏc bộ vỡ với bốn hàng chõn cột gồm
02 hàng cột cỏi và 02 hàng trụ gạch trờn hai bức tường đó tạo nờn khụng gian
khộp kớn, thõm nghiờm của cụng trỡnh Hai bộ vỡ cú kiểu thức “chồng rường
trụ trốn”, được kết cấu như sau: đỡ thượng lương là một đấu hỡnh thuyền trờn
Trang 36bề mặt khắc hình chữ Thọ 壽, đấu này đặt trên một đấu vuông thót đáy, đấu vuông thót đáy đặt trên con rường thứ nhất Con rường này vươn ra đỡ đôi hoành mái thứ nhất và được đặt trên hai đầu trụ trốn thông qua hai đấu vuông thót đáy Đầu kia của trụ trốn tỳ lực lên quá giang cũng qua các đấu vuông thót đáy Thân của trụ trốn cũng được trang trí bằng hình chữ Thọ (壽) Con rường cụt một đầu ăn mộng vào cột trốn, một đầu vươn ra đỡ đôi hoành mái thứ hai, đầu kia của rường cụt tỳ lực lên quá giang thông qua đấu hình thuyền Quá giang ăn mộng vào cột cái, đầu cột cái vươn ra đỡ đôi hoành mái thứ ba, chạy qua các đầu cột cái là hệ thống xà dọc tỳ lực lên tường bao Hậu cung có các bộ vì nách kiểu kẻ ngồi, một đầu ăn mộng vào cột cái và một đầu gác vào tường, lưng kẻ đội một ván nong đỡ các đôi hoành mái Hoa văn trang trí trên các con rường, kẻ chủ yếu là soi gờ kẻ chỉ trên nền gỗ Bộ khung kiến trúc cũng được làm bằng gỗ lim nhưng không được trang trí chạm khắc như tòa đại đình mà chủ yếu là bào trơn đóng bén Mái của hậu cung bờ dải và bờ chảy không trang trí hoa văn mà có viền hoa chanh cách điệu chạy trên bờ nóc và bờ dải của tòa hậu cung
* Nhà giải vũ
Nhà giải vũ đình Ngô Nội là nơi phục vụ, chuẩn bị cho công tác lễ hội, cũng là nơi sắp lễ trước khi vào đình Hai nhà giải vũ ở đình Ngô Nội đều có kiểu dáng giống nhau, gồm 3 gian nằm song song đối diện với nhau qua sân đình Kiến trúc hai nhà giải vũ theo kiểu đầu hồi bít đốc, chiều dài 9m, chiều rộng 5.5m Nền cách mặt sân 30cm, được lát gạch Bát Tràng khổ 20cm x 20cm Bộ mái được làm theo kiểu mái chảy, hai mái cân đối bằng nhau và cùng được lợp ngói ta Bờ nóc được đắp bằng gạch vữa, bờ dải vuông góc với bờ nóc chạy thẳng xuống, chiêu rộng của mái ước chừng
khoảng 4,5m (Ảnh 7)
Trang 372.2 Giá trị nghệ thuật
2.2.1 Trang trí kiến trúc
Các ngôi đình làng Bắc Bộ thường được xây dựng theo kiểu kiến trúc
gỗ truyền thống Các cột đình là thành phần chịu lực chính của toàn bộ kiến trúc theo phương thẳng đứng trong kết cấu bộ khung, nhận và truyền tải trọng lực từ các cấu kiện trong “bộ vì” xuống chân tảng Liên kết cột là hệ thống các vì kèo, xà… tạo thành một bộ khung chịu lực hoàn chỉnh Do vậy, cột đình thường được làm từ gỗ nguyên cây có đường kính lớn Trên các cấu kiện kiến trúc gỗ trong đình, người nghệ nhân tài hoa xưa thường sử dụng các mảng chạm khắc để trang trí, làm tăng đẹp lộng lẫy cho ngôi đình Các bức chạm trang trí trên cốn, đầu dư hay những họa tiết trên con rường… có tác dụng tô điểm, xóa đi những hạn chế về đường nét đơn giản của hệ kết cấu khung chịu lực trong kiến trúc gỗ cổ truyền Những đề tài và phong cách trang trí trên đình làng thường mang tính thời đại, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật đương thời, và phản ánh ước vọng của con người trong xã hội xưa
Nét độc đáo trong kiến trúc ở đình Ngô Nội là hệ thống trang trí trên các cấu kiện kiến trúc ở tòa đại đình Tòa tiền tế mới được xây dựng những năm gần đây nên mang phong cách mỹ thuật mô phỏng nghệ thuật trang trí thời Nguyễn
*Trang trí ở tòa tiền tế
Tòa tiền tế với lối kiến trúc đặc trưng chồng diêm hai tầng tám mái, hệ thống trang trí phần trên cổ diêm chủ đạo là các họa tiết hoa lá cách điệu, tạo nên một dải viền hoa lá kép trên lầu hai tòa tiền tế Cổ diêm là sự liên kết giữa hai mái thông qua hệ thống các cột cái, trên cổ diêm có hệ thống song trú tạo nên không gian mở cho ánh sáng lọt xuống sàn nhà Mái dưới của tòa tiền tế được làm theo cấu trúc "chồng giường giá chiêng", được chạm nổi các họa tiết hoa lá cách điệu viền mây sóng nước…
Trang 38+ Trang trí ở đầu dư tòa tiền tế:
Các đầu dư tòa tiền tế là sự mô phỏng theo phong cách nghệ thuật chạm khắc thời Lê trung hưng – Nguyễn Với ý thức gìn giữ nét văn hóa truyền thống, khi xây dựng tòa tiền tế các cụ cao niên trong làng đã yêu cầu hiệp thợ chạm khắc đầu dư tòa tiền tế mô phỏng theo đầu dư trong tòa đại đình Đầu dư được trang trí dưới dạng một hình đầu rồng, miệng rồng mở rộng để lộ răng nanh kép, miệng rồng ngậm ngọc, cằm dưới của đầu rồng được trạm khác hình hoa lá viền mây xoắn kép tinh xảo Mắt rồng to tròn, mi mắt hình răng cưa, phía trên có vòm mắt hình đốm lửa Đầu dư sử dụng phương pháp chạm lộng nên để lộ ra các chi tiết bên trong như cổ rồng được bao bọc với hệ thống vẩy dày đặc dạng vẩy cá chép, phía bên ngoài của thân rồng là các đao mác dày đặc bay ngược ra phía sau
+ Trang trí ở các bức cốn tòa tiền tế
Dưới bàn tay khéo léo của người nghệ nhân, các bức cốn của tòa tiền tế được trang trí khá tỉ mỉ, kế thừa và phát huy phong cách nghệ thuật trang trí thời Nguyễn Bốn bức cốn ở gian giữa tòa tiền tế được chạm theo cùng một phong cách, với chủ đề tứ linh (long, lân, quy, phượng) đã làm toát lên được
sự uy linh, trang ngiêm cho ngôi đình
Trên cùng của bức cốn nơi tiếp giáp với hoành và hai đầu cột là hình tượng con phượng Phượng được đặc tả theo hình thức đầu đại bàng, mắt chim ưng, mào cờ, mỏ quạ Cánh và đuôi phượng xòe rộng với các đường nét hoa văn cách diệu hình lá lật kép, cùng với các họa tiết viền mây sóng nước tạo nên những đường nét uốn lượn mềm mại trên góc của bức cốn Miệng phượng ngậm cuốn thư có dải mây thắt mềm mại tạo nên môt tư thế phượng đang bay về phía trước theo chủ đề "phượng hàm thư" Phía dưới vị trí của chim phượng, nằm ở vị trí trung tâm là hình rồng chầu mặt trời Con rồng hiện lên với dáng vẻ dữ tợn: mũi sư tử, má phình, râu rồng bay ngược về phía
Trang 39trước, sừng nai, tai thú với các hệ thống đao mác uốn lượn bay về phía sau Con lân được thể hiện dưới hình thức thân lao về phía trước, mặt quay lại hướng lên nhìn đối diện với đầu rồng Hình ảnh con lân được miêu tả một cách sống động với đầu nghê, mình sư tử, đuôi ba lá, toàn bộ từ phần cổ đến bốn chân được trang trí dạng hoa văn xoắn ốc với các vòng tròn thu nhỏ mềm mại Phía sau con lân thân rồng ẩn hiện trong mây để lộ phần đuôi hình xoáy hình đốm lửa Phía dưới của đuôi rồng là hình ảnh con rùa miệng đang phun nước, mai rùa hình bát úp được trang trí hoa văn hình lục giác với các đường
viền kép bao quanh mai rùa (Ảnh 8)
Đề tài tứ linh được thể hiện trên bức cốn tòa tiền tế đình Ngô Nội là sự kết hợp hài hòa của đề tài tứ linh với mô típ hoa văn viền mây sóng nước, với
bố cục chặt chẽ, nét chạm khắc tinh tế đã tô điểm thêm vẻ đẹp của ngôi đình
*Trang trí ở tòa đại đình
Tòa đại đình là nơi thực hiện các nghi lễ hoạt động tôn giáo tín ngưỡng vào các dịp lễ hội hay ngày lễ quan trọng của địa phương Tòa đại đình cũng
là nơi bảo tồn được nhiều mảng chạm khắc đẹp và tinh xảo thời Lê trung Hưng và Nguyên trên các cấu kiện kiến trúc
Bộ vì nóc của tòa đại đình Phù Lưu có kết cấu theo kiểu “chồng rường giá chiêng” Toàn bộ hệ thống các cột trốn, rường cụt, đấu vuông thót đáy, câu đầu, đầu dư, cốn… đều được chạm trổ với hình rồng, văn hoa dây, lá lật, hoa lá cách điệu Dưới câu đầu là các đầu dư được chạm hình rồng ngậm ngọc Trên các ván mê chạm khắc đề tài “tứ linh, tứ quý” Tất cả những mảng trang trí kiến trúc này góp phần tôn lên vẻ đẹp của tòa đại đình, đồng thời là căn cứ đáng tin cậy khi đoán định niên đại của ngôi đình
Toàn bộ câu đầu gian giữa tòa đại đình đều được chạm khắc hình rồng Hình thức chạm rồng theo kỹ thuật chạm lộng, bong kênh Rồng có mắt quỷ lồi to như bát úp, tai cánh sẻ, răng nanh nhọn, mũi sư tử, mũi hếch, trán dô,
Trang 40miệng ngậm ngọc, râu rồng và đao mác trên thân rồng bay ngược về phía sau Đây là phong cách thể hiện hình tượng rồng tiêu biểu của thế kỷ XVII-XVIII
Trang trí trên các đầu dư tòa đại đình phản ánh rõ nét nhất phong cách nghệ thuật của thế kỷ XVII - XVIII
+ Trang trí ở đầu dư thứ nhất
Đầu dư thứ nhất được trang trí dưới dạng một hình đầu rồng, nằm ở phía bên trái của giếng trời Đầu rồng được chế tác theo tư thế miệng mở rộng để lộ ra
hệ thống răng nanh kép, miệng rồng ngậm ngọc,cằm dưới của đầu rồng được chạm khác hình hoa lá viền mây xoắn kép tinh xảo Rồng có mắt tròn to, mi mắt hình răng cưa, cổ được bao bọc với hệ thống vẩy dày đặc dạng vẩy cá chép, phía bên ngoài của thân rồng là các đao mác bay ngược ra phía sau mang đậm
phong cách nghệ thuật điêu khắc thời Lê trung hưng (Ảnh 9)
+ Trang trí ở đầu dư thứ hai
Đầu dư thư hai cũng được trang trí hình đầu rồng, miệng rồng mở rộng, răng hạt bắp, lưỡi thè dài đỡ lấy ngọc báu, mắt quỷ, viền mắt hình răng cưa, sừng nai, tai thú Râu rồng uốn khúc bay thẳng về phía sau chạm vào đỉnh cột cái Phía trên đầu rồng trang trí hoa văn kết hợp như: Đao mây, hoa lá cách điệu Thân rồng chạm nổi vảy giống vảy cá chép, hai chân rồng để lộ ra 4 móng ôm sát vào bệ đỡ tiếp xúc với cột cái của đình Phía dưới của đầu rồng
là một đao kép xoắn chín vòng rồi tách ra hai nhánh cùng với các đao mác
bay ngược về phía sau và tiếp xúc với bệ đỡ chân rồng (Ảnh 10)
+ Trang trí ở đầu dư thứ ba
Đầu dư thư ba cũng được trang trí hình đầu rồng, miệng mở rộn, viền miệng nổi răng hạt bắp, lưỡi thè dài đỡ lấy ngọc báu, vành miệng đục nổi hoa văn dải mây Đầu rồng được tạo tác với các chi tiết: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, viền mắt được trang trí hình răng cưa, phía trên là các mô típ hoa văn hình lá lật Có một đao mác kéo dài nối từ cổ rồng chạm vào cột cái, nâng trên đôi