1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình ngọc chi (xã vĩnh ngọc huyện đông anh TP hà nội)

106 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cứ mỗi dịp tết đến xuân về, người người thường tới những nơi này làm lễ với mục đích cầu xin thần linh che chở, bảo vệ gia đình mình một năm mới bình an, hạnh phúc...Trước Cách mạng thán

Trang 1

TR¦¬NG §¹I HäC V¡N HO¸ Hμ NéI

KHOA B¶O TμNG

-*** -

V¦¥NG THÞ LI£N

T×M HIÓU DI TÝCH §×NH NGäC CHI

( X· VÜNH NGäC - HUYÖN §¤NG ANH- TP Hμ NéI)

KHO¸ LUËN TèT NGHIÖP

NGμNH B¶O TμNG

Ng−êi h−íng dÉn: PGS.TS NguyÔn V¨n TiÕn

Hμ NéI – 2010

Trang 2

Môc lôc

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Bố cục khóa luận 6

CHƯƠNG 1 7

DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ ĐÌNH LÀNG NGỌC CHI 7

1.1 Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại 7

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7

1.1.2 Đời sống dân cư 8

1.1.3 Truyền thống văn hoá, cách mạng 10

1.2 Đình làng Ngọc Chi trong diễn trình lịch sử 13

1.2.1 Vài nét về đình làng Việt Nam 13

1.2.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của đình Ngọc Chi 15

1.2.3 Lịch sử nhân vật được thờ trong đình Ngọc Chi 17

CHƯƠNG 2 23

GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI 23

ĐÌNH NGỌC CHI 23

2.1 Giá trị kiến trúc 23

2.1.1 Không gian cảnh quan 23

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 25

2.1.3 Kết cấu kiến trúc 26

2.2 Giá trị điêu khắc 37

2.2.1 Điêu khắc thế kỉ XVII 37

2.2.2 Điêu khắc thế kỉ XIX 39

2.3 Di vật trong di tích 40

2.3.1 Di vật gỗ 40

2.3.2 Di vật gốm 46

2.3.3 Di vật đồng 48

2.3.4 Di vật vải 50

2.3.5 Di vật giấy 51

2.3.6 Di vật đá 51

2.4 Lễ hội đình Ngọc Chi 52

2.4.1 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội 53

2.4.2 Lễ hội chính của đình Ngọc Chi 54

2.4.3 Ý nghĩa lễ hội đình làng Ngọc Chi 61

CHƯƠNG 3 63

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH 63

ĐÌNH NGỌC CHI 63

Trang 3

3.1 Thực trạng di tích đình Ngọc Chi 63

3.1.1 Hiện trạng chung cuả một số di tích và nguyên nhân tác động 63

3.1.2 Thực trạng của di tích 64

3.2 Một số biện pháp bảo tồn, trùng tu di tích đình Ngọc Chi 72

3.2.1 Một số vấn đề cần quan tâm 72

3.2.2 Các giải pháp bảo quản, bảo tồn, tôn tạo di tích đình Ngọc Chi 74 3.3 Khai thác và phát huy giá trị di tích lịch sử đình Ngọc Chi 84

KẾT LUẬN 87

1 Giá trị lịch sử 87

2 Giá trị kiến trúc của di tích 87

3 Giá trị khoa học 87

4 Giá trị thẩm mỹ 88

THƯ MỤC THAM KHẢO 89

Trang 4

xã hội

Di tích lịch sử văn hoá là biểu hiện đặc trưng và văn hoá truyền thống còn tiềm ẩn ở mỗi làng quê Việt Nam Ở đó biểu hiện những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Bên cạnh đó mỗi di tích lịch sử, kiến trúc cũng chứa đựng những tình cảm, tâm huyết của cha ông Trải qua bao biến đổi, thăng trầm của lịch sử cùng với những bước đi của dân tộc, di tích cũng mang trong mình dấu ấn và hơi thở của thời gian Do vậy mà di tích lịch sử là một trong những nơi hội tụ bản sắc văn hoá của dân tộc, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn người Việt Nam qua các thế hệ Tóm lại, di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô cùng quý giá cuả mỗi quốc gia và thế giới

Tuy nhiên, trải qua sự biến đổi, khắc nghiệt của thời gian cùng với chiến tranh liên tiếp xảy ra ở Việt Nam và với sự thiếu hiểu biết của con người là những nhân tố phá hoại di tích Do đó, ngày nay chúng ta phải có trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn phát huy những di sản văn hoá quý báu ấy Di tích lịch sử văn hoá cũng là những minh chứng để phân biệt các quốc gia với nhau, phân biệt nét văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc, đồng thời cũng là dịp tìm về cội nguồn văn hoá truyền thống của dân tộc

Đặc biệt trong thời kì hiện nay, với xu hướng hội nhập hoá quốc tế, thương mại hoá diễn ra ngày càng nhanh chóng thì việc giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc cần được quan tâm hơn lúc nào hết, chúng ta cần biết bảo vệ phát huy giá trị những di sản văn hoá mà cha ông ta để lại cho

Trang 5

thế hệ sau Do vậy việc lưu giữ quá khứ tốt đẹp là một trong những cách làm cho cuộc sống hiện tại và tương lai có ý nghĩa hơn Đó là con đường hướng tới tương lai nhưng không quên những giá trị truyền thống, đây cũng là một trong những đường lối, chính sách của đảng và nhà nước ta đề ra nhằm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Nhận thức được tầm quan trọng về vấn đề này, tôi đã mạnh dạn chọn

đề tài: “ Tìm hiểu di tích Đình Ngọc Chi” làm bài khoá luận tốt nghiệp với mong muốn góp một phần nhỏ vào công cuộc bảo vệ di tích lịch sử văn hoá của dân tộc

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là đình Ngọc Chi, thôn Ngọc Chi, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khái quát toàn cảnh di tích đình Ngọc Chi trong không gian, thời gian, lịch sử văn hoá, xã hội của vùng đất nơi di tích tồn tại

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm khoá luận này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tư liệu

Trang 6

- Phương pháp liên ngành sử học, dân tộc học, văn hoá học

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục, bài viết của tôi gồm 3 chương cụ thể sau:

Chương 1: Diễn trình lịch sử đình làng Ngọc Chi

Chương 2: Giá trị kiến trúc - Nghệ thuật và lễ hội đình Ngọc Chi Chương 3: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình Ngọc Chi

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi nhằm trả bài tốt nghiệp khoá 26 khoa Bảo Tàng, trường Đại học Văn hoá Hà Nội Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã gặp không ít những khó khăn về tư liệu viết, trình độ bản thân còn hạn chế do vậy bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô, bạn bè đóng góp ý kiến để người viết hoàn thiện luận văn của mình

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa bảo tồn - bảo tàng, các cô chú trong ban quản lý di tích đình Ngọc Chi và đặc biệt thầy Nguyễn Văn Tiến đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khoá luận tốt nghiệp để tôi có thể hoàn thành khoá luận của mình

Trang 7

CHƯƠNG 1 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ ĐÌNH LÀNG NGỌC CHI

1.1 Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Đình Ngọc Chi ngày nay nằm ở thôn Ngọc Chi, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Xã Vĩnh Ngọc là một trong 24 xã thuộc huyện Đông Anh, trước cách mạng tháng 8 -1945 xã Vĩnh Ngọc có tên là Xã Chiêm Trạch, sau cách mạng tháng 8-1945 xã Chiêm Trạch đổi tên là xã Tân Trạch, năm 1956 đổi thành xã Tân Tiến, vào năm 1961 đổi thành xã Vĩnh Ngọc Nay

xã Vĩnh Ngọc có bốn thôn gồm: Ngọc Chi, Phương Trạch, Vĩnh Thanh và Ngọc Giang

Xã Vĩnh Ngọc phía Bắc giáp với xã Tiên Dương, phía Nam giáp với Sông Hồng, phía Tây giáp với xã Hải Bối và phía đông giáp với xã Tàm Xá Trên địa bàn xã hiện còn dấu tích con sông Thiếp, sông Hoàng cả 2 con sông này gắn liền với truyền tích Loa Thành và sự tích của Nồi Hầu thời kì Âu Lạc

Để tới thăm di tích, khách tham quan có thể đi bằng nhiều con đường khác nhau Nếu lấy mốc từ trung tâm thủ đô Hà Nội - Hồ Gươm ta có thể đi theo 2 đường, một là qua cầu Chương Dương, qua thị trấn Gia Lâm, đi tiếp qua cầu Đuống theo đường quốc lộ 3 đến ngã ba đường rẽ về cầu Thăng Long

đi tiếp 1km là tới Hai là từ Hồ Gươm theo đường đi Cầu Giấy - Mai Dịch đến ngã ba đường Phạm Văn Đồng qua cầu Thăng Long rẽ về phía đi về thị trấn Đông Anh cách đầu cầu Thăng Long khoảng 4km là tới di tích

Vĩnh Ngọc có địa hình bằng phẳng, cao ráo nên cảnh ngập lụt ít xảy ra

Do kế hoạch phát triển kinh tế đất nước cùng vời nhu cầu đi lại của người dân sang thủ đô Hà Nội là lớn do vậy mà cầu Nhật Tân đang được triển khai xây dựng ở xã Vĩnh Ngọc, có vành đai 5 chạy qua rồi lên thẳng sân bay Nội Bài, tạo điều kiện giảm tải tắc nghẽn ở cầu Thăng Long mở rộng thêm nhiều hoạt

Trang 8

động kinh doanh mới giữa các vùng miền với nhau, góp phần phát triển đời sống kinh tế của nhân dân

Xã Vĩnh Ngọc có 4 thôn, 15 xóm chiều dài 4km, rộng 3km, tổng diện tích là 12km2, trong đó có khoảng 6 km2 là đất canh tác Với địa hình bằng phẳng, giáp với Sông Hồng, đất đai màu mỡ có tuyến đường giao thông thuận lợi nối liền với thủ đô bằng hệ thống cầu Nhật Tân hiện đang được khởi công xây dựng giúp cho mảnh đất này có nhịp sống sôi động về kinh tế

Với đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hoà, sông ngòi nhiều thu hút dân cư ở mọi nơi về đây sinh cơ lập nghiệp, khai hoang phục hoá làm nên những đồng ruộng xanh tươi, thôn xóm đông vui, náo nhiệt

1.1.2 Đời sống dân cư

Thôn Ngọc Chi thuộc xã Vĩnh Ngọc là một làng cổ với nghề nông nghiệp trồng lúa nước đã có từ lâu Trước và sau Cách mạng tháng 8 - 1945 người dân nơi đây chỉ có trông chờ vào nghề nông là chủ yếu Đặc biệt sau Cách mạng tháng 8-1945 đời sống nhân dân xã Vĩnh Ngọc gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân là do chiến tranh chống Nhật và chống Pháp (cả nước lúc này có khoảng 2 triệu người chết đói) mất mùa, đói kém mọi người trong cả nước phải dồn sức, lương thực cho chiến tranh nên cuộc sống của người dân cũng thiếu thốn nhiều Do nằm gần Sông Hồng trước đây thường xảy ra vỡ đê nên hay bị mất mùa đồng thời với chế độ canh tác lạc hậu, năng suất lao động không cao khiến cho cuộc sống của người dân gặp nhiều vất vả, long đong Hiện nay do việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, người dân xã Vĩnh Ngọc sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng hoa màu, lương thực, chăn nuôi, đi buôn

đồ sắt, trồng đào, quất Với hơn 90% số hộ gia đình chăn nuôi, đi buôn đồ sắt, đời sống con người ở đây được thay đổi, khấm khá hơn so với trước Do nằm ở phía ngoại thành cách Hà Nội 10km, là cơ sở cho việc buôn bán bằng chính những sản phẩm chăn nuôi từ gia súc, gia cầm, buôn bán đồ sắt tạo ra

Trang 9

không ít những việc làm cho người dân, khiến cho tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo của người dân trong xã giảm hẳn so với trước

Trong làng hiện nay vẫn còn một số hộ lưu giữ được nghề thủ công truyền thống như nghề mộc, nghề rèn, nấu rượu tuy vậy những nghề này không phải là nghề chính của người dân mà nó chỉ dừng lại ở mức độ nghề phụ, làm thêm lúc nhàn rỗi, hoặc tăng thêm thu nhập cho gia đình

Do cơ chế đô thị hoá ngày càng tăng, bộ mặt của làng quê Việt Nam ngày càng thay đổi Cũng theo xu thế đó trong 10 năm trở lại đây, một loạt hệ thống khu công nghiệp nằm ở phía Bắc Thăng Long đã và đang tiếp tục được

mở rộng xây dựng Đây là một trong những khu công nghiệp lớn nhất ở Phía Bắc, tập trung hơn 50 công ty của nước ngoài điển hình là nước Nhật, Hàn Quốc Các công ty này chủ yếu sản xuất, lắp ráp các linh kịên điện tử, ôtô, xe máy, máy ảnh tạo ra không ít việc làm cho người lao động ở Vĩnh Ngọc nói riêng và lao động ở các tỉnh trong cả nước nói chung, giải quyết tình trạng thất nghiệp, nâng cao khả năng thu nhập của người dân Nhiều gia đình trong

xã Vĩnh Ngọc đã thoát khỏi hộ nghèo, mua sắm được các trang thiết bị cần thiết trong gia đình như tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy vi tính, cải thiện đời sống con người nơi đây một cách đáng kể

Hệ thống nhà ở đã ngày càng được nâng cấp, xây mới hơn bằng những ngôi nhà tầng, khép kín bên trong có những trang bị hiện đại thay thế những ngôi nhà ngói ba gian chật chội hay bị hỏng vào những mùa mưa

Về Ngọc Chi - Vĩnh Ngọc hôm nay, tuy tốc độ đô thị hoá ngày càng diễn ra nhanh chóng nhưng vẫn còn cổng làng, giếng nước, sân đình gắn bó sâu đậm với chất nông nghiệp của con người Việt Nam Đến nay đời sống của nhân dân Ngọc Chi đã khấm khá hơn, với tỉ lệ hơn 50% số hộ gia đình khá giả, 47% số hộ có kinh tế ổn định chỉ còn 3% số hộ gia đình còn khó khăn

Do nằm gần nhà máy nước nên 80% người dân ở đây có điều kiện dùng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày, đảm bảo sức khỏe Trình độ dân chí được

Trang 10

nâng cao, với 99% học sinh tốt nghiệp trung học, phổ thông, nhiều em cũng học cao đẳng và đại học Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được quan tâm đảm bảo cơ sở vật chất và yêu cầu khám chữa bệnh của người dân được nâng cao Đó là những điều kiện, sự thuận lợi cho cuộc sống

và con người nơi đây ngày càng được đảm bảo và phát triển trong xu thế kinh

tế hiện nay

1.1.3 Truyền thống văn hoá, cách mạng

Ngọc Chi là một trong bốn thôn của xã Vĩnh Ngọc được hình thành từ rất sớm Trải qua thời gian, sự thăng trầm của lịch sử Vĩnh Ngọc vẫn còn lưu lại những dấu tích mà cha ông ta đã để lại đó là những ngôi đình, đền, miếu

là nơi thờ phụng những vị thần, vị thánh những anh hùng dân tộc có công với đất nước Cứ mỗi dịp tết đến xuân về, người người thường tới những nơi này làm lễ với mục đích cầu xin thần linh che chở, bảo vệ gia đình mình một năm mới bình an, hạnh phúc Trước Cách mạng tháng tám năm 1945 phong tục tập quán của nhân dân thôn Ngọc Chi cũng được hình thành từ trong lao động sản xuất giống như hầu hết các làng quê ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng Ở Ngọc Chi hiện nay có 13 dòng họ lớn như Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Đặng do vậy việc thờ cúng tổ tiên, gia tộc trong dòng họ được thực hiện một cách chu đáo, cẩn thận Qua mỗi lần giổ tổ cũng là cơ hội giúp cho người trong họ gắn

bó, đoàn kết với nhau, lưu giữ phong tục thờ cúng của dòng họ, trao đổi, giúp

đỡ cùng nhau sống tốt và có ích cho xã hội

Được hình thành từ rất lâu, giống như nhiều vùng quê Việt Nam khác Vĩnh Ngọc còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hoá nổi tiếng đã được xếp hạng như Đình Ngọc Chi, miếu Vĩnh Thanh đều thờ vợ chồng Nội Hầu cùng hai con đã có công với đất nước Ngoài ra còn có các di tích như ngôi Đình xóm dưới thôn Phương Trạch, ngôi chùa đầu làng Ngọc Giang trước đây

là cơ sở tiền khởi nghĩa Thông qua các di tích này, người dân được tự do sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của mình, được cầu khấn, xin thần linh phù hộ cho

Trang 11

gia đình mình mọi việc được tốt lành Bên cạnh đó chính quyền xã Vĩnh Ngọc hoàn toàn tôn trọng sự tự do tín ngưỡng này của người dân, tuy nhiên không được ở mức thái quá gây ra những hành động tiêu cực cho xã hội, để phát huy

và giữ gìn bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc Vì vậy chính quyền xã cũng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ nhân dân cử người trông nom, bảo quản, trùng tu, tôn tạo những công trình di tích ở trong xã

Người dân xã Vĩnh Ngọc có truyền thống hiếu học cao, tuy đời sống vật chất khó khăn nhưng đã có một số người học hành thành đạt đem niềm tự hào tới vùng đất này Như ở Vĩnh Thanh có cụ Nguyễn Công tự là Phúc Trọng đậu tiến sĩ và được bổ nhiệm làm tri phủ Thừa Thiên, hiện nay dấu vết

còn được ghi lại trên bức hoành phi nhà thờ họ Nguyễn là “Văn cảnh thủ gia

truyền” nghĩa là nhà nông mà đời đời thành đạt Hay ở Ngọc Chi có cụ Bùi

Cống thi đỗ đạt được bổ nhiệm làm án sát tỉnh Bắc Ninh, đình làng còn ghi bút tích của cụ ở câu đối:

“ Song mục Sơn Hà vô triệu uý Thế tâm thiên địa hữu Dương Vương”

Ở làng Phương Trạch có gia đình tuy nghèo nhưng cả hai cha con học hành thành đạt đổ thủ khoa Bố là Hoàng Công tự Phúc Lâm (nghề Lâm), con

là Hoàng Công tự Sỹ Kỳ (nghề Kỳ) mà hiện nay nhà thờ họ hoàng vẫn còn câu đối ghi:

“ Nhị đại khoa danh trưng thế đức Bách Niên thi lễ thụ gia phong”

Trang 12

100% bậc tiểu học, trung học và phổ thông, số em đỗ đạt cao đẳng, đại học cao, có 9 thạc sĩ, 3 tiến sĩ Tinh thần học tập đó vẫn tiếp tục được các thế hệ con em trong xã Vĩnh Ngọc tiếp tục phát huy

Không chỉ có truyền thống, tinh thần hiếu học cao mà nhân dân xã Vĩnh Ngọc còn có tinh thần yêu nước nồng nàn, kiên cường bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm Dưới thời Mạc, ở Phủ Bắc Ninh (nay là xã Vĩnh Ngọc) có 18 người tham gia vào việc dẹp bọn gian thần, giữ bình an cho đất nước Do công lao đó mà Mạc Kính Điển phong 18 người đó làm tước quận công Triều Mạc suy đồi, mục nát, 18 quận công đó đã đồng tâm chống lại các chính sách không hợp lí do nhà Mạc đưa ra, kết quả là đã bị nhà Mạc truy bức bắt phải đầu hàng, nhưng 18 người này thà chết chứ không chịu làm tôi tớ cho

kẻ hỗn quân vô đạo

Theo cuốn Hoan Châu Ký cuối triều Lê (hậu Lê), đất nước phân chia thành 2 miền Đàng Trong do chúa Nguyễn đứng đầu, đàng Ngoài do chúa Trịnh cầm quyền Ở Bắc sông Nhị có một đạo quân huyện Đông Ngàn, có trên chục người ở Trang Lọc (Mai Lâm), Chiêm Trạch tham gia khởi nghĩa phò Lê diệt Trịnh giúp nước an dân

Tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm còn được thể hiện ở hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống mỹ Từ đầu năm 1942 - 1944 ATK (an toàn khu) được lập ở khu vực Tây Nam của Đông Anh một trong những cơ sở cách mạng đầu tiên ở làng Ngọc Giang, xã Vĩnh Ngọc Từ đó ánh sáng cách mạng của đảng cũng được chiếu dọi đến các làng xã tạo cơ sở cách mạng vững vàng, là hạt nhân lòng cốt của phong trào quần chúng Trong cao trào đánh Pháp đuổi Nhật, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), xã Chiêm Trạch là một trong những cơ sở cách mạng cất giấu tài liệu, bảo vệ cán bộ của Đảng được an toàn từ năm 1942 đến

1945

Trang 13

Tháng 8 năm 1945, Uỷ ban nhân cách mạng lâm thời xã Chiêm Trạch (nay là Vĩnh Ngọc) do ông Lê Văn Đẩu làm chủ tịch xã đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống Nhật, cướp chính quyền giải phóng nạn đói lúc bấy giờ

Với tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm trong hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp, nhân dân xã Vĩnh Ngọc đã anh dũng, chiến đấu kiên cường bất khuất chống giặc với những tấm gương điển hình tiêu biểu như đồng chí Nguyễn Xuân Lành, Nguyễn Xuân Điều, Lê Văn Lật, Hoàng Văn Khả, Nguyễn Hữu Đồi đã chiến đấu dũng cảm vì quê hương đất nước, góp phần vào cuộc sống tự do, hoà bình cho mọi người

1.2 Đình làng Ngọc Chi trong diễn trình lịch sử

1.2.1 Vài nét về đình làng Việt Nam

Các di tích được xây dựng từ lâu trong quá khứ để tồn tại và phát triển dựa vào đôi bàn tay trí óc của người dân lao động Đặc biệt các di tích thuộc

về tín ngưỡng tôn giáo thì sự chăm chút trong xây dựng của nhân dân là điều nhận thấy đầu tiên Việc tôn thờ Thành hoàng làng ở các làng xã trong xã hội

cũ là việc tối quan trọng, mà đặc biệt đó là việc của làng xã, chính vì vậy mà

từ những ngôi đình nhỏ, ít được mọi người chú trọng từ trước trải qua thời gian đã được nhân dân tạo ra một hệ thống kiến trúc, trang trí phù hợp với chức năng, đặc trưng của các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo này

Đình là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam Đây là nơi thực hiện các chức năng về hành chính tôn giáo và văn hoá, bởi đó là nơi họp bàn các việc làng, là nơi thờ thần có công với nhân dân, đất nước cũng là nơi tổ chức kịch hát, chèo, hay hát đình Các chức năng này không hề tách dời nhau mà nó hoà quyện, gắn bó với nhau Có thể coi đình là một toà thị chính, nhà văn hoá và một nhà thờ của làng xã Việt Nam Đầu tiên, “đình” theo chữ Hán cổ là loại kiến trúc công cộng vừa có thể là nơi trú quân tạm thời đồng thời cũng vừa là nơi nghỉ tạm của vua, quan Lịch sử phát triển của đình làng gắn với sự hưng vong của các quốc gia phong kiến từ lúc hưng thịnh tới lúc

Trang 14

suy tàn Vào thời Trần, các kiến trúc xây dựng “đình trạm” tương đối rộng khắp làm nơi nghỉ chân cho những người qua đường trú nắng, trú mưa Cũng

có ý kiến cho rằng: Thời kì thái bình thịnh trị này, các Thái Thượng Hoàng và vua Trần rất quan tâm tới cuộc sống của người dân, do đó các vua, quan thường hay đi tuần du, vi hành về các địa phương và những lúc đi như vậy thường mất 2 - 3 ngày nên đình trạm là nơi để đón tiếp nhà vua, cũng là nơi nghỉ chân dần dần về sau đình làng kèm theo cả chức năng giải quyết công việc hành chính Những chữ “Thánh thọ vô cương”, “Hoàng đế vạn tuế”,

“Thánh cung vạn tuế” trên các hoành phi ở các ngôi đình có thể là thể hiện nội dung nói trên, song cũng có thể biểu hiện chế độ quân chủ tập quyền qua kiến trúc đình làng Vào các triều đại sau, khi nho học phát triển, nho giáo trở thành hệ tư tưởng lấn áp các hệ tư tưởng khác như Phật giáo thì chức năng đình từ ngôi nhà công cộng, đình làng biến đổi thành ngôi nhà đa năng, kèm theo cả việc thờ phụng các vị thành hoàng làng Các ngôi đình xuất hiện với

tư cách là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng kết hợp với điêu khắc hoàn chỉnh của làng xã Vì vậy mà kiểu kiến trúc đình làng phát triển ở nhiều làng quê việt Nam với sự đóng góp to lớn của quần chúng và nhân dân thực sự trở thành công trình đầu tư và sáng tạo tập thể, đó là của quần chúng nhân dân lao động, họ sáng tạo và xây dựng những ngôi đình thể hiện tâm tư, suy nghĩ về cuộc sống của chính họ Do vậy mà kiểu kiến trúc đình làng vô cùng phong phú và độc đáo mang tính dân gian khác hẳn với những công trình dành cho vua chúa như dinh thự, lăng tẩm Các bức điêu khắc, trang trí do những bàn tay nghệ nhân ở mỗi nơi làm ra có tính độc đáo, lạ mắt và mang đậm tính dân gian Quan trọng hơn cả nơi đó là nơi thờ những vị thần bảo trợ, che chở cho tất cả người trong dân làng, vì vậy đây được xem là nơi tối linh và mọi người phải tôn thờ

Trang 15

1.2.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của đình Ngọc Chi

Tìm hiểu sự hình thành và quá trình tồn tại của đình Ngọc Chi nói riêng

và các di tích lịch sử văn hoá nói chung là sự trở về với quá khứ dân tộc Bởi các di tích là nơi chứa đựng và phản ánh mọi hoạt động xã hội đương thời từ trong quá khứ tới hiện tại trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau như về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá qua đó cho chúng ta biết được sự phát triển hoặc suy vong của từng triều đại

Cho tới nay, chưa có tài liệu nào khẳng định và nói tới niên đại khởi dựng chính xác của đình Ngọc Chi Nhưng dựa vào những chứng cứ mà tôi khảo sát được thông qua toà đại định đã khẳng định rằng đình được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Với phong cách kiến trúc, điêu khắc mang đậm màu sắc thời Hậu Lê, trong đó có 12 đầu dư nằm trên các cột cái với kiểu dáng rồng đao mác chảy ngược và dài thon phía sau, mắt và miệng

mở to, nhìn thẳng Trên các bức cốn được trang trí ở gian bên toà đại đình với

đề tài điêu khắc đẹp như hình người cưỡi rồng, người đánh cờ, hình người dắt ngựa, đôi trai gái chèo thuyền được tạc rất công phu và tỉ mỉ mà các đề tài này lại phổ biến ở thế kỉ XVII, XVIII Trong gian hậu cung còn lưu giữ được

ba ngai thờ đó là Nội Hầu cùng hai con có công trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Triệu Đà Ngai thờ được trang trí 9 bậc, mỗi bậc là kiểu dáng riêng

có hình mặt hổ phù, hình rồng, lưỡng long chầu nguyệt những hoạ tiết trang trí này mang phong cách thế kỉ 17 (ảnh 19, 20)

Đặc biệt, trong toà đại đình ở các cột gỗ chịu lực còn có dấu vết các lỗ mộng mà hiện nay vẫn còn nhận thấy được Điều này chứng tỏ rằng trước kia toà đại đình đã từng tồn tại lớp sàn gỗ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau,

nay lóp sàn gỗ này không còn nữa Theo giáo sư Hà Văn Tấn thì “Sàn đình là

một kết cấu vốn có của những ngôi đình cổ còn bảo lưu lại ở đình làng thời Mạc” (Đình Việt Nam, nhà xuất bản Tp.HCM năm 1998) Như vậy căn cứ

Trang 16

vào dấu vết sàn đình đã nêu ở trên chúng tôi cho rằng đình Ngọc Chi phải được khởi dựng vào thời Hậu Lê thế kỉ XVII đầu thế kỷ XVIII

Sau này đình Ngọc Chi còn được trùng tu lớn ở thế kỷ 19 và thế kỷ 20 Dấu vết trùng tu ở thế kỉ 19 gồm: sửa mái toà đại đình, làm cửa võng, sửa hậu cung, sửa hai nhà giải vũ

Toà tiền tế được xây dựng về sau, lúc đầu toà nhà này không có tường bao, đến thế kỷ 20 người ta đã trùng tu, tôn tạo và xây bao quanh toàn bộ bằng hệ thống nguyên vật liệu mới như gạch, xi măng ở ba phía và có trổ cửa ra vào Mục đích lúc này là để phục vụ cho cuộc chiến đấu chống pháp,

mỹ và là nơi tạm trú của các chiến sĩ cách mạng trong chiến tranh nên việc xây dựng bao quanh toà tiền tế là hoàn toàn cần thiết Hiện nay trên nóc thượng lương của toà tiền tế còn ghi lại năm xây dựng toà nhà này là năm Khải Định thứ I (1916)

Đến giữa thế kỉ 20 người ta đã xây hai nhà giải vũ, tiếp theo xây thêm một số gian nhà làm trường học cho các cháu mẫu giáo, học sinh tiểu học mà hiện nay các ngôi nhà này vẫn là nơi trông coi trẻ mẫu giáo Bịt tường toà hậu cung làm kho, xây trụ làm cánh cổng sắt vào đình

Tuy vậy, hiện tại cánh cổng sắt này cũng đã bị hư hỏng nặng do thời gian và chiến tranh nên không thể tiếp tục sử dụng được nữa Tới năm 1993 nhân dân xã vĩnh Ngọc đã cho xây mới nghi môn đình, với nguyên vật liệu là vôi, gạch, đá, những mảng chạm, đề tài trang trí hoàn toàn là của thời nay nhằm tạo cho đình có lối ra vào chính, khang trang, đẹp mắt hơn so với nghi môn trước đó, đây cũng là năm đình đón nhận di tích lịch sử văn hoá của Bộ Văn hoá - Thông tin

Trong suốt thời gian tồn tại, đình Ngọc Chi là một trung tâm văn hoá, hành chính, tín ngưỡng là nơi hội đồng kì mục họp bàn việc làng, việc nước là nơi sinh hoạt văn hoá của người dân như múa, hát, quay phim, tổ chức các buổi giao lưu văn hoá văn nghệ giữa các vùng miền với nhau đồng thời đó

Trang 17

cũng là nơi để mọi người thờ cúng Thành hoàng, nơi diễn ra các lễ hội (với nghi thức, nghi lễ nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn của các vị thần), qua lễ hội con người tưởng nhớ, tạ ơn và “đòi hỏi” đối với các vị thánh, thần đồng thời cũng là nơi vui chơi, giải trí thu nạp năng lượng mới cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội

1.2.3 Lịch sử nhân vật được thờ trong đình Ngọc Chi

Đình Ngọc Chi là một ngôi đình bề thế, mang nhiều đặc trưng của kiến trúc thời Lê Trung Hưng Đình Ngọc Chi thờ các vị hoàng thành thời Thục

An Dương Vương, có liên quan tới di tích Cổ Loa, đến truyền thuyết Mị Châu

- Trọng Thuỷ, càng làm phong phú thêm vùng đất ngoại thành của thủ đô Hà Nội

Theo bản thần tích đình Ngọc Chi soạn vào năm 1572 do quan hàn lâm đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn thì: Nội Hầu là con ông Đào Hoằng và

bà Hoàng Thị Trung từ đất Tuyên Quang dời về trang Hương Canh thuộc phủ Tam Đối, đạo Sơn Tây Vợ chồng ông Hoằng tuy nghèo, nhưng vốn là gia đình tích thiện, giúp người Một hôm bà Hoàng Thị Trung nằm mơ thấy đỏ đầy nhà, có con rồng vàng uốn mình bò tới gần, rồi biến thành đôi chim công

Bà tỉnh dậy, biết là mình nằm mơ Bà kể lại chuyện đó với chồng, ông bà đều thầm nghĩ có điềm lành đã đến với mình Từ đó bà Hoằng có thai, đủ 100 ngày sinh được con trai, có khuôn mặt khôi ngô, tuấn tú hơn những đứa trẻ khác Ông bà đặt tên cho con mình là Hãn Công (Công là chữ đệm, nam là công, nữ là thị)

Ngày tháng trôi qua, Hãn khôn lớn, tìm thầy theo học Vốn thông minh, Hãn học biết rộng, thông binh pháp, có sức khoẻ nổi tiếng một vùng, dân gian thường gọi là “Đô” Năm Hãn công 20 tuổi thì cả cha mẹ đều mất Hãn Công thờ phụng cha mẹ được 3 năm và được dân làng khen ngợi là người con có hiếu Năm Hãn Công 25 tuổi, vào thời điểm vua Thục hạ chiếu truyền trong thần dân thiên hạ chọn người tài giỏi ra giúp nước Trang Hương Canh của

Trang 18

Hãn Công ra ứng thi Trúng tuyển vua Thục phong cho Hãn công chức Nội Hầu Thời gian ở kinh thành Cổ Loa, Nội Hầu tỏ ra là một tướng tài giỏi, giúp vua Thục được nhiều việc lớn Bởi vậy vua Thục rất tin tưởng Nội Hầu Một hôm Nội Hầu về trang Chiêm Trạch, gặp cô gái rất xinh đẹp tên là Ả Nương Nàng là con ông Nguyễn Khang và bà Vương Thị Chiêu người làng Ngọc Chi Chẳng may vợ chồng ông bà Khang - Chiêu qua đời, Ả Nương phải ở với người cậu ruột Từ khi hai người quen biết nhau, Nội Hầu yêu sắc đẹp, Ả Nương say mê danh tiếng Mối tình tương hợp, Nội Hầu và Ả Nương chọn ngày lành tháng tốt tổ chức lễ thành hôn

Thành vợ thành chồng rồi Nội Hầu lập cung riêng tại trang Chiêm Trạch Tuy ở quê vợ, nhưng Nội Hầu được dân làng yêu mến, quý trọng Bởi

ở nơi quan trường mà về làng không hề kiêu ngạo, bổng lộc được hưởng Nội Hầu đem chia hết cho người nghèo khổ, mảy may không làm việc gì hại cho người khác Việc làm phúc giúp người thì Nội Hầu không hề tiếc sức mình Một hôm Nội Hầu nằm mơ thấy, tại cung điện nguy nga có vị thần nói với ông rằng : Nhà ngươi có đầy phúc, trời đã biết đến Trời cho hai gia đồng đầu thai vào nhà ngươi làm con, sau này cũng sẽ giúp dân, giúp nước Vừa nói dứt lời, bỗng nghe thấy ba tiếng trống đồng rót vào tai, Nội Hầu tỉnh dậy biết là mình nằm mơ Nội Hầu đem chuyện đó kể lại với Ả Nương và họ đều mừng

là điềm lành Từ đó Ả Nương có thai và sinh ra được hai người con, vẻ mặt khôi ngô, tuấn tú và giống nhau như đúc Ông bà đã đặt tên cho con mình là Đống Công và Vực Công

Ngày tháng trôi qua, Đống và Vực ngày càng khôn lớn, Nội Hầu đã cho con theo học thầy Tĩnh Hiền là tiên sinh giỏi tại kinh thành Cổ Loa Vốn là người thông minh lại ham học, chẳng bao lâu Đống và Vực đã thuộc kinh thiên vạn quyển, võ lược kiêm toàn, danh tiếng lừng lẫy Đống và Vực là người tài giỏi, được vua cha Thục trọng dụng và phong cho Đống là Vinh Lộc đại phu, phong cho Vực là Ly vực đại phu Cả ba cha con đồng triều Nhà vua

Trang 19

yêu mến đã phong thực lập ấp cho Tam công ở trang Chiêm Trạch (gồm Vĩnh Thanh và Ngọc Chi)

Trước hoạ xâm lăng của Triệu Đà, Tam công đều tình nguyện xin đi đánh giặc Nội Hầu xin vua Thục cho phép được tuyển một số trai tráng khoẻ mạnh ở trang Chiêm Trạch làm thân binh (tức gia thần) gồm có:

Theo sử chép, vào năm 209 trước công nguyên Nhâm Ngạc Triều Đà đem quân bao vây thành Cổ Loa, An Dương Vương dựa vào quân sĩ có mũi tên đồng, có thành cao, hào sâu đã đánh đuổi được Triệu Đà xâm lược

Lại vào năm 184 trước công nguyên, Triệu Đà lại đem quân thuỷ bộ sang xâm lược nước Âu Lạc, không đợi giặc đến kinh thành Cổ Loa, An Dương Vương đã phái tướng sĩ đánh địch vẫn còn đi trên đường Một trong

Trang 20

tướng giỏi của An Dương Vương là Nội Hầu, hàng vạn tướng sĩ của Âu Lạc dưới sự chỉ huy của Tam Công tiến về phía Tiên Du nơi đóng quân của địch Quân sĩ của Âu Lạc được trang bị cung, nỏ tốt, mũi tên đồng sắc lại được tẩm thuốc độc, trúng tên giặc nào, tên ấy chết ngay khoảnh khắc Chỉ vài lần giao chiến, quân Triệu Đà thua to nên đã phải buộc rút quân cố thủ Triệu Đà nhận biết ra điều là không thể dùng thuần tuý quân sự được do vậy đã nản việc chiếm Loa Thành Triệu Đà sai sứ đến kinh thành Cổ Loa xin cầu hoà An Dương vương và được chấp nhận

Từ sự kiện xin cầu hoà, Triệu Đà đã cho con trai mình là Trọng Thuỷ tới Cổ Loa làm con tin Bề ngoài y nói là thông hiểu, bề trong y tìm kế để thực hiện được ý đồ của vua cha Trọng Thuỷ lại xin cầu hôn với con gái là

An Dương Vương là Mị Châu và xin ở rể nước Âu Lạc, những sự kiện đó nhiều trung thần khẳng khái can ngăn việc An Dương Vương không nên gả

Mị Châu cho Trọng Thuỷ

Tướng Nội Hầu, Đống, Vực cũng tâu với An Dương Vương: “Lòng người khó dò biết, không nên nhẹ dạ cả tin Triệu Đà mượn cớ cầu hôn cốt dò xét nội tình nước ta, học cho được bí quyết chế tạo cung nỏ để chờ cơ hội cướp nước ta thôi”

An Dương Vương không nghe lời can ngăn của các trung thần Cuối cùng tướng Nội Hầu vô cùng buồn bã, cáo bệnh không tới các buổi chầu Hai con ông là Đống, Vực cũng treo án từ quan lui về ở trang Chiêm Trạch nơi quê vợ Nội Hầu, quê mẹ của Đống công và Vực công

Từ đó triều đình Âu Lạc sa sút, tướng sĩ chán nản, Vua thì bảo thủ mất cảnh giác, các trung thần bị nhà vua đối xử bạc bẽo, không ai can ngăn vua làm điều sai trái Nhân cơ hội đó, Trọng Thuỷ ở rể 3 năm trong kinh thành Cổ Loa, lợi dụng lòng tin của vua cha và Mị Châu y đã biết được bí quyết chế tạo tên, nỏ, biết được nội tình nước Âu Lạc Vào một hôm nào đó, năm 180 trước công nguyên Trọng Thuỷ đã lừa Mị Châu về thăm Triệu Đà Vào năm sau

Trang 21

(179 trước công nguyên) Triệu Đà lại cử con là Trọng Thuỷ đem quân sang đánh chiếm thành Cổ Loa Do chủ quan, khinh địch vì mình có nỏ thần nên

An Dương Vương đã bị quân Triệu Đà đánh bại, thất thế phải mang theo Mị Châu bỏ kinh đô mà chạy Cuối cùng cả hai cha con An Dương Vương đều tự vẫn chết

Chiếm được Loa Thành, Triệu Đà lên làm vua để ổn định lòng dân nước Âu Lạc, Triệu Đà cho sứ tới Chiêm Trạch mời Tam công ra làm quan với nhà Triệu Nội Hầu chỉ vào mặt sứ mắng rằng “ Triệu Đà là sát phu, bất nghĩa, vong ơn bội phần Ta hận là chưa chém được đầu Triệu Đà để báo đền nghĩa lớn, mặt mũi nào mà ta lại làm bề tôi cho quân xâm lược”

Sứ về tâu lại với Triệu Đà, y đã đưa quân tới bao vây trang Chiêm Trạch để bắt Tam công Tam công đã cùng với các gia thần ở trang Chiêm Trạch chống lại quân xâm lược Triệu Đà Cuối cùng ba cha con Tam công đều hy sinh anh dũng tại quê Chiêm Trạch Nhớ công ơn của Tam công vì nghĩa lớn đối với đất nước và thực ấp của Tam công để lại cho dân làng Bởi vậy dân làng Ngọc Chi đã lập đền thờ và suy tôn Tam công làm Thành hoàng, thờ ở các đình làng Ngọc Chi Nhiều triều đại phong kiến sau đã phong sắc và truy tặng mỹ tự cho Tam công

Triều vua Lê Trang Tông gia phong mỹ tự cho Tam công:

a, Nội Hầu là: Linh Thông Phổ Hoá Minh Mẫn Đại Vương

b, Đống là: Phổ Trị An Dân Đại Vương

c, Vực là: Bảo Đại Đinh Công Đại Vương

Cùng với nhiều sắc phong thần tự của triều Lê, Nguyễn Các triều vua đều cho phép đình Ngọc Chi được thờ phụng thánh Dân trong vùng có tục cấm dùng các chữ huý: Hầu, Ả, Đống, Vực, cấm dùng sắc phục đỏ và vàng

Lễ hội hàng năm được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng giêng là ngày hoá của Nội Hầu và Ả Nương, ngày mồng 6 tháng riêng là ngày hoá của Đống và Vực Hàng năm dân làng và chính quyền xã Vĩnh Ngọc đều tổ chức lễ hội để

Trang 22

tưởng nhớ tới công lao tới ba đức Tam công, đây cũng dịp để nhân dân bày tỏ tấm lòng của mình tới các vị thành hoàng làng

Trang 23

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI

ĐÌNH NGỌC CHI

2.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian cảnh quan

Từ ngày xưa cho tới bây giờ, người dân Việt Nam luôn dành những tình cảm lớn lao, thân thương cho ngôi đình của mình Tình cảm đó được họ thể hiện trong việc bỏ tiền của ra xây dựng những ngôi đình làng mà không hề câu lệ, đắn đo Do vậy những ngôi đình làng cũng luôn hiện diện ở hầu khắp các tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Hồng

Việc xây dựng đình luôn được người dân quan tâm chú ý và đặc biệt việc chọn thế đất xây đình cũng cực kì quan trọng Ngày trước nhiều người quan niệm rằng đình là trung tâm của làng do vậy đình luôn phải được xây dựng ở giữa làng Tuy nhiên, sự thật không phải là như vậy mà việc xây dựng đình phụ thuộc vào thế đất ra sao, theo hướng nào là tốt và quan niệm phong thuỷ được du nhập từ tín ngưỡng Trung Quốc mới quyết định việc chọn hướng xây đình, chẳng thế mà dân gian có câu:

“ Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng toét mắt riêng mình em đâu”

Do vậy việc chọn thế đất, hướng đình phải rất cẩn thận, có vị trí đẹp trong làng Đình cũng không nhất thiết phải xây dựng trên gò đất cao nhưng hai bên đình thường phải có thế đất cao để làm “Tay ngai”, mặt trước đình phải có nước, mặt hồ, sông hoặc ao Những yếu tố này giúp cho đình có thế đất hội tụ những khí thiêng, tụ linh, tụ phúc và hội tụ tất cả những điều tốt đẹp, may mắn

Đình Ngọc Chi được toạ lạc trên khu đất cao ráo, bằng phẳng rộng khoảng 1000m2, có tường kín bao bọc Phía trước cửa đình là một hồ rộng

Trang 24

cạnh mới được xây dựng năm 2005 gồm 3 tầng có cơ sở vật chất tốt, có khoảng sân rộng 200m2 đặt nhiều trò chơi giúp cho các bé được vui chơi, đùa nghịch cùng nhau Hồ trước đình có hình chữ nhật với diện tích 800m2 , bốn mặt hồ đều xây tường gạch bao quanh ngăn cách với con đường làng, nhà mẫu giáo và nhà kho của xã Hồ nước trước đình được coi là yếu tố tụ linh tụ phúc, có từ ngày xưa và hiện nay cũng đang được uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc quản lý và khai thác nuôi cá, nhằm tăng thêm doanh thu về mặt chăn nuôi của xã mình Bên phải và bên trái đình là khu dân cư đông đúc đang tập trung sinh sống, với những ngôi nhà tầng bề thế và khang trang Bên trái đình giáp với đường làng một hướng chạy thẳng ra đê nơi có dân cư sinh sống giáp ngay cạnh con sông Hồng, một hướng chạy vào trung tâm của huyện Đông Anh, con đường làng giáp với đình ấy cũng là nơi người dân họp chợ cóc buôn bán nhiều mặt hàng vừa phục vụ nhu cầu sinh hoạt người dân, đồng thời chợ cóc này cũng nằm gần nhà trẻ mẫu giáo, trường cấp hai xã Vĩnh Ngọc nên nhu cầu mua là lớn vì vậy chợ cũng được họp từ sáng cho tới chiều tối, tạo ra sự sầm uất, đông vui trong cuộc sống của người dân Sau đình là một sân bóng rộng khoảng 300m2 hình chữ nhật, sân bóng này đa chức năng có thể đá bóng, chơi cầu lông, bóng chuyền và cũng là nơi người dân hoạt động thể thao sau mỗi ngày làm việc vất vả, căng thẳng muốn được thư giãn nghỉ ngơi Mặt sân bóng bằng với mặt đường làng và không lát gạch mà bằng đất phẳng giúp cho việc vận động, đánh bóng thoải mái hơn Đình Ngọc Chi được dựng theo hướng Tây Nam, giống như người xưa có câu: “Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng Nam”, đó là hướng của thần thánh của ước vọng, sinh sôi và phát triển

Cũng giống như các di tích khác, đình Ngọc Chi có nhiều cây cổ thụ tạo ra nét riêng có của ngôi đình mình Hiện nay ở đình có 2 cây cổ thụ lớn được trồng sau nghi môn, cây xoài nằm bên trái góc đình và cây đa cao lớn,

có niên đại khoảng 30 năm nằm giáp bên phải nhà trẻ mẫu giáo, còn phía

Trang 25

trước nghi môn là cây đa nhiều tuổi ngả toàn thân về phía hồ tạo ra cảm giác rất nên thơ, trữ tình Trước hai nhà tả, hữu vu và tiền tế là một loạt hệ thống cây cảnh được nhân dân và du khách thập phương biếu tặng đình như cây tùng, trúc, hoa lan, xi, vạn tuế mỗi cây là mỗi dáng vẻ, thế đứng khác nhau

tô điểm sự sinh động, đẹp đẽ bằng những bông hoa, cành lá cho ngôi đình làng vào các mùa khác nhau trong năm

Dọc con đường làng được đổ bê tông chắc chắn, ta dễ dàng nhận thấy đình làng Ngọc Chi nằm ở vị trí trung tâm, gần với uỷ ban nhân dân xã, trường học mẫu giáo, cấp 1, cấp 2, trạm y tế xã thuận tiện cho du khách có điều kiện tìm hiểu, thăm quan ngôi đình

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể

Đình Ngọc Chi đã được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá thể thao và du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá năm 1993 Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, với nhiều nguyên nhân khác nhau đình Ngọc Chi đã bị thu hẹp lại, nay chỉ còn diện tích 1000m2 Nhìn chung giới hạn di tích đình Ngọc Chi xấp xỉ như những ngôi đình trung bình của người Việt ở Bắc Bộ Tuy vậy về cơ bản đình Ngọc Chi vẫn lưu giữ được nhiều hạng mục, các đơn nguyên kiến trúc trong tổng thể công trình di tích thờ thần, thánh nói chung

Giống như bất kì một kiến trúc tôn giáo truyền thống nào, đình Ngọc Chi cũng được xây dựng bằng những chất liệu bền vững như gạch, gỗ, ngói đình là một công trình tổng thể bao gồm nhiều các hạng mục công trình khác nhau Mà bố cục tổng thể là vị trí của các đơn nguyên kiến trúc trên cùng một mặt bằng đó Tuy nhiên không phải tất cả các hạng mục công trình trong tổng thể di tích đều có niên đại giống nhau, có những hạng mục được xây dựng trước, có những hạng mục xây dựng sau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của lịch sử, để xác định nó thuộc niên đại nào Cũng như các hạng mục sau không phải có lối kiến trúc, điêu khắc phức tạp, cầu kì hơn các hạng mục

Trang 26

trước Các hạng mục công trình kiến trúc cơ bản của đình Ngọc Chi được bố trí theo một trục thẳng đi từ ngoài vào trong Đầu tiên là nghi môn đình được xây dựng trước khu hồ rộng lớn ngăn cách bởi con đường làng to, đẹp đã được đổ bê tông Qua nghi môn là một khoảng sân rộng lớn, bằng phẳng, với nhiều hệ thống cây cảnh được đặt dọc hai bên sân Nằm ở hai bên sân là hai nhà mẫu giáo nơi thường xuyên nuôi dạy, chăm sóc các bé từ 3 đến 4 tuổi Nối tiếp hai nhà mẫu giáo là hai nhà giải vũ với chiều dài mỗi nhà là 12m, chiều rộng 5.5m Hai nhà giải vũ không có hệ thống cửa kín mà được trổ ngay

ra mặt sân đây là nơi mọi người chuẩn bị cho công tác lễ hội, ngồi dự xem múa, hát khi lễ hội được tổ chức bên ngoài sân

Tiếp tới là công trình chính của đình Ngọc Chi bao gồm toà tiền tế hình chữ nhất nằm ngang, hai bên tiền tế là giếng nước và nhà bếp phục vụ cho công việc nấu cỗ khi lễ hội diễn ra Tiếp theo là toà đại đình, ống muống và hậu cung theo hình chữ công Toà tiền tế và đại đình được nối với nhau bởi hệ thống máng nước, khiến cho nhiều người lầm tưởng đó là một ngôi nhà chung chứ không phải là hai ngôi nhà tách biệt nhau Phía sau và hai bên hậu cung là khu vườn với nhiều cây ăn quả như nhãn, xoài tạo ra không gian riêng, tránh cái nắng oi ức vào mùa hè

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

Ở nước ta kiến trúc cổ truyền rất đa dạng, phong phú và luôn có sự hài hoà cả về hình dáng và nội dung Kết cấu kiến trúc và trang trí kiến trúc có mối quan hệ khăng khít không tách dời nhau Thông qua trang trí trên kiến trúc làm cho phần kiến trúc mềm mại, đẹp hơn và hấp dẫn hơn chính là cũng

đã thể hiện được sự sáng tạo, khéo léo của nghệ nhân và những khát vọng bình dị của con người

2.1.3.1 Nghi môn - sân đình

Cổng chính của đình Ngọc Chi quay theo hướng tây nam nằm ngay bên trục đường làng và được xây dựng trên nền dấu vết cổng cũ bằng nguyên vật

Trang 27

liệu hiện đại, được đắp vẽ trang trí khá hiện đại và đẹp mắt Nghi môn có chiều dài 12m được xây dựng với ba cửa, 1 cửa chính và 2 cửa phụ Cửa chính giữa được xây giống như một kiểu ngôi nhà có mái che hai tầng với chiều cao 8m, chiều dài 3.8m

Ở tầng một của cửa chính, phía trước và phía sau có hai cửa vòm cuốn mục đích là để đi lại vào các ngày chính lễ hội Phía trước cửa chính có cánh cửa gỗ, còn phía sau và hai bên đều là cửa vòm cuốn không có cửa gỗ Cánh cửa phía trước được làm bằng gỗ kiểu cửa thượng song hạ bản với chiều cao

là 2.8m, chiều rộng 2.1m phía trên của cửa là những chấn song bằng gỗ để hở được bào trơn và chạm đẹp, phía dưới cửa là bản gỗ được trang trí với hình năm con rơi quay mặt vào chữ thọ, năm con rơi đó còn mang ý nghĩa là ngũ phúc gồm có phúc, lộc, thọ, khang, ninh Điều đó chứng tỏ sự mong ước của dân làng về cuộc sống tốt lành, hạnh phúc được thể hiện qua cánh cửa đình làng Chính vì vậy cửa đình chỉ mở vào dịp lễ hội, đầu năm hoặc làng có việc lớn mới mở còn không thì thường là đóng kín

Ở tầng hai của cửa chính giữa cao 4m, chiều rộng 2m, được thiết kế theo kiểu mái chồng diêm hai tầng, khiến cho ta có cảm giác cửa chính của đình có ba tầng, đó cũng là sự độc đáo nghi môn đình Phía trước dưới chân của tầng hai được đắp nổi bức phù điêu cao 0.8m với đề tài trang trí long, lân, quy, phượng xen kẽ là những đám mây mà ta hay bắt gặp đề tài này ở hầu hết các di tích Phía trên tầng hai bốn mặt có trang trí cửa sổ tròn rộng được thiết

kế theo hình chữ thọ làm bằng xi măng, vôi, gạch Phía trên hình chữ thọ là hình mặt hổ phù nuốt mặt trăng được trang trí kẻ vẽ bởi nhiều màu sắc khác nhau Phía trên nóc tầng hai được đắp vẽ bởi hình rồng chầu mặt nguyệt có gắn các mảnh sành, sứ trên đó

Cũng giống như ở hầu khắp các di tích thì cột trụ nghi môn đều được chia ra làm ba phần rõ rệt là đế, thân và đỉnh trụ, trong đình Ngọc Chi cũng vậy các cột trụ cũng được chia ra làm ba phần, phần đế trụ xây dựng mô

Trang 28

phỏng như một bình hoa tức thân đế thì phình ra, đế thì nhỏ lại, phần thân trụ

có hình chữ nhật và có độ dài nhất, trên thân trụ đều ghi các dòng chữ hán và đỉnh trụ ở mỗi vị trí lại có sự trang trí khác nhau Cụ thể, giới hạn bốn góc đao của cửa chính là 4 trụ cột hình vuông với chiều rộng 0.4m, chiều dài 5m, mặt trước và mặt sau cột trụ này đều có đề dòng chữ hán Trên đỉnh cột là những bốn con lân quay theo các hướng khác nhau, hai con lân phía trước nhìn xuống phía dưới theo một đường thẳng ở giữa cửa chính, như đang bảo vệ cho ngôi đình làng Hai con lân phía sau quay mặt nhìn vào nhau được đắp vẽ bởi các mảnh sành, sứ trên thân mà hai con lân phía trước thì hoàn toàn không

có, điều đó cũng tạo ra sự khác biệt về mức quan trọng, vị trí của từng con lân trên nghi môn đình

Phía hai bên cửa chính là hai cửa phụ kiểu vòm cuốn chiều dài 2.4m, chiều rộng 1.15m Phía trên cửa phụ cũng tạo dáng mái chồng diêm, ở giữa cổ diêm hai bên đều ghi dòng chữ hán tả môn và hữu môn Phía trên nóc của cửa phụ không có trang trí gì chỉ có những góc đao nhỏ, hơi cong ở bốn phía Hai bên cửa phụ cũng có hệ thống cửa thượng song hạ bản giống nhau, nhưng có chiều rộng, chiều cao và trang trí đơn giản hơn cửa chính rất nhiều Ngoài cùng nghi môn là cột trụ cao 6m, rộng 0.47m Phía trên đỉnh cột trụ chia ra thành ba phần, phần dưới cùng bốn mặt có trang trí hình tứ linh đắp nổi với nhiều màu sắc, phần thứ hai cũng ở bốn mặt là hình mặt hổ phù đang nuốt mặt trăng, đỉnh trụ là 4 con phượng chụm lại nhau tạo thành 4 múi, chĩa lên trên cao hơn đầu chim phượng Hình thức này gọi là kiểu lá lật, chái rành, đuôi phượng cũng mang hình thức giống như một thứ lá có sự cách điệu tinh

tế, độc đáo

Nối giữa hệ thống cửa là những khoảng tường có kích thước nhỏ chiều rộng 1m, chiều cao 3m Phía mặt ngoài khoảng nhỏ này lại được đắp nổi hình phù điêu là hai ông tướng mỗi ông đều cầm đao đứng ở hai bên cửa chính, nhằm mục đích như bảo vệ ngôi đình làng Với hình dáng to, cao, dữ tợn cho

Trang 29

ta cảm giác vừa sợ, vừa thấy sự nghiêm trang của ngôi đình Ở khoảng nhỏ phía cửa phụ được đắp nổi hình phù điêu với các đề tài trang trí là tùng, mai điểm tô vào đó là những con chim, con hươu đang dạo chơi trong khung cảnh đẹp Toàn bộ nghi môn được trang trí, đắp nổi với các màu sắc khác nhau như vàng, xanh, đỏ Nghi môn đình là công trình trang trí mỹ thuật được dân làng xây dựng vào năm 1993, với nguyên vật liệu hiện đại nên các đề tài trang trí không có nhiều và lạ mắt chủ yếu vẫn là các đề tài trang trí hoa lá, lân, phượng nhưng đã có sự kết hợp khéo léo giữa phong cách truyền thống với các yếu tố hiện đại phần nào đó làm giảm bớt sự thô cứng của vôi vữa mà vẫn tạo dáng mềm mại, nhẹ nhàng cho nghi môn đình

Sân đình: Qua nghi môn là sân đình có hình chữ nhật rộng khoảng

400m2 Sân đình lát bằng gạch bát tràng, được giới hạn bởi các nhà tả, hữu vu

và tiền tế Trong sân đình có trang trí các chậu hoa, cây cảnh, cây cổ thụ được đặt ở hai bên nhà giải vũ và trước tiền tế tạo cho đình có không gian cảnh quan riêng, có cây cối toả bóng mát vào mùa hè oi bức Mặt khác sân đình cũng là nơi dân làng tổ chức lễ hội, chơi cờ người, múa hát khi có lễ hội diễn

ra đồng thời cũng là nơi người dân tụ họp chơi thể thao, cầu lông sau những giờ làm việc mệt nhọc hàng ngày, có không gian vui chơi giành cho các trẻ mẫu giáo, do vậy đình Ngọc Chi bao gồm nhiều chức năng phục vụ cho cuộc sống, vui chơi của người dân nơi đây

2.1.2.2 Nhà giải vũ

Cũng giống như các ngôi đình, chùa, miếu, đình Ngọc Chi cũng có đơn nguyên kiến trúc là hai nhà giải vũ nơi phục vụ, chuẩn bị cho công tác lễ hội diễn ra Hai nhà giải vũ ở đình Ngọc Chi đều có kiểu dáng giống nhau nằm ngang đối diện với nhau được ngăn cách bởi sân đình Kiến trúc hai nhà giải

vũ là đầu hồi bít đốc có chiều dài 12m, chiều rộng 5.5m Nền cách mặt sân 30cm, được lát gạch khổ 25x25cm Bộ mái làm theo kiểu mái chảy, hai mái cân đối bằng nhau và cùng được lợp ngói ta Bờ nóc được đắp bằng gạch vữa,

Trang 30

hai đầu có trang trí hai con rồng nhỏ Bờ dải vuông góc với bờ nóc chạy thẳng

và giật cấp tay ngai Mỗi bên giải vũ được dựng thành bảy gian được xây tường gạch bao quanh, mặt trước có trổ cửa, gian trong cùng nằm giáp với tiền tế được xây tường ở mặt trước, bên trong gian đó ở hai nhà giải vũ có đề chữ thờ điện mẫu và tam bảo nhưng thực sự chỉ thờ cỗ long ngai cùng một số

di vật khác cần thiết chứng tỏ sự thờ cúng đa tín ngưỡng của người dân Việt

Hệ thống cột là trụ gạch có chiều dài là 2.3m, chiều rộng 0.3m Bộ vì kèo làm theo kiểu kèo suốt gồm các chi tiết thân gỗ thẳng ăn mộng với nhau, được liên kết với nhau bằng các khớp mộng Vì kèo ở hai nhà giải vũ làm đơn giản, bào trơn, mộng bén không có hoa văn trang trí trên đó Phía trên chủ yếu dùng để chịu lực đỡ mái, mái được lợp theo kiểu ngói ta, xây tường đơn giản

2.1.2.3 Tiền tế

Qua cổng nghi môn ta bước vào một khoảng sân rộng 400m2 trước sân

là khối kiến trúc chính của đình Ngọc Chi, đầu tiên là toà tiền tế Trên thượng lương của toà tiền tế có ghi niên đại khởi dựng vào năm 1916 Khải Định nguyên niên, vì vậy kiến trúc và điêu khắc của toà tiền tế cũng chịu ảnh hưởng và mang đậm phong cách thời Nguyễn muộn đầu thể kỉ XX

Vốn dĩ trước đây đình Ngọc Chi không có hai bức tường hồi bịt kín ở hai bên, bốn phía đều không có cửa, kiểu dáng của toà tiền tế là ba gian hai chái nhưng sau những lần trùng tu, tôn tạo lớn vào thế kỉ XX, toà tiền tế đã xuất hiện thêm hai bức tường hồi và cũng có thêm hai gian dĩ ngoài cùng, do vậy toà tiền tế có kết cấu kiến trúc là 5 gian 2 chái làm theo kiểu chồng cổ diêm hai tầng tám mái Toà tiền tế có chiều dài 16.5m, chiều rộng 7m, chiều cao 5.8m, cao hơn sân đình 0.3m có hai bậc gạch, mỗi bậc cao 0.15m được lát bằng gạch bát tràng

Mặt trước và mặt sau tiền tế không có hệ thống cửa che kín giúp cho toà tiền tế luôn thoáng, lấy ánh sáng tốt tuy rằng hai bên hồi có xây tường gạch ngăn cách với bên ngoài

Trang 31

Tiền tế được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái Hai đầu dĩ xây tường gạch bát tràng để lộ mạch Tường đốc xây bằng mái dưới chính là làm

bệ tì đỡ đầu bẩy hồi và các góc đao Mái dưới dài hơn mái trên, bốn góc đao đắp hình rồng và long mã lưỡng thiên Bờ góc đắp tròn kẻ chỉ, phía trên đắp hình con kìm

Hai mái trên và dưới giống nhau được lợp bằng hai lớp là ngói lót và ngói lợp Ngói lót có hình chữ nhật tác dụng tạo mặt phẳng cho mái trước khi lót lớp ngói lợp lên trên, tạo độ dày cho mái và tránh thời tiết nắng, mưa thất thường Ngói lợp là ngói ta không có trang trí, hình dáng giống chiếc xẻng Mái trên nhỏ hơn bằng ba gian so với mái dưới Bốn góc đao cong vút làm bằng xi măng, gạch đầu nhọn tạo dáng như đầu con công Bốn góc đắp hình con kìm đang bò Bờ nóc được xây gạch, trát vữa tạo thành đường hơi cong xuống Ở hai đầu bờ mái đắp hình con công Nhìn tổng thể mái của tiền tế tưởng tượng như một con thuyền thoi có mũi lái cong đang bập bềnh trên sông nước Ở phần cổ diêm ngăn cách giữa mái trên và dưới dùng chắn song bằng gỗ và ván bịt kín xung quanh mục đích ngăn mưa và lấy ánh sáng xiên vào kiến trúc giúp cho toà tiền tế lấy thêm ánh sáng Mặt trước cổ diêm có đắp nổi hình lưỡng long trầu nhật bằng xi măng và ghép những mảnh gốm hoa lam Đôi rồng đang uốn lượn trong những cụm mây như hình sóng nước, uốn khúc giống nhau Hình mặt trời ở giữa đang toả những tia lửa ra các phía Lưỡng long trầu nhật thể hiện tín ngưỡng cầu mưa Hình thức nghệ thuật trang trí rồng, kìm và đầu đao thường dùng những mảnh sứ có sẵn hoa văn gắn vào thay thế cho các hoa văn trang trí kiến trúc

Phía trong kiến trúc tòa tiền tế có năm gian hai chái, chiều dài các gian

là không đều nhau, ở gian giữa có chiều dài 3.9m, được lát gạch đá hoa cao hơn 12cm so với các gian khác trong tiền tế, mục đích nhằm cử hành các nghi thức nghi lễ, và hội họp chuẩn bị cho lễ hội Các gian bên dài 2.9m, hai chái ngoài cùng có chiều dài nhỏ nhất là 0.75m, hiên của tiền tế rộng 80cm Nền

Trang 32

của tiền tế năm gian thì ba gian trống, không đặt gì bên trong còn hai gian ngoài cũng có đặt ngựa gỗ, trống và bộ bàn ghế cũ dùng tiếp khách, hai chái

là nơi để bia công đức của dân làng và khách thập phương được áp sát với đầu tường hồi

Tiền tế có hai hàng cột và bốn hàng chân, cột cái và cột con Các cột cái trong tiền tế có độ cao 5.26m, đường kính 0.38m, cột con cao 2.96m, đường kính 0.33m, khoảng cách giữa cột cái với cột cái là 2.8m, giữa cột cái với cột con là 1.55m Cột cái được liên kết với cột con nhờ một xà nách ăn mộng vào đầu cột con và thân của cột cái, ngoài cùng là bẩy hiên trên có trang trí các hoa văn thế kỉ XX Tất cả các cột trong tiền tế đều được đặt trên hệ thống chân tảng đá xanh cao, có gia cố hình trụ tròn, đầu khít với chân cột, dưới trụ đá hình vuông lát bằng mặt nền Riêng bốn cột cái gian giữa được đặt trên các trụ đá tròn cao 36cm so với mặt nền Các thức gỗ tròn làm theo kiểu thượng thu hạ thách (càng lên cao tới đỉnh thì cột càng được thu hẹp lại) Kiến trúc toà tiền tế có sáu bộ vì kèo chia toà tiền tế thành năm gian không đều nhau có tác dụng chịu lực đỡ mái nhà, trong đó có bốn bộ vì ở giữa

có kiểu dáng kích thước giống nhau Bộ vì kiểu thượng giá chiêng được kết cấu như sau:

Bộ vì mái trên có kết cấu kiểu giá chiêng, hai hàng chân cột được liên kết với nhau bởi một giá chiêng ở đỉnh cột Trên cùng bộ vì nóc là thượng lương có đề dòng chữ hán ghi niên đại khởi dựng toà tiền tế là cơ sở để khẳng định toà tiền tế được xây dựng vào một thời điểm cụ thể Thượng lương lại được đỡ bởi dép thượng lương và một đấu kê, phía dưới là câu đầu đỡ toàn bộ các cấu kiện trên Câu đầu lại được đỡ bởi hai cột giá chiêng nằm dọc, song song và cách nhau một khoảng, được đặt hai bên câu đầu Hai cột giá chiêng được đỡ bởi hai chân đấu kê, có dáng giống đấu hình thuyền Phía ngoài của giá chiêng là những con rường cụt được chạm khắc đẹp, giữa hai con rường được đặt trên một đấu kê ngăn cách, tác dụng chính của những con rường này

Trang 33

nhằm mục đích đỡ hoành mái Toàn bộ các chi tiết gỗ trên đều được đỡ bởi quá giang, quá giang là chi tiết gỗ nằm ngang nối giữa hai đầu cột cái để đỡ vì nóc, vì nóc là một khoảng được giới hạn bởi câu đầu, mái trước và mái sau

Vì nóc tiền tế không có các đầu dư để giúp tăng lực cho quá giang

Các bộ vì kèo cũng được các thanh xà ngang liên kết với nhau từ gian đầu cho tời gian cuối, khiến cho các bộ vì cũng tạo thành một hệ thống gỗ nhằm chịu lực cho mái Phía trên các bộ vì là những con hoành gỗ dài hình chữ nhật và các thanh rui, mè đỡ ngói

2.1.2.4 Đại đình

Sau nhà tiền tế là toà đại đình, đây là hai toà nhà hoàn toàn tách biệt và được nối với nhau bằng hệ thống máng nước khoảng cách là 20cm, mục đích nhằm tránh nước mưa có thể chảy vào gian tiền tế làm hỏng kiến trúc bên trong

Kiến trúc mái đại đình có bốn mái hai mái trước mái sau và hai mái phụ, bốn góc đao cong vút lên trên vừa to, thấp, nặng tì lên trụ gạch bát tràng xây để hở mạch Bờ nóc mái chỉ được chát vôi vữa mà không trang trí, hai bên đầu hồi, ở nguỷnh giữa mái trước và sau đắp hai con nghê chầu, đầu đao quay về bốn hướng cong lên trên đầu đao có trang trí đắp nổi hình lá to cong không được đắp hình con vật nào như đầu đao toà tiền tế nói chung mái toà đại đình đơn giản hơn mái toà tiền tế và được lợp bằng ngói ta

Kiến trúc toà đại đình có năm gian hai chái với tổng chiều dài là 15m, chiều rộng là 9m, chiều cao 5m Đại đình được xây dựng trên khu đất tương đối cao dáo, cao hơn mặt sân đình 70cm Chiều dài các gian trong đại đình là không bằng nhau, ở gian giữa có chiều dài 3.96m, bốn gian bên mỗi gian dài 3m, hai chái phía ngoài có độ dài 3.3m Hiên đình rộng 1m, nền đình năm gian chỉ có một gian bên trái là lắp ván sàn cao 60cm so với mặt nền đình Độ cao của nền cũng không bằng nhau, gian giữa thấp hơn các gian còn lại 10cm Tuy nhiên chỗ đặt nhang án lại cao hơn các gian khác là 15cm Trước kia toà

Trang 34

đại đình có năm gian hai chái bao xung quanh đều có vách gỗ ở hai bên Sau năm 1956 do sự biến động của lịch sử hệ thống vách ngăn đã bị phá bỏ và thay bằng tường gạch bao quanh ở hai bên làm cho kiến trúc đình thay đổi nhiều Bên trong toà đại đình có sáu bộ vì kèo chia toà đại đình thành năm gian, có tác dụng chịu lực đỡ cho mái nhà Các cột cái đều cao 4.35m, đường kính 0.45m, dựng trên chân tảng đá âm dương có kích thước 80m x 80m Cột quân cao 3.1m, đường kính 0.4m, cột con cao 2.73m, đường kính 0.3m Khoảng cách giữa cột cái với cột cái 3.7m, giữa cột cái với cột quân 1.9m, giữa cột quân với cột con 1.1m Toàn bộ cột trong đại đình dựng trên chân tảng đá vuông tròn, thông qua chân tảng đá mà thông linh, bởi vì đá là chất tụ linh và chuyển tải tâm linh Bộ vì kèo có cấu trúc kiểu thượng giá chiêng, giống với kiến trúc toà tiền tế tức là hai hàng chân cột được liên kết với nhau bởi một giá chiêng Trên cùng bộ vì nóc là thượng lương được đỡ bởi dép thượng lương và một đấu kê, phía dưới là câu đầu đỡ thượng lương và dép thượng lương Câu đầu lại được đỡ bởi hai cột giá chiêng nằm dọc, song song

và cách nhau một khoảng, được đặt hai bên câu đầu được gọi là cột chốn Hai cột giá chiêng được đỡ bởi hai chân đấu kê, có dáng giống đấu hình thuyền Phía ngoài của giá chiêng là những con rường cụt được chạm khắc đẹp, giữa hai con rường được đặt trên một đấu kê ngăn cách, tác dụng chính của những con rường này nhằm mục đích đỡ hoành mái Toàn bộ các chi tiết gỗ trên đều được đỡ bởi quá giang, phía dưới của quá giang được đỡ bởi các đầu dư, chạm trổ hình rồng mục đích tạo sự kiên cố cho bộ vì nóc Các cột cái được liên kết với nhau bởi thanh xà chồng đấu đệm, hạ bán mê hoặc xà trồng, dưới cùng là kẻ Hai vì hồi dùng cột góc và kẻ góc Đầu kẻ gối tường đặt lên trên tường gạch Bên cạnh đó điểm cần tăng lực cho cấu kiện thường gia cố thêm các đầu dư ở các cột cái đỡ lực quá giang trên các đầu dư cũng có trang trí rồng đa dạng thuộc thời Hậu Lê

Trang 35

Nền toà đại đình hiện nay được lát bằng gạch bát tràng nhưng vốn xưa kia đình có nền bằng sàn gỗ lửng, dấu vết còn lại cho ta biết chính là các lỗ mộng ở các hàng cột cách nền 0.3m, qua đó chứng minh rằng đình có niên đại

từ rất sớm bởi những kiến trúc có sàn nhà xuất hiện từ thời Mạc, Hậu Lê Các hàng chân cột hiên xung quanh còn vết lỗ mộng đế, ghép Nay lấp ván thay bằng tường gạch để lộ mạch ra phía ngoài, phía trong tường trát vôi và trổ cửa

để chắn song

Phía trước toà đại đình là hệ thống cửa gỗ kiểu bức bàn có ngưỡng cửa

đi vào ba gian, hoàn toàn là kiểu ván mê kín được làm bởi bệ cửa hình con Sấu Ngưỡng cửa vào toà đại đình có ba lối, chia thành ba bức cửa lớn cao 45cm so với toà tiền tế Ngưỡng cửa cao còn ngăn cản những phức tạp có tính thế tục đời thường vào trong ngôi đình linh thiêng, về mặt tâm lí con người khi bước chân qua ngưỡng cửa cao con người cũng đã trút bỏ những lo toan, bộn bề cuộc sống hàng ngày để bước vào một không gian tín ngưỡng đầy chất

uy nghiêm và linh thiêng Ở gian chính giữa đại đình có đặt nhang án thờ lớn phía trước là cửa võng, hai con hạc lớn đặt trên lưng rùa, phía sau là các bức hoành phi ở các gian bên cạnh gian chính giữa có đặt nhiều bài vị thuộc 13 dòng họ lớn của xã Vĩnh Ngọc được thờ trong toà đại đình, càng minh chứng

rõ cho sự thờ cúng đa tín ngưỡng của người Việt

2.1.2.5 Ống muống

Toà ống muống được nối liền phần mái sau gian giữa của toà đại đình với gian giữa của toà hậu cung, toà ống muộng rộng 4m Từ toà đại đình bước vào ống muống có ngưỡng cửa ở hai bên, lòng giữa của ống muống cao 13cm

so với 2 gian bên Nếu như trong di tích là chùa thì ống muống còn được gọi

là thiêu hương với ý nghĩa là nơi giao thoa giữa dục giới và vô sắc giới trong nhà phật, còn ở đình thì chỉ được gọi là ống muống Bước qua ngưỡng cửa ống muống chính là con người bước vào thế giới tâm linh và trút bỏ những muộn phiền hàng ngày, hai ngưỡng cửa này không có cánh và cửa kín mà chỉ

Trang 36

trổ cửa vào hậu cung Ngưỡng cửa cao 22cm so với mặt nền, dài 3m Hai bên ống muống là tường bít đốc trát vôi vữa, lăn sơn màu trắng, nền được lát bằng gạch bát tràng Trong ống muống cũng đặt các nhang án thờ và các di vật

di vật

Bộ vì kèo có kết cấu kiểu giá chiêng kẻ chuyền đơn giản mới được sửa lại không lâu, chỉ có hàng cột là cũ với các dấu vết lỗ mộng sàn gỗ vẫn còn ở trên các hàng cột, vào năm 1993 nền được lát bằng gạch bát tràng Các chi tiết

gỗ vì kèo là mới đều được bào trơn mộng bén, soi chỉ thay cho trang trí Hàng cột cũng được kê trên tảng đá lát bằng với mặt nền gạch bát tràng

Ở hai gian giữa bốn hàng cột cái có thiết kế một sàn gỗ và cũng được che kín bởi ván gỗ xung quanh giống như một ngôi nhà sàn Đây là nét nổi bật và trọng tâm của gian hậu cung, được gọi là khám thờ Khám thờ này cao 1.9m so với nền gạch, rộng 4m được đặt trên bốn cột gỗ lớn cao 5m, có đường kính là 0.36m Mặt sau và hai bên khám thờ là những ván gỗ to liên kết khít lại với nhau, ở hai bên khám thờ có trổ hai cửa gỗ đi vào, dưới có bảy bậc thang bằng gỗ để lên khám thờ Mặt phía trước khám thờ được làm sáu cánh cửa thượng song hạ bản, phía trên cửa được chạm triện tàu lá dắt dưới là bức bàn có sơn son Trong khám thờ có ba gian nhỏ mỗi gian đều đặt một ngai thờ trên có bài vị thờ thánh, dưới là các đồ thờ Theo như các cụ còn kể lại, ngày trước đã từng tồn tại khám thờ giống kiểu nhà sàn, nhưng đã bị phá huỷ do chiến tranh Khám thờ hiện nay trong hậu cung cũng chỉ mới được làm lại vào năm 1993, phỏng theo kiểu dáng cũ

Trang 37

Toà hậu cung qua những lần tu sửa lớn đã có kiến trúc đơn giản vào thế

kỉ XIX, XX mặt khác hậu cung cũng là nơi thờ các vị Thành hoàng làng, rất linh thiêng vì vậy không phải là nơi thể hiện những mảng chạm trang trí đẹp hoặc nổi bật Tuy nhiên hậu cung lại là nơi cất giữ nhiều cổ vật quý trong đình

2.2 Giá trị điêu khắc

2.2.1 Điêu khắc thế kỉ XVII

Đình Ngọc Chi là một trong những ngôi đình có kiến trúc, nghệ thuật trang trí rất độc đáo, phong phú thuộc các đề tài trang trí thế kỉ XVII vẫn còn giữ lại được minh chứng cho sự tồn tại của ngôi đình có niên đại vào thời Hậu

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc của đình ngọc chi thuộc thế kỉ XVII tập trung nhiều nhất là toà đại đình trên các đầu dư, ván mê, cốn Giống như các ngôi đình cổ khác, đình Ngọc Chi cũng do hai hiệp thợ làm, vì vậy có thể là ở hai thành phần kiến trúc đối xứng nhau trong ngôi đình lại có các hình trang trí hoàn toàn khác nhau Điều đó khiến cho luật đối xứng của trang trí được nới lỏng và điêu khắc đình làng trở nên nhộn nhịp và hào hứng, tự do

Các đầu dư đỡ lực quá giang đều tạo tác hình đầu rồng mang nét đặc trưng rõ của nghệ thuật thời hậu Lê (gồm 12 đầu dư nằm trên các cột cái) như

là rồng xoắn râu, mồm ngậm ngọc Lông và tóc, râu rồng tạo hình đao mác theo phương nằm ngang Rồng được chạm khắc rất mềm mại, khéo léo thể hiện được phong cách nghệ thuật điêu khắc cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII, mà ít hoặc hiếm có những ngôi đình nào vẫn bảo lưu tốt những điêu khắc, trang trí đó Bên cạnh đó nghệ thuật tạo tác hình rồng còn có nhiều mẫu như rồng xoắn râu, rồng đang vuốt râu, rồng tư thế bò, rồng ẩn Đây là những bức chạm gỗ có giá trị nghệ thuật cổ nhất của toà đại đình Các bức chạm khắc gỗ tập trung ở ba gian giữa và được dàn đều từ dưới thấp lên trên cao Đây cũng là sự khác biệt về bố cục trang trí so với toà tiền tế

Trang 38

Các đầu kẻ tiền phía trước chạm khác hình rồng cắn tàu mái, sư tử đội tàu mái, chạm mai hoá long, trúc hoá long vân hoá long Các đầu dư chạm nổi hình đầu rồng, thân kẻ chạm hình thân rồng tạo nên sự độc đáo của kiến trúc đình làng nói chung và đình làng Ngọc Chi nói riêng

Với sự phát triển mạnh mẽ thẩm mỹ dân gian, những hình chạm khắc cuối thế kỉ XVII, đầu XVIII đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình Việt Nam Khi mà phép vua thua lệ làng, giai cấp thống trị cũng cảm thấy bấp bênh và tìm đến phật giáo, đạo giáo Do vậy, khác với những kiến trúc tôn giáo khác như chùa, miếu ngay ở vị trí tôn nghiêm của ngôi đình làng, ta cũng bắt gặp hình tượng đôi trai gái đang đùa ghẹo nhau hay đang tự tình Một bức cốn chạm khắc gian bên toà đại đình là hình tượng một đôi nam nữ tự tình trên thuyền rồng với hình thức chạm ở dạng phù điêu, đường nét không cầu

kỳ nhưng rất dõ dàng, uyển chuyển Đây là bức chạm khắc có ý nghĩa nghệ thuật dân gian đang phát triển xen kẽ với các đề tài trang trí tứ linh, tứ quý ở nơi được cho là linh thiêng nhất Đối xứng với bức chạm này là bức khắc người điều khiển voi kéo gỗ thể hiện cuộc sống lao động của người dân, họ kéo gỗ có thể xây dựng cung điện, đình, chùa hoặc là công việc của người dân trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày

Đặc biệt ở gian bên trái bức cốn toà đại đình có đề tài trang trí rất độc đáo được xem là bức chạm cổ nhất của đình Ngọc Chi Trên bức cốn thể hiện

đề tài tiên cưỡi rồng mẹ, bên cạnh là rồng con với ý nghĩa là dân tộc Việt Nam là con rồng cháu tiên Trên xà nách cũng được chạm khắc một loạt hình ảnh với các đề tài trang trí hình rồng với hình thú đang tranh mồi, nô đùa nhau với các đao mác hình rồng thể hiện rõ, chảy ngược phía sau Tiếp đến là hỉnh ảnh chim phượng đầu ngẩng thẳng hướng lên phía trước, thân mình cong chéo, chân rướn ra phía sau như đang trong tư thế chuẩn bị tung cánh bay Phía sau là hình ảnh con vẹt đang ngồi chăm chút lo cho bộ lông của mình nên mỏ và đầu của con vẹt quay về phía sau vuốt bộ lông Cuối cùng là phù

Trang 39

điêu trên xà nách là hình thú mặt chuột tai rơi, đứng một mình trông rất ngộ nghĩnh và lạ mắt

Đối diện với bức cốn này là đề tài trang trí tiên chúc rượu Bức chạm khắc hình phù điêu này miêu tả dáng một người đàn ông ngồi vòng trên bệ cao nhất, với vẻ mặt hớn hở, ngồi khoanh chân đang cầm chén rượu Trên có tiên chúc rượu cũng ngồi khoanh chân và đang cầm chén rượu tay giơ cao, phía dưới có một phụ nữ đang dâng rượu miệng đang hát và một người nam giới đánh đàn Xa xa có một người tay dắt một con ngựa với dáng vẻ yêu quý thân thiết con ngựa, trên ngựa có sẵn yên cương Bức cốn này được sơn son thếp vàng còn nguyên không bị mối mọt phá huỷ, thuộc nghệ thuật chạm khắc cuối thế kỉ XVII, đầu XVIII

Ở các ô đối xứng mái sau có chạm nổi nhiều lớp rồng chim, lông tóc rồng tạo hình đao mác chếch 1 góc 45o cũng thuộc thế kỉ XVII

Các đấu xà đỡ hoành tạo tác hình lá long, đấu kê tạo tác hình tròn tượng trưng viên - rồng ngậm ngọc

Gian giữa là màn giếng, giữa có hình tròn tượng trưng cho trời, xung quanh có tinh tú Màn giếng sơn son thếp vàng, nay còn lại hình tròn, còn hình tinh tú đã bạc

2.2.2 Điêu khắc thế kỉ XIX

Nghệ thuật trang trí thế kỉ XIX, tập trung lớn phần gỗ trong toà tiền tế, nơi trang trí thường có vị trí thấp, dễ quan sát Các đầu bẩy trước và sau có chạm khắc nhiều đề tài khác nhau như: rồng cắn tầu mái, trúc hoá long, vân hoá long, lá hoá long, độc long, quần long, long cuốn thuỷ, long mã cuốn thuỷ Các đầu dư, bẩy đỡ xà cũng có chạm khắc nhiều đầu rồng Thân bẩy cũng được chạm khắc hình thân rồng hoặc hoa lá rồng thuộc nghệ thuật trang trí thế kỉ XIX

Ở các ô bán mê kèo trong gian tiền tế, giữa cột cái và cột quân chạm khắc hình phù điêu, chạm nổi, chạm chìm xen kẽ nhau trang trí với các đề tài:

Trang 40

Mai trúc, hoa sen, cò hạc và hoa sen, có đầu rồng thân mai, rùa, long mã và chim, sư tử hí cầu, tùng bách, trúc cò, hạc và công thể hiện đối xứng rất sáng tạo

Do được trùng tu lớn vào thế kỉ XIX, nên trong toà đại đình gian bên có những bức chạm thuộc thể kỉ XIX, đó là đề tài hai chim phượng cầm lụa đang bay trong không trung, hình tượng chạm phượng hoàng là một trong bốn tứ linh dành cho trang trí cung đình hoặc nơi linh thiêng nhất, đây là bức chạm khắc đẹp thuộc thế kỉ XIX

Nhìn chung, sự trang trí hoa văn trên kiến trúc nghệ thuật thế kỉ XIX mang tính thực dụng và hợp lí Nơi gần dễ quan sát thì trang trí đậm đặc các chi tiết, nơi xa khuất khó quan sát thì trang trí đơn giản hoặc không trang trí,

đề tài các bức chạm khắc không đa dạng như những thế kỉ trước và có phần thô cứng hơn

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:50

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w