1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình thanh cù xã ngọc thanh, huyện kim động, tỉnh hưng yên

107 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu di tích đình thanh cù xã ngọc thanh, huyện kim động, tỉnh hưng yên
Tác giả Hoàng Thị Liêm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tiến
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngành Bảo Tàng
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài “Mái đình che chở hồn dân tộc Công đức muôn đời của tổ tông” Đình làng, một mảnh hồn quê, một nét đẹp của làng xóm Việt Nam từ lâu đã đi sâu vào tâm khảm mỗi con ngườ

Trang 1

trường đại học văn hoá hμ nội

KHOA BẢO TÀNG

===  ===

Hoμng thị liêm

tìm hiểu di tích đình thanh cù xã ngọc thanh, huyện kim động, tỉnh hưng yên

Khoá luận tốt nghiệp

Ngμnh bảo tμng

người hướng dẫn: ts nguyễn văn tiến

Hμ Nội – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục khoá luận 3

CHƯƠNG1: ĐÌNH THANH CÙ TRONG LỊCH SỬ 4

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại 4

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 4

1.1.2 Lịch sử hình thành làng Thanh Cù và xã Ngọc Thanh 5

1.1.3 Đặc điểm dân cư 6

1.1.4 Một vài đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội làng Thanh Cù 8

1.1.5 Truyền thống cách mạng 11

1.1.6 Các giá trị văn hoá 12

1.2 Đình Thanh Cù trong lịch sử 14

1.2.1 Vài nát về đình làng Việt Nam 14

1.2.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của đình Thanh Cù 15

1.2.3 Sự tích về nhân vật được thờ 17

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH THANH CÙ 22

2.1 Giá trị kiến trúc nghệ thuật 22

2.1.1 Không gian cảnh quan 22

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 24

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc 25

2.1.4 Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc 34

Trang 3

2.2 Các di vật trong di tích 38

2.2.1 Di vật bằng giấy 38

2.2.2 Di vật bằng đá 43

2.2.3 Di vật bằng đồng 43

2.2.4 Di vật bằng gốm 44

2.2.5 Di vật bằng gỗ 44

2.3 Lễ hội đình Thanh Cù 49

2.3.1 Thời gian lễ hội 50

2.3.2 Không gian lễ hội 51

2.3.3 Nhân vật được tưởng niệm trong lễ hội 51

2.3.4 Công tác chuẩn bị cho lễ hội 52

2.3.5 Diễn trình lễ hội 55

2.3.5.1 Phần lễ 55

2.3.5.2 Phần hội 59

2.3.6 Các giá trị văn hoá của lễ hội làng Thanh Cù 63

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH THANH CÙ 66

3.1 Thực trạng di tích đình Thanh Cù 66

3.1.1Thực trạng kiến trúc 66

3.1.2 Thực trạng các di vật 69

3.1.3 Thực trạng lễ hội đình Thanh Cù 70

3.2 Một số biện pháp bảo tồn di tích đình Thanh Cù 72

3.2.1 Các giải pháp bảo tồn kiến trúc 74

3.2.2 Bảo quản các di vật trong di tích 78

3.2.3 Bảo tồn lễ hội cổ truyền 79

3.3 Khai thác và phát huy giá trị di tích đình Thanh Cù 81

KẾT LUẬN 84

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Mái đình che chở hồn dân tộc Công đức muôn đời của tổ tông”

Đình làng, một mảnh hồn quê, một nét đẹp của làng xóm Việt Nam từ lâu

đã đi sâu vào tâm khảm mỗi con người và toả sáng trong những áng thơ văn.Từ bao đời nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của người dân Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt và mọi sự đổi thay trong đời sống

xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ Ngôi đình trang trọng và thiêng liêng, nó gần như đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã Hơn thế nữa, đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong mọi sinh hoạt chung, vốn rất cần cho cuộc sống nông thôn cần có sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau Chính vì vậy, đình làng trở thành một nơi thân quen, gần gũi, là nơi che chở, là cuộc sống của bao người

Các ngôi đình tồn tại duới dạng cổ kính như là một bảo tàng sống về kiến trúc, điêu khắc trang trí và cả phong tục cổ truyền Những di tích ấy sẽ có ý nghĩa lớn lao hơn nếu chúng ta đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, bóc tách lớp văn hoá chứa đựng trong đó để phần nào hiểu rõ hơn về cội nguồn văn hoá dân tộc, để lựa chọn, khai thác cũng như bảo tồn, phát huy truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục, lấy đó làm nền tảng xây dựng nền văn hoá Việt Nam vừa mang dư âm cổ truyền, vừa mang màu sắc hiện đại

Làng Thanh Cù, vùng quê có bề dày truyền thống văn hoá và lịch sử Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước, cùng với việc sản xuất, xây dựng xóm làng, các thế hệ cư dân Thanh Cù còn chú trọng xây dựng những công trình kiến trúc quy mô, đặc sắc để thờ phụng Đình Thanh Cù là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu thể hiện lòng ngưỡng vọng về Thành hoàng làng

mà họ tôn kính

Trang 6

Là một người con của vùng đất cổ Hưng Yên vốn đã nổi tiếng ngàn năm văn hiến, là nơi đứng thứ 3 của cả nước về các di dich xếp hạng cấp quốc gia, lại là sinh viên khoa Bảo tàng, em rất mong có một đóng góp nhỏ vào việc tìm hiểu và làm rõ các giá trị của những di sản văn hoá quê huơng mình Được sự đồng ý của khoa Bảo tàng, và giảng viên hướng dẫn em là TS Nguyễn Văn

Tiến, em chọn đề tài “Tìm hiểu di tích đình Thanh Cù (làng Thanh Cù, xã

Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài khoá luận tốt

nghiệp Qua đó, em mong muốn được tìm về với cội nguồn lịch sử quê hương, hiểu thêm những phong tục, tập quán cũng như tâm tư tình cảm của con người Hưng Yên thông qua những hoạt động của lễ hội, và quan trọng hơn cả đó là

em muốn được làm rõ những giá trị độc đáo của di tích, từ đó đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu những nét tổng quan về làng Thanh cù

- Tìm hiểu vị thành hoàng của làng Thanh Cù là Uy Đô đại vương Trần Linh Lang

- Xác định niên đại, lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của di tích đình Thanh Cù

- Tập trung nghiên cứu giá trị văn hoá, nghệ thuật của di tích trong đó bao gồm kiến trúc, di vật và lễ hội

- Tìm hiểu thực trạng của di tích và bước đầu đưa ra một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận này di tích đình Thanh Cù, xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu đình Thanh Cù trong quá trình tồn tại, gắn liền không gian văn hoá – xã hội của làng Thanh Cù - xã Ngọc Thanh - huyện Kim Động - tỉnh Hưng Yên

Trang 7

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Bảo tàng học, sử học, dân tộc học,

mỹ thuật học, văn hoá học…

- Phương pháp khảo sát thực tế tại địa phương với các kỹ năng: quan sát,

đo vẽ, chụp ảnh, miêu tả, phỏng vấn…

6 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bài khoá luận được chia làm ba chương:

Chương 1: Đình Thanh Cù trong lịch sử

Chương 2: Giá trị kiến trúc - nghệ thuật và lễ hội của đình Thanh Cù

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di dích đình Thanh Cù

Với sự nỗ lực của bản thân, song trình độ và nhận thức của một sinh viên còn hạn chế, lại là bài nghiên cứu khoa học đầu tay nên bài khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và toàn thể các bạn để bài khoá luận của tôi được hoàn thiện hơn

Qua đây, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Nguyễn Văn Tiến - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm bài khoá luận Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Bảo Tàng-trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Ban quản lý di tích đình Thanh Cù và các bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bài khoá luận này

Trang 8

CHƯƠNG 1 ĐÌNH THANH CÙ TRONG LỊCH SỬ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT NƠI DI TÍCH TỒN TẠI

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Đình Thanh Cù thuộc địa phận thôn Thanh Cù, xã Ngọc Thanh, Huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên Nằm tả ngạn ven bờ sông Hồng, là một xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Kim Động, xã Ngọc Thanh cách trung tâm thành phố Hưng Yên khoảng 7km về phía Nam và có vị trí địa lý như sau:

Phía Tây giáp địa bàn xã Hiệp Cường

Phía Bắc giáp địa bàn xã Song Mai

Phía Đông giáp địa bàn xã Hùng An

Phía Nam giáp địa bàn xã Bảo Khê

Và bên kia sông là địa bàn hai xã Phú Cường và Hùng Cường nằm ở bãi bồi (cù lao) giữa sông Hồng Có thể ví đoạn đê như xương sống còn dòng sông Hồng nhỏ gần chân đê hiện nay như là lá phổi của xã Ngọc Thanh

Từ trung tâm thành phố Hưng Yên chúng ta có thể đến xã Ngọc Thanh và thăm khu di tích đình Thanh Cù theo con đường sau:

Từ bưu điện thành phố đi thẳng theo hướng Hưng Yên - Hà Nội dọc theo quốc lộ 39A khoảng chừng 7km đến địa phận xã Tiên Cầu rẽ tay trái đi thẳng theo đường 61 chừng hơn 1km là đến địa phận Chợ Gò Từ Chợ Gò rẽ tay phải vào đường làng đi thẳng chừng 100m đến ngã ba rẽ tay phải đi thẳng chừng 700m đến một ngã ba rẽ tiếp tay trái đi chừng 100m là tới đình Thanh Cù

Từ bưu điện thành phố Hưng Yên đi theo đường quốc lộ 39 chừng 5km đến địa bàn thôn Tiền Thắng, xã Bảo Khê đi lên dốc đê theo đường 195 (trên mặt đê Sông Hồng) chừng 2km đến dốc Gò rẽ tay phải chừng 300m là đến Chợ

Gò Sau đó đi tiếp theo như hưóng dẫn ở trên là tới đình Thanh Cù Nằm ở vị

Trang 9

trí như vậy, xã Ngọc Thanh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông ngư nghiệp cũng như giao lưu buôn bán với các địa bàn dân cư lân cận

Từ đó đẩy mạnh phát triển mọi mặt đời sống kinh tế-văn hoá-xã hội của địa phương

1.1.2 Lịch sử hình thành làng Thanh Cù và xã Ngọc Thanh

Thanh Cù là một phần của vùng đất Kim Động Tên gọi Thanh Cù có từ

xa xưa nhưng tên gọi Ngọc Thanh thì sau này mới có

Kim Động là mảnh đất nằm ở phía Nam của thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên, có bề dày lịch sử truyền thống lâu đời Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ Thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu Thời nhà Trần có tên là Vĩnh Động Thời Lê sơ vào đầu thế kỷ XV được đổi tên là Kim Động cho đến nay Năm 1469, năm đầu tiên nhà nước Đại Việt lập bản đồ, Kim Động là một trong năm huyện thuộc phủ Khoái Châu trấn Sơn Nam Đến đời Minh Mệnh thứ 12 (1831)trấn được đỏi thành tỉnh và Hưng Yên

có tên từ đấy Tỉnh Hưng Yên có hai phủ: phủ Khoái Châu và phủ Tiên Hưng

Từ đó trải qua bao biến động của lịch sử, Kim Động không hề thay đổi tên gọi của mình Ngày 24 tháng 2 năm 1979 theo quyết định 70/CP của Hội đồng chính phủ, Kim động sát nhập với Ân Thi thành huyện Kim Thi Sau 17 năm hợp nhất, tháng 4 năm 1996 thực hiện nghị định 05 ngày 27 tháng 1 năm 1996 của Thủ tướng chính phủ, huyện Kim Thi tách thành hai huyện là Kim Động

và Ân Thi như xưa

Làng Thanh Cù là một trong những ngôi làng cổ có lịch sử tồn tại lâu đời của vùng đất Kim Động

Theo lời các cụ trong làng kể lại rằng: Thanh Cù xưa kia có tên là Thanh Long Cái tên này không phải ngẫu nhiên có mà nó được đặt theo tên của thế đất ở đây Làng nằm trên một thế đất rất đẹp của cả một con rồng Đầu rồng chính là chùa Thanh Cù bây giờ Hai mắt của rồng chính là hai giếng của chùa Thân của rồng chính là con kênh Gò cung cấp nước để phục vụ cho sản xuất

Trang 10

nông nghiệp Nằm trên một thế đất như vậy làng mới có tên là Thanh Long nhưng sau này tên Long phạm vào tên huý của vua nên làng đổi tên là Thanh Cù.Thanh Cù có nghĩa là một cù lao xanh

Xa xưa, Thanh Cù có tên Nôm là làng Gò Nơi đây còn truyền nhau sự tích về làng Gò như sau: Xưa kia, nơi đây là một vùng phủ kín lau sậy, xanh biếc một màu, bao quanh là đầm lầy thỉnh thoảng lại có những cồn cát cao chững lại do phù sa sông Hồng bồi đắp tạo nên những gò, đống với những tên như: Đống Sàm, Đống Mối, Đống Đồng Mơ…Vì có nhiều gò, đống mọc lên như vậy nên mới gọi tên làng là làng Gò

Trong suốt thời kỳ phong kiến, Thanh Cù là một xã thuộc xã thuộc tổng Thanh Cù huyện Kim Động phủ Khoái Châu Đến đời nhà Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 12(1831) tỉnh Hưng Yên có tên từ đó, xã Thanh Cù thuộc huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Thanh Cù vẫn là một xã thuộc huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên

Năm 1946, xã Thanh Cù và Duyên Yên sát nhập với nhau thành một xã

có tên là Thanh Duyên

Năm 1947, xã Ngọc Đồng, Phượng Lâu sát nhập với Thanh Duyên lấy tên

là xã Ngọc Thanh.Từ đó đến nay Ngọc Thanh vẫn gồm 4 thôn: Thanh Cù, Duyên Yên, Ngọc Đồng, Phượng Lâu và không có sự thay đổi gì

1.1.3 Đặc điểm dân cư

Kim Động là một trong những vùng đất đã sớm có cư dân sinh sống, gắn liền với những cư dân Việt cổ khai phá và chinh phục đồng bằng châu thổ sông Hồng Những phát hiện khảo cổ học năm 2001, 2004 về các di chỉ mộ thuyền ở làng Nguyễn (thôn Động Xá, thị trấn Lương Bằng) cách Thanh Cù khoảng 5km về phía Đông Nam đã minh chứng “ đây là ngôi làng cổ của thời kỳ văn hoá Đông Sơn, có niên đại kéo dài từ thế kỷ I trước công nguyên đến thế kỷ II,

Trang 11

III sau công nguyên” Từ Thanh Cù ngược dòng sông Hồng trên 10km tới khu vực Đa Hoà-Dạ Trạch thuộc huyện Khoái Châu và tiếp nữa là vùng Chử Xá (Văn Lâm-Hà Nội) là nơi mang đậm huyền thoại về Chử Đồng Tử kết duyên cùng công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng thứ 18 Truyền thuyết phản ánh thời kỳ những cư dân đầu tiên, đã đến khai phá vùng đầm lầy sông Hồng lập thành làng mạc

Sách Đại nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng chép rằng vùng hạ lưu sông Hồng, từ lâu đã có cư dân sinh sống bằng nghề trồng lúa nước, hái lượm…Dân cư tập trung sinh sống tại các bãi đất cao ven sông và nguồn sống chính là đánh bắt và hái lượm Khi nhà Trần tháng 3 năm 1248 cho đắp đê sông Hồng, sông Luộc gọi là đê quai vạc, thì cư dân khắp nơi đến đây tụ cư sinh sống hình thành các làng mạc trù phú Hiện nay cái tên đê quai vạc vẫn được nhân dân Thanh Cù dùng để gọi đoạn đê sông Hống chảy qua làng

Đặt Thanh Cù trong bối cảnh chung của huyện Kim Động và xã Ngọc Thanh, có thể khẳng định làng Thanh Cù có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời Làng xuất hiện muộn nhất vào khoảng thế kỷ XIII, thời nhà Trần

Họ Trần là người đầu tiên đặt chân đến vùng đất này sinh sống, dân số chỉ vài chục đến vài trăm Cư dân dựa vào gò, đống để ở, dựa vào những đầm lầy

để canh tác nông nghiệp tạo thế đứng để sinh cơ lập nghiệp Dần về sau dân cư đông đúc thêm xoá dần cảnh bùn lầy nước đọng dần tạo cảnh làng xóm đông vui, ấm cúng

Hiện nay, trong làng họ Trần là họ chiếm đại đa số nhưng trong đó lại chia thành: Trần Hữu, Trần Danh, Trần Đình, Trần Kế, Trần Văn, Trần Xuân,…Theo gia phả của các dòng họ còn giữ lại thì họ Trần Đình là lâu đời nhất nên cũng có thể đây là họ đầu tiên đến đây lập làng và sau đó là các họ Trần khác đến đây cùng chung sống Ngoài ra, trong làng còn có các họ khác như: họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Bùi…

Trang 12

Ngọc Thanh có diện tích đất tự nhiên là 651ha,trong đó diện tích đất canh tác là 394ha.Tổng số dân cư trong xã là 6765 nhân khẩu,1723 hộ, trong đó làng Thanh Cù có 2800 nhân khẩu và 750 hộ

Từ xưa đến nay cư dân Thanh Cù sống tập trung ở 8 xóm đó là: xóm Ngói (tức Văn Cao), xóm Đập (tức Văn Thượng), xóm Chợ (tức Phú Thị), xóm Lẽ (tức Lẽ Kiến), xóm Đình (tức Đông Đình), xóm Ba (tức Trung Khu), xóm Giáo (tức Giáo Hạng), xóm Cổng (tức Đại Thần)

Dù có nguồn gốc từ đâu đến, thuộc những dòng họ nào và sống ở những xóm khác nhau thì các thế hệ cư dân Thanh Cù vẫn ngày đêm chung sức nhau xây dựng xóm làng to đẹp hơn, phồn thịnh hơn

1.1.4 Một vài đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội làng Thanh Cù

Đời sống kinh tế

Cũng như nhiều làng xã khác trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, ruộng đất Thanh Cù rất thích hợp cho việc trồng các cây nông nghiệp Ruộng đất Thanh Cù có hai loại: ruộng ngoài bãi và ruộng trong đê Trước đây, khu trong đê chủ yếu là trồng lúa, còn trồng ngô, đậu, đỗ ở ngoài bãi

Bên cạnh trồng lúa-cây trồng chính, ở Thanh Cù xưa kia còn trồng mía chủ yếu là mía de (cây thấp, nhỏ nhưng có độ đường cao, dùng để kéo mật) Trong số các cây trông trên, nếu tính diện tích nhiếu và chiếm số lượng lớn, được xếp theo thứ tự từ nhiều đến ít là: lúa, ngô, mía, đỗ…

Sinh sống và phát triển ở vùng đất này, con người lấy sản xuất nông nghiệp làm kế sinh tồn, thế nhưng họ không thể cứ mãi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” trong khi điều kiện thời tiết và đất đai không mấy ủng hộ Do vậy, cũng phải “ tự sinh, tự dưỡng” bằng nhiều nghề khác nhau Bên cạnh đó với khát vọng làm giàu người dân nơi đây đã tìm đến những nghề thủ công và nghề sơn mài là nghề thủ công nổi tiếng của làng Ngoài ra còn có nghề làm guốc gỗ, làm nón, làm thảm…

Trang 13

Mảnh đất Thanh Cù cũng gắn liền với Phố Hiến xưa, nơi thương cảng

“thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến” ở Đàng Ngoài Đại Nam nhất thống chí viết “ phàm người nước ngoài đến buôn bán thì tụ tâp ở đây và gọi là Vạn Lai triều, phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp” Phố Hiến sầm uất Từ Thanh Cù xuôi theo dòng sông Hồng khoảng 2km là tới xã Đằng Man (nay là thôn Kim Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên), trước đây có thời kỳ

là khu vực trung tâm huyện lị của Kim Động, ở đó có cửa quan trên đường lên Thăng Long

Vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVIII, nhất là giữa thế kỷ XVII, Phố Hiến hưng thịnh nhất, nhiều thương thuyền của các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan…đến buôn bán

đã thúc đẩy việc sản xuất hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ để buôn bán với người nước ngoài ở Phố Hiến Cả một vùng cư dân nằm ven đê sông Hồng thuộc huyện Kim Động là nơi tập trung dân cư, thuyền bè trao đổi hàng hoá Các bến cảng Phượng Lâu, Phú Khê tàu bè tấp lập Làng Thanh Cù nằm trong khu vực trên, đã sớm mở mang về thương nghiệp Các mặt hàng được buôn bán với người nước ngoài chủ yếu là: tranh sơn mài, thảm, gỗ, đường mật…và nhiều hàng hoá khác

Trong làng, xóm cũng có nhiều gia đình làm nghề đi buôn Họ chủ yếu

là buôn hàng lâm sản như: tre, nứa, gỗ, lá gồi…từ miền núi phía Bắc, vận chuyển theo sông Hồng về vùng đồng bằng hoặc ngược lên miền núi bán hàng lương thực, thực phẩm cho đồng bào miền núi

Tre, nứa, gỗ, lá gồi…vận chuyển về được bán ngay trên đê bến Gò Từ đây, các thuyền,bè chở hàng lâm sản theo các sông nhỏ(nội tỉnh) chủ yếu là sông Cửu An và các nhánh sông khác để tới các bến chợ thuộc các huyện Ân Thi,Tiên Lữ và sang cả tỉnh Hải Dương Ngoài ra, một số gia đình trong làng buôn mật cung cấp cho các cửa hiệu tại Phố Hiến và các chợ lân cận

Chợ Gò không chỉ là nơi buôn bán tấp nập mà còn là nơi có cảnh quan

Trang 14

vừa tạo nên một không gian cảnh quan cổ kính, lãng mạn Vào những buổi chiều hè gió mát đứng trên đê nghe tiếng lá đập vào nhau tựa như sóng vỗ mạn thuyền vậy Nhân dân trong làng còn truyền nhau câu ca:

“Dù ăn mỗi bữa một gà Không bằng ngồi gốc cây đa làng Gò”

Ngày nay sông Hồng đã lùi xa, bồi đắp lên những vùng đất phù sa màu

mỡ là điều kiện thuận lợi để canh tác những cây ngắn ngày như: đỗ, ngô…Làng lại có vùng nồi đồng trũng thuận lợi để cấy lúa Những nghề thủ công truyền thống vẫn còn tồn tại Ngoài ra con xuất hiện nghề nấu rượu cũng rất phổ biến.Tuy không nổi tiếng như rượu Trương Xá (Kim Động), rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng-Hải Dương) nhưng rượu Gò cũng được xềp vào loại rượu ngon của vùng Chợ Gò vẫn là nơi tụ tập buôn bán một tháng sáu phiên mùng

4, 9, 14, 19, 24, 29 Cảnh chợ lại đông vui tấp lập

Đời sống văn hoá-xã hội

Xuất phát từ nghề nông lại phải trải qua bao nhiêu lần vỡ đê, cuộc sống

có lúc rất khó khăn nhưng với truyền thống cần cù lao động, thông minh ság tạo lại ham học hỏi, mạnh dạn chuyển đổi phương thức sản xuất phù hợp với

cơ chế thị trường nên đờì sông kinh tế của cư dân Thanh Cù nói riêng và xã Ngọc Thanh nói chung ngày càng được ổn định và nâng cao Nhờ đó mà đời sống tinh thần cũng ngày càng phong phú và có điều kiện để phát triển

Cơ sở vật chất như: trường học, cơ quan, trạm điện, trạm nước, trạm y tế…được chú trọng đầu tư.Các câu lạc bộ, các tổ chức hội được thành lập Nhiều gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá.100% trẻ em đến tuổi được đến trường Hàng năm các ban ngành, đoàn thể cũng có những chính sách quan tâm hỗ trợ các con em thương binh, bệnh binh, các em học sinh nghèo vượt khó

Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định, các tệ nạn xã hội được ngăn chặn kịp thời

Trang 15

Trải qua quá trình lao động kiên trì, bền bỉ, không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên người dân nơi đây đã đạt được những thành quả như ngày hôm nay Bức tranh chung về đời sống kinh tế văn hoá xã hội của người dân Thanh

Cù ngày càng được bừng sáng

1.1.5 Truyền thống cách mạng

Một nét đẹp truyền thống nữa của người Thanh Cù đó là truyền thống yêu nước Truyền thống ấy được rèn đúc từ xa xưa và trở nên bền vững qua nhiều cuộc chiến tranh oanh liệt chống giặc ngoại xâm

Ngay từ những ngày đầu kháng chiên chống thực dân Pháp, con em Thanh Cù sẵn sàng lên đường bảo vệ Tổ Quốc Sự bóc lột, đàn áp, phu phen, thuế má, tạp dịch ngày càng gay gắt như bắt nhân dân phá ngô non trồng thầu dầu Một sồ người đã có ý thức ra đi hoạt động cácg mạng Ông Trần Tuấn Doanh, Đỗ Phan Long đứng đầu lãnh đạo, tuyên truyền, xây dựng phong trào chống thu thuế, thành lập đội bảo an dân vệ chống lại bọn cường hào địa chủ

Ngày19/8/1945 lực lượng nòng cốt tập trung tại điếm Ngói(tức Văn Cao) tham gia biểu tình cướp chính quyền, cờ đỏ sao vàng tung bay, đi theo hàng lối, hô vang khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Hồ Chí Minh muôn năm”, “Đả đảo đế quốc Pháp” cứ thế liên tiếp hô lên dốc đê qua Phượng Lâu qua Bảo Khê về Tiên Cầu Sau đó hàng nghìn người già, trẻ, gái, trai cùng nhau kéo về huyện Kim Động đốt hết tài liệu của Pháp

Sau năm 1945 nạn đói xảy ra khắp nơi, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Lực lượng Việt Minh đã tổ chức ở Thanh Cù, Thuỳ An, Mai Động, Đức Hợp cướp kho thóc Đống Long chia cho dân nghèo Sau đó về các xã tiếp tục thu hồi bằng triện và các giấy tờ của chính quyền cũ lập chính quyền lâm thời

để tiếp tục lãnh đạo nhân dân và phát huy sức mạnh của các đoàn thể

Thời kỳ kháng chiến chống pháp (1945-1954): Lúc này Thanh Cù hình thành hai tổ chức Cứu quốc và Dân chủ Đảng do ông Trần Hữu Thứ làm chủ tịch lâm thời đã vận động nhân dân chôn vùi cất giấu những tài sản quí hiếm,

Trang 16

rào làng chiến đấu Các cổng làng đều đắp ụ và rào tre gai Nhân dân quyết không cho giặc lập bốt ở đây

Đối với đường 39 tổ chức cho lực lượng đi ngăn chặn không cho xe cơ giới của giặc chạy qua tiêu biểu là trận đánh tên đồn trưởng người Pháp từ Ngọc Đồng về Dốc Lã Trận phục diệt tên Trọng từ Ngọc Đồng ra chợ Gò về Tiên Cầu diệt tại đền Tiên Cầu

Trong kháng chiến chống Mỹ, làng Thanh Cù luôn luôn vận động thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu.Với khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, nhân dân hăng say sản xuất làm hậu phương vững cho miền Nam

1.1.6 Các giá trị văn hoá

Làng Thanh Cù trở thành một địa chỉ đáng nhớ của nhiều người bởi nó

là mảnh đất với nhiều truyền thống văn hoá Trong đó sự phong phú về các loại hình văn hoá vật thể và phi vật thể đã tạo nên bản sắc riêng cho văn hoá Thanh

Văn chỉ

Văn chỉ ở phía sau đình Chợ cách đình khoảng 100m Đây là nơi thờ đức Khổng Tử và dựng các tấm bia ghi tên những người có học hành đỗ đạt của làng

Chùa Sùng Phúc

Chùa có tên tự là chùa Sùng Phúc được khởi dựng từ rất sớm song do nhiều biến động của lịch sử, đặc biệt là những lần vỡ đê thì diện mạo ngôi chùa hiện nay mang dấu vết thời Nguyễn Chùa có kết cấu theo kiểu nội công ngoại quốc, mái lợp ngói ta bộ khung được làm theo kiểu biến thể của vì giá chiêng đơn giản, ít có những trang trí Giá trị nổi bật của di tích là hệ thống tượng Với

số lượng tượng nhiều, tương đối đầy đủ với một số tượng Phật của chùa có niên đại tạo tác tương đối sớm, mang giá trị nghệ thuật cao như tượng: Anan,

Ca Diếp, Tam thế, Adiđà…Ngoài ra trong chùa hiện còn lưu giữ một quả chuông có niên đại thời Cảnh Thịnh thứ 5(1797)

Trang 17

Đình Chợ

Có lẽ đình được xây dựng ở gần ngay chợ Gò nên gọi là đình Chợ Đình được khởi dựng năm Khải Định thứ 5(1920) Đình có kết cấu hình chữ nhật gồm ba gian hai chái với 6 hàng chân cột được dựng trên chân tảng đá vuông tròn Đình lợp ngói ta, bộ khung được làm theo kiểu “ Giá chiêng” Trang trí

có giá trị nhất là trang trí trên bẩy hiên ở gian giữa với đề tài rồng và hổ phù Trước đình là hai dãy tả vu và hữu vu là nơi nhân dân họp chợ

Đền Thượng

Nằm ở khu vực giữa cánh đồng Đền thượng toạ lạc trên một khu đất cao, rộng bao quanh là cây cối xanh tốt Đền thờ Uy đô đại vương Trần Linh Lang Đền Thượng mới được khôi phục lại trên nền đất đền xưa có kết cấu theo kiểu chữ Nhất gồm ba gian, mái lợp ngói ta, bộ khung được làm theo kiểu “vì kèo” đơn giản không có chạm khắc gì Trong đền còn lưu giữ hoành phi và chuông thời Nguyễn Ngoài ra, còn hai nếp nhà là nơi để thờ Mẫu và ông Hoàng

Nhà thờ họ Đạo Thanh Cù

Nhà thờ họ Thanh Cù giáo xứ Ngọc Đồng địa phận Thái Bình Nhà thờ xây dựng vào thế kỷ 19 theo kiến trúc Rôman, gồm 7 gian, mái lợp ngói ta, bộ khung gian thánh được làm theo kiểu mái vòm chia làm ba phần có trang trí cúc mãn khai, chùm nho, hoa dây, lá lật….Bộ vì của gian đầu và gian cuối có kết cấu “chồng rường” Đầu dư trang trí hình rồng, các đao rồng xoắn lại với nhau được cách điệu bởi hình hoa lá Ba bộ vì ở giữa có kết cấu “kẻ chuyền-con chồng” Trên câu đầu, xà nách trang trí hình lá lật Hệ thống cột được dựng trên chân tảng âm dương làm bằng đá hình tròn cao 30cm, đường kính 40cm Nhà thờ còn lưu giữ tượng Đức Mẹ Maria có niên đại năm 1910 và chuông thời Nguyễn

Lăng mộ

Cách đền thượng 300m là tới Lăng mộ của Uy đô đại vương Trần Linh Lang, Lăng mộ được đặt ở trên đống Mối, xung quanh có cây đề cổ thụ bao

Trang 18

Văn chỉ, chùa Thanh Cù, đình Chợ, đền Thượng, Lăng mộ và nhà thờ họ Đạo Thanh Cù tất cả được qui tụ tại làng Thanh Cù Những giá trị văn hoá đó được các thế hệ người dân Thanh Cù giữ gìn như những gì quí báu và thiêng liêng nhất

Lễ hội truyền thống

Nói đến các giá trị văn hoá truyền thống của làng Thanh Cù không thể không nhắc tới lễ hội cổ truyền của ngườì dân nơi đây Đó là nét đẹp, là giá trị văn hoá phi vật thể cao quí mà người dân Thanh Cù từ xưa tới nay luôn luôn tự hào và ra sức phát huy gìn giữ

Lễ hội truyền thống hàng năm của làng Thanh Cù được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch

1.2 ĐÌNH THANH CÙ TRONG LịCH SỬ

1.2.1 Vài nét về đình làng Việt Nam

Đình làng là công trình kiến trúc công cộng của làng xã dùng làm nơi diễn ra các hoạt động chính trị tinh thần - văn hoá xã hội của nhân dân ở nông thôn làng xã dưới thời phong kiến

Tên gọi “đình” là tên gọi chung để chỉ nhiều loại công trình công cộng

có những công năng khác nhau Trong từ điển tiếng Việt “Đình là nơi thờ Thành hoàng và họp làng” Ở bên đường cái quan thời trước thường xây dựng nhà trọ cho khách qua đường nghỉ ngơi gọi là: quá nhai đình Ngoài ra có lương đình, đình môn, dịch đình, quán đình…

Là công trình công cộng ở làng xã, ngôi đình làng của người Việt có nhiều chức năng khác nhau phục vụ cộng đồng cư dân, tựu trung lại nó có bốn chức năng cơ bản: trung tâm hành chính, là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng, là trung tâm văn hoá xã hội, là trung tâm văn hoá ẩm thực của làng xã Tuỳ từng giai đoạn mà chức năng này nổi trội và phát huy hơn chức năng kia và ngược lại Dù thực hiện chức năng nào đi chăng nữa thì ngôi đình được xây dựng để thờ Thành hoàng làng luôn là một sự kiện trọng đại mang tính nghiêm túc, thiêng liêng có sự góp sức của toàn dân làng chứ không phải của riêng ai

Trang 19

Ngôi đình làng của người Việt tồn tại sớm nhất còn để lại dấu vết cách đây ngót 400 năm, đó là ngôi đình của Thuỵ Phiệu, xã Thuỵ An, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội 2) có niên hiệu Đại chính nhị niên (1531) Tiếp đó

là sự hiện diện của một số ngôi đình có niên đại sớm vào cuối thế kỷ XVI như: Đình Tây Đằng, Thổ Hà, Lỗ Hạnh…

Trải qua các thời kỳ, tuỳ theo khả năng kinh tế và trình độ xây dựng của các tốp thợ và nhiều yếu tố khác chi phối mà ngôi đình làng có thể được xây dựng với qui mô, kích thước, chất liệu và trang trí mỹ thuật khác nhau Nhìn chung các ngôi đình làng của người Việt thường được xây dựng theo một số

mô hình kết cấu mặt bằng sau: kiến trúc chữ nhất (  ) chỉ bao gồm một toà đại đình Đây là những ngôi đình cổ xây dựng vào thế kỷ XVI, đến thế kỷ XVII đình xuất hiện thêm toà hậu cung và mang kiến trúc chữ ( J ), chữ nhị (=), thế

kỷ XVIII đình phổ biến với hình chữ công (I) và sang thế kỷ XIX, XX thì đình

có nhiều đơn nguyên kiến trúc hơn

Ngôi đình chưa bao giờ mất đi trong đời sống làng xã mà nó vẫn đang thực hiện chức năng vốn có của mình Không gian văn hoá làng xã, tập trung, ngưng đọng dưới mái đình làng

1.2.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của đình Thanh Cù

Đình Thanh Cù từ khi được khởi dựng cho đến nay vẫn ở trên đất cũ không có sự thay đổi nào cả Để tìm hiểu về niên đại xây dựng của đình, trên

trụ cột thanh vuông bên trái của vì nóc có ghi niên đại khởi dựng đình:“Chính Hoà thập nhị niên”(1691) Đồng thời trên cột trụ thanh vuông gian giữa bên trái có ghi: “Thành Thái đệ nhất niên, Ất Mùi tu tạo” Như vậy ta có thể khẳng

định đình Thanh Cù được khởi dựng ở thế kỷ XVII và đình đã trải qua đợt trùng tu lớn năm Thành Thái thứ nhất(1895)

Qua khảo sát thực tế, có thể thấy rằng niên đại của các đơn nguyên kiến trúc của đình Thanh Cù là không đền nhau Nhìn vào hệ thống cột của toà Đại Đình nó biểu hiện là một trong những công trình có niên đại sớm Và cũng để

Trang 20

chúng tôi thấy ở hệ thống cột còn có dấu vết của các lỗ mộng hình chữ nhật Đây là những lỗ mộng dùng để nắp ghép ván sàn theo như giáo sư Hà Văn Tấn

“ sàn đình là một kết cấu vốn có của những ngôi đình cổ còn bảo lưu lại đình

ở thời Mạc Sàn đình chẳng những giúp ta biết được tính chất bản địa của loại hình kiến trúc công cộng dân dụng này mà nó còn là một chứng cứ để góp phần minh chứng cho loại hình kiến trúc này có mặt khá sớm trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt cổ…”(1).Về niên đại của ván sàn sớm nhất thì cũng cùng với niên đại của ngôi đình hoặc có thể làm sau khi dựng đình Điều này trùng khớp với lời các cụ trong làng kể lại rằng đình trước đây có sàn Khoảng những năm 1951-1952 do chiến tranh để tiêu thổ kháng chiến, ván sàn của đình đã bị phá dỡ Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng trong toàn bộ ngôi đình cấu kiện sàn và hệ thống cột là ít thay đổi nhất Nó hầu như vẫn được giữ lại nguyên vẹn cho đến ngày nay Riêng bộ mái của đình thì mới được làm lại vào năm 2001

Đối với toà Ống muống và Hậu cung có niên đại thế kỷ XIX Như vậy

có thể khẳng định khi mới khởi dựng ngôi đình mang hình chữ nhất Các đơn nguyên kiến trúc khác mới được bổ sung ở giai đoạn sau này

Trải qua quá trình tồn tại tương đối dài cùng với biến động của môi trường tự nhiên và xã hội ngôi đình không tách khỏi được sự xuống cấp Năm

1990 nhân dân trong làng tự nguyện đóng góp tiền tu sửa phần tường, cột ở phần hậu cung Hiện nay khi đến đình, chúng ta có thể thấy rõ năm tu tử 1990 ghi ở phần tường của hậu cung Đồng thời xây dựng bức bình phong

Năm 1996 nhà nước hỗ trợ 100 triệu để tu sửa đình, đảo toàn bộ ngói làm lại cửa đình

Năm 2001 nhà nước hỗ trợ 100 triệu để tu sửa phần mái và xây dựng nghi môn

Như vậy, từ ngày khởi dựng năm 1691, đình Thanh Cù đã trải qua 4 lần

tu sửa lớn nhỏ vào các năm đó là: 1895, 1990, 1996, 2001

(1) Hà Văn Tấn (1998), Đình Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 20

Trang 21

Ngoài giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật, đình Thanh Cù trong thời kỳ cách mạng kháng chiến, nhiều hoạt động của địa phương đã được diễn ra ở đây Thời kỳ tiền khởi nghĩa, đình là nơi hoạt động hội họp bí mật của các đồng chí cán bộ cách mạng

Trong kháng chiến chống pháp thì Hậu cung của đình là nơi ẩn nấp của

bộ đội địa phương

Sau cải cách ruộng đất, năm 1956 đình là nơi đặt máy xay, máy xát Và sân đình được sử dụng làm sân phơi thóc

Năm 1960, Đại hội Đảng bộ huyện Kim Động họp tại đình Thanh Cù Ngày nay, tuy không mang trong mình nó nhiều chức năng như trước nhưng chức năng là trung tâm văn hoá tín ngưỡng của làng vẫn được giữ nguyên Người dân vẫn đến với đình trong niềm thành kính thiêng liêng vào đức Thành hoàng làng của họ

Với những giá trị thực chất vốn có của mình ngày 29 tháng 1 năm 1993

Bộ Văn hoá thông tin ra quyết định số 68/QĐ-BVH công nhận đình Thanh Cù

xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động xếp hạng “Di tích lịch sử văn hoá” Đây là một phần thưởng cao quí, là niềm tự hào của nhân dân Thanh Cù nói chung và đình Thanh Cù nói riêng

1.2.3 Sự tích nhân vật được thờ

Thành hoàng hiểu theo nghĩa đơn giản nhất – đó là vị thần bảo hộ thành trì Tín ngưỡng thờ thành hoàng đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu Đi tìm nguồn gốc của tín ngưỡng này ở Việt Nam chúng ta thấy có hai ý kiến cơ bản

Ý kiến thứ nhất cho rằng tín ngưỡng này có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa Người Trung Hoa ngay từ thế kỉ thứ V đã đắp các thành, hào bao quanh làng

để tránh kẻ thù và thú dữ và họ quan niệm có một vị hoả thần ngự trị trên các toà thánh đó Họ thờ thần để mong vị thần đó sẽ bảo vệ làng và tránh cho toà thành khỏi bị cháy trụi Khi người Trung Hoa và văn hoá Trung Hoa vào Việt Nam đã mang theo tín ngưỡng này nhưng lại phát triển theo hai xu hướng Xu

Trang 22

thành trì Còn xu hướng thứ hai, tín ngưỡng này đã về với các làng xã Việt Nam Thành hoàng ở Việt Nam không còn là vị thần thành trì nữa, mà là vị thần của làng xã Ý kiến này đã được đông đảo các nhà nghiên cứu đồng ý Còn ý kiến thứ hai cho rằng trước khi văn hoá Trung Hoa vào Việt Nam thì ở Việt Nam đã có tín ngưỡng thờ thần trong làng nhưng chưa có tên cho loại tín ngưỡng này và họ chỉ mượn danh của văn hoá Trung Hoa để cho vị thần của mình một cái tên trang trọng: Thành hoàng làng

Nhưng dù theo dòng ý kiến nào, về bản chất chung của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng vẫn là việc tôn thờ vị thần để vị thần đó bảo vệ cho cộng đồng làng xã, mong muốn vị thần đó sẽ ban cho họ một cuộc sống ấm no và tránh mọi tai ương, là một sự bảo hộ cho tâm linh cộng đồng người Việt

Các vị thành hoàng ở Việt Nam cũng rất đa dạng: thần tự nhiên, nhân thần, đa phần họ là các vị phúc thần Đó là những người có công với làng xã, với đất nước trong việc đánh giặc ngoại xâm hay khai phá lập làng, cũng có thể

đó là vị tổ nghề hay một thầy thuốc giỏi

Làng Thanh Cù cũng như bao làng quê khác ở nước ta, cũng có thành hoàng làng Vị thần được họ tôn làm thành hoàng để bảo hộ cho cả làng chính

là Uy đô đại vương Trần Linh Lang – có công đánh giặc Nguyên - Mông thế kỉ XIII

Qua việc tìm hiểu thực tế ở một số ngôi đình cùng thờ Uy Đô đại vương Trần Linh Lang làm Thành hoàng làng như: Nhật Tân, Yên Phụ, Phúc La (Hà Nội) và theo thần tích hiện còn lưu tại đình Thanh Cù có ghi chép về Ngài như sau:

Vương vốn dòng dõi Hồng Bàng, cháu con Bách Việt Ngày xưa Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh được một trăm người con (câu chuyện này có ghi trong sách Lĩnh nam chích quái) sau chia đàn con làm đôi, nửa theo mẹ lên rừng, nửa theo cha xuống biển, mỗi bên cai quản một phương, chăn dắt dân chúng Đại vương thuộc tộc Giao Long trưởng là Giáp Xích hiệu là Uy Linh

Trang 23

Lang cùng với sáu người em đều được thụ phong ở đất này Đó là Bạch giáp, Hồng giáp, Hắc giáp, Thanh giáp, Chu giáp, Tử giáp Về sau anh linh rạng rỡ, làm cho dân mạnh của nhiều, nhiều lần hiển ứng, thường được phong tặng

Đến đời Trần Thánh Tông, chính cung Minh Đức hoàng hậu chưa có con nối dõi, thường hay đến đền này cầu đảo Hơn nữa mỗi lần đến đây bà thấy thêm yêu phong cảnh ở Ngưu Uyên này Bỗng một hôm nằm nghỉ trưa, bà mơ thấy có một người mặt đẹp như ngọc, môi đỏ như son, đầu đội mũ mây, mặc áo bào gấm, đến trước mặt bà cúi chào và nói:

“Tôi là Uy Linh Lang, làm vương ở đất này đã lâu Nay gặp Thánh giá tới đây, ban nhiều ân sủng Hôm qua nhân tâu lên thiên cung, được đội ơn cho phép xuống trần gian.”

Phút chốc bà tỉnh dậy thấy lòng rạo rực và tự nhiên có thai.Trải qua 14 tháng vào giờ Tỵ ngày mùng 2 tháng 2 năm Ất Sửu bà sinh ra một bọc thai ở cung Sùng đức phường Nhật Chiêu nhưng cho đó là điếm chẳng lành, bèn ngầm sai cung nữ giấu vào cái thúng mang vứt đi Những người qua lại thấy

lạ, nhưng chỉ dám đứng xa nhìn vào, không dám lại gần Khi mặt trời lên cao bằng ba con sào, bỗng nhiên nghe thấy tiếng bọc thai vỡ ra, tiếng nổ như sấm Dân làng vội chạy tới xem thì thấy bào thai đã vỡ, hiện ra một cậu con trai nằm ngửa trong chiếc thúng, khóc tiếng lanh lảnh như chuông Thế rồi xa gần huyên náo, tiếng đồn lan tới tận trong cung Hoàng hậu thấy là lạ, bèn sai cung

nữ ngầm ra xem sao Cung nữ thấy dáng vẻ thanh tú, lẫm liệt, dĩnh ngộ lạ kỳ, bèn trở về thưa lại với Vua.Vua cười nói:

“Ngày xưa nàng nguyên phi họ Cao Tân tên là Khương nguyên sinh ra Hậu Tắc cũng giống như vậy, sao có thể gọi là yêu quái được.”

Thế rồi đem vào cung nuôi dưỡng Được năm tháng biết nói, đầy tuổi biết đi Đi đứng, ngồi nằm dáng vẻ như người lớn Vua cho rằng cậu bé sau này ắt trở thành người tài giỏi nên càng yêu mến, đêm ngày sủng ái và đặt tên

Trang 24

bác, xa gần ai nấy đều ngợi khen Là Hoàng tử con Vua song Ngài không thích hưởng quyền cao, phú quý mà ham thích học Phật pháp, thiên văn Năm 20 tuổi, Ngài nhiều lần dâng biểu xin xuất gia Vua và Hoàng hậu đều không đồng

ý Ngài bèn hoá trang mặc quần áo thường dân trốn đến Nam xương tức ấp Vũ Điện nhà Triệu Khang Lăng thụ giáo pháp Chưa đầy một tháng mà tất cả kinh sách của Phật đều đã hiểu cả Ngày tháng trôi đi, Ngài học thêm được nhiều điều bổ ích và trở thành người “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, Cửu lưu tam giáo không chỗ nào không hiểu biết tường tận và giỏi hơn cả là Kệ từ

sớ thuyết (các sách kinh Phật) Sa môn tăng chúng tất cả đều khâm phục học vấn cao diệu của Ngài

Đến đời vua Trân Nhân Tông, tướng Nguyên là Toa Đô đem hơn 40 vạn quân, chia làm hai đường thuỷ bộ tiến vào nước ta Trong nước rối loạn ở khắp nơi từ triều đình đến thôn dã tất thảy đều sợ sệt hoang mang Một ngày bốn, năm lần kinh động…Nhưng Ngài lại phấn chấn nói:

“Con người ta sinh ra ở đời, nên lẫm liệt hơn người, tỏ rõ là bậc đại trượng phu, chí khí ở tứ phương, nơi chiến trường da bọc thây Nếu không liều chết cứu dân trong lúc gian nan thì lấy gì mà ghi tên sử sách, để tiếng cho đời sau.”

Ngài bèn dâng biểu sớ bày tỏ phương lược diệt giặc, tự mình lập đội quân Hưng nghĩa để diệt trừ giặc mạnh.Vua ngợi khen ý chí của Ngài và đồng

ý Thế rồi, Ngài thu thập môn họ, dựng cờ nghĩa, chiêu mộ sỹ tốt tinh nhuệ được hơn một vạn người, phân bổ các đội, rèn luyện trận pháp Đội quân xưng

là “Thiên tử quân”, phục kích tiến đánh giặc Nguyên, phá tan quân giặc ở Bàn Than Quân của Ngài thừa thắng truy kích, lại đánh tan quân Nguyên ở Đông Mai, rồi lại hội với cánh quân của Hưng Đạo Vương, Trần Nhật Duật ở Vạn Kiếp Quân doanh đầy đủ, lại tiến đánh quân Nguyên ở Màn Trù (Kim Động), nhổ trại Đông Kết (Khoái Châu), một ngày giao chiến tám lần, cả tám lần đếu thắng, chém hơn 3 vạn tên, bắt sống tướng giặc Lý Hoà La và rất nhiều binh

Trang 25

lính Người Nguyên từ đó sợ không dám tiến đánh nước ta nữa Từ đó, đất nước yên tĩnh, cảnh tượng thanh bình trở lại

Về sau, do có công đánh giặc Nguyên, Ngài được phong là Dâm Đàm Đại vương Đến ngày mồng 3 tháng giêng năm Giáp Ngọ, bấy giờ vừa tròn 26 tuổi,ngài không nghĩ đến công danh, liền bỏ quan quy y theo Phật.Qua mười năm sau Ngài đắc đạo, liền đi giáo hoá khắp nơi, tất cả là 36 năm trời

Đến giờ Ngọ ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Tý, Ngài không bệnh mà mất Vua và Hoàng hậu thương xót khôn nguôi bèn lập miếu thờ nơi trước kia vứt bọc thai và gọi tên là điện Nhật Chiêu còn gọi là điện Linh Bảo và còn một tên nữa là Linh Lang thánh từ, lại cho xây dựng ở Bình Thọ đền thờ Ngài để ban khen bậc sinh đức, sắc phong là Hiển Minh Đức

Đến đời vua Trần Nhân Tông, do có công ngầm giúp cho khúc đê Yên Hoa khỏi bị vỡ nên Ngài được phong mỹ tự là: Dực Chính Hiển Ứng Phu hựu Đại vương Sáu người em cũng được phong: Bạch giáp Phương Ba Đại vương,

Tử giáp Đông Đầu Đại vương,Thanh giáp Đông Nga Đại vương, Hắc giáp Hoằng liệt Đại vương, linh thiêng càng tỏ rõ, các triều đại phong tặng

Trang 26

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH

THANH CÙ

2.1 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT

2.1.1 Không gian cảnh quan

Cũng như bao di tích khác trong làng xã Việt Nam, không gian cảnh quan mỗi di tích tồn tại có ý nghĩa đặc biệt Sự hoà quyện giữa hai yếu tố di tích và không gian cảnh quan tạo nên nét riêng của mỗi di tích Điều đặc biệt là, khi lựa chọn địa điểm xây dựng di tích bao giờ người ta cũng áp dụng những nguyên tắc cơ bản của thuật phong thuỷ để tạo nên sự cân bằng, hài hoà giữa các yếu tố âm-dương

Nói đến không gian cảnh quan của di tích là nói đến hướng, không gian

xa, gần và cây cỏ trong di tích

Trước hết là hướng đình: Đối với người Việt Nam, ước vọng của họ trông chờ ở di tích là sự linh thiêng Người ta tin tưởng rằng ở những nơi đó có những dòng sinh lực vũ trụ dần được đồng nhất với mọi nguồn hạnh phúc, nó chảy xuống đất, làm nảy nở thành sự sống, từ đó con người cầu những dòng sinh lực đó cho mọi mặt của cuộc đời

Đình Thanh Cù quay về hướng Đông Nam Theo quan niệm của người phương Đông, hướng Đông là hướng mặt trời mọc, là hướng của sự sống, của trường sinh bất tử Các đạo sỹ tìm về hướng Đông là tìm về sự sống, sự bất tử, hướng Đông là hướng tiến, hướng đất mở, phát triển của con người Còn hướng Nam nóng nhưng nó lại chứa gió nam mang đến sự mát mẻ vào mùa hè,

vì vậy trong dân gian thường có câu ca: “ Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng Nam”

Trang 27

Đối với đạo Phật thì hướng nam là hướng của người tu hành, đi vào tâm khảm của mình, nó đồng nhất với trí tuệ để diệt trừ sự ngu tối, tức là mầm mống của tội ác Người Trung Hoa cho rằng Thánh nhân ngồi quay mặt về hướng Nam để nghe lời tâu bày của thiên hạ, nghĩa là hướng của đế vương sau

đó là hướng của thần linh khi các ngài thành vua tinh thần của làng xã Như vậy, đình Thanh Cù quay về hướng Đông Nam nó đã phổ biến trong tư duy của người Việt từ khá sớm Đây là hướng của sinh kế, của trí tuệ, của thiện tâm, hướng của quyền lực nhằm đề cao quyền lực của vị thần được thờ, đó là Uy Đô đại vương Trần Linh Lang

Ngoài ra, đối với một di tích thường được quan tâm tới không gian xa và không gian gần

Không gian xa là thế đất Đình Thanh Cù xây dựng trên một thế đất cao, rộng lại bằng phẳng ở vào thế “Tả thanh long, hữu bạch hổ, tiền minh đường”,

“Đầu tựa sơn, chân đạp thuỷ” “Tả thanh long” là bởi bên phải của đình là thế đất của một con rồng mà chùa Thanh Cù hiện nay là nằm trên đầu rồng còn hai giếng chùa là hai mắt của rồng “Hữu bạch hổ” là bởi đình có gò đống chầu về

mà dấu tích còn lại tới ngày nay chính là lăng Đống Mối(gò Đống Mối) Con sông con bao bọc quanh làng chảy ra chợ Ngàng, chợ Thi đã tạo thế “tiền minh đường” cho đình Xa xa phía sau đình là dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa bồi đắp cho các vùng đất nơi hạ nguồn Phù sa đã góp phần đem lại mùa màng bội thu Hơn thế, dòng sông còn là nơi lưu thuỷ, lưu phúc Ngày nay, dòng sông con đã bị lấp để làm đường và nhà ở của người dân “Đầu tựa sơn” là bởi phía sau đình xưa kia là những gò nổi cao giống như những ngọn núi, là một điểm tựa vững chắc cho đình Còn “chân đạp thuỷ” là bởi ngay phía trước đình qua con đường liên xã là một giếng đình, đáp ứng yêu cầu về thế đất “tụ thuỷ, tụ phúc, tụ linh” Theo thuật phong thuỷ thì đó là thế đất đẹp-thế đất của đế vương

Trang 28

Không gian gần chính là sự bề thế của ngôi đình nổi bật với không gian xung quanh Trước đình là một giếng đình, nối giữa giếng đình và đình làng là một con đường liên xã Bao quanh đình ở phía sau là ao đình Giếng đình và ao đình đã tạo nên thế “chân đạp thuỷ” như đã nới ở trên biểu hiện cho nhu cầu sinh sôi phát triển của cộng đồng Nghi môn như là điểm giới hạn của đình với bên ngoài Bức bình phong như là vật cản mọi điều xấu xa, ô tạp

Khi nói đến không gian cảnh quan ta còn nói tới cây cỏ trong di tích Cây

cỏ được ví như bộ quần áo đẹp để trang hoàng cho di tích không trở nên “trơ trẽn” làm chúng được hoà quyện vào môi trường và không cách biệt Mặt khác cây cỏ còn như nhấn mạnh một điểm cơ bản xác định mảnh đất có di tích là tươi tốt thích ứng với đất thiêng, đất lành của muôn loài Xung quanh đình có trồng các cây như: cây đại, cây đề, cây cau…càng làm tôn thêm vẻ đẹp của ngôi đình cổ kính

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể

Đình Thanh Cù có sự phân bố hài hoà giữa các đơn nguyên kiến trúc Đối với kiến trúc truyền thồng mà nhất là các công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo, sự sắp xếp đơn nguyên kiến trúc trong tổng thể kiến trúc không đơn thuần

là việc phân chia giới hạn và công năng sử dụng, quan trọng hơn nó còn ẩn chứa yếu tố triết học, tư tưởng mà người xưa muốn gửi gắm

Mặc dù có sự tách biệt giữa các đơn nguyên kiến trúc nhưng chúng vẫn được bố trí trong một không gian tổng thể hài hoà với bố cục mặt bằng như sau:

Trước cửa đình, bên kia con đường là một giếng đình hình bán nguyệt Lối lên xuống để múc nước giếng đình được tạo bởi những tảng đá xanh hình chữ nhật và những tảng kê âm dương đế vuông, mặt chân tảng tròn Có thể đây

là những chân tảng âm dương ở chùa cũ đã bị phá trong chiến tranh Quần thể kiến trúc đình bị cắt ngang bởi con đường liên xã trong làng Điều này không làm giảm đi vẻ đẹp của một ngôi đình mà ngược lại còn góp phần làm tăng tính

Trang 29

biểu cảm của ngôi đình Con đường không những là phương tiện để nhân dân địa phương đến đình mà nó còn là cầu nối để nhân dân các xã khác và khách thập phương đến đình với sự ngưỡng mộ và cầu xin Thành hoàng một sự che chở và phù hộ Cũng từ đó sự che chở và phù hộ của Thành hoàng được lan toả khắp nơi giúp cho dân làng được khoẻ manh, cuộc sống no đủ với những mùa màng bội thu, làng xóm được thịnh vượng

Trước mặt giếng đình, qua con đường liên xã là đến nghi môn với ba cổng chính phụ khác nhau và hai bên có hai cửa giả được lấp kín

Qua nghi môn là đến một khoảng sân rộng lát gạch Cách cổng chính của nghi môn 3m là một bức bình phong hình cuốn thư Tấm bình phong này dài 1,3m, rộng 2,5m Bên trên cùng trang trí lưỡng long chầu nhật đặt trên lưng một hổ phù ngậm ngọc Chính giữa bức bình phong là một hình tròn bên trong tạo ô cách điệu theo lối chữ Thọ triện Bốn góc mặt trước trang trí bốn hình con dơi Dưới cùng là hình tượng mã hoá long Mặt sau bốn góc trang trí bốn bông hoa hồng Hai bên rìa ngoài cùng của cuồn thư có đắp nổi chữ Hán

Tấm bình phong ngoài tính chất trang trí ra, về mặt ý nghĩa triết học nó được xem như là một tiền án

Qua một khoảng sân rộng là đến toà Đại đình Đại đình là một ngôi nhà 5 gian 2 chái Kế tiếp là toà Ống muống 3 gian và sau cùng là Hậu cung 3 gian-là nơi linh thiêng nhất của đình

2.1.3 Các đơn nguyên kiến trúc

Nghi môn

Người xưa khi xây dựng nghi môn trong các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng với mục đích nhằm báo hiệu và khẳng định về vị trí, vị thế của ngôi đình.Hơn thế, nghi môn còn là sự khẳng định vị trí của mảnh đất thiêng Nghi môn với sự hiện diện của nó trong di tích đã tạo nên sự linh thiêng, thanh thoát

Trang 30

bên trong đồng thời là những mong ước của người dân thông qua những trang trí trên nghi môn

Xây dựng năm 2001 Nghi môn đình nằm sát trục đường của làng, được làm dưới dạng tam môn, bề rộng trải rộng theo chiều ngang toà đại đình Phần cổng giữa được làm theo kiểu truyền thống, với đặc trưng là hai cột trụ vươn cao thẳng đứng có chiều cao là 4m Hai cửa bên cũng được tạo dựng kiểu cột trụ nhưng có mái Khoảng cách giữa các cột đồng trụ chính với cửa bên và cột đồng trụ là khoảng tường để phân định không gian Phần tường này được xây theo kiểu thượng song hạ bản để tạo sự thông thoáng cho đình

Phần cửa chính là cửa nhà Thánh, để tạo mặt bằng không có bậc.Thông thường cửa chính chỉ mở dùng trong ngày lễ hội hoặc các Tết gắn liền với nghi thức nghi lễ truyền thống cửa địa phương Đồng trụ được tạo dưới dạng thân hộp chữ nhật đứng, với tiết diện tương ứng với kiến trúc toà đại đình, tạo sự vững chãi và uy nghiêm Đế trụ cao tạo sự vững chãi cho cột trụ

Thân cột tạo viền thành ba mặt nhưng để trống không đắp câu đối chữ Hán Phần đỉnh cột được tạo thành ba phần cơ bản Phần tiếp giáp với thân cột được tạo hõm dạng đèn lồng chữ nhật, lòng trong không trang trí gì Tại phần giữa của đỉnh thân cột cũng tạo thành mái chóp dạng mui lượn, bốn mặt đắp

hổ phù là thần linh của mặt đất gắn với sức mạnh của trần gian Các bờ góc được tạo lượn tránh sự thô nhưng vẫn tạo cảm giác ấm cúng Trên đỉnh trên cùng đắp hình hoa dành dành có 4 cánh gần giống dạng phượng lá lật, mặt ngoài được gắn những mảnh sứ Đấy cũng chính là ước vọng của người xưa thông qua biểu tượng của di tích để cầu mong sự bình an, yên ấm cho dân làng Hai cửa tả hữu được tao dạng cổng được xây theo lối cửa vòm cuốn có tạo đầu đao, mỗi cửa rộng1.5m, cao 2,3m

Toà Đại đình

Trang 31

Đến đình Thanh Cù, qua nghi môn đi vào một khoảng sân rộng lát gạch

đỏ thường chúng ta sẽ thấy ngay toà đại đình Sân đình bằng phẳng, sạch sẽ dài 24m, rộng 16m Ngoài việc đặt bức bình phong ngay sau nghi môn thì sân đình còn khoanh 2 ô tròn để trồng hai cây bàng tạo bóng mát góp phần làm cho không gian cảnh quan của đình thêm ấm cúng nhưng cũng không vì thế mà làm cho sân đình hẹp lại.Vào những dịp lễ hội, sân đình là nơi tập trung đông đảo nhân dân đến tham dự lễ hội và cũng là nơi để thực hiện một số hoạt động của lễ hội

Đứng ở sân đình, khi chưa đặt chân vào bên trong thì không gian bên ngoài trước mắt chúng ta đó chính là bộ mái

Mái đình rộng thấp tạo nên vẻ đẹp cổ kính cho đình Bộ mái cao và trải thấp xuống phía dưới như vậy sẽ tạo nên sự rộng rãi cho không gian bên trong, giúp mở rộng không gian sử dụng

Ngói lợp toà đại đình là ngói vẩy hến, một đầu để vuông, một đầu hơi nhô cao lên và có những đường gân nổi Loại ngói này thường được gặp trong các

di tích đình, chùa, miếu…Chính giũa bờ nóc đắp hình tượng “lưỡng long chầu nhật” Rồng ở đây được thể hiện có vẻ dữ tợn, thông qua mũi nổi khối, kết hợp với đao tóc, đao vây và đuôi có những đường sắc nét Thân rồng gắn các mảnh

sứ, rồng đang trong tư thế bươn trải hướng về trung tâm mặt trời Mặt trời với những đao bốc lửa, phía dưới được nâng đỡ bởi hổ phù Đầu kìm hay là con kìm hoặc kìm nóc, đây là một cấu kiện chốt giữ hai đầu bờ nóc được cách điệu hoá thành một chi tiết trang trí dưới dạng hình tượng con thuỷ quái Makara của nghệ thuật phương Nam-là một linh vật làm chủ nguồn nước.Từ những hình tượng như vậy thì phần nóc của ngôi đình đã biểu thị cho bầu trời vân vũ, gắn liền với sự cầu mong nguồn nước của cư dân nông nghiệp

Bờ dải đắp vữa đặc không trang trí gì Phần giữa mà chính là phần cuối

bờ chảy được tạo đắp hình tượng con náp dạng con nghê Phần đầu guột tạo

Trang 32

bởi hình tượng con phượng ngẩng đầu lên, phần mũi đao được gắn hình tượng đầu với những đao tóc ngắn

Với những bộ mái cong, các đầu đao, bờ dải, bờ guột…được uốn cong tạo

sự thanh thoát với những hình điêu khắc sống động, sinh động mà một số nhà nghiên cứu mỹ thuật gọi là “hoa đao” đã khắc phục tình trạng “chìm” xuống của kiến trúc Sự uốn cong của hoa đao và tàu mái giúp cho bộ mái chắc chắn, không bị tình trạng xô, tụt ngói Ngoài ra sự uốn cong của tàu đao lá mái như

là “những cánh tay vươn ra để đón nguồn sinh lực vũ trụ mà trời cha ban cho đất Mẹ để làm bừng lên cuộc sống trần gian”

Đại đình được dựng trên một nền tam cấp có độ cao 50cm so với mặt sân Bậc tam cấp này được tạo dựng bởi những tảng đá xanh có độ dài ngắn khác nhau được ghép lại với nhau

Khi đến bất kỳ một di tích truyền thống nào đều phải qua xa ngưỡng Xà ngưỡng là loại xà nối các chân cột, xà ngưỡng cách mặt nền 30cm Bước vào

xà ngưỡng là bước vào cõi thiêng Xà ngưỡng vớ một ý nghĩa khác trong trong liên kết kiến trúc Thực sự xà ngưỡng gắn với yếu tố tâm linh nhiều hơn, vì nó

là vật ngăn cản mọi thứ xấu xa, ô tạp của người đời trước khi bước vào cõi linh thiêng, thánh thiện

Cùng nói đến xà ngưỡng phải nói đến cửa Cửa gian giữa được tạo sáu cánh theo kiểu “thượng song hạ bản” Tuy nhiên, bốn cửa gian giữa được ghép chung với nhau và đây là phần cửa nhà Thánh, chỉ được mở khi có công việc lớn.Việc đi lại vào đại đình thông qua hai cửa nhỏ ở hai bên, các gian còn lại

hệ thống ngưỡng được nâng cao lên thông qua những ván lá rong cả ở trên và dưới.Cửa ở những gian này được làm theo kiểu “bức bàn” bởi những tám ván

gỗ ghép lại với nhau Ngoài ra, phần tường phía sau bên trái toà đại đình cũng được bưng ván đố Bên phải gian chái có tạo cửa thông ra phía sau

Bước qua khỏi bậc tam cấp là bước vào thế giới linh thiêng của toà đại đình Đại đình có kích thước: chiều dài 24m, chiều rộng 9m bao gồm 5 gian 2

Trang 33

chái mà thực chất là 2 chái lớn và 2 chái nhỏ được dựng trên liên kết 6 hàng trên cột Hệ thống cột gỗ được bào nhẵn nhưng để mộc không sơn Các cột này đều được làm bằng gỗ lim Theo các cụ trong làng kể lại thì gỗ này được mang

từ trong Thanh Hoá ra theo đường sông Hồng để về dựng đình Điều này là hợp lý bởi vì xa xưa cư dân Thanh Cù vốn dĩ là cư dân thương nghiệp, phần nhiều làm nghề buôn bán, và buôn bán ở khắp các vùng miền của đất nước Họ buôn chủ yếu là lâm sản trong đó gỗ được buôn nhiều trong thời kì phố Hiến còn hưng thịnh vào thế kỉ XVII Vì vậy không có lý gì mà họ lại không chọn

gỗ tốt để xây dựng đình

Các cột có kích thước và khoảng cách như sau :

Về kích thước: Cột cái cao 4,5m, chu vi 1,5m

Cột quân cao 4,3m, chu vi 1,3m Cột hiên cao 3m, chu vi 1,37m

Về khoảng cách: Khoảng cách giữa cột cái với cột cái : 4,3m

Khoảng cách giữa cộp cái với cột quân là 4m

Khoảng cách giữa cột quân với cột quân là 3,75m Đặc trưng kiến trúc truyền thống Việt là phần chịu lực chính không phải

là nền móng mà là sự vững chắc của công trình nhờ vào bộ khung kết cấu gỗ với các mối liên kết bằng mộng dẫn đến toàn bộ sức nặng của công trình thông qua hệ thống cột chịu lực rơi xuống những chân tảng kê gọi là “chân tảng âm dương” Chân tảng làm bằng đá xanh dưới dạng phần trên tròn được tạc dạng cánh hoa sen, nền bệ đế vuông có kích thước 40x40 cm Điều đó tạo nên sự cân đối, vững chắc và tạo nên sự hài hoà, đối ngẫu âm dương với mong muốn tạo cho công trình sự phát triển bền vững Riêng cột hiên bên trái toà đại đình được đặt trên chân tảng âm dương hình trụ tròn cao 30 cm, đường kính 25 cm Nền của toà đại đình được lát gạch Bát Tràng có kích thước 25*25cm, do

Trang 34

Trong 5 gian của toà đại đình thì sự phân chia công năng sử dụng có sự khác nhau Gan giữa đặt nhang án và sập thờ là nơi để tạo một không gian vừa

đủ để mọi người có thể vào lễ Bên trên là bức hoành phi “Tam linh quyến hữu” niên đại Thành Thái Đinh Dậu (1897), 2 gian kế tiếp xây bệ thờ bằng xi

măng Bên phải thờ mẫu và đặt tủ quần áo của thành hoàng Bên trái thờ các anh hùng liệt sỹ Gian chái là nơi đặt 3 kệu bát cống và 1 kiệu mẫu Các khoảng không khác đặt ghế ngồi để dân làng hội họp và tiếp khách

Trong kiến trúc cổ truyền người ta quan tâm đến bộ vì, bởi bộ vì là kêt cấu liên kết mộng nhiều nhất, nó liên kết hầu như toàn bộ các cấu kiện của bộ khung gỗ Từ đó cùng với khung gỗ tạo thành hệ thống chịu lực chính cho công trình nhằm đỡ bộ mái ở phía trên

Vì nóc được dựng trên câu đầu dạng vì kèo cột trụ thanh vuông Trên cột trụ thanh vuông bên phải của vì gian giữa có ghi niên đại khởi dựng đình

“Chính Hoà thập nhị niên” (1691) Và cột trụ thanh vuông bên trái của vì gian giữa ghi “Thành Thái đệ nhất niên, tuế thứ Ất Mùi tu tạo” (1895) Với kiểu

thức kiến trúc này tạo cho kiến trúc có phần vững chãi hơn, bởi kèo và cột trụ được đóng bén ăn mộng với nhau Phần vì nóc tạo dạng tam giác cân đứng toàn bộ và tải lực trên một câu đối lớn Phần trụ giữa đỡ lấy xà nóc thông qua một đấu hình thuyền

Phần đấu này không trang trí gì Câu đầu phần đỡ toàn bộ vì nóc Nó được làm bằng một khối gỗ lớn, chắc, khoẻ, ăn mộng rồi tì lực lên hai cột cái Đầu cột cái được xẻ rộng còn phần đầu của câu đầu thì được cất nấc hai bên

má để ấn lỗ mộng xuống đầu cột cái theo kiểu chốt mộng khá vững chắc, vừa khít vừa đẹp mắt Dưới câu đầu là hai đầu dư lớn chạm rồng Đầu dư ăn mộng vào cột cái, hai đầu dư quay vào chầu gian giữa Đầu dư đều tập trung ở gian giữa của toà đại đình Đầu dư ở đây chỉ mang tính chất trang trí là chính, ít chịu lực Nó chỉ có tác dụng tạo ra một phần, một mảng để trang trí cho di tích nhưng đây thực sự là những tác phẩm nghệ thuật lớn

Trang 35

Các bộ vì nách của toà đại đình có kết cấu giống nhau theo kiểu chồng rường Hai bộ vì nách ở gian giữa mái trước, các con rường một đầu ăn mộng vào cột cái, một đầu kia vươn ra đỡ hoành Khoảng cách các con rường được chắp khít với nhau thông qua một đấu vuông thót đáy dày và mập Riêng con rường cuối cùng không ăn mộng với cột cái mà chỉ có một đầu đỡ hoành và đỡ lấy con rường trước thông qua một cột trụ trốn lớn hơn tạo nên một mảng cốn Mảng cốn này trang trí hình chữ Vạn Các bộ vì nách khác, các con rường đặt chồng khít lên nhau thông qua một đấu vuông thót đáy to, mập tạo thành một mảng kín để trang trí các đề tài

Để đỡ mái hồi là hai bộ vì nóc có kết cấu theo kiểu kèo cầu cột trụ thanh vuông, 4 bộ vì ngang cũng được làm theo kiểu chồng rường Bộ vì được kết cấu như sau: Đầu cột chốn đỡ lấy một cây hoành lớn trên mái Cột chốn được đặt trên xà ngang hạ thông qua một đấu vuông thót đáy Các con rường cụt một đầu ăn mộng vào cột chốn, một đầu vươn ra đỡ các cây hoành Có một kẻ xó góc chạy từ cột hiên xuống và tới cột góc tạo thành chữ V úp, kẻ xó góc này có tác dụng đỡ toàn bộ góc mái đầu đao Không dừng lại ở đó mà kẻ xó góc còn chui qua cột trốn của vì nóc với kích thước nhỏ dần vươn tới gần sát thượng lương tạo thành chữ V úp

Hệ thống xà đùi, xà nách một đầu ăn mộng vào cột cái, một đầu ăn mộng vào cột quân, đỡ dưới là các nghé Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là dạng kiến trúc “thượng chồng rường hạ kẻ” Một số khác lại kết luận đây là kết cấu

“giá chiêng vì kèo cột trụ, cốn chồng rường, bẩy hiên”

Phương chịu lực chéo còn phải kể đến kẻ của vì cạnh gian giữa, chiếc kẻ này ăn mộng từ cột quân chạy ra cột hiên Kẻ được làm theo kiểu “cổ ngỗng”,

ăn ra phía ngoài rồi cong ngược lại Đầu còn lại của kẻ hiên vươn dài theo chiều dốc của mái, chui qua đầu cột hiên ra ngoài tạo thành bẩy hiên đỡ lấy tàu mái Phía trên của kẻ hiên là một ván nong được khoét lõm để giữ lấy các

Trang 36

cây hoành cuối cùng của hoành mái Trên bẩy có tầu đao và then tầu gắn với nhau để đỡ lá mái Lá mái đình Thanh Cù để trơn không tạo tác hoa văn

Phía sau đại đình kẻ cũng chui qua cột hiên tạo thành bẩy và người ta gọi lối hiên này là “tiền kẻ hậu bẩy”

Liên kết các cấu kiện gỗ theo chiều ngang của toà nhà là hệ thống các xà

Xà thượng, xà trung và xà hạ nối cột quân và cột hiên tạo nên khung chịu lực vững chắc cho toàn bộ phần mái của công trình Các xà không trang trí mà được soi gờ kẻ chỉ và bào nhẵn

Nhìn chung, toà đại đình Thanh Cù lớn, rộng và bề thế đảm bảo không gian sinh hoạt văn hoá cho cả làng Từ bộ mái đến cấu kiện kiến trúc bên trong, cùng với những liên kết mộng đã tạo cho ngôi đình sự vững chãi, tồn tại lâu dài Những mảng chạm khắc trên vì nách, đầu dư, bẩy đã tạo nên giá trị đích thực của đình làm cho đình xứng đáng là một công trình của thời đại

Toà ống muống

Qua toà đại đình là đến toà ống muống Toà ống muống gồm 3 gian có diện tích là: chiều rộng là 5m, chiều dài là 7m Giới hạn phần phía trên toà đại đình với ống muống là bộ vì ngang có kết cấu theo kiểu “giá chiêng”, ở các khoảng không của giá chiêng là những ván gỗ kín để ghi bức hoành phi

Toà Hậu cung

Trang 37

Hậu cung được nối với toà đại đình thông qua một ống muống Từ bậc tam cấp cao 45cm đựoc làm bằng gạch của toà ống muống qua một cửa bức bàn cao 2m, rộng 1m là đến hậu cung của đình Thanh Cù Đây chính là nơi thâm nghiêm nhất của di tích

Toà hậu cung được ngăn cách với toà ống muống thông qua hệ thống vì

“giá chiêng” hai bên là những đấu vuông thót đáy đặt lên thanh xà ngang, bên

trong có những mảng gỗ kín để viết hoành phi “Uy linh hiển ứng”, bên dưới

trang trí chạm thủng hình tượng “lưỡng long chầu nhật” Phần dưới cùng là hệ thống của bức bàn bởi những ván gỗ ghép lại với nhau

Về mặt kết cấu kiến trúc, đây là một toà nhà 3 gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc, nằm dọc so với toà ống muống và đại đình Nền nhà được lát gạch Bát Tràng giống như toà đại đình và lẫn một số gạch thường có kích thước 20x10cm

Bộ vì nóc được kết cấu theo kiểu vì kèo cột trụ thanh vuông giống như toà đại đình nhưng có qui mô nhỏ hơn

Vì nách là một kẻ ngồi hơi lượn hình vòng cung một đầu ăn mộng với cột cái, một đầu ăn mộng với xà nách tạo nên một hình tam giác vuông

Các bộ vì kèo được nối với nhau bởi xà thượng và hệ thống tường bao 3 phía tạo thành bộ khung chịu lực đỡ toàn bộ mái của hậu cung Để tạo ánh sáng cho phần hậu cung người ta đã dỡ bỏ một viên ngói trên mái mà thay vào

đó là một tấm kính có kích thước cùng với viên ngói đã dỡ

Trong hậu cung, các đồ thờ tự nhiều và có giá trị Đầu tiên là một sập thờ lớn trên đăt bát hương gốm, đĩa gốm, đao và giá đao, mâm bồng, đài thờ và giá đài, độc chúc Tiếp theo là một sập thờ lớn thời Hậu Lê, bên trên đặt bát hương, đài thờ và giá đài, 3 cỗ ngai thời Nguyễn với những trang trí, chạm khắc tinh xảo Trong hậu cung không có mảng trang trí nào trên kiến trúc Ta

có thể khẳng định toà hậu cung có sau toà đại đình Dựa vào những lần trùng

Trang 38

tu, tu sửa đình ta có thể phỏng đoán năm 1895 khi tu sửa Đại đình thì ống muống và hậu cung có thể được xây dựng từ thời điểm đó Tuy nhiên, dấu vết kiến trúc hiện tại của hậu cung là kết quả của lần tu sửa lớn năm Canh Ngọ (1990)

Toàn bộ hậu cung với ý nghĩa là khu vực linh thiêng, khó tiếp cận nhất

Vì đây là cung cấm cho nên hậu cung chỉ mở vào những ngày lễ hội và một sồ người trong ban quản lý di tích đình mới được vào tự do Nhân dân đến đình lễ chỉ ở toà đại đình nhưng họ vẫn tin rằng Thành hoàng làng sẽ nghe thấy được mọi điều nhân dân cầu khấn để rồi ban phước cho dân làng

2.1.4 Nghệ thuật chạm khắc trên kiến trúc

Ở mỗi làng quê đồng bằng Bắc bộ, kiến trúc gây ấn tượng nhất với du khách là đình làng Mái đình xoè rộng, bốn đầu đao cong vút, bộ cột đình đồ

sộ, ao đình soi bóng ngôi đình trầm mặc, dường như đình làng chỉ còn sống với thời đã qua Nhưng khi bước vào bên trong đình, không khí mát dịu làm ta như trút bỏ vướng mắc của đời sống, chìm vào những giá trị to lớn về văn hoá, lịch

sử và nghệ thuật

Điêu khắc trang trí đình làng là tác phẩm của những nghệ nhân mà ở đó

họ có dịp trổ tài kỹ thuật chạm khắc điêu luyện cũng như thể hiện tâm hồn nghệ sỹ với sự tự do trong tưởng tượng, phản ánh, bộc lộ cái cảm tự thân về hiện thực, bằng bất kỳ thủ pháp nào mà họ cho là phù hợp Và cũng qua những tác phẩm nghệ thuật đó, thế hệ sau này có thể hiểu đựơc phần nào đời sống tinh thần, vật chất cũng như quan niệm thẩm mỹ, thậm chí là cả tình hình văn hoá

xã hội lúc bấy giờ Tuy nhiên trong suốt chặng đường phát triển của mình thì điêu khắc trên đình làng có những bước phát triển riêng Thế kỷ XVI, XVII và đầu thế kỷ XVIII nghệ thuật dân gian phát triển nên các đề tài điêu khắc không

bị gò bó từ những hình ảnh con rồng, đến những tiên nữ cưỡi phượng thổi sáo, những cảnh sinh hoạt dời thường như đánh cờ, người mẹ cho con bú, thiếu nữ tắm hoa sen, cảnh nam nữ tự tình…Đến cuối thế kỷ XVIII đến XIX, các đề tài

Trang 39

chạm khắc có tính nghiêm ngặt hơn chủ yếu là đề tài tứ linh, hoa lá cách điệu

do triều đình phong kiến muốn đề cao quyền lực của thiên tử

Các kỹ thuật chạm khắc được sử dụng là kỹ thuật chạm thủng, chạm lộng, chạm bong kênh, chạm nông đã được các nghệ nhân sử dụng linh hoạt trong từng cấu kiện của kiến trúc

Những mảng chạm khắc trên kiến trúc đã làm cho các cấu kiện gỗ vốn đã

to, thô kệch trở nên mềm mại, sống động thậm chí còn có hồn như đang chuyển tải tiếng của ngàn xưa vọng về

Trong toàn thể trang trí kiến trúc người ta dành phần trọng tâm nhất để thể hiện ở toà đại đình Các mảng chạm khắc tập trung nhiều nhất trên những bức cốn, đầu dư và bẩy ở đình Thanh Cù, trong trang trí trên kiến trúc hầu như xuyên suốt và chi phối, lấy hình tượng rồng là ngôn ngữ chính để diễn đạt Khắp các đơn nguyên trong di tích ta có thể bắt gặp mọi chỗ, mọi nơi hình tượng rồng Trong đó bao gồm nhiều tư thế khác nhau, hình dáng, kiểu cách…làm cho di tích vừa gần gũi nhưng cũng thật cao vời

Trang trí trên đầu dư

Đầu dư được tạo tác biến thể của đầu rồng với các hoạ tiết đao chạm

thủng, chạm lộng và chạm bong kênh Đầu rồng có những chi tiết: mũi nổi khối, mắt quỷ, miệng lang, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, chân chim ưng, vẩy cá chép, móng chim ưng Đây là hình tượng rồng đã chịu ảnh hưởng của rồng Trung Hoa Miệng rồng ngậm minh châu, hai nanh rồng được biến thể dạng lá thiêng Chân rồng khuỳnh ra ốp vào dưới cổ, chân trong tư thế nắm chặt hai đao ở phía trước Những hoạ tiết khác như cổ lượn dạng cổ rắn với những đường khắc tạo độ cong, kết hợp với những đường diềm mềm mại làm giảm đi

sự thô kệch của phần kiến trúc

Trang trí trên các bức cốn

Trang 40

Trang trí trên các bức cốn của toà đại đình chủ yếu là hình tượng rồng và lân Nhìn chung, rồng được thể hiện ở dạng sọ bẹt, trán lạc đà, mũi sư tử với hai cánh mũi cuộn lại, đao mác theo kiểu râu cá trê ôm lấy hai bên mũi rồi lượn

ra phía trước, mắt phượng lồi trong hốc sâu, đao nhọn chạy ra phía sau thân hoá thành hai tai rồng dưới dạng đao hoả, trên tai là sừng nai hơi mập Từ ổ mắt bay ra những chiếc râu lớn trải dài ra hai bên Miệng rồng há mở Mác và râu rồng được nối liền cụm với nhau chạy từ đỉnh đầu tới cằm, tóc thì dài và uốn đuôi nheo Đuôi rồng thường theo kiểu cách có khi mang hình chiếc lá, có khi để bình thường và bay ra những lông dài lượn sóng đuôi nheo cũng có khi nhiều khúc thân uốn lại từ đó lông mọc ra tua tủa ngả theo chiều thể xoắn Chân thường ngắn mập Phía gần đuôi rồng thường có lông răng cưa rồi từ đó đao bay mọc ra, đao bay nhọn bay về một phía

Trong chạm khắc ở đình, có thể phân thành nhiều đề tài rồng khác nhau, mỗi con một vẻ thật sống động

Rồng ổ, rồng mẫu tử, phụ tử: ở chính giữa bức cốn là một đầu rồng lớn

thể hiện toàn mặt, xung quanh là những con rồng con được thể hiện chủ yếu là rồng có con đuôi chụm lại, có con thì nguyên con, tất cả đầu đang hướng về phía rồng mẹ, lại có những con rồng nhỏ đang quấn lấy râu của rồng lớn Ở vìgian chái còn xuất hiện cả thú nữa Người ta có thể đọc được ở đây một đặc tính có phần dè dặt về rồng, nó như hoá thân cả nguồn sinh lực dương tính đổ

về cho muôn loài để làm nảy nở những con vật nhỏ đùa giỡn trên râu người cha “vũ trụ” linh thiêng Những con vật này tạo cho những mảng chạm tránh được những nét thô cứng tạo nên một bức tranh sinh động thể hiện mong muốn con đàn cháu đống

Rồng ẩn: thể hiện gồm đầu rồng được chạm khắc trên đầu của con ruờng,

thân rồng hầu như không thể hiện do diện tích quá hẹp Nhìn chính diện ta thấy rồng ở đây như thu mình lại và ẩn hiện vào trong các cấu kiện kiến trúc với những đao mác lượn sóng rồi bay thẳng ra hai bên

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Minh Thảo, Trần Thị An, Bùi Xuân Mỹ(1997), Thành hoàng Việt Nam, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành hoàng ViệtNam
Tác giả: Phạm Minh Thảo, Trần Thị An, Bùi Xuân Mỹ
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 1997
2. Nguyễn Chí Biền(2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hoádân tộc
Năm: 2000
3. Toan Ánh(2000), Phong tục Việt Nam, Nxb. Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb. Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2000
4. Ngô Vi Liễn(1999), Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ
Tác giả: Ngô Vi Liễn
Nhà XB: Nxb. Văn hoáthông tin
Năm: 1999
5. Dương Văn Sáu(2008), Di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng Việt Nam
Tác giả: Dương Văn Sáu
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2008
7. Chu Quang Chứ(2003), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Chứ
Nhà XB: Nxb. Mỹthuật
Năm: 2003
8. Nguyễn Văn Cương(2006), Mỹ thuật đình làng Bắc Bộ, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật đình làng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thôngtin
Năm: 2006
9. Trịnh Minh Đức, Phạm Thu Hương(2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá
Tác giả: Trịnh Minh Đức, Phạm Thu Hương
Năm: 2007
10. Vũ Tam Lang(1999), Kiến trúc cổ Việt Nam, Nxb. Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tam Lang
Nhà XB: Nxb. Xây dựng
Năm: 1999
11. Trần Lâm Biền(2001), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dântộc
Năm: 2001
12. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự(1998), Đình Việt Nam, Nxb.Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự
Nhà XB: Nxb.Tp Hồ ChíMinh
Năm: 1998
13. Trần Mạnh Tường(1998), Đình, chùa, lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, Nxb.Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình, chùa, lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam
Tác giả: Trần Mạnh Tường
Nhà XB: Nxb.Văn hoá thông tin
Năm: 1998
15. Đinh Xuân Vịnh(2002), Sổ tay địa danh Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Vịnh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2002
16. Trần Lâm Biền(2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hoáthông tin
Năm: 2003
17. Trần Lâm Biền(2002), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb. Văn hoá dân tộc, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của ngườiViệt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
19. Lề hội cổ truyền(1992), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lề hội cổ truyền
Tác giả: Lề hội cổ truyền
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1992
20. Di tích lịch sử - văn hoá Hưng Yên, Bảo tàng Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hoá Hưng Yên
21. Nguyễn Phúc Lai(2001), Hưng Yên vùng phù sa văn hoá, Nxb. Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hưng Yên vùng phù sa văn hoá
Tác giả: Nguyễn Phúc Lai
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2001
22. Nguyễn Phúc Lai(2001), Hưng Yên 170 năm, Sở văn hoá thể thao Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hưng Yên 170 năm
Tác giả: Nguyễn Phúc Lai
Năm: 2001
23. Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động tập I, II Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm