1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình quan nhân (phường nhân chính quận thanh xuân thành phố hà nội)

101 109 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • MỞ ĐẦU

  • Chương 1ĐÌNH QUAN NHÂN TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

  • Chương 2GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘIĐÌNH QUAN NHÂN

  • Chương 3BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCHĐÌNH QUAN NHÂN

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Lý do lựa chọn đề tài

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, trong đó không chỉ chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm mà còn xây dựng bản sắc văn hóa độc đáo Di sản văn hóa, bao gồm các sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, ghi dấu những công sức và tài nghệ của cha ông Những công trình kiến trúc nghệ thuật mang đậm tính dân tộc, được sáng tạo qua thời gian, thể hiện sự khéo léo và thông minh của tổ tiên Di tích lịch sử - văn hóa chứa đựng quan niệm về thế giới qua kiến trúc, trang trí, phong tục và lễ hội cổ truyền Nghiên cứu những lớp văn hóa này giúp hiểu rõ hơn “bức thông điệp” mà thế hệ trước truyền lại, từ đó, người quản lý di tích có thể bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu đó.

Trong suốt lịch sử, người Việt đã hình thành bản sắc văn hóa độc đáo, trở thành vũ khí sắc bén chống lại kẻ thù Lịch sử chứng minh rằng, dù quân Nguyên Mông mạnh mẽ, họ đã ba lần thất bại trước tinh thần đoàn kết và sáng tạo của Đại Việt Tương tự, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dù trang bị vũ khí tối tân cũng không thể đánh bại lòng yêu nước mãnh liệt của nhân dân Việt Nam Hiện nay, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập toàn cầu, tinh thần này vẫn tiếp tục là nguồn sức mạnh quan trọng.

Văn hóa dân tộc giữ vai trò quan trọng trong giao lưu quốc tế, là nền tảng bảo vệ bản sắc mỗi quốc gia Nếu không có bản lĩnh văn hóa, các dân tộc dễ bị hòa tan trong làn sóng toàn cầu hóa Đình làng, một di tích lịch sử văn hóa truyền thống, ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố ngoại lai, thể hiện rõ nét bản sắc dân tộc Hình ảnh “cây đa, giếng nước, sân đình” đã trở thành biểu tượng quen thuộc, in sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam.

“Hôm qua tát nước đầu đình Để quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà ”

“Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

Ngôi đình là biểu tượng văn hóa sâu sắc của người Việt, tồn tại qua nhiều thế hệ với vẻ đẹp trầm mặc tại sân đình, bến nước và cây đa Đình không chỉ là nơi hội họp và thực thi các lệ làng như thu thuế, xét xử, mà còn là nơi thờ thành hoàng làng, thể hiện vai trò của “vị vua tinh thần.” Nghiên cứu về đình làng giúp chúng ta khám phá những giá trị văn hóa truyền thống quý báu, đáp ứng yêu cầu của Đảng và Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến và đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số đã dẫn đến sự đô thị hóa mạnh mẽ, gây ra tình trạng nhiều đình làng bị phá hủy hoặc thu hẹp Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu nhà ở của người dân tăng cao và sự xuất hiện của các nhà máy, xưởng sản xuất.

Sự gia tăng số lượng ngôi đình làng trong 3 ngày qua đã tạo ra nhu cầu cấp thiết trong việc nghiên cứu và tìm hiểu giá trị cũng như thực trạng của chúng Điều này giúp đưa ra những giải pháp hiệu quả để bảo vệ, tu bổ và phát huy giá trị văn hóa của các ngôi đình làng.

Hà Nội, với bề dày văn hóa ngàn năm, đã hình thành sớm thành một trung tâm chính trị và tôn giáo quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

Hà Nội nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử và văn hóa quý giá, phản ánh những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc qua thời gian Đình Quan Nhân, nằm ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Với sự đồng ý của Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và sự hướng dẫn của Tiến sỹ Phạm Thu Hương, tôi đã chọn di tích Đình Quan Nhân để nghiên cứu sâu hơn.

Hà Nội được chọn làm đối tượng nghiên cứu cho bài khóa luận tốt nghiệp của tôi, với hy vọng áp dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn để nghiên cứu toàn diện về di tích đình Quan Nhân Mục tiêu không chỉ là khám phá những giá trị ẩn chứa bên trong di tích mà còn góp phần vào việc bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị của nó thông qua các biện pháp từ các cơ quan chuyên ngành.

Mục đích nghiên cứu

Khóa luận nhằm nghiên cứu, tìm hiểu các mặt giá trị về lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật di tích đình Quan Nhân

Dựa trên khảo sát thực địa tại di tích và những hiểu biết cá nhân, bài viết này đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị vốn có của di tích.

Bài khóa luận này nhằm cung cấp thông tin và tư liệu hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu, góp phần nâng cao kiến thức trong lĩnh vực liên quan.

4 cao kiến thức chuyên ngành về di tích lịch sử - văn hoá nói chung và di tích đình Quan Nhân nói riêng.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng bao gồm chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, cùng với các phương pháp liên ngành từ bảo tàng học, sử học, dân tộc học, xã hội học đến mỹ thuật học.

+ Phương pháp khảo sát điền dã với các kỹ năng: quan sát, chụp ảnh, đo vẽ, ghi chép, ghi âm, phỏng vấn, nói chuyện, …

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như so sánh, phân tích – tổng hợp, thống kê, đối chiếu và tập hợp để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Bố cục bài khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, bố cục bài viết gồm 3 chương:

Chương 1: Đình Quan Nhân trong diễn trình lịch sử

Chương 2: Giá trị kiến trúc, nghệ thuật và lễ hội của đình Quan Nhân Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình Quan Nhân

ĐÌNH QUAN NHÂN TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT NƠI DI TÍCH TỒN TẠI

1.1.1 Vị trí địa lý Đình Quan Nhân nằm ở phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định 74/CP ngày 22/11/1996, chính thức hoạt động có hiệu lực từ ngày 01/1/1997

Quận Thanh Xuân, nằm ở phía Tây Nam Hà Nội, giáp với quận Đống Đa, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, huyện Thanh Trì và Từ Liêm, có diện tích 913,2ha và dân số khoảng 217.960 người (tháng 4/2009) Hành chính quận được tổ chức thành 11 phường, bao gồm Phương Liệt, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân Trung, Nhân Chính, Thượng Đình, Hạ Đình, Khương Đình, Kim Giang, Khương Trung và Khương Mai Đây là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa như đình Vòng, đình Khương Trung, và đặc biệt là gò Đống Thây, nơi ghi dấu chiến công của nghĩa quân Lam Sơn Thanh Xuân cũng là quê hương của nhiều danh nhân văn hóa như Đặng Trần Côn, Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Tuân Người dân nơi đây đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Thủ đô, tạo nên truyền thống văn hóa đặc sắc của Hà Nội Quận nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 7 km, giữa khu vực bờ Nam sông Tô Lịch và bờ Bắc sông Nhuệ, bao gồm các làng Mọc cổ thuộc xã Nhân Mục.

6 gồm 7 làng là: Thượng Đình, Hạ Đình, Giáp Nhất, Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Khoang

Phường Nhân Chính hiện nay có diện tích 160,9 ha với số dân 37.127 người (số liệu năm 2009) , với 16 cụm dân cư được chia thành 91 tổ dân phố

Phường có vị trí địa lý thuận lợi, phía Bắc giáp quận Đống Đa, phía Nam giáp phường Thanh Xuân Bắc thuộc quận Thanh Xuân, phía Tây giáp phường Trung Hòa của quận Cầu Giấy, và phía Đông giáp phường Thượng Đình.

Nhân Mục, một vùng đất có địa hình mấp mô với nhiều gò, đống và cây cối rậm rạp, đã tồn tại từ thời xa xưa Nơi đây còn ghi dấu qua các bia ký với những tên gọi như gò Miếu, gò Mả Chúa, gò Vòi Voi và gò Cổ Ngựa Ngoài ra, các xứ đồng như Mộc Dừa, Đường Ngang, Đường Nha, Bĩa Tranh, Đường Hương, Đọi và Chân Chim cũng góp phần tạo nên bản sắc độc đáo của khu vực này.

Theo ghi chép trong gia phả dòng họ Nguyễn Hữu Mục Tộc làng Chính Kinh, khu vực trước từ đường có núi, dòng nước và cây cối tươi tốt Để cải tạo địa hình cho cuộc sống thuận lợi, người dân đã khai hoang, xây dựng bờ lũy và ao chuôm, tạo nên những xóm làng và cánh đồng phẳng Họ cũng phát triển hệ thống mương máng, đào ao và giếng để chứa nước sinh hoạt và phục vụ cho việc cày cấy Vào mùa mưa, nước ngập xóm làng nhưng sau đó lại rút về ao, chuôm, đảm bảo nguồn nước cho mùa khô Ao không chỉ có chức năng chứa nước mà còn dùng để nuôi cá, thả bèo và trồng rau.

1.1.2 Lịch sử hình thành của vùng đất

Mỗi di tích lịch sử đều gắn liền với một địa danh và những nhân vật lịch sử, điều này ảnh hưởng đến tư tưởng và nếp sống của người dân nơi đó Ngược lại, chính những địa danh và con người này là minh chứng quan trọng cho sự tồn tại của di tích Do đó, để hiểu biết sâu sắc về di tích, cần xem xét mối liên hệ giữa chúng với con người và vùng đất xung quanh.

Đình Quan Nhận, một di tích lịch sử quan trọng, nằm ở làng Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Để hiểu rõ về đình Quan Nhận, cần phải tìm hiểu về vùng đất và con người nơi đây, nơi di tích đã hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ Việc nghiên cứu toàn diện về đình Quan Nhận không thể thiếu sự khám phá về bối cảnh lịch sử và văn hóa của khu vực này.

Trước đây, Nhân Chính được biết đến với tên Nôm là kẻ Mọc, chỉ vùng đất nhiều rừng rậm và cây to, và tên chữ là Nhân Mục Cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, do sự gia tăng số dòng họ, khu vực này đã được chia thành hai xã: Nhân Mục Cựu, bao gồm hai làng Thượng Đình và Hạ Đình, và xã Nhân Mục Môn, gồm các làng Giáp Nhất, Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Quang (Phùng Khoang), hiện nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân và xã Trung Văn, huyện Từ Liêm.

Nhân Mục Môn có phạm vi quản lý rộng lớn và dân số đông, dẫn đến việc vào cuối thế kỷ XVIII, thôn Phùng Khoang thuộc xã Nhân Mục Môn đã được tách ra khỏi huyện Thanh Trì, xứ Sơn Nam, và trở thành một xã thuộc tổng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đã xóa bỏ Bắc thành thành lập tỉnh Hà Nội thì tổng Khương Đình huyện Thanh Trì và hai tổng Dịch Vọng, Thiên

Mỗ của huyện Từ Liêm cũng đều thuộc vào đó

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1988, vua Đồng Khánh đã ký thỏa ước nhường quyền kiểm soát thành phố Hà Nội cho thực dân Pháp Đến ngày 26 tháng 12 năm 1896, toàn quyền Đông Dương đã ra quyết định chuyển tỉnh lỵ Hà Nội về làng Cầu Đơ thuộc huyện Thanh Oai.

Vào ngày 18 tháng 8 năm 1899, toàn quyền Đông Dương đã ban hành Nghị định tách các xã thuộc huyện Vĩnh Thuận, cùng một số xã của huyện Từ Liêm và Thanh Trì ra khỏi địa giới thành phố Hà Nội, hình thành khu vực ngoại thành.

1 Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, tập II, Nxb KHXH, Hà Nội, 1975, tr 71

2 Phạm Minh Phương, Lễ hội năm làng Mọc ở Hà Nội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2010, tr 20

3 Phạm Minh Phương, Lễ hội năm làng Mọc ở Hà Nội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2010, tr 23

Vào ngày 3/5/1902, tỉnh Hà Nội được đổi thành tỉnh Cầu Đơ Đến ngày 6/12/1904, toàn quyền đã ra Nghị định đổi tên tỉnh Cầu Đơ thành tỉnh Hà Đông Ngày 10/12/1914, toàn quyền tiếp tục ban hành Nghị định xóa bỏ khu ngoại thành Hà Nội, từ ngày 1/1/1915, khu vực này được gọi là huyện Hoàn Long thuộc tỉnh Hà Đông Từ ngày 25/8/1942, toàn quyền Bảo Đại đã quyết định nhập huyện Hoàn Long về Hà Nội, thành lập một đặc khu gọi là Đại lý đặc biệt Các xã thôn thuộc kẻ Mọc thời xưa cũng trở thành một phần của Đại lý này Vào tháng 5/1956, xã Nhân Chính chính thức được thành lập trên cơ sở đất đai và dân số của các làng Giáp Nhất và Quan Nhân.

Cự Lộc và Thượng – Hạ Đình là hai khu vực thuộc quận IV, Hà Nội Vào năm 1961, thành phố đã tách vùng Thượng – Hạ Đình khỏi xã Nhân Chính để nhập vào huyện Thanh Trì, trong khi Giáp Nhất, Quan Nhân và Cự Chính được chuyển vào huyện Từ Liêm, thuộc ngoại thành Hà Nội.

Ngày 1/1/1997, xã Nhân Chính chính thức trở thành phường Nhân Chính thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội Nơi đây là vùng đất ven đô, giàu truyền thống văn hóa hàng nghìn năm Theo sử sách, Nhân Chính nổi tiếng với những người đẹp, tiêu biểu là Thánh bà Trương Mỵ Nương, con gái của ông Trương Bồn và bà Hồ Thị Phỏng ở thôn Quan Nhân Mỵ Nương được miêu tả với vẻ đẹp thanh tú, nét mặt như ngọc, và dáng đi uyển chuyển Ngoài ra, hoàng hậu Trần Thị Tùng và cung phi Trần Thị Túc, con gái của quan Quản Lĩnh họ Trần ở thôn Hoa Kinh, cũng là những nhân vật nổi bật trong lịch sử địa phương.

Từ năm 1506, Thị Tùng được vua Lê Uy Mục phong làm hoàng hậu sau đó Thị Trúc cũng vào cung

4 Theo ngọc phả lưu lại ở đình Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Làng cổ ven đô này nổi bật với nhiều dòng họ lâu đời, vẫn còn lưu giữ gia phả và nhà thờ tổ Điển hình như dòng họ Nguyễn Hữu tại thôn Giáp Nhất, với nhân vật nổi bật là ông Nguyễn Tuấn, người đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Quý Sửu, hiệu Hoằng Định năm 1513 Ngoài họ Nguyễn Hữu, còn có dòng họ Nguyễn Đình, hiện đại diện bởi cụ Nguyễn Đình Bổng, và họ Nguyễn Bá, với cụ Nguyễn Bá Đạm giữ gia phả Các dòng họ này đã có mặt từ thời Lý, với tổ tiên giữ chức hữu bộc xạ, trong đó có những nhân vật nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Bá Học.

DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CỦA ĐÌNH QUAN NHÂN

1.2.1 Lịch sử hình thành, tồn tại của đình Quan Nhân Đình Quan Nhân được xây dựng cách đây lâu đời Theo thần tích lưu truyền do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm 1573 niên hiệu Hồng Phúc thứ 2 thì ngôi đình cũ được khởi dựng từ năm 1573 Đến năm Chính Hòa thứ 21 (1701) thì đình được chuyển về trung tâm trang ấp là ngôi đình Quan Nhân hiện nay Theo cụ từ kể lại, trước đây, đình được xây ở một vùng đất khác cách vị trí của đình hiện nay khoảng 5km về phía Bắc Sau một trận lũ lớn, ngôi đình cũ bị cuốn trôi, một số tấm lá cọ lợp mái trôi dạt về mảnh đất mà hiện nay đình đang tọa lạc Thấy vậy, người dân trong làng đã góp công sức, tiền bạc, ruộng vườn để xây lại ngôi đình

Căn cứ vào bia hậu tại đình, có ghi dòng chữ “Ngày lành tháng ba năm Chính Hòa thứ 21”, cho thấy ngôi đình Quan Nhân được xây dựng vào năm 1700.

Đình Quan Nhân đã bị hư hỏng nặng do chiến tranh và được xây dựng lại vào năm 1901, với ghi chép tại lòng thượng lương xác nhận ngày 24 tháng 6 năm 1901 Theo tài liệu chữ Hán còn lưu giữ tại Ban quản lý di tích, đình Quan Nhân đã trải qua nhiều lần trùng tu và tu sửa để có kiến trúc như hiện nay.

- Năm Khải Định Đinh Tỵ (1917) thay cột quân cuối cùng của gian bên phải đình

- Năm 1941, thay mái lợp lá bằng ngói mũi hài, thay ván dong của hậu cung đình bằng tường gạch, thay vì kèo hậu cung và toàn bộ rui, hoành,

Từ năm 1978 đến 1979, Ban quản lý di tích đã tiến hành trùng tu và sửa chữa một số cột, xà, đao, cùng với việc thay ngói Kể từ đó, người dân địa phương thường xuyên thực hiện các công việc tu sửa nhỏ như chống dột, đảo lại ngói, quét vôi vữa và chống mối mọt để bảo vệ di tích.

- Năm 2003, tiến hành lát lại sân đình bằng gạch Bát Tràng

- Năm 2011, xây dựng hệ thống tường bao bằng đá xung quanh di tích để bảo vệ di tích không bị xâm hại

1.2.2 Lịch sử vị thần được thờ trong đình Quan Nhân

Dựa trên bản ngọc phả “Việt Thường thị Hùng Hiền vương hoàng tôn Ninh Hải quận ngọc phả cổ lục” khắc trên bia đồng tại đình, thần tích của Thành hoàng thờ ở đình Quan Nhân ghi lại rằng, vào thời kỳ mở vận nước Nam, Thánh đế đã sáng lập cơ đồ, cha con nối tiếp nhau thống nhất giang sơn Thời Kinh Dương Vương, đến đời thứ hai là Lạc Long Quân, đã định cư tại núi Nghĩa Lĩnh và trị vì thiên hạ.

Quân đã kết hôn với Âu Cơ, con gái của Đế Lai, và phong bà làm Hoàng hậu Sau khi Âu Cơ mang thai, có mây ngũ sắc xuất hiện trên đỉnh Ngũ Lĩnh Bà sinh ra một bọc trăm trứng, từ đó nở ra trăm người con trai, tất cả đều có tài năng xuất chúng và anh hùng Khi trưởng thành, các con trai được vua cha phong hầu và chia thành 15 bộ để cai quản.

Một hôm, Long Quân nói với Âu Cơ rằng họ thuộc hai giống khác nhau, Rồng và Tiên, nên không thể sống bên nhau mãi Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, trong khi Long Quân dẫn 50 con xuống phía Nam và phong con trưởng làm Hùng Vương để kế thừa ngai vàng Tất cả các con đều trở thành thần núi, thần sông của nước Nam, thể hiện sức mạnh ở Ngũ Lĩnh và linh ứng ở góc biển trời Nam.

Một trong những con của Long Quân là Hùng Dược Công, bộ chủ xứ Kinh Bắc, đã lấy vợ là Cao Thị Châu từ đất Ái Châu Hùng Công nổi tiếng với lòng hào phóng và đức độ, trong khi chính phi của ông thì hòa thuận và trung hậu Sân vườn của họ tràn ngập cành lan và cành quế, báo hiệu sự xuất hiện của con gái Vào thời điểm này, Hùng Công đã ngoài 50 tuổi, còn phu nhân cũng đã ngoài 40.

Một hôm, chính phi trở về quê cũ đất Ái Châu để hành lễ bái yết gia tiên Trên đường đến chân núi trang Nam Ngạn, bà gặp một miếu nhỏ và quyết định dừng xe trú mưa khi thời tiết bất ngờ chuyển xấu Vào trong miếu, không gian trở nên mờ ảo, khiến bà cảm thấy như lạc vào giấc mơ Trong giấc mơ, bà thấy một người đàn ông cao lớn, dung mạo khôi ngô đứng bên cạnh và hỏi về danh tính của ông.

Thần đã được thiên đình phái xuống trần gian, và nhờ gặp được người mẹ, nên xin được đầu thai Sau khi nghe tin này, chính phi tỉnh dậy hoảng hốt và lập tức truyền sỹ tốt khêng kiệu xuất hành Khi trở về quê ngoại, bà thăm viếng lăng mộ cha mẹ và bái yết từ đường Hoàn tất mọi việc, chính phi lại tiếp tục hành trình về trị phủ Xứ Kinh Bắc.

Vào ngày 10 tháng Giêng năm Đinh Mùi, một cậu bé tai to, mặt lớn, với đôi mắt phượng và mày rồng ra đời, được đặt tên là Hùng Lãng Công sau 100 ngày Khi tròn 18 tuổi, Hùng Lãng đã thể hiện tài năng thiên bẩm, tính cách đôn hậu và khoan hòa, và được vua cha bổ nhiệm làm chủ tướng vùng đất Vũ Tiên.

Tại trang Quan Nhân, xã Nhân Mục Môn, huyện Thanh Trì, có một cô gái xinh đẹp, tài giỏi tên Trương Thị, con gái tộc họ lớn Trương Thị Khi 17 tuổi, cô theo cha đi buôn bán vải vóc và thường ghé qua đất Vũ Tiên Một ngày, Hùng Lãng tình cờ gặp cô và ngay lập tức bị cuốn hút bởi nhan sắc của nàng Hùng Lãng đã mời cha Trương Thị đến phủ để xin cưới con gái ông Trong cuộc gặp, Hùng Lãng bày tỏ mong muốn được kết duyên với Trương Thị, và cha nàng đã đồng ý, so sánh con gái mình như một đóa hoa đào yêu kiều Sau khi được cưới, Trương Thị được phong làm chánh phu nhân và sau đó trở về quê để bái lễ gia tiên vào ngày 18 tháng Giêng, nơi dân làng đã dựng quán để vợ chồng Hùng Lãng tạm trú và thờ phụng tổ tiên.

Sau khi rời khỏi làng, dân làng bất ngờ gặp phải dịch bệnh Họ lập đàn tế lễ và mơ thấy một người mặc áo xanh, cầm cờ trắng từ trên trời giáng xuống, tự xưng là thiên sứ đến giúp đỡ trong lúc khó khăn Sau khi truyền đạt thông điệp, người này lại bay lên trời Nhân dân nhận ra đây là điềm báo và mời các vị phụ lão để thông báo lại Vào ngày 12 tháng 3, họ tổ chức lễ bái tạ, từ đó bệnh dịch được tiêu trừ, cuộc sống của người dân trở lại yên bình.

Hùng Lãng đã lập một nơi thờ sinh thần và hứa sẽ hỗ trợ dân làng trong việc làm hộ nhi hương, đồng thời miễn trừ sai dịch để mọi người có thể tập trung phụng thờ thần Nhờ đó, nhân dân trong vùng sống an khang và xóm ấp trở nên khá giả, tất cả đều nhờ vào ân đức của ngài.

Khi giặc đông tới biên ải, triều đình đã cử tướng Hùng Lãng lãnh đạo quân đội ứng chiến Ông lập doanh trại tại Nam Chân và sau nhiều trận giao chiến, quân giặc bị đánh bại, hàng ngàn tên bị bắt Sau khi trở về dinh thự, ông lại bị quân giặc bao vây khi về quê, nhưng vẫn kiên cường chống trả dù chỉ có khoảng 60 người bên cạnh Sau 10 lần giao chiến, ông đánh tan quân giặc và nhận được sự khen ngợi từ vua Tuy nhiên, vào ngày 2/8, ông đột ngột biến mất giữa cơn bão, để lại nỗi tiếc thương cho dân làng Gia đình và dân làng đã tổ chức tang lễ và xây dựng miếu thờ ông cùng phu nhân, được phong là Dực Đức Quan Nhân, được thờ phụng qua các triều đại sau này.

GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH

GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC

Người nông dân Việt Nam dành tình cảm sâu sắc cho đình, coi đây là biểu tượng văn hóa quan trọng Họ không ngần ngại đầu tư tài sản để xây dựng công trình kiến trúc lớn nhất trong làng, từ đó hình thành những từ ngữ như “tày đình” để diễn tả những hiện tượng vĩ đại.

Kiến trúc đình làng là biểu tượng văn hóa truyền thống của dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng Ngôi đình không chỉ là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa mà còn là công trình linh thiêng, phục vụ cho tín ngưỡng của người dân Do đó, việc chọn đất và hướng xây dựng đình được xem là rất quan trọng, dựa trên quan niệm phong thủy trong tín ngưỡng truyền thống Đất dựng đình cần được lựa chọn cẩn thận, vì nếu chọn sai có thể gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho cả làng như mất mùa hay dịch bệnh.

“Toét mắt là tại hướng đình,

Cả làng toét mắt riêng mình em đâu”

Khi xây dựng ngôi đình, cộng đồng làng xã không chỉ chú trọng vào kiến trúc mà còn quan tâm đến cảnh quan xung quanh, lựa chọn kỹ càng vị trí để đảm bảo yếu tố tâm linh Việc xác định không gian cảnh quan của ngôi đình không chỉ đơn thuần là sự ngẫu nhiên mà còn liên quan đến yếu tố âm dương, tạo nên sự hài hòa giữa kiến trúc và môi trường xung quanh.

Trong thiết kế không gian lớn, việc chú trọng đến thế đất là rất quan trọng Mặt tiền cần phải quang đãng và càng thu hút hơn khi có núi non bao quanh, cùng với các gò đồi Người Việt thường tin rằng sự kết hợp giữa "tả thanh long, hữu bạch hổ" sẽ mang lại phong thủy tốt cho không gian sống.

Phía trước của các công trình kiến trúc người Việt thường hướng ra đồng ruộng hoặc gò đống, thể hiện quyền lực của thánh và yếu tố phong thủy Kiến trúc Việt Nam chú trọng đến sự hòa hợp giữa âm và dương, với kiến trúc cao tượng trưng cho dương và nước cho âm, tạo nên sự linh thiêng Ngoài ra, dòng chảy tự nhiên của sông cũng được coi trọng, với quan niệm rằng dòng chảy từ bên phải qua bên trái là hướng tốt nhất, mang lại hạnh phúc và phát triển Vị trí và thế đất trong không gian lớn cũng là yếu tố quan trọng không kém.

Vị trí xây dựng đình cần phải cao ráo và thuộc vùng đất “tụ linh, tụ thủy” để đảm bảo phong thủy tốt Người Việt tin rằng, nếu đình được xây ở vị trí thuận lợi, âm dương sẽ hòa hợp, mang lại sức khỏe cho dân làng, mùa màng bội thu và nhiều người đỗ đạt cao Ngược lại, nếu chọn vị trí không tốt, sẽ gây ra những tác động tiêu cực như mùa màng thất bát, dịch bệnh và thiên tai.

Trong không gian di tích, yếu tố âm – dương đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là yếu tố nước Người xưa thường tạo ra các giếng lớn và hồ nước gần di tích như những điểm tụ phúc, thể hiện sự tôn kính với thần linh và ước vọng từ tư duy nông nghiệp.

Khi xây dựng di tích, người Việt xưa đặc biệt chú trọng đến hướng của di tích Đình Quan Nhân được xây theo hướng Nam, hướng này được ưa chuộng vì đón gió mát vào mùa hè và tránh lạnh vào mùa đông Quan niệm này thể hiện sự khéo léo trong việc tận dụng thiên nhiên để tạo ra không gian sống thoải mái, phù hợp với câu nói "Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam."

Khi có ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, người ta tin rằng “Thánh nhân ngồi quay hướng Nam để nghe lời giãi bày của thiên hạ”, hướng này không chỉ dành cho các bậc đế vương mà còn cho các thần linh Người Việt từ xa xưa đã chọn địa thế đất đai thuận lợi cho việc sinh hoạt và làm ăn, với niềm tin rằng đất tốt sẽ mang lại sự thịnh vượng và tránh điều xui xẻo Đình Quan Nhân, tọa lạc trên một vùng đất rộng của làng, nằm ngay sát đầu làng, đã trở thành nơi tiếp nhận sinh lực cho cộng đồng và trừ bỏ những điều không tốt lành Kiến trúc của đình được bố trí hài hòa, tạo không gian thoáng đãng, bề thế và uy nghiêm nhưng vẫn gần gũi, thân thuộc.

Đình Quan Nhân nằm trước một ao lớn được hình thành từ việc dân làng đào đất để xây nền cho đình Ao có hình vuông, được bao quanh bởi tường gạch thấp dưới 1 mét, thiết kế cầu kỳ với các ô nhỏ tạo cảm giác thoáng đãng Mái tường lợp ngói mũi hài hài hòa, trong khi các trụ tường trang trí búp sen mang vẻ đẹp cổ kính Ao có ba cầu ao bằng đá xanh, bên cạnh là hai tượng cóc đất nung thể hiện ước vọng về mưa thuận gió hòa Hai bên cầu dẫn ra sân nổi ở giữa, với hai con rồng đá vươn ra phía ao sen Xung quanh ao là những cây cổ thụ như đa, xoài, si, tạo bóng mát, và ở giữa ao có khoảng đất hình vuông để chơi cờ người.

Trò chơi dân gian 23, thường diễn ra trong các ngày hội làng, mang đến không khí tao nhã và gần gũi Xung quanh, hình ảnh những đầm sen và cá thả tạo nên vẻ đẹp thanh bình, gợi nhớ về quê hương trong tâm trí mỗi người Việt khi xa xứ.

Hình ảnh “cây đa – bến nước – sân đình” thể hiện một tổng thể kiến trúc đình làng hòa quyện với thiên nhiên, nơi đình làng được bao quanh bởi những tán cây cổ thụ và dòng sông Cây cỏ không chỉ là bộ áo trang hoàng cho di tích mà còn khẳng định nơi đây là vùng đất tươi tốt, thích hợp cho sự phát triển của muôn loài Đình là niềm tự hào của dân làng, thường được xây dựng ở đầu làng, tạo nên bộ mặt đón tiếp du khách Qua cổng làng, mái đình Quan Nhân hiện ra giữa bóng cây si cổ thụ, trong khi lũy tre xanh bao quanh như một thành trì bảo vệ cho dân làng và ngôi đình Trước đình, những cây đa, cây si soi bóng xuống mặt hồ, được coi là nơi ngự của các thần linh, đồng thời là chốn nương tựa cho các linh hồn bơ vơ, nhờ gần gũi với đền, miếu, đình.

6 Trần Lâm Biền, Diễn biến kiến trúc truyền thốngvùng châu thổ sông Hồng, Nxb VHTT, Hà Nội, 2008, tr169,

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể di tích

Kiến trúc gỗ cổ truyền và kiến trúc Việt Nam mang đậm bản sắc văn hóa độc đáo, phản ánh di sản quý giá từ cha ông để lại Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa đã tạo nên những nét đặc trưng trong kiến trúc Việt, với xu hướng dàn trải thay vì vươn cao Điều này xuất phát từ khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và thiên tai, khiến công trình thường được xây dựng thấp để thích nghi với thời tiết, giữ cho không gian mát mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông Các công trình cổ như bị hút xuống đất, với mái nhà rộng che chắn cho con người khỏi mưa nắng, tạo cảm giác gần gũi với thiên nhiên Nguyên vật liệu xây dựng chủ yếu từ tự nhiên cũng hạn chế khả năng xây dựng các công trình cao lớn, làm nổi bật sự hòa hợp giữa kiến trúc và môi trường xung quanh.

Các công trình kiến trúc của người Việt chủ yếu được xây dựng ở nông thôn, phản ánh tư duy nông nghiệp sâu sắc của người dân Họ không chỉ là những người góp tiền và công sức mà còn là chủ nhân sáng tạo nên các công trình này Tư duy văn hóa cổ truyền Việt Nam, nặng về yếu tố nông nghiệp, đã ảnh hưởng lớn đến kiến trúc truyền thống Trong xã hội nông dân, ước vọng của họ không chỉ là giải phóng thân phận mà còn là mở rộng đất đai canh tác, từ đó nâng cao đời sống gia đình và mang lại hạnh phúc.

Kiến trúc cổ truyền của người Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa, thường dàn trải theo mặt bằng và mang đặc trưng của kiến trúc làng xã Do sự hạn chế trong xây dựng công trình cao tầng, kiến trúc Việt Nam ít phản ánh sự phô trương của tầng lớp trên, khác với xu hướng vươn cao của Trung Quốc và các nước khác để thể hiện vị thế Tâm lý ưa thích sự nhỏ nhắn của người Việt cũng dẫn đến việc các công trình kiến trúc thường có chiều cao khiêm tốn.

LỄ HỘI ĐÌNH QUAN NHÂN

2.2.1 Thời gian diễn ra lễ hội

Lễ hội là hoạt động văn hóa xã hội đặc trưng, phản ánh sự tồn tại trong các điều kiện khác nhau của đời sống Mỗi lễ hội đều có thời gian và không gian riêng, không có lễ hội nào tồn tại ngoài những yếu tố này Các lễ hội cổ truyền Việt Nam thường diễn ra hàng năm, theo chu kỳ Xuân - Thu hoặc mùa vụ nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp Nghi thức thờ cúng tổ tiên và thần thánh cũng diễn ra theo những chu trình thời gian nhất định, thường vào ngày giỗ tổ nghề, ngày sinh hoặc ngày mất của các nhân vật được thờ.

Lễ hội được tổ chức vào hai thời điểm quan trọng: khởi đầu và kết thúc mùa vụ nông nghiệp, nhằm tạ ơn thần thánh và cầu cho mùa sau bội thu hơn mùa trước Qua thời gian, lễ hội không chỉ phản ánh sự phát triển của đời sống người dân mà còn được duy trì và phát triển nhờ vào nền tảng tinh thần và vật chất của xã hội Thời điểm tổ chức lễ hội thường rơi vào mùa xuân và mùa thu, khi thời tiết thuận lợi và nông dân có thời gian rảnh rỗi Sau những tháng ngày lao động vất vả, người dân tham gia lễ hội để thư giãn, tái tạo năng lượng và khám phá những nét văn hóa mới mẻ trong cuộc sống.

Lễ hội đình Quan Nhân diễn ra hàng năm từ ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch, với sự tham gia của 5 làng trong lễ rước vào ngày 11/2 Tại làng Quan Nhân, lễ rước và tế lễ được tổ chức 2 năm một lần Năm nay, các làng Giáp Nhất, Cự Lộc, Chính Kinh, Quan Nhân và Phùng Khoang cùng nhau tổ chức lễ hội từ mồng 9 đến 12 tháng 2 âm lịch.

Ngày 11 và 12 tháng 2 được chọn làm ngày hội chính của 5 làng Mọc để tưởng nhớ ngày kết nghĩa anh em của Thành hoàng Việc tổ chức hội vào ngày này không chỉ giữ gìn truyền thống mà còn gợi nhớ đến tích chuyện xưa của cộng đồng.

Làng Mọc Quan Nhân từ lâu nổi tiếng với nhiều nhân tài xuất sắc, có nhiều người đạt được thành công và danh vọng Nơi đây có nhiều dòng họ nổi bật như Nguyễn Đình, Lưu, Lê Trọng, Phạm và Lê Sỹ, góp phần tạo nên truyền thống học hành và thành đạt của địa phương.

Lễ hội đình Quan Nhân, diễn ra tại làng Mọc Quan Nhân, là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống với hơn 50 dòng họ tham gia, thể hiện sự đoàn kết và phát triển của cộng đồng Ban tuyên truyền lễ hội đã chuẩn bị kỹ lưỡng tư liệu để giới thiệu về công trạng của Thành hoàng làng và các dòng họ đã góp sức xây dựng quê hương Hoạt động lễ hội được điều hành bởi Ban tổ chức, bao gồm các thành viên từ nhiều hội đoàn như Hội người cao tuổi, Đảng ủy, và Hội phụ nữ, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy – HDND – UBND – UBMTTQ phường Nhân Chính, đảm bảo tuân thủ các chỉ thị và nghị quyết của Đảng và Nhà nước.

Quần thể kiến trúc đình, chùa, phủ, văn chỉ, và các công trình như đường làng, ao sen, nhà Mộc Dục của làng được chỉnh trang và tu sửa đẹp mắt mỗi mùa hội Những di tích này mang đậm dấu ấn lịch sử, giúp người tham dự cảm nhận sự hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại Không khí thiền và sắc thái riêng của lễ hội tạo nên một trải nghiệm thiêng liêng, thu hút người dân tham gia để trở về cội nguồn và khơi dậy bản sắc dân tộc.

53 hơn bao giờ hết Họ cùng hòa nhập, cùng tạo dựng nên một hội làng, tạo dựng nên một truyền thống lịch sử của quê hương

Khi làng chuẩn bị vào hội, các đồ thờ tự được lau chùi sạch sẽ và bày biện ngay ngắn trên sân đình Công việc chuẩn bị cho lễ hội đã được bàn bạc từ trước Tết Nguyên Đán, với sự đồng thuận của toàn dân và chính quyền Vào ngày mồng 10 tháng giêng, làng tổ chức Lễ mừng thọ cho các cụ cao tuổi, sau đó cắt cử người để sắp đặt công việc cho hội làng.

Ban tổ chức lễ hội có trách nhiệm chuẩn bị từ 5 đến 6 ngày trước ngày hội chính, bao gồm việc cắt cử người hỗ trợ ông bà khởi chỉ, tổng cờ, cùng các hoạt động như giai nam, giai nữ, tập lễ, tập kiệu và tập dải quân Đội trống và bản múa bồng sẽ tập luyện để hoàn thành nhiệm vụ mà làng giao phó.

Không khí tại gia đình ông bà khởi chỉ, tổng cờ thật đông vui và náo nhiệt, vì không phải ai cũng được dân làng tín nhiệm tiến cử cho vị trí này Những ngày lễ hội mang đến sự háo hức và cả mệt mỏi cho các gia đình có con em được chọn, bởi chỉ những nam thanh nữ tú ngoan ngoãn, chưa lập gia đình mới được tham gia Các em phải tập luyện cúng lễ và đi đứng, với trang phục do làng cung cấp Không gian lễ hội được tạo nên từ di tích lịch sử, văn hóa và môi trường thiên nhiên của làng, làm nổi bật giá trị truyền thống Cảnh đẹp và hội vui không chỉ thu hút người dân mà còn làm say lòng thần thánh, với hội Xuân tại đình Quan Nhân và phủ Dực Đức, nơi thờ Đức Hùng Lãng Công và phu nhân Trương Mỵ Nương Hội Xuân là dịp để rước Thánh ông, Thánh bà cùng đi chơi xuân, và vào sáng ngày rước 11/2, nhân dân Mọc Quan Nhân đã mở hội tưng bừng, cùng nhau rước kiệu Thánh ông, Thánh bà ra đình Hội Xuân để tế lễ.

54 nằm gần cổng làng, cách đình Quan Nhân khoảng 500 mét Đình Hội Xuân từng là nơi Thánh ông và Thánh bà thường đến vãn cảnh và chơi xuân Vì vậy, mỗi khi tổ chức hội, dân làng sẽ rước Thánh ông và Thánh bà ra đình Hội Xuân để tưởng nhớ lại tích truyện xưa.

Lễ hội tại làng Mọc, đặc biệt là làng Mọc Quan Nhân, bao gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội Phần lễ là nghi thức thiết yếu, trong đó lễ rước của dân làng đóng vai trò quan trọng nhất Trong khi đó, phần hội diễn ra với nhiều hoạt động vui chơi hấp dẫn như đánh cờ người, chọi gà, cờ tướng, tổ chức đêm thơ và thưởng thức hát dân ca quan họ, tạo nên không khí sôi động cho lễ hội.

Vào buổi sáng, các tiểu ban đã tổ chức lễ trình tại đình với sự tham gia của ban khánh tiết và ban nghi lễ, bày trí voi, ngựa, nghi trượng rước, và các loại kiệu Trên sân đình, cờ Tổ quốc và cờ hội được kéo lên tại cột cờ trước cổng đình, trong khi cờ hội được treo dọc theo đường làng từ đình Quan Nhân đến đình Hội Xuân Đến chiều, Ban quản lý di tích, Chi hội người cao tuổi, và Ban tổ chức lễ hội đã tổ chức buổi giao nhiệm vụ và tặng hoa chúc mừng các ông bà khởi chỉ, tổng cờ.

Vào buổi sáng, các ông bà Khởi chỉ, Tổng cờ, giai nam và giai nữ đã tổ chức lễ trình Vào chiều cùng ngày, Ban tổ chức thực hiện buổi tổng duyệt với nghi trượng và nhân sự, nhưng lộ trình rước duyệt sẽ ngắn hơn, đoàn rước tổng duyệt sẽ đi quanh ao sen đình theo hội lễ.

Sáng nay, lễ khai mạc đánh cờ người đã diễn ra tại sân ao sen của làng, nơi mà trước đó vài tháng, người dân đã không thả cá, bơm nước và làm sạch lòng ao Kết quả là một sân cờ độc đáo với các lối lên xuống và bàn cờ được vẽ lại, mang đến một không gian thú vị cho sự kiện Ngoài sân cờ, bên trong đình là nơi tập trung của đoàn đại biểu.

THỰC TRẠNG DI TÍCH, DI VẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH QUAN NHÂN 62 1 Thực trạng không gian cảnh quan di tích

Nhiều di tích đã được công nhận là di tích quốc gia, nhưng thực tế cho thấy việc bảo tồn vẫn chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của các công trình kiến trúc Các cấu kiện bị mối mọt xâm hại và ô nhiễm môi trường làm mất đi vẻ đẹp của di tích Quá trình đô thị hóa với sự xuất hiện của nhiều nhà cao tầng và cửa hàng đã làm giảm đi sự tĩnh lặng và uy nghiêm của các di tích Do đó, nâng cao nhận thức về bảo tồn di tích là rất quan trọng, vì chỉ có bảo vệ và tu bổ tốt các di tích mới tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và giáo dục truyền thống cho thế hệ sau.

3.1.1 Thực trạng không gian cảnh quan di tích Đình Quan Nhân là một công trình kiến trúc được xây dựng rất lâu đời

Đình Quan Nhân không chỉ là trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của làng mà còn mang đậm hồn quê hương, là nơi để những người con xa xứ nhớ về Trong tâm thức người dân, đình vừa thiêng liêng vừa gần gũi, vừa tĩnh lặng vừa đông vui Được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh vào năm 1989, đình nhận được sự bảo vệ từ Đảng ủy, chính quyền địa phương và nhân dân Tuy nhiên, trải qua thời gian chiến tranh và khắc nghiệt của thời tiết, ngôi đình đã xuống cấp và cần được bảo quản, tu bổ.

Đình làng, tọa lạc trên mảnh đất cao ráo và thoáng mát, mang trong mình sự tôn nghiêm và thiêng liêng, được xem là nơi hội tụ linh khí của trời đất, nuôi dưỡng tinh thần của người dân Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã làm thay đổi cảnh quan xung quanh, khi những cánh đồng và căn nhà nhỏ dần bị thay thế bởi các tòa nhà cao tầng, khiến không gian của đình bị thu hẹp Hiện nay, ba hướng xung quanh đình đều giáp với khu dân cư, chỉ còn mặt trước là hai ao nước lớn và những cây cổ thụ tỏa bóng mát.

Ngày xưa, cây đa, bến nước, sân đình là nơi tụ họp của dân làng, nơi mọi người cùng nhau trò chuyện về cuộc sống và công việc Những người đi xa trở về thường dừng chân nghỉ ngơi dưới gốc cây đa, lắng nghe những câu chuyện từ bà cụ bán nước Vào những đêm trăng rằm, không khí vui vẻ diễn ra tại sân đình với những cuộc trò chuyện và hát hò Tuy nhiên, không gian yên bình đó giờ đây đã bị thay thế bởi sự ồn ào, nhộn nhịp của phố thị Đình làng trở thành nơi buôn bán, họp chợ, với quán nước và hàng ăn mọc lên san sát, làm mất đi vẻ tĩnh lặng vốn có Sự gia tăng dân số và hoạt động thương mại đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là nguồn nước, khiến ao đình không còn là nơi sạch sẽ cho người dân rửa mặt hay trẻ em vui chơi trong những ngày hè, mà giờ đây chỉ là nguồn nước bẩn thỉu và rác thải tràn ngập.

Những cây cổ thụ quanh ao đình, vốn mang lại bóng mát, đang bị người dân đục đẽo và đóng đinh để treo biển quảng cáo, gây hại cho cây xanh.

3.1.2 Thực trạng của các kết cấu kiến trúc Đình Quan Nhân là một ngôi đình được xây dựng khá lâu đời nhưng do được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương cũng như toàn thể nhân dân trong làng nên đình được bảo quản khá tốt Trải qua nhiều đợt trùng tu, bảo quản, đình vẫn ở trong tình trạng tốt Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của thiên nhiên như độ ẩm cao, mưa gió, thiên tai, … và những tác động của con người nên nhiều kết cấu kiến trúc đang bị hư hỏng

Hệ thống tường của di tích, được xây bằng gạch vữa, đang bị nấm mốc tấn công nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng bong tróc Đặc biệt, ở chân tường, nơi tiếp xúc gần với mặt đất, độ ẩm cao và sự xâm hại của côn trùng đã làm cho các vôi vữa bị phấn hóa và đổi màu.

Nghi môn của đình đã được sơn lại bằng những màu sắc sặc sỡ như xanh, vàng, đỏ, gây mất đi vẻ đẹp hài hòa của kiến trúc truyền thống.

Bậc thềm trước tòa đại đình được lát gạch Bát Tràng, nhưng sau một thời gian dài chịu ảnh hưởng từ thiên nhiên và con người, nền gạch đã bị hư hỏng đáng kể.

Nền gian giữa tòa đại đình được lát gạch hoa màu xanh nhạt, trong khi toàn bộ phủ Dục Đức sử dụng gạch hoa màu nâu đỏ Việc thay thế gạch Bát Tràng truyền thống bằng gạch hoa đã làm mất đi sự hài hòa và không phù hợp với kiến trúc gỗ cổ truyền Ngoài ra, vào những ngày nồm, độ ẩm cao khiến nền gạch hoa bị đổ mồ hôi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cấu kiện gỗ, đặc biệt là những bộ phận gần sát sàn như chân cột, cửa gỗ và hệ thống di vật.

Hệ thống cột cái, cột quân và cột hiên của đình được làm từ gỗ lim ròng, giúp duy trì vẻ đẹp và độ bền qua nhiều năm Tuy nhiên, chỉ có ba cột đình thấp hơn được đặt trên những

65 tảng kê chân cột giúp điều chỉnh chiều cao của các cột, tạo sự hài hòa cho không gian Hầu hết các cột đình được đặt trực tiếp lên sàn nhà, nhưng độ ẩm cao đã tạo điều kiện cho mối mọt và côn trùng xâm hại, dẫn đến hư hỏng nhẹ cho hệ thống chân cột.

Cột quân gian bên trái, mặc dù đã được thay thế một lần, nhưng do chất lượng gỗ kém và vị trí gần sân vườn cùng bể nước, đã chịu ảnh hưởng lớn từ thời tiết, dẫn đến hư hỏng Mối mọt xâm nhập sâu khiến cột bị nứt nẻ, làm cho các mộng ở phía trên cột và các xà bị lỏng, gây nguy cơ cho di tích.

Mái là bộ phận dễ bị hư hỏng nhất do tác động của yếu tố tự nhiên Hệ thống mái lớp ở đình Quan Nhân đã trải qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa, hiện vẫn trong tình trạng khá tốt Tuy nhiên, mưa, bụi bẩn và lá cây đã tạo điều kiện cho nấm mốc và rêu phát triển, khiến nhiều viên ngói bị phấn hóa và biến màu Hệ thống hoành trước đây được làm bằng gỗ xoan đào, rất chắc chắn, nhưng một số hoành đã bị hư hỏng do bom mìn Nhân dân đã thay thế bằng gỗ cây xoan mật, và dù đã được thay thế từ lâu, những hoành mái vẫn rất chắc chắn và ít bị mối mọt Theo lời kể của cụ từ, vào những ngày hè nắng nóng, những hoành bằng gỗ xoan mật lại tiết "mật" với hương thơm dễ chịu.

- Việc bố trí nội thất

Việc lắp đặt quạt trần trên các câu đầu không chỉ làm tăng trọng tải mà còn có thể gây hư hại cho các cấu kiện gỗ theo thời gian Mặc dù quạt trần giúp không gian trở nên thoáng mát, nhưng nó cũng làm giảm đi vẻ đẹp truyền thống của ngôi đình Ngoài ra, hệ thống loa lớn được lắp đặt trên hai cột quân ở hai gian thứ hai cũng cần được xem xét kỹ lưỡng về ảnh hưởng đến kiến trúc tổng thể.

VẤN ĐỀ BẢO TỒN, TÔN TẠO DI TÍCH ĐÌNH QUAN NHÂN

Đình Quan Nhân, với giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật vào năm 1989, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích này khỏi nguy cơ xâm hại Trong bối cảnh chiến tranh, Đảng và Nhà nước đã chú trọng bảo vệ di sản văn hóa thông qua các văn bản pháp lý như Sắc lệnh số 65/SL-CTP và Nghị định 519/TTg Hiến pháp năm 1992 khẳng định sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, nghiêm cấm các hành động xâm phạm Quốc hội đã ban hành Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009, cùng với nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được quy định tại Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT, nhấn mạnh mục đích bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

1 Bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trước những tác động xấu của môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội

2 Đảm bảo giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc và các giá trị chân xác của di tích về các mặt: vị trí, cấu trúc, chất liệu, vật liệu, kỹ thuật truyền thống, chức năng ngoại thất, nội thất, cảnh quan liên quan đến các yếu tố khác của di tích nhằm bảo vệ, phát huy các giá trị của di tích

3 Đảm bảo sự hài hòa giữa di tích với môi trường xung quanh Đồng thời, tại điều 3 Quy chế cũng giải thích một số khái niệm cho công tác bảo tồn, tôn tạo để cùng với việc nghiên cứu các nguyên nhân gây hại thực tế và thực trạng di tích đưa ra giải pháp tối ưu nhất như:

Bảo tồn di tích là các hoạt động thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại lâu dài và ổn định của di tích, từ đó giúp phát huy giá trị văn hóa và lịch sử của chúng.

+ Tu bổ di tích là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích

Gia cố và gia cường di tích là phương pháp quan trọng nhằm xử lý các cấu kiện của di tích, giúp duy trì ổn định cấu trúc và nâng cao khả năng chịu lực của chúng.

Tôn tạo di tích là hoạt động quan trọng nhằm nâng cao khả năng sử dụng và phát huy giá trị của di tích, đồng thời bảo đảm tính nguyên vẹn và sự hài hòa với cảnh quan lịch sử, văn hóa xung quanh.

Phục hồi di tích là quá trình tái tạo các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại, dựa trên các bằng chứng khoa học liên quan Quy chế hiện hành quy định 6 nguyên tắc quan trọng cần tuân thủ trong việc bảo quản, tu bổ và phục hồi các di tích này.

Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích chỉ được thực hiện khi cần thiết và phải có dự án được phê duyệt Đối với các trường hợp tu sửa cấp thiết, cần tuân thủ quy định tại điều 10, 11 của Quy chế Tất cả dự án và thiết kế liên quan đến bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích hoặc báo cáo tu sửa cấp thiết phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

+ Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích

+ Ưu tiên cho các hoạt động bảo quản, gia cố di tích trước khi áp dụng những biện pháp kỹ thuật tu bổ và phục hồi khác

Việc thay thế kỹ thuật hoặc chất liệu cũ bằng những phương pháp và vật liệu mới cần được tiến hành thí nghiệm trước để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả khi áp dụng vào di tích.

Chỉ được thay thế một bộ phận cũ của di tích bằng một bộ phận mới khi có đủ chứng cứ khoa học chính xác, đồng thời cần phải phân biệt rõ ràng giữa bộ phận mới và các bộ phận còn lại.

+ Đảm bảo an toàn cho bản thân công trình và khách tham quan

Theo Điều 32 của Luật Di sản Văn hóa, khu vực bảo vệ di tích được chia thành hai loại Khu vực bảo vệ I bao gồm các yếu tố gốc cấu thành di tích, nơi cần được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian Trong trường hợp đặc biệt, nếu có yêu cầu xây dựng công trình phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc này phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền xếp hạng di tích.

Khu vực bảo vệ II bao gồm vùng xung quanh hoặc tiếp giáp với khu bảo vệ I Mọi hoạt động xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích tại khu vực này, đặc biệt đối với di tích cấp tỉnh, cần phải có sự đồng ý bằng văn bản từ Chủ tịch.

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cần có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với các di tích quốc gia và quốc gia đặc biệt Tuy nhiên, thực tế cho thấy mỗi di tích có các khu vực bảo vệ khác nhau Ví dụ, Đình Quan Nhân chỉ có khu vực bảo vệ I, không có khu vực bảo vệ II, với khu vực I được xác định là nơi có các yếu tố gốc cấu thành nên di tích.

Các văn bản pháp lý do Nhà nước ban hành tạo ra cơ sở vững chắc để bảo vệ đình Quan Nhân khỏi sự xâm phạm, giúp di tích này duy trì vẻ đẹp nguyên gốc của nó trong tương lai.

Bảo quản di tích bao gồm ba hình thức chính: bảo quản phòng ngừa, bảo quản định kỳ và bảo quản xử lý Tùy thuộc vào thực trạng của từng di tích, chúng ta có thể áp dụng các phương pháp bảo quản khác nhau hoặc kết hợp các giải pháp để bảo vệ di tích hiệu quả nhất Đối với đình Quan Nhân, một số giải pháp bảo quản cần được xem xét và áp dụng để đảm bảo sự bền vững và giá trị của di tích.

KHAI THÁC VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐÌNH QUAN NHÂN

Di tích lịch sử văn hóa đình làng không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là trung tâm hoạt động văn hóa tín ngưỡng, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và bản sắc văn hóa của người dân Việt Đây là những di sản chứa đựng bản sắc văn hóa dân tộc, phản ánh tâm tư, tình cảm và ước vọng của nhân dân ta.

Trong bối cảnh đô thị hóa và toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Chúng ta cần đánh giá một cách khoa học và thận trọng các giá trị của di tích để đảm bảo chúng tồn tại lâu dài và nguyên vẹn Nhận thức rõ những giá trị quý báu này là trách nhiệm chung của toàn cộng đồng, nhằm ngăn chặn sự lãng quên và giữ gìn di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

Mục đích của việc phát huy giá trị di tích là sử dụng hiệu quả các giá trị lịch sử và văn hóa để giáo dục cộng đồng, đồng thời biến di tích thành nguồn lực cho phát triển kinh tế và văn hóa xã hội Để phát huy giá trị của di tích đình Quan Nhân, việc quảng bá và giới thiệu giá trị của ngôi đình cho cộng đồng là rất quan trọng Sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng trong xã hội hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc này.

14 Trịnh Thị Minh Đức, Phạm Thu Hương (2007),Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, tr185, Nxb ĐHQGHN

80 quảng bá hình ảnh ngôi đình với những giá trị độc đáo về kiến trúc và nghệ thuật thông qua báo đài, truyền hình, mạng Internet,…

Để quảng bá hình ảnh ngôi đình, chúng ta có thể gửi các mẫu quảng cáo đẹp và hấp dẫn đến các cơ quan, đoàn thể và trường học, đồng thời cũng nên gửi ra nước ngoài Uỷ ban nhân dân phường và Ban quản lý di tích cần đầu tư kinh phí cho việc in ấn và thiết kế mẫu quảng cáo để thu hút sự chú ý Với đời sống con người ngày càng phát triển và nhu cầu văn hóa tăng cao, địa phương cần đưa di tích đình Quan Nhân vào các tour du lịch để thu hút khách tham quan Du khách sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị tại ngôi đình, nhưng chính quyền cần có chính sách để khuyến khích họ quay trở lại Để làm được điều này, cần nghiên cứu và khai thác thêm giá trị thông tin tại di tích nhằm tạo sự hứng thú cho khách tham quan.

Ngoài việc tổ chức tham quan và giới thiệu di tích qua các phương tiện truyền thông, việc viết sách báo và tạp chí về di tích, như cuốn “Lễ hội năm làng Mọc ở Hà Nội” của Phạm Minh Phương, cũng rất quan trọng Hình thức giới thiệu này giúp du khách hiểu rõ hơn về giá trị của di tích một cách toàn diện và hệ thống Đồng thời, nó cũng góp phần tư liệu hóa những giá trị này, từ đó hỗ trợ công tác bảo tồn lâu dài các di tích văn hóa.

Làng Quan Nhân sở hữu cụm di tích lịch sử - văn hóa quý giá gồm đình Quan Nhân, chùa Quan Nhân, văn chỉ và đình Hội Xuân, tất cả đều nằm gần nhau trên một khu vực thuận lợi Sự gần gũi này tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết hợp các di tích nhằm quảng bá và phát triển du lịch tâm linh, thu hút khách du lịch từ khắp nơi.

Giáo dục ý thức bảo vệ di tích và di sản văn hóa cho người dân làng Quan Nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, là rất quan trọng Việc khuyến khích thanh niên tham gia các hoạt động lễ hội, trò diễn và trò chơi dân gian sẽ giúp họ tiếp xúc và hòa mình vào không gian văn hóa đặc sắc Qua đó, thế hệ trẻ sẽ hiểu và trân trọng giá trị của di sản, từ đó hình thành ý thức bảo vệ lâu dài cho những tài sản văn hóa quý báu này.

Khai thác và phát huy giá trị di tích cần đi đôi với việc bảo tồn, vì hoạt động này có thể làm tổn hại đến di sản văn hóa Không nên vì lợi ích kinh tế mà làm tổn thương di tích, mà cần giới thiệu di sản văn hóa cho cộng đồng, góp phần giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ tài sản quý giá Điều này rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
2. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng, Nxb. VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. VHTT
Năm: 2008
3. Bộ Văn hóa – Thông tin (2007), Luật di sản văn hóa là văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa là văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Bộ Văn hóa – Thông tin
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
4. Trịnh Minh Đức (Ch.b), Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Minh Đức (Ch.b), Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
5. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1996
6. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự (1998), Đình Việt Nam, Nxb. TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự
Nhà XB: Nxb. TP HCM
Năm: 1998
7. Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, Lê Mậu Hãn (2005), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, Lê Mậu Hãn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
9. Phạm Minh Phương (2010), Lễ hội năm làng Mọc ở Hà Nội, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội năm làng Mọc ở Hà Nội
Tác giả: Phạm Minh Phương
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2010
10. Dương Văn Sáu (2004), Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch
Tác giả: Dương Văn Sáu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
11. Chu Quang Trứ (1996), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: Nxb. Mỹ thuật
Năm: 1996
12. Hà Văn Tấn (2005), Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Hà Văn Tấn
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2005
8. Ngô Cao Lãng (1975), Lịch triều tạp kỷ, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w