1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình xuân lôi xã hồng minh huyện hưng hà tỉnh thái bình

103 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu di tích đình Xuân Lôi xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Tác giả Vũ Thị Phương
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Tàng Học
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù không tiêu biểu như những di tích vừa kể trên song đình Xuân Lôi xã Hồng Minh huyện Hưng Hà cũng là một di tích đáng được đề cập bởi dù là một công trình kiến trúc mang đậm phong cách

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

TÌM HIỂU DI TÍCH ĐÌNH XUÂN LÔI

XÃ HỒNG MINH, HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Mã số: 52320305

Người hướng dẫn: TS PHẠM THỊ THU HƯƠNG

Sinh viên thực hiện: VŨ THỊ PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài của mình, em đã tham khảo các

nguồn tài liệu như: Giáo trình, tư liệu lịch sử, các bài viết chuyên khảo, các

tư liệu dân gian…Tuy nhiên phần lớn các nguồn tư liệu trong khóa luận này

là kết quả khảo sát thực tế tại cơ sở dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng

viên hướng dẫn TS Phạm Thị Thu Hương và những cộng tác viên đã không

quản ngại khó khăn giúp đỡ cho việc nghiên cứu đề tài Qua khóa luận này,

cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm khoa Di Sản Văn

Hóa – Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội đã tạo điều kiện cho em thực hiện

đề tài Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới ban quản lý di tích đình Xuân

Lôi, Ủy ban nhân dân xã Hồng Minh, ban quản lý di tích tỉnh Thái Bình, các

cụ ca o niên trong làng Xuân Lôi đã nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện đề tài

Mặc dù có nhiều nỗ lực cố gắng nhưng do nhận thức và kiến thức

chuyên môn còn hạn chế nên bài viết chắc chắn cũng không tránh khỏi

những khiếm khuyết nhất định Kính mong sự góp ý của các thầy cô, các

nhà nghiên cứu và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện

hơn nữa

Em xin trân trọng cảm ơn !

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 ĐÌNH XUÂN LÔI TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 9

1.1 Tổng quan về vùng đất và con người nơi di tích đình Xuân Lôi tồn tại 9

1.1.1 Vị trí địa lý điều kiện tự nhiên và tên gọi 9

1.1.2 Truyền thống văn hóa 14

1.2 Đình Xuân Lôi trong diễn trình lịch sử 16

1.3 Lịch sử vị thần được thờ trong di tích 17

Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI CỦA DI TÍCH ĐÌNH XUÂN LÔI 25

2.1 Giá trị kiến trúc 25

2.1.1 Không gian cảnh quan 25

2.1.2 Bố cục mặt bằng 30

2.1.3 Kết cấu kiến trúc 31

2.1.4 Trang trí trên kiến trúc 41

2.1.5 Một số di vật tiêu biểu 45

2.2 Lễ hội đình Xuân Lôi 49

2.2.1 Khái quát về lễ hội ở Việt Nam 49

2.2.2 Lễ hội của đình Xuân Lôi 52

Chương 3 BẢO TỒN, KHAI THÁC VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH ĐÌNH XUÂN LÔI 59

3.1 Thực trạng di tích 59

3.1.1 Thực trạng cảnh quan, không gian xung quanh di tích 59

3.1.2 Thực trạng kết cấu kiến trúc 60

3.1.3 Thực trạng di vật trong di tích 61

3.1.4 Thực trạng lễ hội 62

3.1.5 Ý thức của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ di tích 63

Trang 4

3.2 Vấn đề bảo tồn di tích 64

3.3 Vấn đề tôn tạo di tích 73

3.4 Khai thác phát huy giá trị của di tích đình Xuân Lôi 74

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những di tích lịch sử văn hoá như đình, chùa, đền, miếu, lăng tẩm không chỉ đơn thuần là những công trình kiến trúc phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo mà đây còn là những tài sản vô cùng quý giá của dân tộc do ông cha ta để lại Nó có sức thuyết phục lớn đối với mọi thế hệ vì trong đó chứa đựng hơi thở và dấu ấn của mỗi thời kỳ lịch sử Đặc biệt những di tích lịch sử ấy còn được coi như những bảo tàng sống về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí, những giá trị văn hoá phi vật thể Bảo vệ di tích lịch sử văn hoá không chỉ đơn thuần là việc giữ gìn những thành quả vật chất mà cha ông

ta để lại mà hơn thế nữa là phải biết tiếp tục kế thừa và phát huy những sáng tạo những giá trị văn hoá mới phù hợp với xu huớng phát triển của hiện tại, giữ gìn bảo tồn di tích đó cho thế hệ mai sau

Tìm hiểu di tích lịch sử - văn hoá là tìm về với cội nguồi của dân tộc để

từ đó kế thừa và phát huy góp phần làm đẹp thêm truyền thống văn hoá ấy Những di tích sẽ trở nên có ý nghĩa hơn khi chúng ta đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu phân tích từng lớp văn hoá chứa đựng trong nó để có hiểu biết về văn hoá dân tộc, từ đó giữu gìn và bảo tồn những tinh hoa văn hoá , truyền thống, đạo đức góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Từ những tìm tòi hiểu biết về di tích chúng ta có thể đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm kết hợp hài hoà giữa quá khứ , hiện tại và hướng tới tương lai

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, những di tích lịch - sử văn hoá đã phần nào bị huỷ hoạ do bàn tay vô tình hay hữu ý của con người, thêm vào đó là sự khắc nghiệt của thiên nhiên khí hậu thời tiết nhiệt đới ẩm gió mùa và đặc biệt trải qua hai cuộc chiến tranh trường kỳ của dân tộc đã tàn phá

Trang 6

nặng nề khiến cho nhiều di tích đổ nát và xuống cấp nghiêm trọng hoặc đã bị phủ một lớp rêu phong vì sự lãng quên của con người

Trong những năm gần đây, hoà chung với xu thế phát triển của đất nước, các di tích lịch sử văn hoá đã nhận được sự chú ý quan tâm đặc biệt hơn của xã hội, có nhiều di tích được phục hồi, tôn tạo và phát huy được giá trị của mình Những lễ hội của di tích được bảo lưu và ngày càng trở nên có ý nghĩa thiết thực hơn trong đời sống cộng đồng Phải thừa nhận rằng chính những di tích lịch sử văn hoá đang đóng góp một phần vào sự phát triển và hoàn thiện con người, đưa con người tới một cuộc sống tốt đẹp hơn Một trong những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá ở nước ta hiện nay là công tác bảo tồn, trùng tu, và khai thác những giá trị văn hoá còn

ẩn chứa trong mỗi di tích lịch sử - văn hoá Mỗi chúng ta phải có ý thức bảo

vệ, gìn giữ viên ngọc quý giá mà cha ông ta đã để lại cho thế hệ hiện tại và tương lai, kế thừa những tinh hoa văn hoá của dân tộc phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc

Thái Bình là một trong những vùng đất giầu truyền thống Cách mạng, nơi sản sinh ra những con người hiền tài cho đất nước như: Lê Quý Đôn, Nguyễn Đức Cảnh…Bên cạnh đó, Thái Bình còn là một trong những cái nôi của làn điệu dân ca ngọt ngào với câu chèo tinh tế, dung dị, với những lễ hội dân gian phong phú Trong truyền thống, nét điển hình của văn hoá làng Thái Bình là một vùng văn hoá dân gian phong phú, với những lễ hội nhiều về số lượng, đa dạng về loại hình Bên cạnh những lễ hội truyền thống đặc sắc là những di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu của Thái Bình như : chùa Keo, chùa Chành, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, các đền thờ lăng mộ nơi phát tích của nhà Trần tại huyện Hưng Hà Dù không tiêu biểu như những di tích vừa kể trên song đình Xuân Lôi xã Hồng Minh huyện Hưng Hà cũng là một di tích đáng được đề cập bởi dù là một công trình kiến trúc mang đậm phong cách

Trang 7

kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn nhưng đây là ngôi đình có quy mô lớn, thức kiến trúc cổ truyền và khung kiến trúc được làm hoàn toàn từ gỗ lim Bên cạnh đó đình Xuân Lôi còn là một công trình chạm khắc hết sức tinh xảo, các

đề tài chạm khắc tứ linh, tứ quý có phong cách dân gian phong phú, sinh động thể hiện được sự khéo léo của những người thợ trong làng Nơi đây vẫn còn lưu giữ những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể rất có giá trị minh chứng cho bề dày lịch sử văn hoá của mảnh đất và con người Xuân Lôi - Hồng Minh

Việc tìm hiểu những di tích kiến trúc nghệ thuật dân gian của người Việt , cụ thể ở đây là di tích đình Xuân Lôi thực sự là một điều rất hữu ích và thiết thực bởi thông qua đó ta có thể phần nào tiếp cận được ý nghĩa, vai trò của ngôi đình trong đời sống sinh hoạt văn hoá cộng đồng dân cư từ xa xưa Đồng thời thông qua đó cũng giúp chúng ta nhận thấy sự sáng tạo tài tình của các nghệ nhân dân gian khi họ sáng tạo ra những công trình kiến trúc cổ truyền

Trải qua thời gian, cùng với sự tác động của thiên nhiên và một phần

do sự thiếu hiểu biết, ý thức của con người, ngôi đình đã bị xuống cấp và đang từng ngày từng giờ phải đối mặt với nguy cơ bị xâm hại Mỗi công trình kiến trúc dù lớn hay nhỏ đều ẩn chứa những giá trị của lịch sử, tuy nhiên nếu chúng bị hư hỏng hay mất đi thì coi như mất đi một phần của quá khứ Đây chính là minh chứng sống động cho mỗi bước đi của lịch sử dân tộc và cũng

là những di sản quý báu mà cha ông ta để lại Bởi vậy việc bảo tồn, trùng tu những công trình kiến trúc mà cụ thể ở đây là ngôi đình Xuân Lôi thực sự là vấn đề cấp thiết và vô cùng quan trọng không chỉ đặt ra với những cơ quan có thẩm quyền mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công dân

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này, là sinh viên năm thứ tư ngành Bảo tàng học với niềm say mê nghề nghiệp, cùng kiến thức

đã được học tập trong suốt 4 năm trên ghế nhà trường và quá trình thực tế tại

Trang 8

một số di tích, cùng với nguyện vọng của bản thân, tôi thiết nghĩ mình cần phải có trách nhiệm đối với công cuộc giữ gìn và bảo tồn các giá trị của di sản văn hoá Với sự khuyến khích chỉ bảo của các thầy cô trong khoa Di sản Văn hoá và giảng viên T.S Phạm Thị Thu Hương, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ tìm hiểu di tích đình Xuân Lôi xã Hồng Minh huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình” làm bài khoá luận tốt nghiệp, phần nào giúp hiểu thêm một di tích văn hoá trên quê hương Thái Bình

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những giá trị về lịch sử, văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật của di tích đình Xuân Lôi, trên cơ sở khảo sát thực tế, bước đầu đề xuất một số giải pháp mong muốn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị của di tích trong quá trình

đô thị hoá, hiện đại hoá

Tập hợp nhưng tư liệu nhằm cung cấp thêm thông tin cho việc nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hoá của Thái Bình nói riêng và của cả nước nói chung, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hoá

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích, di vật và lễ hội của đình Xuân Lôi thuộc xã Hồng Minh huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Trang 9

- Phương pháp nghiên cứu: khảo sát thực tế, so sánh, thống kê, phân tích, phỏng vấn…

6 Bố cục bài khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, bố cục bài viết gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương I Đình Xuân Lôi trong diễn trình lịch sử

Chương II Giá trị kiến trúc, nghệ thuật và lễ hội của đình Xuân Lôi Chương III Vấn đề bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị di tích đình Xuân Lôi

Trang 10

Chương 1 ĐÌNH XUÂN LÔI TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.1.Tổng quan về vùng đất và con người nơi di tích đình Xuân Lôi tồn tại

1.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tên gọi

Đình Xuân Lôi thuộc thôn Xuân Lôi xã Hồng Minh huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình Xã Hồng Minh nằm ở phía nam huyện Hưng Hà, có diện tích 8,189 km2 , dân số 9305 người, phía bắc giáp Minh Hoà và xã Độc Lập, phía nam giáp sông Trà Lý, phía đông giáp xã Chí Hoà, phía tây giáp xã Độc lập

và sông Hồng

Làng Xuân Lôi xưa có tên là làng Nhội, là một trong những làng cổ thuộc vùng đất Hưng Hà Thời kỳ đầu công nguyên, vùng đất Hồng Minh thuộc phía nam quận Giao Chỉ, đời Hán thuộc quận Vũ Bình, đời Đường thuộc đất Châu Diên, đầu đời Ngô Vương Quyền là đất Châu Đằng, Châu Khoái, đời Trần là lộ Long Hưng, thế kỷ thứ XV thuộc phủ Tân Hưng trấn Sơn Nam

Từ thời Lê đến thế kỷ thứ XIX, làng Xuân Lôi và một số làng khác thuộc xã Thâm Động, tổng Thượng Hộ, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương

Năm 1890 tỉnh Thái Bình được thành lập, tổng Thượng Hộ được cắt chuyển về huyện Duyên Hà, khi này Xuân Lôi thuộc xã Thâm Động, tổng Thượng Hộ huyện Duyên Hà

Mảnh đất Hồng Minh được hình thành từ rất sớm, khoảng 2700-3000 năm cách ngày nay Vùng đất này chịu ảnh hưởng trực tiếp và chịu tác động mạnh mẽ bởi dòng chảy của sông Hồng và sông Trà Lý, đặc biệt là do sự uốn khúc của sông Trà Lý đã tạo cho Hồng Minh một lượng phù sa lớn trong nội đồng và nhất là vùng đất bãi ven sông rất phì nhiêu màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trồng lúa nước và hoa màu

Trang 11

Do nằm ở ven sông giao thông đường thủy rất thuận tiện, đất đai phì nhiêu màu mỡ nên vùng đất Hồng Minh đã sớm thu hút dân cư từ nhiều nơi đến sinh sống làm nghề đánh cá và trồng lúa nước Vào khoảng thế kỷ VII-VI TCN đã có lớp cư dân từ vùng núi Ba Vì, Tam Đảo, Sơn Tây, Phú Thọ đã di

cư xuống vùng đồng bằng sông Hồng Ngoài ra còn có cư dân từ Thanh Hoá, Nghệ An, Nam Định đến vùng đồng bằng này, nhiều cư dân đã tìm đến các vùng ven sông, gò đống cao ở Hồng Minh để sinh sống

Nhờ có vị trí thuận lợi, đất đai màu mỡ nên cư dân đến đây ngày càng đông đúc, các làng xóm không ngừng được củng cố cả về dân số và địa bàn định cư sản xuất Ở đây đã hình thành các làng xã cổ như Kẻ Nhội, Kẻ Giai,

Kẻ Chài ( 1 đơn vị hành chính thời Hùng Vương), sau đó được biến âm thành các làng Cổ Lễ, Cổ Trai Ngoài ra còn có các tên Nôm như: Nhội (Xuân Lôi), Nấm ( Đồng Lâm), Nang ( An Nang), Nỏ ( Tân Mỹ) Theo các nhà nghiên cứu sử học thì những làng có tên Nôm và tên chữ Hán Việt là những làng Việt

Cổ, những làng này đã được hình thành và phát triển khoảng 2500 năm cách ngày nay

Hồng Minh là một vùng đất cổ, cùng với quá trình hình thành làng xã, tên các làng ở xã Hồng Minh cũng có nhiều thay đổi theo từng thời kỳ Ở thời

kỳ đầu công nguyên, Hồng Minh thuộc vùng phía nam của huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ Đến thế kỷ thứ VI, Hồng Minh thuộc về trang Vĩnh Duyên, sau đến thời Trần, đất Hồng Minh nằm ở phía Bắc huyện Bổng Điền thuộc phủ Thiên Trường, sang đến thời Lê thuộc huyện Thư Trì phủ Kiến Xương1

Bước sang thời Nguyễn, đất Hồng Minh gồm các xã Phú Nha, Thâm Động, Tịnh Xuyên, trang Tịnh Xuyên phường Thượng Hộ thuộc tổng Thượng

Hộ huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, thôn Cổ Trai thuộc xã Thọ Duyên , tổng Duyên Hà, phủ Tiên Hưng

1 Dẫn theo Tên làng xã Thái Bình qua các đời Nxb Hội văn học nghệ thuật Thái Bình 1993

Trang 12

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, phạm vi địa giới, tên làng xã của vùng đất Hồng Minh có sự thay đổi lớn, các xã Thượng Hộ ( Cổ Lễ), Phú Nha, Thâm Động ( Xuân Lôi), Đồng Lâm, An Nang ( Phủ Nỗ), Tịnh Xuyên, Tịnh Thuỷ thuộc tổng Thượng Hộ và thôn Đồng Đào, xã Vị Sĩ thuộc tổng Vị

Sĩ, huyện Hưng Hà1

Tháng 3 năm 1946, Hội đồng nhân dân Tỉnh Thái Bình ra quyết định

bỏ tổng, đổi phủ thành huyện Lúc này địa danh hành chính của xã Hồng Minh gồm: Thâm Động, Phú Nha thuộc xã Phú Động, Cổ Trai thuộc xã Thanh Trai, Tịnh Xuyên, Tịnh Thuỷ thuộc xã Kháng Xuyên, Đồng Đào thuộc

xã An Lại, Thọ Phúc thuộc xã Thọ Bùi, Cổ Lễ, Minh Thành, Cổ Rồng thuộc

xã Thượng Hộ

Thời kỳ 1945-1955, Xuân Lôi thuộc xã Hồng Phong huyện Duyên Hà Ngày 17/6/1969 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 93/ CP điều chỉnh địa giới các huyện thuộc tỉnh Thái Bình, huyện Hưng Nhân sát nhập với huyện Duyên Hà thành huyện Hưng Hà Ngày 13/2/1972 trên cơ sở sát nhập xã Minh Hồng và xã Hồng Phong lấy tên là xã Hồng Minh Kể từ năm 1977 đến nay, làng Xuân Lôi thuộc xã Hồng Minh huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình

Năm 2003 theo quyết định của Uỷ ban Nhân dân Tỉnh Hồng Minh còn

11 thôn: Thọ Phú, Tân Mỹ, Đồng Lâm, Phú Nha, Xuân Lôi, Cổ Trai, Minh Xuyên, Minh Thành, Tịnh Xuyên, Tịnh Thuỷ, Đồng Đào Làng Xuân Lôi trở thành thôn Xuân Lôi, xã Hồng Minh huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình Thôn Xuân Lôi có diện tích tự nhiên 69,12ha, dân số 1042 nhân khẩu Làng Xuân Lôi nói riêng và xã Thâm Động xưa kia nay thuộc Hồng Minh nói chung là mội miền đất ngã ba sông Hồng và sông Trà Lý, từ xã xưa đã có cư dân người Việt cổ sinh sống và lập làng nơi đây Theo các nhà nghiên cứu lịch sử và cuốn “Địa danh Thái Bình xưa và nay” : “ Động” là nơi ở của con người cổ trong hang động miền núi, sau thành danh từ chỉ 1 đơn vị cư trú: khi xuống

1 Dẫn theo Tên làng xã Thái Bình qua các đời Nxb Hội văn học nghệ thuật Thái Bình 1993

Trang 13

đồng bằng “ động” là một đơn vị hành chính nhỏ, là loại hình đơn vị hành chính “ tối cổ”1 Xuân Lôi nói riêng và Thâm Động đã có sự phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội từ xa xưa Ngay trên bờ sông Trà Lý còn có một bến cổ, gọi là bến Hợm, tương truyền đây là bến tập trung quân lương của Lý Bôn trong cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Lương, và là bến “cảng” của ngã

ba sông Hồng - sông Trà Lý, nơi hội tụ thông thương Nam - Bắc, Đông - Tây trong suốt thời kỳ lịch sử phong kiến

Thời Lý Trần, vùng đất này là cứ địa của cuộc kháng chiến Lý Bí ( Lý Nam Đế) và triều Lý, đến thời Trần, vùng đất Long Hưng, Ngự Thiên là miền quê phát nghiệp của Vương triều Trần, nên vùng đất này có đền thờ ba vua Tiền Lý có miếu Long Hưng, cung Lỗ Giang và đền thờ các vua Trần ở xã Thâm Động

Vị trí địa lý làng Xuân Lôi: Phía Đông giáp làng Tịnh Xuyên, phía bắc giáp sông Giai, phía Tây giáp làng làng Đồng Lâm, phía nam giáp sông Trà Làng được bao quanh bởi 3 con sông: sông Trà, sông Giai, sông ba Tư Vòi Sông Trà Lý là con sông lớn chảy qua làng, sông Giai là con sông dẫn nước vào nội đồng (tương truyền được đào từ thời Tiền Lý, khi Lý Bôn dựng cờ khởi nghĩa đã cho đào con sông này để chuyên chở quân lương) Sông Ba Tư Vòi được đào năm 1977 để dẫn nước tưới tiêu nội đồng

Làng Xuân Lôi có rất nhiều gò đống như: đống con Mèo, đống Gò…

và các càn như: càn Mả dài, càn Mả tiện, càn Lẫm, càn Cổ ngựa Đó là những

gò đất cao ở bốn phái xung quanh làng, các gò cao rộng này được làm nơi an táng những người quá cố của dân làng ( thổ ngữ địa phương gọi là Càn)

Chạy dọc theo làng là con đường Đỗi Hà, trên con đường này có một mốc đá được các cụ chôn từ thời cổ để phân chia ranh giới giữa làng Nhội với làng khác

1 Dẫn theo Địa danh Thái Bình xưa và nay Nguyễn Thanh ( ch.b)

Trang 14

Nghề nghiệp chủ yếu của người dân Xuân Lôi là nghề trồng trọt, có trồng lúa nước và trồng cây hoa màu Ruộng canh tác của làng ở độ cao thấp không giống nhau nên được chia làm ba cánh, trũng nhất là cánh đằng trước (trước nữa được chia làm năm đỗi, từ trên cao xuống đỗi nhất, đỗi nhì, đỗi tam, đỗi tứ, đỗi ngũ), tiếp đến là cánh đằng sau và cao nhất là cánh đồng Thanh Đồng Đất đai của làng chủ yếu là do sông Hồng và sông Trà bồi đắp Tổng diện tích đất canh tác của làng là 532.488m2

Vùng đất Xuân Lôi do thuận lợi về vị trí địa lý và đất đai màu mỡ nên ngay từ rất sớm đã có cư dân đến cư trú, hình thành nên làng Nhội với một nền văn hoá làng xã lâu đời Theo truyền ngôn thì từ thời cổ đã có một số dòng họ chính từ miền núi trung du phía Bắc xuôi dòng sông Hồng mà xuống như: Phạm, Đoàn, Lê, Trần, Nguyễn Sau đó có thêm một số dòng họ khác đến sinh sống Hiện nay trong làng có hơn 20 dòng họ như họ Nguyễn, họ Phạm, họ Trần, họ Đoàn, họ Hoàng, họ Lê, họ Phan, họ Đào, họ Vũ, họ Bùi Trong những họ này đã có một số người đỗ đạt cao và làm quan lớn trong triều đình phong kiến như cụ: Trần Ngọc Lâm ( từng giữ chức Hàn lâm thư viện tại triều Nguyễn) , cụ Hoàng Thời Lượng ( đỗ cử nhân vào thời Nguyễn)… Ngoài ra còn có một số vị khác làm quan tri huyện và một số vị

Trang 15

trong những công trình do chính bàn tay những người con quê hương thực hiện

1.1.2 Truyền thống văn hoá

Hồng Minh là vùng đất có bề dày truyền thống văn hoá, lịch sử Nơi đây đã sớm hình thành nên các làng xã của người Việt cổ với những nét đẹp văn hoá còn lưu giữ đến ngày nay

Hồng Minh trước đây là một vùng đất sình lầy, cư dân đến đây đã phải cần cù bền bỉ khai hoang cải tạo đất đai, san lấp các vùng trũng, tận dụng các

gò đống cao ven sông để định cư lập nghiệp Do đây là vùng đất ven sông nên phát triển nghề đánh bắt cá và nghề trồng lúa nước tạo ra nguồn lương thực dồi dào Khi cuộc khởi nghĩa của Kim Sa, Mĩ Thi, Trình Mạc Công, Trình Thị Chu và sau này là Lý Bôn nổ ra thì vùng đất này dất này là nơi cung cấp lương thực chính cho nghĩa quân Đến các thời kỳ tiếp theo được sự quan tâm của Nhà nước phong kiến với các chính sách về phát triển nông nghiệp và trị thuỷ thì sản xuất nông nghiệp ngày càng có nhiều điều kiện để phát triển

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các nghề thủ công truyền thống ở Hồng Minh cũng phát triển như đan lát, mây tre, mộc, dệt vải, tơ lụa Ở Tịnh Xuyên, Xuân Lôi nghề dệt rất phát triển, mỗi làng có hàng chục khung dệt nổi tiếng một thời

Nghề mộc, chạm khắc gỗ cũng rất phát triển, các đình, chùa ở Hồng Minh hầu hết đều do các hiệp thợ trong xã làm

Mảnh đất Hồng Minh vốn có bề dày về truyền thống hiếu học, từng có nhiều con em trong xã được ghi danh trên bảng vàng khoa cử Việt Nam như

cụ Đào Thế Vinh đỗ phó bảng, Bùi Tam Đồng, Bùi Huy Bình, Nguyễn Thượng Tuần đỗ cử nhân…

Ngày nay phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, con em Hồng Minh càng phấn đấu hơn nữa để làm rạng danh cho quê hương (Hồng Minh

Trang 16

luôn là xã được xếp vào danh sách xã có thành tích đỗ đạt cao của huyện Hưng Hà)

Hồng Minh là một vùng đất có từ lâu đời nên còn lưu giữ được rất nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống Nét đẹp ấy được lưu truyền qua các di tích lịch sử văn hóa Ngay từ rất sớm người dân Hồng Minh đã lập nên các đình, đền, chùa, miếu tôn thờ các vị Thành hoàng làng và những anh hùng có công với nước, giúp dân lập làng xã, khai phá đất đai

Hiện nay trên toàn xã có 7 ngôi đình đó là đình làng Thọ Phú, Đồng Lâm, Xuân Lôi, Cổ Trai, Tịnh Xuyên, Đồng Đào, Đình Nang Trong đó còn 5 ngôi đình được làm bằng gỗ lim rất đồ sộ với những mảng chạm khắc tinh xảo thể hiện sự khéo léo của người thợ Bên cạnh đó còn có 6 ngôi chùa: chùa Khánh Long, Hiến Nhân, chùa Nấm, chùa Cổ Trai, chùa Phúc Long, Chùa Nhội và 3 ngôi đền: Đền Trần ( Thái Lăng- Đồng Lâm), đền Tịnh Thuỷ, đền

Cổ Trai cùng với 6 ngôi miếu: miếu Đông, miếu Tây, miếu Đức Ông, miếu

Bà, miếu Thánh hoá, miếu Thánh Cả

Trong các di tích trên hiện có rất nhiều di tích có kiến trúc nghệ thuật độc đáo mang đậm nét cổ xưa, các mảng chạm tinh xảo với đề tài tứ linh, tứ quý và đề tài dân gian như cá, vịt tung tăng bơi lội

Cùng với di sản văn hóa vật thể thì ở Hồng Minh còn lưu giữ được di sản văn hóa phi vật thể đó là những lễ hội truyền thống mang đậm nét quê hương như: hội đình làng Xuân Lôi, Tịnh Xuyên, Cổ Trai, Thọ Phú, hội đền Thanh Lãng Các lễ hội này được tổ chức hằng năm và thường diễn ra vào mùa xuân, mùa thu nhằm tôn vinh các bậc tiền nhân có công giúp dân, giúp nước đánh giặc Mỗi lễ hội đều có hoạt động tế lễ và các trò chơi dân gian nhằm tái hiện hành trạng, công lao của các vị danh thần, Thành hoàng làng Các trò chơi dân gian phong phú như: vật võ, đua thuyền, đánh đu, hát chèo, chọi gà…

Trang 17

Trong quá trình phát triển dân, làng xã ngoài việc thể hiện những nét đẹp văn hoá còn có truyền thống đấu tranh bảo vệ làng xã, bảo vệ quê hương Truyền thống ấy được duy trì trong suốt chiều dài lịch sử từ khi lập làng tới nay Điều đó được phát huy mạnh mẽ nhất trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trường kỳ của dân tộc Người dân nơi đây đã dũng cảm kiên cường trong kháng chiến chống Pháp, không tiếc sức người, sức của chi viện cho đồng bào miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ Sự đóng góp ấy của nhân dân Xuân Lôi nói riêng, Hồng Minh nói chung đã góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước của dân tộc

Ngày nay, tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của các thế hệ

đi trước, cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đảng Bộ

và nhân dân Hồng Minh đang tích cực tham gia phong trào xây dựng nông thôn mới, từng bước hình thành nên bộ mặt nông thôn thời kỳ hiện đại Các hoạt động văn hoá, y tế, giáo dục đều được đầu tư và có những tiến bộ rõ rệt Khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cố, nâng cao đời sống của nhân dân, từ đó sẽ có nhiều cơ hội để quan tâm, chú trọng tới việc bảo tồn và tôn tạo những di tích lịch sử trên quê hương mình, trong đó có di tích đình Xuân Lôi

1.2 Đình Xuân Lôi trong diễn trình lịch sử

Mỗi di tích ra đời dù sớm hay muộn đều phản ánh một cách chân thực

tư duy nghệ thuật cũng như tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của một thời kỳ nhất định, đặc biệt là vai trò sinh hoạt cộng đồng làng xã trong đời sống của mỗi con người gắn với các hình thái tôn giáo, tín ngưỡng, do vậy việc tìm hiểu niên đại khởi dựng của di tích là điều vô cùng quan trọng và cần thiết

Căn cứ vào bia hậu còn lưu giữ tại đình với dòng chữ “Vĩnh Thịnh nhị niên thất nguyệt cốc nhật” cho biết ngôi đình Xuân Lôi cổ được xây dựng năm 1706

Trang 18

Bên cạnh đó, trên thượng lương của ngôi đình cổ ghi hàng chữ “ Bính

Tý niên tu tạo” tuy không ghi quốc hiệu nhưng trên bức đại tự của đình có ghi

“Duy Tân Bính Tý niên” ( 1906 ) Như vậy ngôi đình cổ đã được xây dựng từ thời Lê, qua nhiều lần tu tạo, lần cuối là vào năm 1906, nay trở thành toà dải

vũ của ngôi đình hiện tại

Theo các bậc cao niên trong làng ngôi đình mới được xây dựng trong 3 năm: 1932 xây dựng toà cung và 1935 xây dựng toà đại bái Trên thượng lương của tòa đại bái có khắc số “1935” Từ đây, ngôi đình cổ lại được chuyển chức năng thành hai toà dải vũ của ngôi đình hiện nay Trải qua thời gian, trước sự tác động của thiên nhiên và con người, ngôi đình đã được tu bổ nhiều lần Vào năm 1964-1995 dân làng tự nguyện quyên góp tu sửa: mái, xây tường bao quanh khu di tích, xây cổng ra vào khu di tích Năm 1996 chữa dột xối đình, thay tàu gỗ lim Năm 1999 lát lại nền đình và sân đình bằng gạch Giếng Đáy Năm 2008 xây bờ xung quanh hồ, xây nghi môn, đảo ngói hai toà dải vũ, xây tường bao hai đầu hồi đình Qua nhiều lần tu bổ ngôi đình vẫn giữ nguyên được kiến trúc gỗ, các yếu tố gốc của di tích được giữ gìn nguyên vẹn góp phần bảo tồn di tích

1.3 Lịch sử vị thần được thờ trong di tích

Trong phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và vài vị thần như Táo công, Thổ công, thần Tài ; ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng Thành hoàng làng (Thành hoàng) là danh từ chung để chỉ vị thần được thờ trong một làng xã Việt Nam Giống như Táo công và Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng Do vậy hầu hết ở mỗi làng quê hay phố nghề (nơi thị thành) đều lập đình (hoặc đền, miếu) thờ vị Thành hoàng của làng hay phường hội Thành hoàng

là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ nghề)

Trang 19

Tục thờ Thành hoàng ở nước ta là do ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa truyền sang từ thời Đường Tuy nhiên theo Phan Kế Bính thì trước đó nhân dân ta cũng đã có những tín ngưỡng dân gian rồi Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Tôn thờ Thành hoàng làng chính là một nhu cầu tâm lý, người dân thờ Thành hoàng làng để phục vụ cho hiện thực cuộc sống, là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu được, là phương tiện, là động lực thúc đẩy sản xuất và ổn định cuộc sống Thành hoàng cũng được gọi là phúc thần, tức vị thần ban phúc cho dân làng, thường mỗi làng thờ một Thành hoàng, song cũng có khi một làng thờ hai, ba hoặc hai ba làng thờ một vị Thành hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tuỳ sự tích mỗi làng Đó có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên vương, thần núi như Tản Viên Sơn thần, thần có công với dân với nước như

Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng lại có khi là các yêu thần, tà thần với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý

Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị Thành hoàng thành ba bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã Các vị thần cũng được xét đưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ, giúp đỡ được nhiều cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng Việc thăng phong các

vị thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị thần

Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy định Mỗi lần thăng phong triều đình đều gửi sắc vua ban rất linh đình và cất nó trong hòm sắc thờ

ở hậu cung của đình làng

Cùng với việc thờ cúng tổ tiên thì tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đem lại cho người dân ý thức hướng về cội nguồn, về quê cha đất tổ bằng

Trang 20

những biểu hiện sinh hoạt văn hoá truyền thống Bảo tồn và phát huy những

di sản văn hoá là trách nhiệm của mỗi người và cũng là để góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc

Đình Xuân Lôi thờ 3 vị thành hoàng là Trình Mạc Công, Chu Nương Quang Dung và Thần Đầu Thiên Giáo Trương Lã Công Linh đạo Đại Vương

Bằng việc tìm hiểu thông qua các bậc cao niên trong làng và một số tư liệu được biết Trình Mạc Công và Chu Nương Quang Dung là hai nhân vật ở thời kỳ đầu công nguyên Trình Mạc Công và Chu Nương Quang Dung là hai anh em ruột, quê ở phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc vì “ nợ nước thù nhà” đã về Xuân Lôi triệu tập trai tráng, phất cao cờ khởi nghĩa phò giúp Hai Bà Trưng đánh quân xâm lược Đông Hán bảo vệ giang sơn đất nước Sau đó Trình Mạc công và Chu Nương Quang Dung có công giúp dân dựng làng, ổn định đời sống, xây dựng làng xã ngày càng phồn thịnh Khi hai người mất, nhân dân tưởng nhớ công ơn to lớn, lập miếu thờ tự, tôn các vị là Thành hoàng làng

Vị Thành hoàng thứ ba được thờ tại đình Xuân Lôi là Thần Đầu Thiên Giáo Trương Lã Công Linh đạo Đại Vương, theo truyền thuyết, đến thế kỉ thứ

XI có một nhà nho người Yên Mô, Ninh Bình đến Xuân Lôi dạy học, nhà nho

có người con trai là Trương Tương Công, là người học giỏi, đỗ đạt, được nhà

lý trọng dụng làm quan trấn giữ cửa thần phù hải khẩu Trương Tương Công

đã từng cầm quân chiến đấu và chiến thắng oanh liệt quân Chiêm Thành, giữ yên bờ cõi giang sơn đất nước sau này tuổi cao sức yếu, ông cáo quan về làng dạy học, với công lao to lớn của ông với nước với dân, khi ông mất nhân dân thờ phụng ông như bậc Thành hoàng làng

Theo thần tích bản chữ Hán ( lưu trữ tại thư Viện Hán nôm) và thần tích của Trình Mạc Công và Chu Nương Quang Dung được dịch như sau:

“ Xưa nước Việt ta khai dựng cơ nghiệp tại phương Nam, núi sông ứng với vị trí sao Dực, sao Chẩn, Nam Bắc phân chia, phần đã thuộc sao Đẩu, sao Ngưu Hùng triều mở vận, thánh tổ gánh vác cơ đồ, nước sông trong xanh,

Trang 21

sơn hà hưng thịnh Đến vua Hiển Vương non xanh vạn dặm sáng lập thành

đô, cung điện vững nền linh thiêng nơi Nghĩa Linh hương hoả lưu truyền chốn núi Hùng sơn Cha truyền con nối các đời đều xưng là Hùng Vương Đất nước văn hiến, non sông một giải Đó chính là tổ của Bách Việt vậy Đến thời Duệ vương nhường ngôi cho Thục chúa Thục chúa lên ngôi, định đô ở thành

Cổ Loa, hiệu là Thục An Dương Vương An Dương Vương tại vị 55 năm thì

có người Bác quốc họ Triệu tên Đà đem 10 vạn hùng binh kéo sang Chỉ một trận đại chiến mà nhà Thục mất nước từ đó nước Việt ta lệ thuộc vào nhà Hán Đến niên hiệu Quang Vũ thời Đông Hán, Tô Định làm Thái thú nước ta tham tàn hại dân, chính sự bạo ngược khiến cho nhân dân trong nước cơ cực lầm than, không nơi nương tựa Thời bấy giờ ở xã Phấn Thư, huyện Chu Diên, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây có người con gái của Trưng tướng quân, tức

là cháu ngoại Hùng Vương, cùng với em gái mình tên là Nhị Nương đều là bậc nữ lưu hào kiệt, tài giỏi hơn người Bởi Tô Định giết Thi Sách - chồng Trưng Trắc, nên bà nổi giận bèn cùng em khởi nghĩa ở Hát giang Bấy giờ các

nữ tướng anh hùng thao lược còn chưa tuyển chọn được, hai bà tích trữ binh lương, ngầm nuôi quân sỹ, xây dựng hùng binh chờ thời

Lại nói, ở xã Dương Liệt huyện Tế Giang, phủ Thuận An đạo Kinh Bắc, có nhà họ Trình huý là Hùng Ông lấy vợ người cùng làng, ho Chu hiệu

là Tố Gia đình ông vốn dòng dõi nho phong thi lễ, nhiều đời làm việc thiện, công danh vinh hiển trong triều Vợ chồng ông bà đã ngoài 40 mà vẫn chưa một lần sinh nở Từ đó bà gia tâm làm phúc Phàm các đền chùa linh thiêng

bà đều đến lễ và rất mực thành tâm công đức Một bữa bà mơ thấy một con rết từ trên trời giáng xuống phòng, bà bèn bắt con rết Con rết liền biến thành một người con trai và kêu lên một tiếng, phu nhân sực tỉnh Từ đó bà mang thai thường nghe thấy tiếng đọc thơ rằng:

Thiên tài đã định cho Trình gia, Danh thơm vạn cổ, sách hải hà

Trang 22

Tô Định dẹp xong phò thánh chúa Ngàn năm hưởng phúc đội ân ba

Đến ngày mồng Mười tháng Giêng năm Giáp Thìn bỗng thấy hương thơm phưng phức, khí lành bay ngát, bà sinh hạ một cậu con trai khôi ngô tuấn tú, khí chất hiên ngang, vượt xa người thường Tới năm Bính Ngọ, phu nhân mộng thấy một bông hoa đỏ, rồi vào ngày 10 tháng Tám sinh hạ một cô con gái, mắt sáng đẹp tựa gương trong, sắc tươi như bông hoa mai điểm tuyết Khi mới 5 tuổi đã am hiểu thi luật Cha mẹ vô cùng mừng rỡ, cho là hai lần trời cho phúc Ông bà đặt tên người con trai trưởng là Mạc công, con thứ là Chu nương Lúc 8 tuổi hai anh em bắt đầu theo học Liên Đường tiên sinh Học được 6 năm, văn chương đã am tỏ, võ nghệ thảy tinh thông Tiên sinh thường nói:

Nhà này có phúc gì mà sao mới sinh được con trai, con gái giỏi giang như vậy, sau này làm vẻ dòng dõi, tiếng thơm muôn đời

Lại nói về Chu nương Bấy giờ mới 16 tuổi mà tài sắc đều vẹn toàn Tô Định nghe tin liền chuẩn bị sính lễ đến nhà họ Trình xin cưới nàng làm vợ Trình công không đồng ý gả Tô Định bừng bừng tức giận, đem quân đến bắt, chém vợ chồng ông, rồi lấy sạch mọi của cải gia tư Mạc công và Chu nương thoát được, chạy đến thôn Xuân Lôi xã Thâm Động, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương nương tựa ở một ngôi chùa, đêm ngày siêng năng tụng kinh niệm phật, đau đáu không quên chí báo thù Một năm trời ngầm nuôi mối thù, chiêu nạp những người phản kháng, anh hùng khắp nơi nhiều người theo về Họ trình đã chiêu mộ được hơn 500 người và các nam binh nữ tướng thôn Xuân Lôi cả thảy 36 người dùng làm gia thần thân cận Một đêm, Chu nương xem thiên văn nhìn xa thấy Nữ tinh xán lán, bèn nói với anh trai rằng: “Nước Việt tất sinh nữ thánh nhân chăng?”

Trang 23

Nói xong, sai người mổ trâu bò, làm lễ cáo tế với bách thần trời đất, khao đãi quân sĩ, chiêu dụ anh hùng được hơn hai nghìn người, hội họp ở đồn

sở Xuân Lôi, hai anh em nói với các tướng rằng:

Anh em ta có mối thù không đội trời chung với Tô Định

Rồi hai anh em dẫn hai nghìn hùng binh kéo thẳng tới cửa sông Hát huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai ra mắt Hai Bà Trưng Trưng thị thấy hai anh em tướng mạo đường bệ, khí giới trang nghiêm, bèn bảo rằng: “hai anh

em tài sắc vẹn toàn, chắc trời muốn cho ta làm hoàng đế nên sinh ra bậc hiền tài để phò tá ta đây

Trưng thị liền lập đàn chay ở cửa sông Hát, làm lễ tế trời đất bách thần, khấn rằng:

Bọn thiếp vốn phận nữ nhi, nghĩ tới nỗi thống khổ lầm than của nhân dân nên dấy quân khởi nghĩa, tiêu từ giặc ác, nguyện khôi phục lại giang san

tổ tiên xưa, muôn nhờ vào sức trời đất bách thần ngầm phù trợ

Tế xong Trưng thị phủ phục trước đàn tế, mơ màng thiếp đi Bỗng thấy một vị thần mình mặc hoàng bào, giáp sắt giáng trước đàn tế, bảo Trưng thị rằng:

“Ta là thần đương niên hành khiển Tống vương, tuần hành coi thiên hạ, quyền coi sông Hát này

Nói xong ngài bay lên không trung đi mất Trưg thị tỉnh dậy, biết trời

đã sai tướng giúp mình, nhất định sẽ có cảnh tượng thanh bình Sáng hôm sau,

bà cùng các tướng làm lễ bái tạ Việc xong chia quân làm hai đạo thuỷ, bộ tới thẳng nơi quân Tô Định giao chiến Quân Tô Định tan vỡ bỏ chạy tán loạn Thế rối Trưng thị đắp 65 thành, thu phục toàn bộ đất nước, tự lập Trưng Nữ Vương, đóng đô ở địa phận Cấm Khê Bấy giờ Trưng Vương làm lễ lớn ăn mừng, khao thưởng quân si, phong tặng các vị công thần tuỳ theo công trạng Trưng Vương gia phong cho Mạc công làm Thái uý Trình đô họ Uyên Mặc Đại tướng quân, phong Chu nương làm Bình Khẩu Quang Dung công chúa

Trang 24

Hai anh em dâng tấu biểu xin Trưng Vương cho về thăm mộ song thân Trưng Vương đồng ý lại ban cho hai anh em 20 hốt vàng, gấm đoạn mấy chục tấm Hai anh em làm lễ bái tạ Trưng Vương xong rồi trở về quê quán bái tạ gia tiên, rồi về thăm đồn sở Xuân Lôi xưa Hai người lại làm lễ ăn mừng và ban cho nhân dân 50 hốt vàng để làm công quỹ Hai anh em nói rằng:

Anh em ta sau này trăm tuổi muốn được lập hai miếu bên ấp này để được phụng thờ, mọi người hãy tuân theo không được thay đổi

Nghe nói vậy, nhân dân già trẻ tất thảy đều mừng vui

Lại nói lúc bấy giờ, vua Trung Quốc - Hán Quang Đế phong Mã Viện chức Phục Ba tướng quân, sai cùng bọn Lưu Thăng đem 30 vạn hùng binh, 3.000 kỵ mã chia làm 5 hướng, sang nước ta cướp bóc Thư biên thuỳ báo gấp một đêm tới 5 lần Trưng Vương vô cùng lo lắng, bèn triệu Mạc công và Chu Nương về triều, xuống chiếu diệt giặc Hai anh em cùng 50 gia thần người Xuân Lôi đem 12 vạn hùng binh quyết chiến suốt mấy năm, cả thảy tới 30 trận mà vẫn chưa phân được thắng bại Trưng Vương lui về giữ đất Cấm Khê Quân Hán hùng hổ kéo đến bao vây Thành Cấm Khê bị vây hãm Trưng Vương tự lượng sức biết không thể thoát bèn cùng chư tướng dựa lưng vào thành tử chiến một trận, mọi người đều tử trận Hôm đó là ngày mùng 10 tháng Tám 50 người Xuân Lôi theo hai anh em đi diệt trừ quân giặc nhưng chỉ còn sống sót 3 người trở về báo rằng hai vị đã hoá Dân trong thôn bèn làm lễ thờ phụng, viết thần hiệu, rồi lập hai miếu ở bên cạnh ấp Miếu nằm trên gò đất hình con thổ ( hình vuông) , hướng tây - nam, lưu truyền dấu tích hương hoả muôn đời

Lại nói sau khi đã hoá, thì thường có rất nhiều việc linh ứng Vậy nên được đế vương các đời phong tặng mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, mãi còn cùng đất nước, thờ cúng muôn đời

Gia phong Thái uý Trình đô hộ, uyên mặc, trợ quốc, hùng tài, vĩ lược, phong công, tá tịch đại vương

Trang 25

Gia phong Quang Dung chu phương phí trinh thục, Từ hoà thanh khiết công chúa

Ngày mồng 10 tháng 3 năm Vĩnh Hựu (1738)

Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính kính soạn

Thư lại bát phẩm Nguyễn Hiền kính chép

Như vậy ta có thể thấy rõ công lao to lớn của ba vị Thành Hoàng thờ tại đình Xuân Lôi, đây đều là những anh hùng của dân tộc, những có công lớn trong việc giúp dân lập làng, lập ấp Công lao ấy luôn luôn được dân làng ghi nhớ và truyền cho các thế hệ sau

Trang 26

Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI

CỦA DI TÍCH ĐÌNH XUÂN LÔI

2.1.1 Không gian cảnh quan

Trước khi tìm hiểu về không gian cảnh quan của đình Xuân Lôi, có lẽ chúng ta nên tìm hiểu về không gian kiến trúc cổ của người Việt Trên cơ sở

đó, sẽ giúp cho chúng ta tiếp cận một cách khoa học và mang tính sâu sắc hơn khi quan tâm tới di tích đình Xuân Lôi

Đình làng nguyên là nơi thờ Thành hoàng theo phong tục tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam cổ đại Vì vậy nó thường được xếp vào thể loại công trình phục vụ cho tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, đình làng còn là một công trình thuộc thể loại kiến trúc công cộng dân dụng do tính chất phục vụ đa chức năng của nó Ngoài là nơi thờ Thành hoàng làng, đình làng còn là trung tâm hành chính, quản trị phục vụ cho mọi hoạt động thuộc về cộng đồng làng

xã, là nơi làm việc của Hội đồng kỳ mục trước đây (trong thời phong kiến); là nơi hội họp của dân làng Đây cũng là nơi diễn ra các lễ hội làng truyền

Trang 27

thống, nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của làng Nói chung, với ba chức năng

cơ bản trên (tín ngưỡng, hành chính, văn hóa), đình làng là nơi diễn ra nhiều hoạt động của làng xã Việt Nam dưới thời phong kiến Chính vì thế mà ngôi đình không chỉ là một kiến trúc đơn thuần mà nó thực sự là một công trình kiến trúc thiêng liêng Bởi vậy, khi xây dựng nên ngôi đình, cộng đồng làng xóm không chỉ chú ý tới bản thân kiến trúc của ngôi đình mà không gian cảnh quan xung quanh di tích cũng là điều vô cùng quan trọng Không phải ngẫu nhiên người ta xây dựng đình làng ở bất cứ vị trí nào cũng được mà ở đây, việc chú trọng tới không gian của kiến trúc còn bao hàm cả yếu tố tâm linh Không gian liên quan đến kiến trúc đó bao gồm rất nhiều yếu tố theo quan niệm âm dương, chính việc lựa chọn không gian này dẫn đến sự chi phối về các yếu tố như: bố cục mặt bằng, chiều cao và nhiều yếu tố khác của di tích

Nhìn chung không gian kiến trúc của người Việt có liên quan đến nhiều mặt, trong đó phải kể đến sự liên quan của môi trường tự nhiên và nơi cư trú Bởi vậy, sự tọa lạc của hầu hết các di tích nói chung và đình làng nói riêng hầu hết ở hai nơi, hoặc là không gian thoáng đãng, rộng rãi, hay là nơi trung tâm của làng Đối với đình làng nói riêng, các di tích khác nói chung thì khi tiếp cận tới không gian của di tích, chúng ta thường tiếp cận với không gian lớn, khi chúng ta đi đến một kiến trúc hay một di tích đều đi qua ít nhất 4 không gian khác nhau Ở đây chúng ta chỉ tạm gọi đồng ruộng là không gian

tự nhiên (không gian đệm giữa thành thị và nông thôn, sở dĩ tạm gọi bởi dù sao đồng ruộng cũng không phải là nơi cư trú, nên có thể tạm gọi là không gian tự nhiên) Khi đến ven làng thì đây được coi là nơi tiếp nối giữa không gian tự nhiên và không gian văn hóa Và ở trong làng chúng ta đã tiếp cận với không gian văn hóa Và cuối cùng khi ta đến trong di tích thì đó được hiểu là không gian thiêng (hay không gian văn hóa đậm đặc)1

1 Trần Lâm Biền ( Ch.b) Diễn biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng, Nxb VHTT Tr 159

Trang 28

Đình là chốn linh thiêng, là linh hồn của làng, nơi nhân dân gửi gắm niềm tin và ước vọng vào thế giới siêu nhiên, về cuộc sống thanh bình, "hòa cốc phong đăng” nơi thực tại Vì vậy, trong tâm thức dân gian, thế đất, hướng đình luôn có những ảnh hưởng to lớn đến sự suy thịnh, hưng vong của cuộc sống dân làng nơi trần thế Đình có thế đất tốt, hướng đẹp thì sinh vượng khí, cuộc sống tốt tươi, trên dưới thuận hòa, học hành đỗ đạt; ngược lại thì dân làng phải hứng chịu tai ương, đôi khi suy mạt Chả thế mà từ lâu đã có câu ca:

"Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng cùng toét riêng mình em đâu”

Từ đó việc lựa chọn đất để xây dựng đình làng, đối với người dân là hết sức quan trọng

Dân làng phải tìm cho được những mảnh đất có thế rồng chầu hổ phục,

có sông nước, núi đồi làm yếu tố "minh đường, hậu chẩm”, "thủy tụ, sơn

triều” để cất đình Lịch sử làng xã đã chứng minh, nhiều ngôi đình của các

làng xã do xây dựng ở những vị trí không tốt, phong thuỷ, âm dương không thuận nên có ảnh hưởng xấu tới đời sống kinh tế, xã hội của cư dân ở trong làng đó Chính vì lẽ ấy, nhiều ngôi đình đã được chuyển dịch sang những vị trí thuận lợi và phù hợp hơn

Đa phần đình làng thường ở những vị trí không gần lắm khu dân sinh, thậm chí tách biệt với sinh hoạt thường nhật của dân làng, có thế đất cao và thoáng Đa số đình làng miền Bắc đều quay về hướng Nam, như câu tục ngữ:

Lấy vợ hiền hòa/đàn bà, làm nhà hướng Nam

Thông thường theo quan niệm của người Việt thì hướng Nam thường được chú ý hơn cả vì trước hết đó là hướng gió mát mẻ vào mùa hè, tránh gió lùa về mùa đông Dù thế nào thì phía trước mặt đình thường cũng có những đầm hồ, khúc sông và phổ biến hơn cả là những đồng ruộng thấp trũng làm yếu tố minh đường, thủy tụ Khi không tìm được thế đất đẹp, người ta có thể

tự tạo nên các yếu tố, phía trước cổng đình, người ta đào và xây dựng thành

Trang 29

một hồ nước, ở giữa dựng ngọn giả sơn có cây phủ vừa thể hiện ý niệm về sự

tụ linh, tụ phúc, vừa tạo cảm giác hài hòa cho không gian của đình, đồng thời cũng là một lời nhắc nhở với thần linh, cũng như một ước vọng xuất phát từ

tư duy nông nghiệp

Xem xét vị trí, hướng của đình chúng ta nhận thấy nét truyền thống của đình làng người Việt là luôn tìm thế đất, hướng đình quay về nguồn nước

Để cắt nghĩa hiện tượng này, Giáo sư Hà Văn Tấn đã đưa ra một gợi ý: "Có lẽ

việc tìm thế đất này bắt nguồn từ thời xa xưa, khi các cộng đồng nguyên thủy bắt buộc phải định cư cạnh các nguồn nước.”

Có thể nói, các yếu tố có liên quan tới không gian của di tích luôn hàm chứa những giá trị, ý nghĩa riêng Bởi vậy việc xác định một không gian của

di tích sao cho phù hợp và thuận lợi không phải là một điều đơn giản Ở bất

cứ ngôi đình nào, bất cứ nơi đâu thì việc xem xét, lựa chọn những yếu tố đó vẫn luôn luôn được coi trọng Chính điều đó đã tạo ra những nét riêng biệt cho mỗi di tích kiến trúc đình làng

Đình Xuân Lôi cũng không nằm ngoài quy luật đó, đình nằm trên một diện tích khá rộng, trên một khu đất cao( có độ cao 90cm so với mặt bằng ruộng canh tác phía trước), không gian thoáng mát, bề thế và rất thơ mộng Đình nằm ở chính giữa của làng nơi đây thuận lợi rất cho việc sinh hoạt cộng đồng của dân cư trong làng Đình đựơc bao quanh ba mặt là trục giao thông Phía Nam là đường giao thông liên thôn, tiếp là cánh đồng làng, phía bên Đông là đường giao thông liên thôn Phía Tây giáp khu dân cư, phía Bắc là đường giao thông liên xóm Phía trước đình là hồ nước trong xanh lăn tăn gợn sóng tạo nên vẻ đẹp phong thuỷ hữu tình của quần thể ngôi đình Ngôi đình quay mặt về hướng Nam- hướng được coi là tốt đẹp nhất theo quan niệm của người dân Sự đối đãi âm dương và các yếu tố về phong thuỷ của ngôi đình dường như đã được người dân trong làng lựa chọn rất kỹ càng Bước qua nghi môn là con đường trải gạch đỏ dẫn vào ngôi đình Dọc theo con đường ấy là

Trang 30

hàng dừa cảnh xanh tươi thẳng tắp Phía bên trái góc sân đình là gốc đại cổ thụ quanh năm đơm hoa thơm ngát Cũng phải nói thêm rằng không phải bất

cứ loài cây nào cũng được trồng xung quanh di tích, mà việc trồng cây nào, ở

vị trí nào cũng là vấn đề được cân nhắc kỹ càng Bởi trước hết cây cối được ví như một bộ áo để trang hoàng cho di tích đồng thời tạo nên sự hài hoà cho không gian cảnh quan của di tích Mỗi loại di tích cổ truyền lại có những loại cây mang ý nghĩa riêng Đối với đặc tính của ngôi đình do có mối quan hệ gần với đời thường, là một trung tâm văn hoá, cũng là trung tâm chính trị của nông thôn xưa, nơi đan xen giữa quyền uy và thế tục Chính vì vậy đình không thể tách rời cuộc sống thường nhật Đặc biệt những ngôi đình dường như cố tình phô bộ mái lớn và sự bề thế ra ngoài, chính vì thế người ta ít trồng cây ở sát trước cửa đình mà thường là phía sau, hoặc sát bờ hồ Như vậy sẽ không làm cho ngôi đình bị phủ lấp bởi lùm cây Chưa có thể khẳng định loại cây nào được trồng trong khuôn viên ngôi đình mà ta có thể nhận thấy hai dạng cơ bản sau: một dạng cây toả bóng mát như bàng, phượng vĩ, một số loại cây cảnh như phi lao, đôi khi người ta còn trồng những loại cây ăn quả như nhãn, xoài…Sự kết hợp giữa cây cối và kiến trúc của đình Xuân Lôi tạo nên một vẻ hài hoà nhưng không kém phần trang nghiêm của ngôi đình Cũng giống như bao ngôi đình khác yếu tố nứơc là vô cùng quan trọng trong không gian của một ngôi đình cổ Điều đặc biệt là nếu như ở những ngôi đình khác thường có một hồ bán nguyệt phía trước thì ở đình Xuân Lôi phía trước lại là một hồ nước hình chữ nhật, hồ nước được xây bờ kè đá xung quanh Đây cũng chính là nơi tổ chức đua thuyền vào mỗi dịp lễ hội hàng năm Ngay phía bên phải con đường gạch đỏ trên bờ hồ là bức bình phong như tránh luồng gió độc ở thế gian thổi vào ngôi đình Bức bình phong được làm bằng bê tông cao 2,25m dài 3,2m xây theo kiểu cuốn thư, có đắp rồng chầu mặt nguyệt, ở giữa

có đắp nổi chữ Phúc Xung quanh ngôi đình có hàng tường xây bao bọc, bên

Trang 31

trong là hàng cây cối xanh tươi với đủ loại cây cảnh hoa lá càng tạo cho ngôi đình một không gian thoáng mát và thanh tịnh

Nhìn chung không gian cảnh quan của đình Xuân Lôi khá hài hoà và hoàn chỉnh Đặt chân tới chốn này ta không có cảm giác xa lạ hay lạc long mà ngược lại nơi đây cho ta một cảm giác ất gần gũi thân quen như chốn quê nhưng cũng không mất đi vẻ linh thiêng tôn kính của một ngôi đình

2.1.2 Bố cục mặt bằng

Đình làng là loại hình kiến trúc cổ truyền của người Việt, tuy nhiên kiến trúc của đình làng cũng có nhiều thay đổi gắn liền với sự phát triển của cộng đồng làng xã nói riêng và của xã hội nói chung Thông qua việc tiếp cận với những diễn biến của kiến trúc đình làng cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử của ông cha với những bước thăng trầm, biến động Bởi chính những công trình kiến trúc ấy là những minh chứng lịch sự chân thực và sinh động của một thời Một số nhà dân tộc học nghệ thuật thường nói rằng: Đình làng đã manh nha từ thế kỷ XV, định hình vào thế kỷ XVI, phát triển vào nửa cuối thế kỷ XVII và lụi tàn dần từ thế kỷ XVIII, sang thế kỷ XIX thì bắt đầu có sự thay đổi cơ bản về nhận thức đối với bản chất của ngôi đình Nhìn chung kiến trúc đình làng phát triển nhanh chóng qua các thời kỳ lịch sử và ngày càng dàn trải theo mặt bằng với sự xuất hiện dần của các đơn nguyên kiến trúc Khởi nguyên của ngôi đình chỉ có bố cục theo kiểu chữ Nhất (-), đến đầu thế kỷ XVII chúng ta mới thấy xuất hiện dè dặt kiểu chữ Nhị ( = ) Và cũng khoảng thế kỉ XVII đã xuất hiện kết cấu chữ Đinh (J) Đến cuối thế kỉ XVIII thì xuất hiện kiểu bố cục hình chữ Công (I) Sự thay đổi về mặt bằng kiến trúc gắn liền với sự thay đổi, thâu nạp những chức năng mới của ngôi đình

Đình Xuân Lôi là ngôi đình bề thế, cổ kính, tổng thể kiến trúc mặt bằng của đình được hoàn thiện dần và bổ sung qua các giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, hiện nay đình Xuân Lôi vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu và tồn

Trang 32

tại những đơn nguyên kiến trúc về sau tạo cho ngôi đình một khuôn viên hoàn chỉnh Phía trước ngôi đình là một hồ nước lớn được xây bờ kè xung quanh Phía trên là một con đường lát gạch đỏ dẫn vào sân đình Sân đình cũng chính

là nơi tập hợp đông đảo nhân dân trong những dịp hội làng hay những khi làng có những công việc quan trọng cần làm Chính khoảng sân rộng ấy đã tạo cho ngôi đình một không gian rộng rãi, thoáng đãng Hai bên trái, phải của sân đình là dãy tả vu và hữu vu Đằng sau hai dãy này là hệ thống tường bao

để phân chia ranh giới của ngôi đình với những khu vực xung quanh Kiến trúc chính của ngôi đình nằm ở phía cuối sân theo kiểu chữ Công ( I ), gồm toà đại bái, tòa ống muống và tòa hậu cung Có thể nói sự kết hợp hài hòa giữa các đơn nguyên kiến trúc đã góp phần tạo nên sự trang nghiêm, bề thế cho ngôi đình

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

Giá trị văn hoá vật thể của một công trình kiến trúc gỗ nói chung và của đình làng nói riêng thể hiện rõ nét thông qua kết cấu kiến trúc của bản thân di tích đó Nhắc tới kết cấu kiến trúc của một ngôi đình có nghĩa là chúng ta đang tiếp cận và tìm hiểu về các đơn nguyên kiến trúc của di tích Nhìn vào các kết cấu kiến trúc của một di tích đặc biệt là kết cấu chính, chúng ta có thể cảm nhận được không gian cũng như sự bề thế của di tích

* Nghi môn

Thông thường khi tìm hiểu kết cấu kiến trúc của di tích chúng ta sẽ qua tâm tới các đơn nguyên kiến trúc mà đầu tiên là nghi môn Đối với mỗi ngôi đình thì có những kiểu nghi môn khác nhau, có thể đó là một nghi môn bề thế với 3 cửa, cũng có khi là kiểu nghi môn tứ trụ Nghi môn của đình Xuân Lôi cũng được xây theo kiểu thức như thế Từ đường trục giao thông phía bên tay trái có cổng để vào khu di tích (nghi môn không đặt trực diện mà ở phía trước bên tay trái) Nghi môn xây theo kiểu trụ biểu, rộng 1,5m; có 3 lối ra vào, lối giữa rộng 4,9m; hai bên rộng 2,6m Hai trụ biểu giữa cao 6,7m, trên đỉnh đắp

Trang 33

kiểu phượng lá lật, hai trụ biểu bên cao 5m, phía trên đỉnh đắp nghê bằng chất liệu sành Phía trên 4 trụ biểu được làm theo kiểu đèn lồng Tất cả tạo nên một

vẻ đẹp trang nghiêm bề thế của chốn linh thiêng trong làng

Như vậy ta có thể thấy nghi môn là một đơn nguyên kiến trúc của di tích Nó là đơn vị cấu thành di tích đồng thời cũng là đơn nguyên đầu tiên chúng ta bắt gặp khi đến với di tích Không chỉ đơn thuần mang giá trị về mặt kiến trúc, dường như những cột trụ của nghi môn còn là nơi thu hút sinh khí của đất trời xuống dương gian để cho muôn loài sinh xôi, nảy nở

* Toà Đại bái

Khi xác định giá trị cũng như tầm quan trọng của các bộ phận đơn nguyên kiến trúc trong kiến trúc chính của các di tích thì chúng ta có thể nhận thấy lại có sự khác biệt giữa các loại hình Nếu như ở một ngôi chùa thì toà thượng điện được coi trọng nhất thì ở đình, tòa đại bái lại giữ vị trí cốt yếu Kiến trúc của ngôi đình có đẹp, uy nghi, bề thế hay không lại phụ thuộc chủ yếu vào bộ phận này Có thể nói toà đại bái là phần hồn, phần cốt lỗi của mỗi ngôi đình Giá trị của một ngôi đình được đánh giá thông qua chính toà đại bái Đôi khi chính những hàng chân cột to lớn trở thành niềm tự hào của mỗi người dân trong làng đối với những làng lân cận Chính vì lẽ đó khi xây dựng đình làng, những người thợ đã dồn hết tâm huyết và sức lực cũng như bàn tay khéo léo của mình để cố gắng tạo nên những công trình tuyệt tác Tìm hiểu di tích đình Xuân Lôi chúng ta cũng được tiếp cận với một đơn nguyên kiến trúc mang tầm vóc lớn, đồ sộ, bề thế, tạo nên vẻ đẹp uy nghiêm cho toàn bộ ngôi đình

+ Bộ khung kiến trúc của tòa đại bái

Toà đại bái của đình Xuân Lôi gồm 3 gian 2 chái, xây theo kiểu tường hồi bít đốc, gian giữa rộng 4,1m; hai gian bên rộng 3,3m; hai gian đầu hồi mỗi bên 0,9m Tổng chiều dài 18,3m; rộng 7,35m; hiên rộng 1,1m Tổng diện tích nội tự 135m2

Trang 34

Điểm độc đáo trong kiến trúc bộ khung của toà đại bái chính là sự liên kết giữa các cấu kiện kiến trúc, các bộ vì với các kiểu thức khác nhau Sự liên kết này không chỉ đảm bảo yếu tố vững chắc mà còn tạo được tính thẩm mỹ

và hài hoà của toàn bộ công trình

Bộ khung gỗ của toà đại bái gồm 6 bộ vì, 4 bộ vì giữa và 2 bộ vì chái Bốn bộ vì giữa mỗi vì có 4 hàng chân cột, 2 cột cái, 2 cột quân Hai bộ vì chái

có 4 cột quân, các cột quân đều tạo dáng kiểu búp đòng thon về hai đầu Các cột cái có kích thước cao 4,3m; chu vi 1,53m; đường kính 49cm Cột quân có kích thước cao 3,3m; chu vi 1,3m; đường kính 42cm Toàn bộ hệ thống các chân cột được kê trên các tảng đá chân cột Tảng đá chân cột có số đo 88cm x 88cm dày 25cm, có chạm khắc hoa văn hình lá sen Liên kết giằng giữa hai bộ

vì là các xà dọc thượng, các xà được soi chỉ vỏ măng

Đối với 4 bộ vì giữa, vì nóc của 4 vì này đều làm theo kiểu giá chiêng chồng rường Đầu rường đỡ hoành và tì trên hai cột con Các thanh rường đều chạm khắc hoa lá kênh bong Các đấu chạm hình lá sen, dưới các câu đầu là đầu dư chạm khắc hình rồng to lớn dài 90cm Các con rồng được chạm lộng,

8 con rồng được chạm khắc có những nét khác nhau đôi chút về râu rồng, miệng rồng nhưng đều là nhưng con rồng trông dữ tợn nhưng cũng mềm mại Qua đây ta có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt này là do ngôi đình được xây dựng bởi hai hiệp thợ Kiến trúc bên phải đình là do hiệp thợ của chính làng Xuân Lôi thực hiện còn bên trái đình là do hiệp thợ Cao Đà ở Hà Nam thực hiện Các hiệp thợ chỉ cần thống nhất kích thứơc tỷ lệ với người đại diện của làng rồi mỗi hiệp thợ làm một bên Mục đích của việc lựa chọn ấy nhằm tạo ra sự ganh đua về tiến độ xây dựng, giá trị thẩm mỹ cho công trình giữa các hiệp thợ, bởi mỗi hiệp thợ lại có những đặc điểm, phong cách riêng

Điều khá đặc biệt của thức kiến trúc của 2 bộ vì nóc của hai gian bên là được nâng cao hơn 30cm so với 2 bộ vì của gian trung tâm Muốn thực hiện nâng độ cao này không phải ngôi đình, chùa cổ nào và hiệp thợ mộc nào cũng

Trang 35

làm được, mà là một sự tính toán khoa học về mực thước chuẩn ( ở huyện Hưng Hà có đình Thanh Lãng xã Minh Hoà, đình Lường xã Hoà Tiến cũng có thức kiến trúc này) Theo truyền dạy của nghề mộc gọi là “ Mực sối hoa”, đó

là “ mực” khó thực hiện nhất trong kiến trúc đình cổ nên có câu ca: “ thứ nhất

là mực sối hoa, thứ nhì kẻ góc, thứ ba đao tàu” Theo cách gọi của dân gian “ mực sối hoa” này còn được gọi là kèo “ déo góc lượn dần” hay “ kèo moi” Mực sối hoa này được thực hiện: sẽ có thêm một bộ vì kèo liên kết giằng, giữa bộ vì chái với vì nóc của hai gian bên Từ đầu xà chéo tàu ( góc phía trong, đầu cột quân của hai hồi đình) có 2 thanh kèo, được đấu liền với xà chéo tàu, lao chéo lên đầu cột trốn của vì kèo nóc gian bên, vượt qua đầu tụ này lao chéo lên đỡ lấy chồng nóc Hai chiếc “ kèo moi” này lao chéo từ đầu cột quân của hai hồi lên nhưng không đi theo một đường thẳng mà đi theo một độ cong dần theo hướng vươn lên, chính độ cong ấy là mực thước để tính toán và xác định độ cao của vì kèo nóc 2 gian bên cao hơn bao nhiêu so với

độ cao của 2 vì kèo nóc gian trung tâm cho phù hợp với tổng thể kiến trúc Và

độ cao ấy sẽ quyết định độ cong của nóc đình, mái đình đã được thực hiện ngay trong khung kiến trúc

Vì kèo “déo góc” này tuy lao lên để đỡ chồng nóc nhưng không mang tính chất chịu lực, vì kết cấu chịu lực đỡ chồng nóc do các vì kèo khác đảm nhiệm rồi, hai thanh kèo này được lao lên theo độ cong và đấu đầu vào nhau

để đỡ chồng nóc được gọi là “đầu moi”, điểm “ đầu moi” này chia phần nóc gian bên Do vì kèo “déo góc” không mang tính chịu lực mà làm chức năng mực thước, nhưng lại tạo dáng như thêm một vì kèo liên kết giằng giữa vì kèo chái với vì kèo gian bên, tạo cảm giác sự vững chắc của kết cấu khung kiến trúc và tạo điều kiện cho các hiệp thợ trang trí chạm khắc trên “đầu moi” của hai vì kèo này Thân hai vì kèo này không làm vuông mà được bào tròn, khi hai thanh kèo ở hai góc vượt qua hai thân trụ trốn của bộ vì nóc gian bên theo dáng uốn lượn như hai con rồng bay lên sẽ chạm vào nhau thì mỗi bên còn

Trang 36

một nửa hình tròn và áp má vào nhau lại trở thành một hình tròn để thực hiện việc chạm khắc Sự chạm khắc ở hai đầu moi được chạm thành một đầu rồng

có râu, vây, bờm bay phấp phới, các râu bờm này còn được bay toả xuống thân của 2 vì kèo moi, với nhưng nét chạm nổi, bong kênh Trên đầu rồng đội một đấu chống nóc, đấu chống nóc của mỗi bên tạo dáng khác nhau, một bên

là đấu tròn, một bên là đấu vuông, đấu được chạm khắc hình cánh sen, đục chạm khắc nổi

Như vậy, vì kèo “ sối hoa” hay còn gọi là “ kèo moi”, “ kèo déo góc” ngoài có chức năng là mực thước ra còn để thực hiện các đề tài chạm khắc rất tinh xảo, đa dạng và phong phú Có một điều khác biệt ở đình Thanh Lãng ( Minh Hoà) là hai thành kèo của vì kèo này đi qua đầu cột trốn của vì kèo bên còn ở đình Xuân Lôi ( Hồng Minh) hai thành kèo này đi qua thân cột trốn của

vì kèo bên

Các bộ vì nách đều làm theo kiểu chồng rường Trên các thanh rường đều thực hiện chạm khắc tinh xảo Cả hai mặt của hai vì nách tiền của bộ vì gian trung tâm đều khắc hoạ rồng, phượng, chim muông, thú, hoa lá, sen, cúc, rùa, cá… chạm nổi kênh bong Các vì nách còn lại đều được chạm khắc hoa văn lá lật kênh bong

Có thể nói bộ khung kiến trúc toà đại bái của đình Xuân Lôi tương đối vững chắc và uyển chuyển Sự gắn kết giữa các bộ phận trong một bộ vì nói riêng và toàn bộ kết cấu kiến trúc nói chung rất hợp lý nhưng không kém phần mềm mại khiến cho kiến trúc của ngôi đình không còn dáng vẻ cứng nhắc, thô kệch Các nghệ nhân dân gian đã rất tài tình, thổi được hết cái hồn,

sự tinh tuý và bàn tay khéo léo của người thợ để tạo nên kiến trúc này Điều này càng cho thấy sự giỏi giang và bàn tay khéo léo của những người con Xuân Lôi

Nhìn chung, nếu xét một cách tổng thể ta có thể khẳng định kết cấu của ngôi đình tương đối hoàn chỉnh và bề thế Trong tổng thể một ngôi đình thì

Trang 37

các đơn nguyên kiến trúc lại có những vị trí riêng Toà đại bái luôn là nơi thể hiện rõ nét và đầy đủ nhất những giá trị kiến trúc của ngôi đình Đây được coi

là phần cốt lõi và quan trọng nhất trong tổng thể kiến trúc Tuy nhiên bất kỳ ngôi đình nào của người Việt cũng đều có sự gắn kết chặt chẽ với những vị thần linh nhất định Bởi vậy trong đình luôn thể hiện rõ đời sống tâm linh của người Việt Sự bề thế, đồ sộ của toà đại bái kết hợp với sự linh thiêng, trang trọng của toà hậu cung càng làm cho ngôi đình trở nên độc đáo và mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống - khẳng định rõ quan điểm đình làng là một kiến trúc dân gian của người Việt

+ Kết cấu nền, móng

Móng có chức năng nhận tải trọng từ các kết cấu bên trên truyền xuống, phân bổ, giải tỏa tải trọng nhằm đảm bảo cho công trình không bị sụt lún dẫn tới các hư hại Đình Xuân Lôi được xây dựng trên một gò đất cao, độ cao tự nhiên so với mặt ruộng canh tác là 90cm Do đó kết cấu nền đất ở khu vực này tương đối vững chắc Đặc điểm của kết cấu khung gỗ truyền thống đã dàn đều tải trọng của đình nên kết cấu móng khá đơn giản Phần móng cột là những chân tảng bằng đá hình vuông có kích thước 88cm x 88cm Xung quanh nền được bó vỉa bằng đá Bên trong ngôi đình nền được lát gạch ngoài

ra hai gian bên đều được lát sàn gỗ ba cấp cao dần ra xung quanh Theo giáo

sư Hà Văn Tấn thì các ngôi đình có sàn thường là những ngôi đình có niên đại sớm Tuy nhiên, dù được xây dựng khá muộn song đình Xuân Lôi vẫn có hệ thống sàn này Trải qua thời gian đình Xuân Lôi chỉ còn giữ lại được hệ thống ván sàn bên trái đình Điều này đã phần nào tạo nên vẻ cổ kính và nét độc đáo cho ngôi đình Lý giải vì sao sàn gỗ của đình được giật cao dần như vậy thì có nhiều nguyên nhân, nhưng đa phần đều nghiêng về ý kiến cho rằng đó phụ thuộc vào vị trí thứ bậc của các “ hạng người” trong làng khi tham gia bàn định công việc của làng Tùy theo phẩm hàm, chức tước, địa vị xã hội hay tuổi tác thì có những vị trí ngồi khác nhau trong đình

Trang 38

Sàn của đình Xuân Lôi bao gồm các cấu kiện chính là dầm sàn và ván sàn Dầm sàn chia thành hai loại là dầm chính và dầm phụ Dầm phụ gối lên các dầm chính có nhiệm vụ đỡ sàn Ván sàn được ghép khít vào nhau ở các cấp khác nhau mặc dù có độ chênh như vậy nhưng nhìn chung hệ thống sàn của đình khá vững chắc

Ba gian giữa có 3 bộ cửa, hệ thống ngưỡng cửa bằng gỗ có độ dày 30cm Các bộ cửa có khung bao cửa được soi chỉ mớ, vỏ măng, có chiều cao 2,6m; chiều ngang mỗi bộ cửa có khác nhau Bộ cửa của gian trung tâm gồm

6 cánh cửa, có chiều ngang 3,1m Hai bộ cửa của 2 gian bên có bốn cánh cửa

có chiều rộng 2,2m Các cánh cửa đều đóng kiểu thượng song hạ bản, chân quay

Cửa hậu phía sau hai gian bên của toà đại bái, có 2 cửa để đi xuống hậu cung; lối đi này đi qua hiên phía sau của toà đại bái, hiên của toà ống muống

và hiên phía trước của toà hậu cung để đi vào cửa hai gian bên của toà hậu cung Hai cửa này có chiều rộng 0,9m; cao 2,05m

Hệ thống tường bao của đình Xuân Lôi được xây bằng gạch vữa để bảo quản những cấu kiện kiến trúc bên trong và hệ thống các di vật đồ thờ của đình Tường bao được quét vôi trắng, trải qua thời gian cùng với sự tác động của khí hậu, thời tiết màu vôi đã bị ố và có nhiều chỗ bị rêu phong

+ Phần mái

Trang 39

Toà đại bái làm theo kiểu mái cong đao Mái đình được lợp bằng ngói mũi, trên đỉnh nóc có đắp đôi rồng cuốn thủy Đôi rồng được đắp rất tỷ mỷ và tinh tế Rồng có mắt lồi, mũi nở, miệng mở ngậm vào thân của bờ nóc Bờ nóc xây gạch hoa hồi, soi chỉ kép Con sô khúc nguỷnh đắp hai con nghê, dáng nghê hung dữ, hai chân sau đạp trên bờ guột, hai chân trước khuỳnh ra đạp xuống mái tạo thế rất oai phong Điểm đặc biệt được thể hiện ở bốn góc của đao đình đã tạo nên vẻ đẹp uyển chuyển, mềm mại cho phần mái của ngôi đình Cả 4 đầu đao được đắp hình rồng theo thế rồng chầu phượng múa Hệ thống đầu đao của 4 góc đình là những khúc gỗ lim to, nhô ra khoảng 40cm, tạo dáng khoẻ, chắc của góc mái đình Những bẹ tầu chạm khắc cách điệu hình vỏ măng, rộng, cao tạo ra một thế 4 góc của mái bay lên Mái đình có hệ thống tàu mái bằng gỗ lim, bản rộng 40cm, dày 5cm chạy dài suốt mái, với những then co chắc chắn và có một bộ rèm tàu chạy suốt phía ngoài chạm khắc hoa văn triện kỷ hà xen với chạm nổi dây hoa cúc

Nét độc đáo trong kiến trúc của đình Xuân Lôi không chỉ được thể hiện qua kiến trúc của tòa đại bái mà nó còn dàn trải ở các đơn nguyên khác của ngôi đình Điều này càng làm cho ngôi đình có vẻ đẹp cổ kính trang nghiêm nhưng cũng không kém phần uyển chuyển, mềm mại

* Toà ống muống

Toà ống muống có ba gian, chiều dài ( sâu) 6,5m ,chiều rộng 4,1m Tổng diện tích nội tự là 23m2 Toà ống muống không xây tường bao quanh phía ngoài mà làm một hệ thống ván bưng và các cửa có chấn song

Bộ khung kiến trúc của toà ống muống gồm 3 bộ vì, mỗi bộ vì có hai hàng cột, các cột có chiều cao 3,3m , chu vi 1,33, đường kính 42cm

Liên kết giằng giữa các vì bằng xà dọc thượng, bộ vì thứ nhất của toà ống muống liên kết giằng với 2 cột cái của gian trung tâm bằng các xà giằng ngang và kèo sối bộ vì thứ ba của toà ống muống liên kết giằng với các cột của toà hậu cung bằng các xà dọc, xà thượng.Toà ống muống thông với gian

Trang 40

giữa của tòa đại bái, nhưng ở bộ vì thứ ba ( từ câu đầu trở xuồng) là một tuồng cửa Cửa có ngưỡng, bộ cửa gồm 8 cánh đóng kiểu thượng song hạ bản

có chân quay Bộ cửa này tạo nên sự ngăn cách giữa toà ống muống và toà hậu cung Tuy ở đây có cửa nhưng hầu như không mở mà lối đi vào hậu cung

là đi hai bên cửa của toà hậu cung

Các bộ vì nóc của toà ống muống được làm theo kiểu chồng rường cốn

mê Các con rường ăn khít vào nhau tạo nên bức cốn đặc Trên các cốn mê chạm khắc với những đề tài long li quy phượng, tùng cúc trúc mai, chạm khắc nổi chìm, tạo hình rất sinh động

* Toà hậu cung

Đình làng được kiến trúc theo kiểu chữ công ( I ) nên toà hậu cung là một toà vuông góc với toà ống muống và song song với toà đại bái

Toà hậu cung được xây kiểu tường hồi bít đốc xây dật cấp và có các đấu nắm cơm Toà có ba gian, gian giữa rộng 4,1m; hai gian bên rộng 2,6m; chiều ngang toà hậu cung rộng 5,56m; tổng diện tích trong lòng là 42m2 Toà hậu cung lợp ngói mũi trên đầu bờ nóc đắp Ngạc long ngậm đại bờ, bờ nóc được xây gạch hoa chanh, soi chỉ kép

Toà hậu cung có 3 tuồng cửa, tuồng cửa giữa là tuồng cửa phía sau toà ống muống, hai tuồng cửa hai bên, cửa có ngưỡng và khung bao cửa, chiều cao cửa 2,12m; rộng 1,72m mỗi tuồng cửa gồm 4 cánh đóng theo kiểu thượng song hạ bản, có chân quay Lối đi vào hai cửa bên này là đi từ cửa nách của toà đại bái, đi thẳng vào hai cửa bên của toà hậu cung, đi bên ngoài hai phía của toà ống muống, lối đi là phần hiên 2 bên của toà ống muống, hiên sau của toà đại bái và hiên trước của toà hậu cung được kết nối thành một hành lang

và lát đá phiến, trên có các mái hiên của ba toà cùng che lối đi

Toà hậu cung có 4 bộ vì, mỗi bộ vì có 3 chân hàng cột, 2 cột cái, 1 cột quân Cột cái cao 4,3m; chu vi 80cm, đường kính 25cm, cột quân cao 3,3m; chu vi 80cm, đường kính 25cm Các cột được kê trên tảng đá chân cột

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Thanh (ch.b), Địa chí Thái Bình, Nxb VHTT 2. Trần Lâm Biền ( 2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb.Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thái Bình", Nxb VHTT 2. Trần Lâm Biền ( 2001), "Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Nhà XB: Nxb VHTT 2. Trần Lâm Biền ( 2001)
3. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng, Nxb.VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb.VHTT
Năm: 2008
4. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
5. Nguyễn Du Chi (2003), Hoa văn Việt Nam, Nxb Mĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb Mĩ thuật
Năm: 2003
6. Trịnh Minh Đức (ch.b), Phạm Thu Hương ( 2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Lê Thanh Đức (2001), Đình làng miền Bắc, Nxb.Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình làng miền Bắc
Tác giả: Lê Thanh Đức
Nhà XB: Nxb.Mỹ thuật
Năm: 2001
8. Lê Thánh Đức (2001), Nét đẹp đình làng, Nxb, Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp đình làng
Tác giả: Lê Thánh Đức
Năm: 2001
9. Nguyễn Duy Hinh ( 1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb, KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam
10. Đinh Gia Khánh ( 2006), Lê Hữu Tầng ( 1994), Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, Nxb.KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại
Nhà XB: Nxb.KHXH
11. Vũ Ngọc Khánh ( 2006), Nghiên cứu văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nxb. Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hoá cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Giáo dục. Hà Nội
12. Nguyễn Thanh, Địa danh Thái Bình xưa và nay, Sở Văn hóa Thông tin 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Thái Bình xưa và nay
13. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự ( 1998), Đình Việt Nam, Nxb.TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Nhà XB: Nxb.TPHCM
14. Hà Văn Tấn ( 2005), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, t2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Hà Nội
15. Chu Quang Trứ (1996), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb.Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: Nxb.Mỹ thuật
Năm: 1996
16. Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình, Bảo tàng tỉnh Thái Bình 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình
17. Hồ sơ xếp hạng di tích đình Xuân Lôi, Ban quản lý di tích tỉnh Thái Bình 18. Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ xếp hạng di tích đình Xuân Lôi", Ban quản lý di tích tỉnh Thái Bình 18. "Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
20. Tên làng xã Thái Bình qua các đời, Nxb Hội văn học nghệ thuật Thái Bình 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Thái Bình qua các đời
Nhà XB: Nxb Hội văn học nghệ thuật Thái Bình 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w