“Những nét cong mềm mại của mái đình làng, mái chùa hòa quyện với không gian cảnh quan thiên nhiên, tạo nên một tổng thể kiến trúc hài hòa tác động mạnh mẽ đến người xem, giúp họ thu đượ
Trang 1Trường đại học văn hoá hμ nội
KHOA BẢO TÀNG -*** -
Nguyễn Thị Ngọc Xoan
Tìm hiểu di tích đình lμng Đỗ Xá
(Xã ứng hoè - huyện Ninh Giang - tỉnh HảI Dương)
Khoá luận tốt nghiệp
Ngμnh bảo tμng
Người hướng dẫn: Ths Phạm Thu Hằng
Hμ nội - 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục khóa luận 3
Chương 1 DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ XÁ TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 1.1 Vài nét về vùng đất và con người nơi di tích tồn tại 5
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 5
1.1.2 Dân cư 7
1.1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 9
1.2 Lịch sử đình làng Đỗ Xá 11
1.2.1 Niên đại di tích đình làng Đỗ Xá 11
1.2.2 Sự thay đổi qua các lần trùng tu 13
1.2.3 Sự tích các vị thần được thờ 14
Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐỖ XÁ 2.1 Giá trị kiến trúc 18
2.1.1 Không gian cảnh quan 18
2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 19
2.1.3 Kết cấu kiến trúc 20
2.1.3.1 Tiền tế……… ……20
2.1.3.2 Trung từ ………24
2.1.3.3 H ậu cung ……… 26
2.2 Giá trị điêu khắc, trang trí………29
2.2.1 Trang trí trên kiến trúc ……….29
Trang 32.2.2 Các di vật trong di tích ……… 33
2.3 Lễ hội đình làng Đỗ Xá ……….38
2.3.1 Lịch lễ hội ……… 38
2.3.2 Diễn trình lễ hội ………39
2.3.3 Giá trị văn hóa của lễ hội ……… 46
Chương 3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ XÁ 3.1 Hiện trạng di tích đình làng Đỗ Xá……… 50
3.1.1 Kiến trúc, cảnh quan ……….50
3.1.1.1 Các kết cấu kiến trúc ………50
3.1.1.2 Cảnh quan di tích ……… 52
3.1.2 Di vật ……… 53
3.1.3 Lễ hội ……….54
3.2 Bảo vệ di tích đình làng Đỗ Xá……… 55
3.2.1 Các văn bản pháp lý về bảo tồn di tích ……….55
3.2.1.1 Một số văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế …… 55
3.2.1.2 Những văn bản bảo vệ di tích lịch sử - văn hoá của Việt Nam … ……… 57
3.2.2 Bảo vệ di tích đình làng Đỗ Xá ………61
3.3 Bảo quản, tu sửa di tích đình làng Đỗ Xá ……… 62
3.4 Giữ gìn lễ hội đình làng Đỗ Xá ……… 66
3.5 Phát huy giá trị di tích đình làng Đỗ Xá……… 68
KẾT LUẬN ……… 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam có sự hấp dẫn cao đối với du khách trong và ngoài nước Dáng vẻ của kiến trúc cổ kính khác xa với những kiến trúc đương đại “Những nét cong mềm mại của mái đình làng, mái chùa hòa quyện với không gian cảnh quan thiên nhiên, tạo nên một tổng thể kiến trúc hài hòa tác động mạnh mẽ đến người xem, giúp họ thu được và có những cảm tưởng đầy đủ hơn, nhiều góc cạnh hơn về hình tượng”1 Cùng với đó, chúng ta còn có một kho tàng nghệ thuật về chạm khắc rất quý, nằm rải rác ở các Đình, Đền, Chùa hiện còn tồn tại trên đất nước Việt Nam Đó là những tác phẩm được chạm trổ công phu, duyên dáng phản ánh tư duy của người Việt và ước vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Những giá trị văn hóa quý báu đó cần phải được gìn giữ và phát huy đến mai sau
Huyện Ninh Giang (tỉnh Hải Dương) là một vùng đất còn bảo lưu nhiều
di tích và những sinh hoạt văn hóa truyền thống, mang đặc trưng của cư dân sống ven sông, với nền thương nghiệp phát triển khá sớm Một số di tích ở đây đã trở nên nổi tiếng khắp trong vùng và cả nước, có sức ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhân dân như: Chùa Chông (xã Hưng Long), đền Tranh (xã Tranh Xuyên), đình Trịnh Xuyên (xã Nghĩa An)… Hàng năm, Các di tích ở Ninh Giang thu hút đông đảo nhân dân khắp mọi miền đất nước đến lễ bái và tham quan Trong hành trình về thăm các di tích trên địa bàn huyện Ninh Giang, không thể không nhắc tới các di tích kiến trúc – nghệ thuật đẹp nổi tiếng, đã được xếp hạng cấp Quốc gia như: đình làng Đỗ Xá, đình Mai Xá, đình Cúc Bồ, đình Bồ Dương, chùa Đông Cao hay đình Trịnh Xuyên… Các di tích này đã và đang tạo ra sức hút du lịch của địa phương
1 Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên) Phạm Thị Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 188
Trang 5Trong các di tích lịch sử - văn hóa của huyện Ninh Giang, di tích đình làng Đỗ Xá là một trong những di tích kiến trúc – nghệ thuật đẹp nổi tiếng trong vùng, mang phong cách nghệ thuật triều Nguyễn – đã được xếp hạng là
di tích Kiến trúc – Nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1999 theo Quyết định số 05/1999 QĐ/VHTT ngày 24/01/1999 Trải qua quá trình tồn tại, chịu sự tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, di tích đình làng Đỗ Xá đang có nguy cơ bị xuống cấp nghiêm trọng
Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu mang tính chất hệ thống về đình làng Đỗ Xá Là sinh viên Khoa Bảo tàng, tôi mong muốn được vận dụng vào thực tiễn những kiến thức đã tích lũy được, nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ hơn giá trị vật thể và giá trị phi vật thể của đình làng Đỗ Xá; góp một phần nhỏ cùng địa phương bảo vệ một di sản văn hóa trong hệ thống di sản văn hóa
nước nhà Do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu di tích đình làng Đỗ
Xá” làm khóa luận tốt nghiệp năm thứ tư
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích đình làng Đỗ Xá (xã Ứng Hòe – huyện Ninh Giang – tỉnh Hải Dương)
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được triển khai trên hai phương diện: + Về thời gian: Nghiên cứu di tích đình làng Đỗ Xá từ khi di tích được khởi dựng và tồn tại cho tới hiện nay
+ Về không gian: Nghiên cứu di tích trong bối cảnh vùng đất và con người nơi di tích tồn tại
4 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu lịch sử vùng đất, con người nơi di tích đình làng Đỗ Xá tồn tại, làm cơ sở cho việc nghiên cứu di tích
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích đình làng
Đỗ Xá từ khi khởi dựng cho đến nay
Trang 6- Nghiên cứu giá trị kiến trúc – nghệ thuật, lễ hội, di vật đình làng Đỗ Xá
- Từ thực trạng tồn tại của di tích đình làng Đỗ Xá hiện nay, khóa luận
đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Đỗ Xá
5 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin: Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu: Bảo tồn di tích - lịch sử văn hoá, Khoa học Lịch sử, Bảo tàng học, Địa lý, Dân tộc học, Du lịch học, Xã hội học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học
- Các phương pháp khác: Quan sát, điều tra thống kê, nghiên cứu tài liệu
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, bố cục bài viết gồm 3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1 Di tích đình làng Đỗ Xá trong diễn trình lịch sử
Chương này tập trung giới thiệu khái quát về lịch sử vùng đất, điều kiện tự nhiên – dân cư – đặc điểm kinh tế, văn hóa truyền thống nơi di tích tồn tại Đồng thời nghiên cứu, tìm hiểu tư liệu để bước đầu xác định niên đại tương đối và quá trình tồn tại của di tích trong diễn trình lịch sử
Chương 2 Giá trị kiến trúc – nghệ thuật và lễ hội đình làng Đỗ Xá
Đây là chương chính của khóa luận Chương này, tập trung nghiên cứu, khảo tả kiến trúc, các di vật tiêu biểu có giá trị lịch sử, mỹ thuật đang được lưu giữ trong di tích và nghiên cứu lễ hội đình làng Đỗ Xá
Chương 3 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Đỗ Xá
Xuất phát từ thực trạng di tích đình làng Đỗ Xá, bước đầu đề xuất một
số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Đỗ Xá trong bối cảnh hiện nay
Để hoàn thành bài khóa luận này, em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Ths Phạm Thu Hằng Em xin xin gửi tới cô lời cảm ơn sâu sắc Nhân đây, em xin cảm ơn Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Hải
Trang 7Dương, Thư viện tỉnh Hải Dương, Bảo tàng tỉnh Hải Dương, UBND xã Ứng Hòe, Ban quản lý di tích đình làng Đỗ Xá đã tạo điều kiện giúp đỡ em về mặt
tư liệu trong quá trình thực hiện khóa luận Em xin gửi lời cảm ơn các thầy, cô, gia đình, bạn bè đã động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song vì thời gian có hạn và còn ít kinh nghiệm nghiên cứu, chắc chắn khóa luận không tránh khỏi khiếm khuyết Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 8Chương 1
DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ XÁ TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ
1.1 Vài nét về vùng đất và con người nơi di tích tồn tại
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Thôn Đỗ Xá thuộc xã Ứng Hòe (huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương): phía Đông giáp xã Nghĩa An (thuộc huyện Ninh Giang), phía Tây giáp xã Quảng Nghiệp (thuộc huyện Tứ Kỳ), phía Nam giáp xã Vạn Phúc và Ninh Hòa, phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 17 và xã Quyết Thắng)
Xã Ứng Hòe có vị trí thuận tiện về giao thông đường thủy, cũng như đường bộ Từ trung tâm thành phố Hải Dương theo đường 17 (hướng nam), đi qua Gia Lộc về đến Ứng Hòe, thôn Đọ nằm ngay sát đường 17, phía bên phải Toàn tuyến đường dài khoảng 15 km, được rải nhựa bằng phẳng, rộng rãi, phù hợp với mọi phương tiện giao thông phổ biến như: ô tô, xe máy, xe đạp… Ngoài ra, từ thành phố Hải Dương đi dọc theo đường 191 qua huyện lị Tứ Kỳ
và đến xã Ứng Hòe; tổng số chiều dài khoảng 20 km
Về giao thông thủy, một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang chảy xuống phía Đông Nam qua hai huyện Gia Lộc và huyện Tứ Kỳ giao với xã Tân Hương và Nghĩa An, nhân dân thường gọi là Sông Ràm) Hợp lưu của nhánh sông này cách xã Ứng Hòe khoảng 1 km nên đây là vùng đất thuận lợi cho giao thông đường thủy với các vùng lân cận; (huyện Đường An thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, sau đổi
là Giao Châu Khoảng niên hiệu Hội Xương (841-846) đời Đường thứ sử Giao Châu là Vũ Hồn định cư ở thôn Mộ Trạch đặt tên huyện là Đường An, thời Lý - Trần thuộc châu Thượng Hồng, thời Thuộc Minh vẫn thuộc châu Thượng Hồng nhưng đặt thuộc phủ Lạng Giang Đời Lê Thánh Tông đổi thuộc châu Thượng Hồng xứ Hải Dương Đầu đời Đồng Khánh kiêng chữ đồng âm Đường (Ưng Đường - tiểu tự của vua Đồng Khánh), đổi là huyện
Trang 9Năng An (hoặc Năng Yên) Sau đổi lệ kiêng húy chép là huyện Đường An không đổi Nay thuộc huyện Bình Giang - tỉnh Hải Dương2; Đây là một trong những nhánh sông sâu và rộng, thuận lợi cho việc di chuyển của thuyền bè Hàng hóa được vận chuyển bằng đường sông chủ yếu là: than, đá, cát…
Dọc hành trình du khách có thể ghé thăm khu di tích đền thờ và lăng
mộ Nguyễn Chế Nghĩa – danh tướng nổi tiếng thời Trần tại thị trấn Gia Lộc, đình Trịnh Xuyên – một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp tại xã Nghĩa An (Ninh Giang) đã được xếp hạng quốc gia năm 1992 Đây là những di tích tiêu biểu về lịch sử - văn hóa của tỉnh Hải Dương, đã và đang thu hút nhiều lượt khách đến tham quan, học tập nghiên cứu
* Điều kiện tự nhiên
Theo tài liệu Ban văn hóa xã cung cấp, thôn Đỗ Xá từ xưa đã nằm bên lưu vực một nhánh sông lớn của sông Hồng Đất đai trũng, hàng năm nhân dân chỉ cấy được một vụ lúa, việc đi lại phần lớn bằng thuyền Thời kỳ chưa
có đê, vào mùa hè, nước lũ dâng lên ngập cả một vùng rộng lớn, nhân dân thôn Đỗ Xá nói riêng và các vùng lân cận phải chịu cảnh “sống chung với lũ” Sau quá trình sinh sống, người dân đã biết làm thủy lợi, đắp đê ngăn lũ Đến
nay, người dân thôn Đỗ Xá đã không còn phải chịu cảnh lũ lụt nữa
Điều kiện tự nhiên ở Ứng Hòe nói riêng và huyện Ninh Giang nói chung khá thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Trên địa bàn xã có nhiều con sông và nhánh sông lớn chảy qua, không những cung cấp nước tưới và phù sa cho đất đai mà còn có giá trị về mặt giao thông vận tải đường thủy Ngoài ra, so với địa hình của tỉnh Hải Dương, đây lại là một trong những vùng trũng, địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho canh tác lúa nước và trồng những cây hoa màu như: ngô, khoai, đậu tương, dưa hấu… Hiện nay, nghề nghiệp chính của nhân dân Ứng Hòe vẫn là làm nông nghiệp
2 Tô Tầu Tĩnh (1886 - 1887), Thần Hải Dương kính tuân lời phê biên về bản đồ tiến trình –
Quyển thượng, Quốc sử quán triều Nguyễn thời Đồng Khánh, Hải Dương
Trang 10Thôn Đỗ Xá nằm gần nhánh của sông Hồng (đoạn chảy qua Ninh
Giang nhân dân vẫn quen gọi là sông Ràm) Nhưng dòng sông chảy hiền hòa,
lại mang ít phù sa nên đất đai khu vực ven sông không có hiện tượng hình thành bãi bồi như ở ven sông Hồng Đất canh tác chính chủ yếu là thâm canh, dân làng cũng không phải chịu cảnh dịch chuyển do hiện tượng lở và bồi mà các con sông lớn gây ra
1.1.2 Dân cư
Thôn Đỗ Xá nói riêng và xã Ứng Hòe nói chung là một vùng đất được hình thành khá sớm, lại được thiên nhiên ưu đãi, thuận tiện về giao thông
thủy, bộ Một vùng đất “nhất cận thị, nhị cận giang” cho nên xã Ứng Hòe từ
lâu đã trở thành một khu dân cư đông đúc Trải qua thời gian cùng với sự phát triển của dân số, hiện nay toàn xã có 1312 hộ dân cư với 6030 khẩu
Xã Ứng Hòe có tổng diện tích là 414 ha, trong đó thổ canh là 258 ha và thổ cư 166 ha Trước ngày hòa bình lập lại (1954), một trong hai thôn của xã
là thôn Công giáo toàn tòng, trong đó là thôn Đồng Vạn Tại đây hiện nay còn một nhà thờ Công giáo có quy mô lớn, đã từng một thời là nhà thờ xứ Thôn Đồng Vạn có 162 ha, 738 khẩu trong đó có 62 hộ với 283 khẩu là giáo dân
* Đời sống kinh tế:
Đỗ Xá được thiên nhiên ưu đãi là có vị trí thuận tiện cả về giao thông đường thủy và đường bộ, vì thế ở đây thương nghiệp phát triển khá sớm, nhưng vẫn chủ yếu là các hộ gia đình buôn bán nhỏ với những sản phẩm thủ công, lương thực thực phẩm và hàng gia dụng
Thôn Đỗ Xá từ xưa đã có chợ, tên nôm gọi là chợ Đọ, chợ họp tất cả các ngày trong tháng Chợ Đọ xưa họp ngay bên trái Đình, cùng với Đình tạo thành một trung tâm sinh hoạt văn hoá và giao lưu kinh tế của các địa phương trong vùng Hiện nay, chợ được chuyển ra cạnh đường 17 để tiện cho việc vận chuyển hàng hoá Tuy vậy, chợ vẫn được gọi bằng tên quen thuộc: chợ Đọ, còn nơi chợ họp trước đây nay là sân Đình với hai cây gạo cổ thụ quanh năm
Trang 11toả bóng mát Cứ đến tháng Tư hàng năm, hai cây gạo ra hoa nhuộm đỏ rực
cả một khoảng trời
Dưới chế độ phong kiến, nhân dân thôn Đỗ Xá sống trong cảnh nghèo khổ, hàng năm bị lũ lụt đe dọa Sau khi thực dân Pháp xâm lược (1858), đời sống nhân dân ta vô cùng cực khổ Nhân dân Đỗ Xá cũng sống trong tình trạng đói khổ gần như kéo dài triền miên Mãi đến khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), với bản chất cần cù, chịu khó, ngoài việc trồng trọt chăn nuôi, người dân Đỗ Xá còn phát triển thêm nghề phụ như: dệt vải, buôn bán nhỏ… nên đời sống kinh tế của người dân Đỗ Xá “thay da đổi thịt” từng ngày Góp phần vào thành công đó, không thể không kể đến nghề dệt vải vừa phục vụ gia đình vừa mang lại thu nhập kinh tế
Theo những tư liệu còn lưu giữ được, dưới thời phong kiến, thôn Đỗ
Xá, xã Ứng Hòe, đàn bà có nghề dệt vải, đàn ông làm nghề buôn bè Có thời
kỳ 100% số hộ trong thôn có khung dệt, nhiều gia đình có tới hai, ba khung Trong đình còn lưu giữ được một đôi câu đối do “Công nghệ dệt vải bản xã cung tiến, 1943” Đầu những năm 80, dệt vải bằng máy phát triển nên nghề dệt vải thủ công của Đỗ Xá cũng dần dần mất đi
Từ những năm 1980 trở lại đây, thôn Đỗ Xá còn phát triển thêm nghề thêu ren Thêu theo những mẫu đặt hàng sẵn của các cơ sở chuyên cung cấp hàng thêu ren cho thị trường trong nước và nước ngoài Công việc này thu hút nhiều lao động nữ trong thôn, vừa tận dụng thời gian nghỉ ngơi của nông vụ, vừa mang lại thu nhập cho gia đình
Trang 121.1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
ra thành hai xã riêng – Còn lại xã Ứng Hòe lấy nguyên tên cũ cho đến nay Xã Ứng Hòe hiện nay có hai thôn là Đỗ Xá và Đồng Vạn
Trong cuộc kháng chiến cứu nước, thanh niên Đỗ Xá nói riêng và xã Ứng Hòe nói chung đã hăng hái lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc Góp phần viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc, toả sáng những tấm gương anh hùng, không ít những người con của quê hương Ứng Hòe đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc, không ít những người phải bỏ lại một phần máu thịt của mình lại chiến trường Công lao của họ đời đời được ghi nhận
Sau khi đất nước được giải phóng, cũng như bao miền quê khác, nhân dân Đỗ Xá thi đua lao động sản xuất khắc phục hậu quả chiến tranh Đến nay thôn Đỗ Xá có trên 1000 hộ dân với khoảng hơn 5000 nhân khẩu Đời sống vật chất của người dân cũng được cải thiện đáng kể
* Đời sống văn hóa
Nêu cao đạo lý uống nước nhớ nguồn, trong mỗi gia đình Việt Nam thường có bàn thờ tổ tiên, nhằm giáo dục con cháu chi nhớ công ơn của những thế hệ trước Đỗ Xá cũng không ngoại lệ, hầu hết các gia đình trong thôn đều có một bàn thờ gia tiên được đặt ở vị trí trang trọng nhất, sạch sẽ nhất trong nhà và coi đó là nơi linh thiêng, bất khả xâm phạm
Thôn Đỗ Xá xưa có nhiều di tích cổ kính: Ngoài một ngôi đình, hai ngôi miếu cổ và một ngôi chùa, thôn còn có “Ngũ kiều cửu tỉnh” (5 cầu đá và
9 giếng cổ) Nhưng hiện nay, ngoài ngôi đình làng Đỗ Xá và Chùa, hầu hết
Trang 13các di tích kể trên đã không còn nữa, thậm chí nơi tương truyền là có cầu đá
và giếng đá cũng đã bị vùi lấp, hiện cũng không còn vết tích gì
Trong những di tích đó, hiện nay chỉ còn đình làng Đỗ Xá là vẫn bảo lưu được dáng vẻ cổ kính xưa Đình làng Đỗ Xá hay còn có tên nôm là Đình
Đọ Từ khi khởi dựng đến nay, tên đình được gọi theo tên vùng đất nơi di tích tồn tại Lễ hội đình làng Đỗ Xá diễn ra một năm hai lần, chính hội là ngày 10 tháng 3 Âm lịch (tương truyền là ngày hóa của ba vị thành hoàng làng) Ngoài
ra, ngày 10 tháng 11 âm lịch (ngày sinh của ba vị thành hoàng), dân làng cũng
tổ chức lễ hội Qua lễ hội cũng là dịp người ta nghỉ ngơi, gặp gỡ nhau sau những ngày lao động mệt nhọc Đó cũng là ngày mà những người con xa xứ
về thăm lại gia đình, quê hương, tham dự hội làng
Chùa Đỗ Xá tuy không còn giữ được nét cổ kính như xưa, nhưng hiện vẫn là nơi sinh hoạt cộng đồng đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân địa phương
Ngược dòng lịch sử, căn cứ vào tên gọi của thôn Đỗ Xá và gia phả của một số dòng họ được biết khởi nguyên của cư dân thôn Đỗ Xá là hai dòng họ lớn: họ Đỗ và họ Nguyễn Hiện nay, hai dòng họ này chiếm đại bộ phận dân
số trong thôn
Ngoài ra, các dòng họ lớn ở thôn Đỗ Xá còn duy trì việc giỗ họ hàng năm, đến ngày giỗ họ, con cháu xa gần về tề tựu đông đủ, cùng nhau “ôn cố tri tân” Tiêu biểu như: họ Nguyễn, họ Đỗ, họ Hoàng… Đây cũng là một nét đẹp văn hoá gắn liền với đời sống tín ngưỡng của cư dân Đỗ Xá nhằm ôn lại truyền thống của gia tộc, giáo dục con cháu xây dựng đời sống mới không xa rời những giá trị tốt đẹp của dân tộc
Thôn Đỗ Xá cũng giống như các địa phương khác, rất coi trọng việc giáo dục và đẩy mạnh các hoạt động khuyến học Tỷ lệ học sinh đỗ Trung học Phổ thông, Đại học, Cao đẳng hệ chính quy ngày càng đông và luôn đứng đầu phong trào học tập trong xã Theo số liệu thống kê năm 2009 của Ban văn hóa
xã, tỷ lệ đỗ vào các trường Trung học Phổ thông là 43%, Đại học là 18%, Cao đẳng là 26% trong tổng số học sinh toàn xã
Trang 14Phát huy truyền thống lao động, sáng tạo của cha ông, Đảng bộ và nhân dân xã Ứng Hòe đã không ngừng phấn phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp Ngay từ năm 1967, Hợp tác xã Đại Xuân đã đạt năng suất lúa 7,6 tấn/ha, cao nhất miền Bắc Năm 1965, xã đã có điện sinh hoạt và sản xuất Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hàng trăm thanh niên trong xã
đã lên đường tòng quân Trong số đó có 148 đồng chí đã hi sinh cho Tổ quốc;
8 bà mẹ trong xã được phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Đảng bộ xã luôn giữ danh hiệu “Đảng bộ trong sạch vững mạnh”
Qua khảo sát tín ngưỡng - văn hóa cổ truyền làng Đỗ Xá cho thấy nơi đây còn bảo lưu được nhiều sinh hoạt văn hóa mang tính cổ xưa của cư dân lâu đời làm nông nghiệp Lễ hội còn tồn tại đã góp phần tạo nên tính cố kết cộng đồng thường thấy ở những làng quê Việt Nam Tuy rằng một số nghi thức, nghi lễ trong các lễ hội đã không được bảo lưu Mặt khác, những đề tài trang trí trên các công trình kiến trúc còn lại đến ngày nay cũng phần nào nói lên ước vọng của người xưa về một cuộc sống tươi đẹp, muôn loài sinh sôi,
ấm no, hạnh phúc Ngoài ra, đây còn thể hiện tài năng khéo léo của người nghệ nhân dân gian, những con người đã biến những khung cảnh sinh hoạt đời thường
thành nghệ thuật, biến những thớ gỗ khô cằn thành “mảnh đất” tạo hình
1.2 Lịch sử đình làng Đỗ Xá
1.2.1 Niên đại di tích đình làng Đỗ Xá
Ngôi đình cổ đã bị phá hủy, những tư liệu như sắc phong, thần tích (bản gốc) cũng không còn Tại đây, chưa tiến hành khai quật khảo cổ học, nên khó xác định niên đại khởi dựng của di tích Tuy vậy, trong thần tích (bản sao) có ghi lại “Ngày lành tháng 8 mùa thu hoàng triều Vĩnh Hiệu thứ 6 (1740) phụng viết”, có thể đoán định ngôi đình đã được xây dựng trước thời điểm này (đầu thế kỷ XVIII) Theo cuốn thần tích của ba vị thành hoàng làng
có ghi chép lại ba vị đều là tướng giỏi của Lê Lợi, cho phép đặt giả thuyết ngôi đình này tiền thân là ngôi miếu và có lịch sử từ thế kỷ XV Mặt khác, theo di ngôn của các cụ già trong làng thì trước đây ba vị được thờ ở ba nơi
Trang 15khác nhau Một vị ở gần đê sông Rầm, một vị ở “Vườn hồng cửa sĩ” (tương
truyền đó là địa điểm có hai ngôi miếu cổ), nhưng không thấy nhắc tới nơi thờ
vị còn lại Phải chăng vị trí ngôi miếu còn lại chính là ngôi Đình hiện nay? Có thể sau quá trình tồn tại, ngôi miếu dần thay thế chức năng của ngôi đình và trở thành đình làng Đỗ Xá hiện nay Sự thay thế chức năng này có nhân tố
“hợp lý” bởi đình và miếu thường có mối quan hệ chặt chẽ, “Đình là nơi thờ
vọng, miếu là nơi quỷ thần bằng y” Tuy rằng, những dấu tích vật chất của ngôi đình hiện tại không cho thấy điều đó
Căn cứ vào những tư liệu Hán nôm còn lưu giữ được và trang trí kiến trúc có thể kết luận: tòa đình làng Đỗ Xá hiện nay được xây dựng vào thời
Nguyễn Trên thượng lương tòa Tiền tế có dòng chữ Hán ghi niên đại: “Đại
Nam Thành Thái thập niên Mậu Tuất ? nguyệt sóc nhật ” nghĩa là: “Ngày mồng 01 tháng ? năm Mậu Tuất Đại Nam niên hiệu Thành Thái năm thứ mười (1898)” Trải qua quá trình tồn tại, Trung từ và Hậu cung đã bị phá hủy
nên không còn giữ được dáng vẻ cổ kính khi xưa Đặc biệt, tòa Trung từ đã bị phá hủy hoàn toàn vào năm 1965 – 1966
Tòa Trung từ hiện nay có lịch sử rất đặc biệt Trung từ trước đây gồm
05 gian, được làm song song với Tiền tế Vào năm 1965 – 1966, huyện Ninh Giang đã mua và dỡ đình giữa để lấy nguyên vật liệu xây dựng hệ thống điếm canh đê sông Luộc Năm 1997, UBND xã đã cho chuyển một căn nhà lim cũ, nguyên là nhà của một gia đình địa chủ trong làng được làm vào năm 1944 vào thay vị trí của Trung từ Hiện nay, trên thượng lương tòa Trung từ vẫn
còn ghi: “Bảo Đại Giáp Thân niên xuân tam nguyệt thập lục nhật kiên trụ
thượng lương đại cát ” nghĩa là: Ngày 16 tháng 3 mùa xuân năm Giáp Thân
(1944), niên hiệu Bảo Đại dựng trụ thượng lương đại tốt đẹp
1.2.2 Sự thay đổi qua các lần trùng tu
Lần trùng tu thứ nhất đình làng Đỗ Xá diễn ra vào năm 1939 Trong lần trùng tu này người ta đã thay một số cột và đảo ngói tòa Tiền tế Trên xà đai,
gian giữa tòa Tiền tế có ghi rõ: “Bảo Đại Kỷ Mão niên quý thu nguyệt trùng
Trang 16tu” nghĩa là: trùng tu vào tháng 9 mùa thu năm Kỷ Mão niên hiệu Bảo Đại
(1939) Từ đó đến nay hầu hết là những lần tiểu tu do nhân dân trong thôn
góp công góp sức với tinh thần “hỏng đâu sửa đấy”
Ngoài các hạng mục trên, trước đây đình làng Đỗ Xá còn hai dãy giải
vũ tả hữu mỗi bên 5 gian Vào năm 1947, sau khi giành chính quyền, lực lượng vũ trang đã dỡ chia cho nông dân trong xã Vị trí hai nhà giải vũ trước giờ được thay thế bằng hai dãy tường bao
Trong kháng chiến chống Pháp 1946 – 1954, nhiều hầm hào bí mật đã được đào trong Hậu cung đình Bộ đội chủ lực của huyện Ninh Giang đã nhiều lần đến đóng và trú ẩn tại đây Dấu tích của hầm bí mật xưa đã không còn
Năm 1946, Đình là nơi nhân dân trong xã tiến hành bầu cử quốc hội khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Từ năm 1966 – 1969 và 1972 – 1973, Tiền tế của đình làng Đỗ Xá được sử dụng làm hội trường phân hiệu II – Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương Năm 1967, đồng chí Lê Duẩn lúc đó là Bí thư thứ nhất của Đảng đã về thăm và nói chuyện với nhân dân địa phương tại đình làng
Năm 1974, Tiền tế đình làng Đỗ Xá được sử dụng làm hội trường của xã Năm 1997, Ủy Ban nhân dân xã Ứng Hòe đã huy động nhân dân toàn
xã đài thọ cho công trình trùng tu đình làng Đỗ Xá Trên câu đầu ở gian giữa tòa Trung từ còn ghi lại: “Việt Nam Đinh Sửu quý thu hoàng đạo nhật” nghĩa là: Tu sửa ngày hoàng đạo tháng 9 năm Đinh Sửu (1997) Trong lần trùng tu này có sửa sang tường bao quanh và đảo ngói và tôn thêm nền tòa Hậu cung, sửa chữa một số mảng chạm ở tòa Tiền tế
Đầu những năm 2000, do chính sách đổi mới của Đảng về tự do tín ngưỡng, nhận thức của các cấp chính quyền nhất là cơ sở có phần hợp lý hơn
Do đó, ngôi đình sau một thời gian dài không sử dụng đúng mục đích đã được khôi phục lại chức năng vốn có Những hạng mục bị hư hỏng được từng bước trùng tu lại Ban quản lý di tích được thành lập để duy trì mọi họat động của
di tích
Trang 17Từ đó đến nay, đình làng Đỗ Xá đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của nhân dân thôn Đỗ Xá nói riêng và chính quyền nhân dân xã Ứng Hòe nói chung
1.2.3 Sự tích các vị thần được thờ
Căn cứ vào những truyền thuyết lưu truyền trong nhân dân địa phương,
và những tư liệu Hán nôm, nhất là thần tích hiện lưu giữ tại đình cho thấy: Đình làng Đỗ Xá được xây dựng để thờ 3 anh em là Nguyễn Tôn, Nguyễn Lâu và Nguyễn Lãng đã có công giúp Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh thế kỷ XV Năm 1407, giặc Minh sang xâm lược nước ta, tội ác của chúng chất cao như núi Nhân dân ta không chịu cảnh nước mất nhà tan
đã vùng lên đấu tranh Ở vùng Lam Sơn (Thanh Hóa) có người anh hùng Lê Lợi, chiêu mộ nhân sĩ hào kiệt, luyện tập nghĩa quân cùng nhau đánh giặc giữ nước
Trong thần tích ba vị thành hoàng làng đình làng Đỗ Xá có viết: Truyện
kể rằng ở Thái Bình có một người tướng tài tên là Nguyễn Chuyên, vợ là Đào Thị Lợi, gia truyền Đào Thị là dòng dõi trâm anh Hai vợ chồng tu nhân tích đức nhưng cao tuổi mà vẫn chưa có con trai Một đêm cuối tháng ba, Đào Thị Lợi nằm mộng thấy một cụ già mũ áo chỉnh tề, diện mạo khác thường, đi từ phía Bắc tới, tay cầm một cành đào có ba quả đưa cho Đào Thị Lợi Đào Thị Lợi cầm lấy liền ăn và bỗng choàng tỉnh dậy Bà mang chuyện vừa mộng nói với chồng Ông nói “đó nhất định là điềm lành” Sau đó quả nhiên bà mang thai đủ tháng sinh ra ba người con trai “thiên tư kỳ dị, diện mạo khác thường” Ông biết là thần nhân xuất thế, liền đặt tên cho người con cả là Nguyễn Tôn, con thứ hai là Nguyễn Lâu và người con thứ ba là Nguyễn Lãng Ba người lớn lên diện mạo khôi ngô Năm lên bẩy tuổi thì cho đi học Năm 13 tuổi cả ba ông đều tinh thông kinh sử, võ nghệ cao cường, tài năng nổi trội, thi đấu thao trường hàng trăm người không địch nổi Năm 20 tuổi, cha mẹ đột ngột qua đời, ba ông thương xót than phiền, khóc lóc thảm thiết Rồi chọn nơi đất tốt an táng cha mẹ, để tang đủ ba năm
Tương truyền rằng, lúc bấy giờ có một gia đình sinh được người con trai là Lê Lợi (sinh tướng có mây lành phủ trên mái nhà, ba ngày không tán,
Trang 18tay trái có bẩy điểm đen là người có tài) Đời Trần có Hồ Quý Ly ngông cuồng bạo ngược, nhân lúc hoàng tử Trần Thái Bình lánh ở Bắc quốc xin trở
về nước Minh Thành Tổ để lại thư, Hồ Quý Ly đã sửa thành đón tiếp Trần Thiên Bình (một hoàng tử khác) về nước Quý Ly bày mưu đón Thiên Bình ở Bình Kiều Việc bị lộ, Minh Thành Tổ cử bọn Liễu Thăng, Mộc Thạch, Chu Năng, Hoàng Phúc đem quân đến nước Nam hỏi tội Hồ Quý Ly rằng: cha con ngươi dám chống lại chiếu của đại quốc? Hồ Hán Thương thấy vậy ba lần mang sính lễ đến gặp anh em Lê Lợi Lê Lợi không nhận sính lễ, rồi khởi nghĩa Lam Sơn, trước tiên tiêu trừ giặc Hồ, chém quân Bắc quốc
Lúc này, hịch truyền đến các quận huyện để chọn người tài trí, văn võ toàn tài Bấy giờ có vô số bậc anh tài, trong đó có Nguyễn Trãi là người tài năng xuất chúng…Được tin ba ông văn võ toàn tài, Lê Lợi vời đến vấn kiến, ứng đối cao minh, thế sự rõ ràng Vua biết ba ông có tài thao lược sẽ làm lên nghiệp lớn, bèn cử ba ông chỉ huy quân sĩ, mang quân đến tuần hành, phòng
bị bất trắc Và phong cho ba ông:
Nguyễn Tôn làm Đô chỉ huy sứ đương lộ thượng tướng quân
Nguyễn Lâu làm Tả đô đài đại tướng quân
Nguyễn Lãng làm hữu Đô đài thái bảo tướng quân
Ba ông bái lĩnh năm vạn quân thủy, bộ; kiệu mã ba nghìn; khí giới, lương thực, cờ xế chiêng chống đầy đủ, thẳng đường đi một đêm về đến Hồng Châu (nay là Hải Dương); rồi tiến binh tiếp đến Hạ Hồng phủ nay là huyện Ninh Giang Tới địa đầu huyện thuộc địa phận Đỗ Xá Trang Thấy Đỗ Xá cảnh đẹp sơn thủy hữu tình, ba ông bèn truyền lệnh cho binh sĩ và nhân dân dựng trại, đóng đồn để ứng phó với giặc phương Bắc Thu nhập thêm 10 binh
sĩ làm gia thần Sáng hôm sau thì nhận được lệnh tiến quân trận Trận đánh ác liệt, giặc phương Bắc đại bại, ba ông giành thắng lợi lớn, thu nhiều khí giới, lương thực
Vua mở tiệc lớn khao thưởng tướng sĩ, cấp cho ba ông hưởng thực ấp ở huyện Vĩnh Lại Từ đó, quốc an hưởng lạc, khai hóa ruộng đồng, nhân dân
Trang 19sung túc phồn vinh Nhớ lại ngày nào nhận phúc chỉ ở khu Đỗ, trang Đỗ Xá
Ba ông mở yến tiệc mời phụ lão nhân dân bản trang đến yến ẩm, phụ lão nhân dân khu Đỗ tâu rằng “khu thần từ khi ba công thiết lập đồn sở, nhân dân đều yên vui, ngày ngày sinh nhai, dần dần trở nên giàu sang phú quý Để ghi nhớ công ơn, nhân đây nay xin làm đồn sở, ngày sau làm nơi thờ tự” Ba ông bằng lòng nói “Khu các ngươi có hậu với anh em ta, coi trọng mệnh với anh em ta, ngàn năm hương hỏa, muôn đời hưởng tế lễ ở trang các ngươi” Ba ông lại ban cho hoàng kim 10 hốt để ngày sau mua ruộng đất phục vụ cho việc thờ tự
Xong việc, bỗng nhiên trời nổi phong ba có đám mây ba màu tía, đỏ, hồng như dải lụa từ trên trời bay xuống đồn ải, ba ông “thượng khứ tòng vân” không thấy trở về (Hôm đó là ngày 10 tháng 3 nhân dân gọi là ngày hóa Sau này cứ vào ngày 10/3 cấm vui chơi ca hát, còn cấm dùng các màu đỏ, tím, hồng) Nhân dân thấy vậy tâu về triều Vua Lê Thái Tổ (Lê lợi) sai sứ về cắt ruộng xây dựng miếu thờ cúng và phong thượng đẳng thần
- Nhất phong Minh Tôn Đại Vương
- Nhất phong Khổng Lâu Đại Vương
- Nhất phong Tăng Lãng Đại Vương
Để nhớ công lao của ba ông, hàng năm vào ngày 11/11 (âm lịch) nhân dân mở hội tế lễ 10 ngày để kỷ niệm ngày sinh và ngày 10/3 (âm lịch) mở hội
kỷ niệm ngày mất Trong lễ hội ngoài tế lễ còn tổ chức hát chèo, múa rối nước và thi pháo đất Riêng tục kiêng không dùng ba màu đỏ, tím, hồng trong
lễ hội thì đã được hủy bỏ
Tóm lại, Đỗ Xá là một mảnh đất thuần nông, tồn tại và phát triển đến ngày nay đã trở thành nơi cư dân đông đúc Đặc điểm kinh tế - xã hội mang nhiều nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Trải qua quá trình tồn tại, nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân Đỗ Xá đã
bị mai một Tuy nhiên, lễ hội đình làng Đỗ Xá vẫn được bảo lưu và ngày càng được cộng đồng gìn giữ và phát huy gía trị Trong lễ hội đình làng Đỗ Xá có trò chơi pháo đất hằng năm thu hút đông đảo nhân dân tới tham gia Đây là
Trang 20một trong những trò chơi dân gian ít gặp ở các địa phương khác trên cả nước Đình làng Đỗ Xá là nơi thờ ba anh em họ Nguyễn đồng sinh ngày 11/11 Âm lịch (thế kỷ XV) và có công giúp Lê Lợi đánh giặc ngoại sâm Qua những dấu tích vật chất của ngôi Đình ta có thể khẳng định niên đại của di tích đình làng
Đỗ Xá hiện nay được dựng vào thời Nguyễn (TK XIX) Đình làng Đỗ Xá không chỉ gắn liền với tên tuổi ba vị thành hoàng làng được dân làng tôn kính
mà còn gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử của địa phương
Trang 21Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐỖ XÁ
2.1 Giá trị kiến trúc
2.1.1 Không gian cảnh quan
Người Việt từ xa xưa đã rất coi trọng phong thủy trong việc xây cất, từ nhà ở cho đến các công trình tôn giáo tín ngưỡng… Người ta cho rằng một thế đất tốt vừa tận dụng được những lợi thế của thiên nhiên để mang lại nhiều may mắn trong công việc và cuộc sống
Đình làng Đỗ Xá tọa lạc trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng ở trung tâm của thôn Đỗ Xá Theo các cụ già trong thôn kể lại thì thế đất của ngôi đình trước đây khá đẹp: phía trước có ba ao (Tiền tam thai), phía sau có hai
gò đất cao làm hậu chẩm (gối sau), phía xa xa ngoài cánh đồng phía Tây và phía Bắc có ngũ kiều (năm cầu đá), nằm rải rác xung quanh làng có cửu tỉnh (chín giếng cổ) Hiện nay do dân cư ngày một đông, đất đai ngày càng thu hẹp, nên địa thế ngôi đình cũng có nhiều biến đổi, co hẹp lại Nhưng nhìn chung ngôi đình làng Đỗ Xá vẫn là một ngôi đình có địa thế và kiến trúc đẹp
Toạ lạc trên mảnh đất bằng phẳng, rộng rãi, đình làng Đỗ Xá là nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng lâu đời của nhân dân địa phương Di tích được xây dựng theo hướng Nam Theo kinh Dịch, phương Nam tượng trưng cho màu đỏ, màu của sự sống, mọi vật đều sinh sôi phát triển Theo kinh nghiệm của dân gian, hướng Nam được coi là hướng đẹp của kiến trúc; ngôi nhà quay theo hướng này sẽ mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông
Phía trước, bên trái của đình làng Đỗ Xá còn có ao rộng (một trong ba
ao cổ còn sót lại, từ xa xưa trước cửa đình có ba ao lớn), đây cũng là yếu tố phong thủy của đình Theo quan niệm của dân gian thì đây chính là yếu tố tụ thủy, tụ phúc trong phong thủy của đình làng
Trước năm 1945, nhân dân trong làng vẫn gánh nước ao đình về ăn Xung quanh ao là bờ đất, cạnh đình có cầu ao gồm nhiều bậc, được làm bằng
Trang 22đá tảng xanh, chắc chắn, để nhân dân trong thôn rửa sạch bụi trần trước khi vào đình dâng lễ Nhưng gần đây, người ta đã xây bờ kè gạch xung quanh ao,
và cho đấu thầu để thả cá Hằng năm, mỗi dịp có những ngày lễ, ngày kỷ niệm của xã người ta thường tổ chức múa rối nước tại đây
Bên phải ngôi đình là một sân kho lát gạch, phía trước có hai cây gạo
cổ thụ cành lá xum xuê đã có trên 100 năm tuổi
Khu kiến trúc chính của đình làng Đỗ Xá gồm có các công trình như: Tiền tế, Trung từ, Ống muống và Hậu cung Trung từ và hậu cung đình làng
Đỗ Xá được nối với nhau bằng một Ống muống Kiến trúc ngôi đình theo
kiểu “Tiền chữ Nhất, hậu chữ Công” ( )
2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể
Đình làng Đỗ Xá được xây dựng trên khu đất rộng, bằng phẳng Khu
kiến trúc chính của đình có quy mô lớn, một tổng thể kiến trúc theo kiểu “tiền
chữ Nhất, hậu chữ Công” ( ) gồm: toà Tiền tế, Trung từ, Ống muống và Hậu
cung Khối kiến trúc đồ sộ này được xây trên thửa đất cao hơn mặt sân 0,2m (trước đây, thửa đất này cao hơn hẳn xung quanh Nhưng do những năm gần đây, nhân dân trong thôn làm lại con đường trước mặt đình và lát gạch ở sân đình, họ đã tôn thêm nền cho sân và đường nên hiện nay, khu đất này chỉ cao hơn xung quanh khoảng 0.2m), xung quanh bó vỉa Xung quanh di tích là những cây cổ thụ toả bóng mát suốt 4 mùa
Bố cục mặt bằng được bố trí như sau: Ngoài cùng là Tiền tế nằm sát mặt đường liên thôn (khác với những ngôi đình khác, đình làng Đỗ Xá không
có Nghi môn) Trước mặt là vườn đình, bên phải là sân đình, bên trái là ao đình Phía sau Tiền tế là sân gạch được gọi là sân lọng, hai bên từ đây dọc về phía sau là tường bao quanh di tích Đi hết sân gạch, tới tòa Trung từ và Hậu cung, Trung từ được nối liền với Hậu cung bằng Ống muống Sau cùng là
vườn đình và ao nhỏ cũng thuộc đất đình
2.1.3 Kết cấu kiến trúc
Trang 23Đình làng Đỗ Xá xưa kia là một công trình kiến trúc có quy mô lớn, gồm Tiền tế, Trung từ,Ống muống, Hậu cung và Giải vũ Đình làng Đỗ Xá ngay từ xưa đã không có Nghi môn (điều này có nét tương đồng với đình Mai
Xá, thôn Mai Xá, xã Hiệp Lực – cách thôn Đỗ Xá khoảng 12 km, thẳng theo trục đường 17) Trải qua quá trình tồn tại hai nhà Giải vũ đã không còn Kết cấu kiến trúc Đình làng Đỗ Xá hiện tại như sau:
2.1.3.1 Tiền tế
Tiền tế là một nếp nhà 3 gian 2 chái, mái lợp ngói vẩy hến, nền lát gạch Bát Tràng Tiền tế được làm theo kiểu dáng chồng diêm, 2 tầng 8 mái, kiểu dáng kiến trúc này vừa làm cho phần mái thêm thanh thoát bởi 8 đao góc, đồng thời làm tăng thêm độ cao và thoáng mát cho ngôi đình Có ý kiến giải
mã kiến trúc này như sau: 2 tầng là lưỡng nghi, 4 phía là tứ tượng, 8 mái là bát quái Những con số này hàm nghĩa cầu sinh sôi, giá trị tinh thần của cư
dân nông nghiệp
Chiều cao của tòa nhà Tiền tế là 13,8 m, rộng 8,8m, với hệ thống cột
lim được làm theo kiểu “thượng thu hạ thách”: cột cái đường kính 0,8m, tảng
kê chân cột đá được làm theo kiểu âm dương (dưới vuông, trên tròn) bốn cạnh mỗi chiều 0,78m Điều đặc biệt là trên phần chân cột, cách chân tảng 0.1m, ở tất cả các cột trong tòa Tiền tế (trừ một số cột mới thay) đều có các lỗ mộng Điều này có thể kết luận Tiền tế Đỗ Xá xưa kia có sàn đình bằng gỗ theo kiểu kết cấu Ván sàn (kiểu kết cấu ván sàn thường có ở những di tích có niên đại sớm), nhưng không hiểu vì lý do gì đến nay sàn đình đã không còn nữa Thay vào đó là nền lát gạch Bát Tràng
Mái Tiền tế được lợp bằng hai loại ngói là ngói lợp và ngói lót Ngói lợp là loại ngói vẩy hến, ngói lót có hình chữ nhật Ngói lót vừa có tác dụng làm phẳng bề mặt khi lợp ngói phủ vừa có tác dụng làm tăng độ dày cho mái Hai mái chính gặp nhau ở bờ nóc Hai đầu kìm của tầng mái trên được tạo hình hai con Makara Mái chính và mái hồi gặp nhau thành đường bờ dải gấp khúc gọi là bờ dải và bờ guột Ở chỗ giao giữa bờ guột và bờ dải (còn gọi là
Trang 24khúc nguỷnh) của tầng mái trên được tạo hình hai con xô đắp nổi Trên bờ dải
có đôi lân trong tư thế nhìn tập trung vào đường thần đạo với ý nghĩa kiểm soát tâm linh của kẻ hành hương Một trong những nét gây nhiều sự chú ý nhất của kiến trúc đình làng là phần mái đao Cấu kiện gỗ quan trọng tạo độ cong của mái đình là tàu mái Đó là những tấm ván dày, nối khít nhau, chạy viền theo suốt chiều dài của mái Tàu mái đảm nhiệm chức năng của cây hoành cuối cùng, đỡ toàn bộ trọng lực theo chiều nghiêng của mái ngói và trực tiếp đỡ các viên ngói giọt gianh Tàu mái có hai phần: là phần chạy suốt nối các gian gọi là tàu gian, phần nằm ở đầu hồi được gọi là tàu hồi Ở phần góc đao hai tàu mái uốn cong dần lên, gặp nhau, khít mộng gọi là âu tàu Lá mái cũng là các tấm gỗ dài nhưng mỏng và nhỏ hơn tàu mái, đặt ngay sát tàu mái Để cố định tàu mái người ta phải dùng đến các then tàu Các đầu đao đều được đắp nổi hình đầu rồng cong vút, tạo ra vẻ thanh thoát, mềm mại cho mái đình
Khoảng cách giữa hai tầng mái người ta xây một tường gạch, hai đầu là hai trụ, trang trí biểu tượng chữ Vạn ( ) Bờ nóc của mái dưới được đắp hình
lưỡng long chầu nhật Đôi rồng này được đắp bằng xi măng, rồng mang
phong cách thế kỷ XIX
Trước đây, xung quanh Tiền tế để thông thoáng không xây tường, vào các phiên chợ người dân họp chợ cả vào trong đình Vì vậy, ngoài chức năng tín ngưỡng, đình còn là một bộ phận của chợ Đọ cổ Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần hai của giặc Mỹ, một phân hiệu của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương sơ tán về đây đã sử dụng Tiền tế làm hội trường Để đảm bảo an ninh người ta đã xây tường gạch xung quanh đình và
mở rất nhiều cửa, chỉ để phía sau chỗ nối với sân lọng và Trung từ là không xây tường Tiền tế được xây ba mặt tường gạch, sơn màu vàng và mở 3 cửa ra vào (phía trước hai cửa và một cửa phía tây) kích thước cửa cao 2.1m x 1.5m, bên cạnh đó là hệ thống các cửa sổ thông gió (mỗi mặt có 2 cửa sổ) kích
thước 0.7m x 1.15m Cánh cửa được làm theo kiểu “bức bàn”, để mộc không
trang trí
Trang 25Kết cấu toà Tiền tế là 2 bộ vì dọc được làm theo kiểu vì “giá chiêng”
Trên đỉnh là thượng lương bào vuông, đặt trên dép thượng lương và được đỡ bởi một đấu hình thuyền Đấu này đồng thời tỳ lực lên con rường dưới Con rường này có nhiệm vụ đỡ các cấu kiện kiến trúc trên, đồng thời vươn ra đỡ
lấy hai hoành đầu tiên qua hai đấu kê Đấu kê được làm theo kiểu “đấu vuông
thót đáy” được trang trí chạm khắc khá tỉ mỉ Con rường này đặt trên hai cột
trốn Phía ngoài cột trốn có những con rường cụt, một đầu ăn mộng vào cột trốn, một đầu vươn ra đỡ các hoành thứ 2 và thứ 3 Hệ thống hoành của tòa
nhà này được bào vuông theo kiểu “Soi gờ kẻ chỉ” Đầu rường được kê trên
một đấu vuông theo cách thức ở chân cột trốn Khoá đầu hai cột trốn là quá giang tạo thành một giá chiêng Quá giang ăn mộng vào đầu cột cái hoàn thiện bộ vì nóc Hiện tượng này chúng ta chỉ gặp ở những di tích có niên đại muộn (thế kỷ XVIII trở về sau), còn ở các thế kỷ trước, xà nóc tỳ lực lên cột cái thông qua đấu kê chứ không ăn mộng trực tiếp vào thân cột (vì thế được gọi bằng cái tên khác là câu đầu) Như vậy ta có thể nhận ra sự biến đổi trong cách thức kiên kết các cấu kiện gỗ trong kiến trúc truyền thống Dưới quá giang có hai đầu dư chạm rồng Đầu dư được chạm rồng tỷ mỷ, có kích thước tương đối lớn
Tiếp đến là bộ vì nách được làm theo kiểu “Cốn chồng rường” Vì nách
là cách liên kết các cấu kiện gỗ theo phương vuông góc của cột cái và cột quân, tạo thành một tam giác vuông trong không gian mà cạnh huyền là mặt mái bên dưới, cạnh dài là xà nách, cạnh ngắn là đoạn dài hơn của cột cái so với cột quân Vì nách gồm 5 con rường, 3 con rường trên cùng một đầu ăn mộng trực tiếp vào cột cái, đầu còn lại vươn ra đỡ hoành Con rường thứ 4 là một con rường cụt (ở vị trí này nó còn có tên là rường cánh) Dưới cùng là xà nách ăn mộng trực tiếp từ cột cái sang cột quân Hầu hết các vì nách đều được phủ lên đó các văn trang trí công phu, tỷ mỷ Các đề tài trang trí đa dạng, nhưng chủ yếu là hình ảnh “trúc lão – trúc hóa rồng” hay “cá chép hóa
Trang 26rồng”…Ngoài ra, còn có một số đề tài trang trí là phong cảnh đời sống sinh hoạt
Phía sau Tiền tế là sân lọng dài bằng chiều dài của đình rộng 4,8m Chính giữa sân lọng có đặt một lư hương (bằng xi măng) được sơn màu nâu cho phù hợp với cảnh quan di tích Phía sau là một sập đá chân quì, mặt trước
và mặt sau chạm hình hổ phù, kích thước sập dài 1.32m, rộng 0.74m, cao 0.27m Trên mặt sập để một mâm bồng cũng bằng đá kích thước: cao 0.85m, đường kính đế 0,58m đường kính mặt 0.9m, bên trên đặt bát hương bằng sứ Đây là nơi để dân làng bái vọng những khi đình không mở cửa Phía sau sập
đá là một bệ đá dài kích thước: 1.38m, rộng 0.62m, cao 0.32m được làm vào năm Tự Đức nguyên niên (1848) Mặt bệ đá để trơn, không có hoa văn trang trí, hai bên cạnh có đắp nổi hình hổ phù Hai bên mâm bồng là hai tường gạch lửng (cao 1.1m) chạy song song suốt từ hiên tòa Tiền tế đến sát hiên tòa trung
từ, ngăn cách phần không gian đứng hành lễ với không gian xung quanh Trên trụ gạch hai đầu tường đặt hai con sấu sứ dài 0.3m, cao 0.24m Khoảng sân còn lại là hai cây ngọc lan tỏa bóng mát quanh năm
Trang 272.1.3.2 Trung từ
Trung từ là một nếp nhà 5 gian, mặt bằng 4 hàng chân, chân cột đặt trên chân tảng đá xanh (kiểu trên tròn dưới vuông) Trung từ dài 14,5m, rộng 5m Mái lợp ngói vẩy hến, nền lát gạch Bát Tràng Phần mái Trung từ được làm đơn giản, không trang trí linh vật Bờ nóc được làm bằng xi măng
Trung từ mở 2 cửa ra vào, cửa được làm theo kiểu “bức bàn” kín đáo
Mỗi cửa Trung từ có kích thước cao 2 m, dài 2.1 m, gồm có 4 cánh cửa Toàn
bộ hệ thống cửa được làm bằng gỗ lim, có thể tháo nắp linh hoạt Ngưỡng cửa Trung từ được tạo bởi một thanh xà dọc nối liền các hàng cột ngoài, kích thước cao 0.18m Hầu hết các đình làng đều có ngưỡng cửa khá cao (khoảng 0.4m), vừa là ngưỡng ngăn cách giữa trần tục và cõi thiêng liêng, vừa để con người hướng tâm khi bước vào đình Nhưng do tiền thân của tòa Trung từ là một ngôi nhà ở của một địa chủ trước kia được đưa vào vị trí của Trung từ, nên mặt nghệ thuật kiến trúc không có gì điển hình
Toà nhà này được tạo dựng hoàn toàn bằng gỗ, xung quanh hồi nhà không xây tường mà đóng kín bằng các tấm bức bàn Riêng phía trước thì hai bên cửa phía giáp đầu hồi có các chấn song thay vì đóng kín để lấy ánh sáng
tự nhiên và tạo sự thông thoáng cho không khí bên trong di tích Phần chấn song có kích thước cao 2m, rộng 2.5m Các chấn song được bào vuông, mỗi cạnh 0.06m và được làm hoàn toàn bằng gỗ lim
Toàn bộ vì nóc làm theo kiểu “vì giá chiêng” Vì nách được làm theo kiểu “cốn chồng rường” (tương tự như vì kèo gian giữa của Tiền tế) Hầu hết các cấu kiện kiến trúc đều được “bào soi kẻ chỉ”, không có hoa văn trang trí
Bài trí thờ tự trong tòa Trung từ: Ngay chính giữa tòa nhà đặt một
nhang án Bên trên treo bức đại tự đề “Tối linh từ” (đền linh thiêng nhất) Phía dưới là cửa võng sơn son thếp vàng, chạm thủng đề tài “lưỡng long chầu
nhật” Nhang án được trang trí cầu kỳ đề tài tứ linh, tứ quý Trên mặt nhang
án bầy các đồ tế tự: Chính giữa đặt một mâm bồng gỗ, phía sau là bát hương bằng sứ thờ các vị thành hoàng làng Hai bên về phía sau là hai lọ hoa giả
Trang 28Tiếp đến một quả cầu bằng đồng, được trang trí cầu kỳ có niên đại thế kỷ XIX Phía sau là một lư hương đồng do khách thập phương mới cúng tiến Trong cùng là bài vị thờ thành hoàng làng Hai bên là đôi hạc gỗ cao 1.85m
do nhân dân cúng tiến gần đây Phía sau ban thờ là một kiệu long đình, sơn son thiếp vàng được làm vào thời Nguyễn Bốn góc xung quanh kiệu long đình được đặt bốn lọ lục bình (cũng do nhân dân mới cúng tiến vào đình) Trước nhang án là bộ binh khí Hai bên là bộ bát bửu và các biển tĩnh túc hồi tị
Hai cột cái phía trước nhang án là hai câu đối được sơn son thếp vàng:
“Thao lược hùng tài bình bắc tái
Uy phong lẫm liệt trấn giữ nước Nam”
Nghĩa là:
“Thao lược hùng tài dẹp yên giặc Bắc
Oai phong lẫm liệt trấn giữ nước Nam”
Bên phải, sát đầu hồi có treo một quả chuông đồng niên hiệu Tự Đức thứ 15 (1863) Sát tường, phía sau là bia công đức cao 1.1 m x 0.6 m x 0.14
m Hai mặt chữ, được tạc vào năm Tự Đức thứ 24 (1871) Bia được khắc bằng chữ Hán, hiện nay chữ trên bia đã mờ
Đằng sau nhang án là phần kiến trúc được gọi là Ống muống, nối giữa Trung từ và Hậu cung Đây cũng là nơi đặt kiệu long đình Ống muống dài 14.5m, rộng 1.8m Về mặt kiến trúc không có gì điển hình Phía sau là cửa chính Hậu cung Hai bên là hai của phụ, có hai tượng hộ pháp đứng canh gác, một bên là Hộ pháp Khuyến thiện, một bên là hộ pháp Trừng ác Hai pho Hộ pháp có kích thước tương đối nhỏ, chỉ cao 1.67 m (chưa kể bệ tượng)
Sau cỗ kiệu long đình là Hậu cung thâm nghiêm Trên cửa chính vào
Hậu cung có treo bức đại tự “thánh cung vạn tuế” với ý nghĩa cầu mong vị
thánh trường tồn muôn đời
2.1.3.3 Hậu cung
Trang 29Hậu cung là một nếp nhà 3 gian, dài 12.4m, rộng 10.8m Mái lợp ngói vẩy hến cổ, bờ dải được đắp bằng xi măng, nền lát gạch Bát Tràng Cột cái cao 4.55m, cột quân cao 2.9m Riêng hai cột hiên phía trước đỡ hai mái đao được xây bằng gạch, chát xi măng Về mặt kiến trúc, Hậu cung không được trang trí cầu kỳ như tòa Tiền tế Các cấu kiện kiến trúc hầu hết là bào trơn đóng bén Hậu cung mở 3 cửa ra vào Một cửa lớn và hai cửa phụ hai bên Ba mặt tường được xây gạch theo kiểu tường hồi bít đốc, chỉ duy mặt trước Hậu cung là được làm hoàn toàn bằng gỗ
Bộ vì nóc gian chính giữa Hậu cung được làm theo kiểu vì “chồng
rường biến thể” Trên cùng là đấu hình thuyền đỡ thượng lương Giữa đấu
hình thuyền và thượng lương có dép thượng lương Dưới đấu hình thuyền là con rường thứ nhất Con rường này ăn mộng trực tiếp vào đầu hai cột trốn, đồng thời vươn ra đỡ hai hoành Toàn bộ hoành được làm theo kiểu hoành tròn Hai đầu cột trốn này được đặt trực tiếp lên hai con rường bên dưới Hai con rường bên dưới ăn mộng trực tiếp vào đầu các cột trốn Hai con rường này được hình dung như một con rường chạy suốt từ hoành bên này sang hoành bên kia, đột nhiên bị cắt đôi, rồi bẻ gập xuống phía dưới Kết thúc bộ vì
là quá giang ăn mộng trực tiếp vào đầu hai cột cái Toàn bộ vì nóc tòa Hậu cung đều được làm theo kiểu này và để mộc, không trang trí hoa văn Nhưng các bộ vì nách thì có sự khác biệt, hai bộ vì nách gian bên, phía dưới hai đầu quá giang là nghé kẻ Kẻ ăn mộng từ đầu cột cái, luồn qua đầu cột quân và vươn ra đỡ hoành cuối cùng
Vì nách gian chính giữa được làm theo kiểu “Cốn chồng rường” Ba
con rường trên cùng một đầu ăn mộng trực tiếp vào cột cái, một đầu vươn ra
đỡ hoành Giữa các con rường có đấu kê, đấu kê được làm theo kiểu “đấu
vuông thót đáy” Con rường thứ tư là một con rường cụt (hay còn gọi là rường
cánh) Rường cánh một đầu đỡ hoành, khoảng trống mà rường cánh tạo ra khiến cho khối cấu kiện gỗ bớt đi vẻ nặng nề Phía dưới cùng là xà nách Xà nách ăn mộng từ cột cái sang đầu cột quân và đỡ các cấu kiện kiến trúc trên
Trang 30Phía dưới vì nách là nghé bẩy Bẩy ăn mộng từ đầu cột quân và vươn ra đỡ hoành ngoài cùng Toàn bộ vì nách và đầu bẩy được trang trí văn hoa lá
Phía dưới đầu cột cái là xà thượng chạy dọc các gian của tòa nhà, không thấy có xà hạ mà chỉ còn các lỗ mộng trên thân cột cái (đây là dấu hiệu chứng tỏ khi xây dựng người ta có làm xà hạ) Mặt khác, hệ thống xà đai cũng
“rơi rụng” một phần, không còn nguyên vẹn như trước Trải qua quá trình tồn
tại đến nay các cấu kiện gỗ này đã không còn tồn tại Trần gian giữa tòa Hậu cung được bưng kín bằng các ván gỗ dầy nhằm tránh nước mưa dột vào đồ thờ bên trong Các gian còn lại không làm trần nhà để tạo độ thoáng cho tòa nhà
Bài trí thờ tự trong Hậu cung như sau:
Ngay chính gian giữa Hậu cung là bệ thờ được xây bằng xi măng, phía trên là bức cuốn thư sơn son thiếp vàng được làm vào năm Duy Tân Tân Hợi
(1911) Có đề “Thần thính hòa bình” nghĩa là: Thần nghe theo, hòa thuận và
bình yên Ở giữa có một dòng chữ Hán nhỏ, khắc chìm “Duy Tân Tân Hợi niên xuân” Nghĩa là: Mùa xuân năm Tân Hợi niên hiệu Duy Tân (1911) Mặt
sau có dòng chữ: “Nội hương tứ giáp kỳ lão cúng tiến” nghĩa là: Kỳ lão bốn
giáp trong hương (làng) cúng tiến Cuốn thư được chạm khắc cầu kỳ, phía trên là đôi rồng chầu mặt trời, phía dưới có chạm mặt hổ phù, hai bên là hai
hàng hoa cúc dây, trên đó có nhiều bông “Cúc mãn khai”
Phía trước bệ thờ được để mộc không trang trí hoa văn Trên mặt lát gạch hoa, và bài trí đồ thờ tự Ngoài cùng là mâm bồng bằng gỗ, và một khoảng rộng để đặt lễ, phía sau là bát hương bằng sứ Tiếp đến ba chóe cổ
bằng gốm (chưa xác định được niên đại) Hai bên bài trí mỗi bên ba ống đựng
chúc văn bằng gỗ, sơn đỏ Tiếp đến mâm bồng gỗ có kích thước khá lớn, đường kính mặt 1.7 m, được xác định là có niên đại vào thời Nguyễn Hai bên mâm bồng bài trí hai lọ lục bình có kích thước nhỏ, cao 1.15m Lên một bậc cao hơn là tượng ba vị thành hoàng làng Ba pho tượng này có kích thước nhỏ, cao 0.85m Mỗi pho đặt trên một ngai thờ sơn son thếp vàng Ba pho
Trang 31tượng đều có vẻ mặt hồng hào nhưng cương nghị, đôi mắt sáng, biểu hiện khí chất của người tướng tài Phía trên có rất nhiều rèm che màu đỏ, vàng, vừa giảm bớt những kiếm khuyết của kiến trúc vừa mang lại vẻ thâm nghiêm cho cung cấm
Ban thờ bên trái thờ các liệt sĩ của làng đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Bên trên có ghi tên tuổi của các liệt sĩ Ban thờ liệt sĩ được bố trí đơn giản: Từ ngoài nhìn vào, phía trước là một bát hương bằng sứ, và hai cây chân đèn bằng gỗ được sơn màu nâu vàng; bên trái, phía sau có đặt lọ hoa Hai bên, là hai lục bình kích thước nhỏ: cao 1.15m Trong cùng là danh sách các liệt sĩ của thôn Đỗ Xá đã anh dũng hi sinh trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc
Ban bên phải thờ thổ địa Ban thờ cũng được bố trí tương tự ban thờ liệt
sĩ Ngoài cùng là hai chân đèn gỗ được sơn màu đỏ, phía sau là bát hương sứ, bên phải bày một lọ lục bình cao 0.8m, miệng 0.28m, chu vi thân 1.27m, cung tiến vào đình năm 1942 Trải qua quá trình tồn tại, lọ lục bình này đã sứt mẻ nhiều Sau cùng là tượng và ngai thờ
Hai cột cái treo một câu đối khảm trai được làm vào năm 1943 Đây là đôi câu đối đẹp được chạm khắc cầu kỳ Có nội dung:
“Tam thánh nhất bào sinh mộng hiệp đào chi Lê thất phụ
Đằng không đồng nhật hóa quang phù vân thái Đỗ trang y”
Trên mỗi bên câu đối ghi một dòng chữ Hán nhỏ:
“Bảo Đại Quý Mùi xuân” và “Bản xã chức bố công nghệ dệt vải cung
tiến” nghĩa là: Mùa xuân năm Quý Mùi, niên hiệu Bảo Đại (1943) và Công nghệ dệt vải bản xã cúng tiến
Trang 322.2 Giá trị điêu khắc, trang trí
2.2.1 Trang trí trên kiến trúc
Đình làng xưa là nơi hội họp của cộng đồng nên đình bao giờ cũng được xây trên thế đất đẹp, kiến trúc bề thế, chạm khắc tỷ mỷ, tinh xảo Vừa
thể hiện uy quyền của nhân vật được thờ, vừa thể hiện “tiềm lực” của cả làng
so với các vùng xung quanh Vì thế mà dân gian hay ví “To như cái cột đình” hay như câu “Bao giờ cây cải làm đình” – để chỉ điều không thể xảy ra Cũng
chính vì lý do đó mà đình làng, nhất là đình làng miền Bắc là kho tàng phong phú về nghệ thuật điêu khắc dân gian
Trong diễn biến kiến trúc của nhân loại ta thấy sự xuất hiện của rất nhiều linh vật, nhất là trên các công trình kiến trúc liên quan đến tôn giáo Không chỉ là mục đích trang trí, mà bản thân các linh vật mang tính biểu tượng rất rõ rệt Cũng chính những linh vật trang trí trên kiến trúc đã cung cấp nhiều thông tin về công trình kiến trúc và chủ nhân của nền văn hóa đó Mặt khác, qua những di vật quý báu còn giữ lại được, ta thấy sự phát triển mạnh
mẽ truyền thống sáng tạo độc đáo của nhân loại trên những công trình nghệ thuật có quy mô to lớn
Một linh vật quen thuộc trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam là hình tượng con rồng, với vẻ đẹp đầy huyền bí và chiều sâu lịch sử hình tượng rồng luôn thu hút giới nghiên cứu Rồng tượng trưng cho nguồn nước, bản thân con rồng là hội tụ những biểu tượng về sức mạnh và tinh túy của muôn loài vì thế rồng còn là biểu tượng cho uy quyền tối thượng của thiên tử Ngoài hình tượng con rồng còn có hình tượng các linh vật khác như: Lân, Sư tử, Phượng…
Lịch sử mỹ thuật đôi khi không song hành cùng lịch sử của các triều
đại, tuy nhiên các triều đại đều ít nhiều để lại “dấu ấn” riêng trong lịch sử Mỹ
thuật dân tộc Nói cách khác, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tác động sâu sắc tới nghệ thuật nhưng chính nghệ thuật cũng phản ánh phần nào đời sống
xã hội thông qua các hình tượng nghệ thuật Trang trí trên kiến trúc đình làng
Trang 33Đỗ Xá hiện nay mang phong cách kiến trúc Nguyễn Điều này thể hiện rõ trong trang trí kiến trúc ở Tiền tế Còn lại Hậu cung và Trung từ về mặt trang trí kiến trúc không có gì tiêu biểu
Đề tài trang trí truyền thống được sử dụng nhiều trong trang trí kiến trúc đình làng Đỗ Xá như đề tài: tứ linh, tứ quý, ý tưởng của người nghệ sĩ, qua bàn tay khéo léo đã tạo ra sự uyển chuyển nhẹ nhàng, trên những cấu kiện kiến trúc vốn thô kệch, nay được phủ một lớp hoa văn mang hình khối và linh hồn của sự sáng tạo Người ta nhận ra sự tinh túy đó trong trang trí kiến trúc ở tòa Tiền tế
Trên vì kèo gian chính giữa, đầu các con rường, các đấu, hai đầu xà nóc…đều được chạm văn hoa lá cách điệu khiến cho các cấu kiện kiến trúc trở nên mềm mại, duyên dáng Cả 4 đầu dư của hai vì kèo chính còn hoàn chỉnh, thể hiện kỹ thuật chạm lộng điêu luyện Rồng có đặc điểm mũi nở, miệng hơi hé mở, ở mắt có đao bay ra như râu cá trê Tất cả hai mặt của bốn mảng cốn gian chính giữa đều được chạm khắc tỷ mỷ, các đề tài được sử dụng chủ yếu là đề tài truyền thống “tứ linh, tứ quý” Trong đó nổi bật với
những mảng chạm đề tài “trúc lão” – trúc hóa rồng; cá chép bơi ngược dòng
mà dần dần hóa rồng…ở bố cục này đầu rồng được chạm tròn, còn lại các phần khác được chạm nổi như cố tình tạo ra sự hung dữ
Điều đặc biệt là ở đây có một số bức cốn chạm khắc những đề tài gần gũi với cảnh sinh hoạt đời thường Bức cốn đầu tiên, bên phải gian giữa tòa Tiền tế chạm một đầm sen đang tỏa hương thơm ngát, đàn cá tung tăng bơi lội dưới nước Bên trên là một con rồng lớn ẩn khuất trong mây đang phun nước
vào khung cảnh thiên nhiên bên dưới theo tích “ngư long hý thủy” Xung quanh
có các con rồng nhỏ hơn, nhưng chỉ xuất hiện phần đầu hoặc phần thân Xa xa là ngôi miếu nhỏ có chiếc cầu đá cong cong Khung cảnh rất nên thơ
Bức cốn bên trái cũng có một hồ sen nhưng thay vì hình ảnh cá bơi lội thì ở đây là hình ảnh một con cua đang cắp con cá nhỏ, bên cạnh là con cá to hơn đã chạy thoát, ẩn trong đám rong rêu Bên trên là con rồng hiện rõ thân,
Trang 34mặt rồng được chạm với tư thế nhìn nghiêng, dữ tợn Rồng có đặc điểm rồng thời Nguyễn: thân mập và ngắn, mắt có đao mắt bay ra, đuôi rồng xoắn lại Phía dưới, gần hồ sen có hai con lân trong tư thế ngẩng mặt lên cao Đây là một trong những bức chạm gây sự chú ý của du khách Vẫn là đề tài truyền
thống “ngư long hý thủy” với các linh vật Nhưng ở đây có một hình ảnh phản
ánh chân thực cuộc sống hàng ngày Đó là trong đám cỏ ven hồ có con cá nhỏ
bị con cua ăn thịt, trong khi đó con cá lớn hơn đang quay đầu chạy thoát Phải chăng ngoài những mặt nổi của một xã hội phong kiến quân chủ chuyên chế, người dân đang phải sống trong một xã hội có nhiều biến động Bàn về điêu khắc đình, đền, chùa Việt Nam nhà nghiên cứu Lý Khắc Cung đã từng lấy dẫn
chứng về câu nói của Tiến sỹ Mỹ học Samody (Indonesia): “Tôi may mắn
được đến với các bức chạm khắc của các đình đền Việt Nam Thật quá chừng độc đáo Tôi đã đi nhiều nước, không đâu lại có những bức chạm trổ tiêu biểu Đạo và đời cứ quấn quýt với nhau rồi ca hát lên như vậy Sinh động, có dòng chảy tung hoành, ngổn ngang mà nghệ sĩ Chúng vừa có tiết tấu vừa có giai điệu vũ trụ”.3
Ở các đầu bẩy có chạm các đề tài: “trúc hóa long”, “mai hóa long”…ở
cả hai mặt
Nhìn chung nghệ thuật chạm khắc gỗ phần Tiền tế thôn Đỗ Xá khá hấp dẫn và tinh xảo, điển hình của kiến trúc Nguyễn
Trang trí trên Tiền tế đình làng Đỗ Xá, ngoài nghệ thuật chạm khắc còn
có nghệ thuật đắp nổi hình các linh vật trên kiến trúc Điều này thể hiện khá
rõ ở phần mái đình
Trên bờ nóc và bờ dải của mái tầng trên được trang trí bằng các hoa văn cách điệu, khiến cho phần mái bớt nặng nề Bờ nóc và bờ dải được xây chồng thêm một hàng gạch thủng hoa chanh chạy suốt chiều dài mái tạo thành một đường viền thông thoáng hết sức tinh tế Hai bên đầu kìm là hai con thủy quái Makara đầu rồng, miệng đang phun nước vào bờ mái, đuôi xoắn nhiều
3 Lý Khắc Cung (2002) Chuyện tâm linh Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, tr 239
Trang 35vòng tạo cho mái đình vẻ thanh thoát Trang trí bờ guột, bờ dải mái trước và mái sau cũng tương tự như bờ nóc Trên bờ dải là một đôi lân được đắp bằng
xi măng, với tư thế nhìn thẳng vào đường chính đạo Lân có mắt giọt lệ, mũi
sư tử, trán lạc đà miệng rồng, cổ trước có đốt rắn, thân thú, vảy cá chép, chân hươu, móng ngựa, đuôi bò Chỗ khúc nguỷnh được tạo hình hai con xô đắp bằng xi măng, nhìn thẳng vào mái đình
Đến chỗ khúc nguỷnh mái bắt đầu xòe rộng, bờ guột lượn nhẹ rồi đột ngột dừng lại ở ngay chỗ sát mái đao Kết thúc bờ guột là hình tượng một con
cá chép đầu rồng miệng ngậm vào bờ guột, đuôi uốn cong lên Dấu ấn đặc biệt nhất của đình làng là đao đình Bốn mái đình cong về bốn phía tạo cảm giác ngôi đình mềm mại, thanh thoát hơn Kết hợp với bốn mái phía dưới khiến ngôi đình như bay bổng trong không gian
Mái tầng dưới trang trí đơn giản hơn Bờ nóc và bờ dải được đắp bằng
xi măng Chính giữa bờ nóc có hình tượng đôi rồng chầu mặt trời Đôi rồng này mang phong cách rồng thế kỷ XIX: Rồng được tạo dáng thân mập, bò với động tác chân cao, vây lưng lớn Điều đặc biệt là đôi rồng này có kích thước không bằng nhau Một con có ba khúc uốn, đuôi và lông đuôi dãn ra Con còn lại chỉ có hai khúc uốn, lông đuôi cuộn lại Xung quanh đôi rồng có các đám mây bay lượn Ở giữa là hình ảnh mặt trời đang tỏa ra những tia nắng rực rỡ Lưỡng long chầu nhật thể hiện tín ngưỡng cầu mưa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước
Cả 8 đao góc đều được tạo dáng hình đầu rồng, cong vút, tạo thêm vẻ mềm mại, duyên dáng cho ngôi đình
2.2.2 Các di vật trong di tích
Cũng như nhiều ngôi đình khác, trước đây, đình làng Đỗ Xá có nhiều di vật như sắc phong, thần tích, cổ vật, bia đá… Do nhiều nguyên nhân khác nhau như: thiên tai, chiến tranh, mất trộm… phần lớn đồ thờ tự đã bị thất lạc hoặc hư hỏng Hiện nay, đình còn lưu giữ được một số di vật có giá trị, được chia theo chất liệu như sau:
Trang 36* Các di vật bằng giấy:
Trong đình còn lưu giữ được 01 cuốn thần tích chữ Hán được sao vào năm Duy Tân thứ 10 (1916) Bản chính và các sắc phong đã bị thất lạc, mất mát Vì vậy, cuốn thần tích này hiện là di vật giấy còn sót lại, chứa đựng nhiều thông tin quý giá, cần được gìn giữ, bảo lưu Hiện nay, cuốn thần tích này được cất trong hòm, trong Hậu cung của đình
Trang 37Ngoài ra, đình làng Đỗ Xá còn có một số hiện vật đá có giá trị khác: 01 mâm bồng đá cao 0.85 m, đường kính đế 0.58 m, đường kính mặt 0.9 m Và
01 sập đá dài 1.32m, rộng 0.74, cao 0.27 m Cả hai hiện vật này được đặt tại sân gạch phía trước đình trong
* Các di vật bằng đồng:
Di vật đồng còn lại trong di tích đình làng Đỗ Xá không nhiều, trong đó
có một số di vật đáng chú ý như: quả chuông đồng niên hiệu Tự Đức 15 (1863), quả cầu bằng đồng được trang trí cầu kỳ có niên đại thế kỷ XIX
Kích thước chuông: Cao 0.75m, đường kính 0.4m Chuông được đúc liền khối, có dạng “thượng thu hạ thách”, chia làm ba phần là: quai, đế và thân chuông Quai chuông được làm hình hai con rồng đấu lưng vào nhau, đầu quay theo hai hướng Phần tiếp giáp giữa quai chuông và thân chuông là chân và râu rồng Đôi rồng này có đặc điểm rồng thời Nguyễn: đầu và thân rồng được đúc nổi khối, hình thù dữ tợn, đuôi rồng xoắn lên cao nhất, từ đầu đến chân rồng là hệ thống đao mác bay về phía sau, vây lưng lớn
Thân chuông hình trụ cân đối, có ba đường gân chạy vòng quanh thân chuông kết hợp với 5 đường gân chạy dọc xuống đến đế chuông chia thân chuông thành tám ô Điểm cắt giữa hai đường dọc và đường ngang được tạo thành bốn núm, ở giữa nổi lên hình tròn, xung quanh là các hạt nhỏ điểm xuyết, tựa hồ như một bông cúc mãn khai Phía trên đế chuông là những
Trang 38đường gân nhỏ chạy vòng quanh thân chuông Đế chuông được tạo loe và để trơn không trang trí
Quả chuông được treo gần cửa ra vào, tại gian bên của tòa đình trong Nhưng không có rèm che nên mưa, nắng hắt vào tác động xấu đến tuổi thọ của chuông
Quả cầu đồng cao 0.8 m chu vi thân 1.33 m, chưa xác định được niên đại Quả cầu đồng hiện được đặt trên ban thờ ở gian giữa của đình trong tế cao 0.8m, chu vi thân 1.33m Ba chân quả cầu được tạo bởi ba hổ phù, hai chân trước đỡ quả cầu, đầu quay xuống hai chân sau ôm quả cầu nhỏ hơn gắn với đế Trên đỉnh quả cầu là một hình sư tử Bốn phía rát bạc
* Các di vật bằng gỗ:
Các di vật bằng gỗ đang được lưu giữ trong di tích gồm có: 01 kiệu long đình được làm vào thời Nguyễn 01 Mâm bồng gỗ được làm vào thời Nguyễn 01 cuốn thư sơn son thếp vàng làm vào năm Duy Tân (1911) Và 01 Đôi câu đối khảm trai làm vào năm 1943 Bộ bát bửu có niên đại thời Nguyễn Trong số đó đáng chú ý nhất là kiệu long đình và bộ bát bửu
Kiệu long đình được đặt ở khoảng trống phía trước Hậu cung Kích thước kiệu cao 1.5 m, mỗi chiều 0.76 m.Tương truyền trong lễ hội đình làng
Đỗ Xá xưa thường rước ba kiệu, nhưng đến nay chỉ còn lại chiếc kiệu duy nhất được làm vào thời Nguyễn Kiệu có hình dáng như một ngôi nhà nhỏ Trên đỉnh kiệu là một quả gỗ giống như biểu tượng lọ nước cam lồ đặt trên một hình hộp chữ nhật Mái kiệu được bưng bằng ván mỏng, bốn góc mái là bốn con rồng bò từ trên đỉnh xuống đến hết mái rồi ngẩng đầu quay về bốn phía Đỡ mái là các cột chịu lực, cột hình tròn, có các con rồng quấn quanh cột Xung quanh kiệu để trống và được trang trí bằng các mảng chạm thủng
đề tài “tứ linh tứ quý” Phần trước mặt kiệu được phủ vải đỏ Đế kiệu được
chia ô trang trí văn hoa lá, mặt hổ phù… Chân kiệu có hình vuông chỉ soi gờ
kẻ chỉ mà không trang trí hoa văn, có ô để lồng đòn khênh khi rước kiệu
Trang 39Trong mỹ thuật dân gian, một đề tài thường xuất hiện là đề tài Bát bửu Bát bửu xuất hiện trong một số mảng chạm điêu khắc để bổ trợ cho những đề tài chính khác Bát bửu xuất hiện nhiều hơn trong một bộ công cụ thường gọi
là “Bộ bát bửu”
Bát bửu có nhiều nguồn gốc, có thể Bát bửu chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo Tuy nhiên, trong văn học và nghệ thuật truyền thống phương Đông, Bát bửu thường được cho là có gốc tích từ Đạo giáo và thường gắn liền với bát tiên
Bát tiên trong đạo giáo bao gồm 8 nhân vật huyền thoại được cho là bất
tử Họ đại diện cho 8 thân phận hoàn cảnh, điều kiện khác nhau trong xã hội (có kẻ giàu, người nghèo, có quý tộc – bình dân, có già trẻ, nam nữ…)
Bát tiên từ truyền thống, niềm tin của Đạo giáo đi vào đời sống, trở thành một trong số nhiều đề tài trang trí mỹ thuật truyền thống Đề tài bát tiên được thể hiện trên nhiều chất liệu khác nhau như: trên các mảng chạm khắc
gỗ, trên các đồ gốm sứ, thê trên vải, vẽ trên giấy hay trên các phù điêu tường nhà…Tám vị tiên có thể xuất hiện trên trong cùng một tác phẩm mỹ thuật, cũng có khi người ta chỉ khắc hoạ một trong 8 vị tiên mà người ta yêu thích
Từ đề tài bát tiên, trong mỹ thuật dân gian người ta còn thể hiện đề tài bát bửu bát bửu được hiểu là 8 vật báu Tuy nhiên, trong tạo hình, 8 vật báu
đó không thống nhất Người ta không tạo hình theo 8 vật báu của 8 vị tiên mà
có thể đưa thêm vào một số báu vật có nguồn gốc Phật giáo như: Tù và, Lọng, nút dây…Hay Nho giáo như: sách, bút… Bộ bát bửu hiện lưu giữ tại đình làng Đỗ Xá gồm 8 vật được lựa chọn từ một số báu vật khác nhau như: Đàn, cuốn thư, cây bút, thanh kiếm, quạt ba tiêu, cây sáo…Tám vật báu này được thể hiện mang tính chất tượng trưng và ước vọng của cư dân nông nghiệp Bát bửu được sử dụng nhiều nhất trong nghi lễ rước thần
Bố cục bát bửu thường có một đỉnh dưới dạng hình mũi, phần chính nằm trong khuông hình vuông phía dưới với trung tâm là các vật báu Bát bửu được chạm khắc tỷ mỷ, tinh xảo Để tiện cho việc rước sách, người ta tra
Trang 40thêm cán vào bát bửu, cầm vừa lòng bàn tay Phía trên cán có chạm hình rồng đang há miệng ngậm lấy bát bửu Bộ bát bửu hiện được đặt ở gian giữa tòa Trung từ
* Các di vật bằng gốm
Đình làng Đỗ Xá hiện còn giữ được một số đồ thờ tự bằng gốm có giá trị cao về mặt niên đại, trong đó có một số hiện vật tiêu biểu như: 01 Thống bằng gốm cao 0.4 m đường kính miệng 0.47 m được cung tiến vào đình năm
1942 Xung quanh hoa văn trang trí theo đề tài (Triệu Tử Long phò A Đẩu) Đây là một đề tài truyền thống xuất phát từ tích chuyện cổ của Trung Quốc, thường được trang trí trên các thống gốm thời Nguyễn 03 Chóe gốm cổ (hiện chưa xác định được niên đại), nhưng nhiều ý kiến cho rằng chúng đã có tuổi thọ trên trăm năm 01 Lọ lục bình cao 0.8 m, miệng 0.28 m, chu vi thân 1.27
m, cung tiến vào đình năm 1942 Hiện các hiện vật này chủ yếu được lưu giữ trong Hậu cung của đình
Hạc trong tư thế ngậm hoa sen có lẽ là chịu ảnh hưởng của Phật giáo đầu hạc nhỏ thon, mắt mở to, đầu có mào, cổ hạc dài cong vươn cao, có cổ bờm bay ra phía sau Mình nhỏ thon, ngực nở cánh to áp sát vào mình, đuôi dài Hạc có màu đỏ đứng trên lưng rùa
Về mặt ý nghĩa hạc cũng như phượng biểu tượng cho sự thanh cao, trường tồn, đầu đội công lý và đức hạnh, lưng cõng bầu trời, cách là gió, lông
là cỏ cây, chân là đất