1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình đỗ lâm thượng (xã phạm kha huyện thanh miện tỉnh hải dương)

124 185 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Di Tích Đình Đỗ Lâm Thượng (Xã Phạm Kha - Huyện Thanh Miện - Tỉnh Hải Dương)
Tác giả Nguyễn Thị Hường
Người hướng dẫn TS. Phạm Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Tàng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • Chương 1:VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG

  • Chương 2:GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG

  • Chương 3:BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu về môi trường tự nhiên và đời sống xã hội của xã Phạm Kha

- Từ nguồn tư liệu, xác định niên đại khởi dựng và quá trình tồn tại của di tích đình Đỗ Lâm Thượng

- Xác định giá trị cơ bản của di tích qua kiến trúc, điêu khắc, hệ thống di vật và lễ hội của di tích

- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng di tích, đưa ra một số giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị di tích

Nghiên cứu ngôi đình qua tài liệu và khảo sát thực địa không chỉ nâng cao kiến thức mà còn giúp học hỏi phương pháp làm việc khoa học Việc này tạo ra niềm say mê và cái nhìn tổng thể về di tích, góp phần tìm hiểu và giới thiệu nhiều giá trị văn hóa của ngôi đình tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

- Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành: Bảo tàng học, Sử học, Dân tộc học, Xã hội học, Mỹ thuật học,

- Phương pháp khảo sát điền dã với các kỹ năng: quan sát, chụp ảnh, đo vẽ, ghi chép, ghi âm, nói chuyện, phỏng vấn,

- Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng phương pháp nghiên cứu: so sánh, phân tích - tổng hợp, thống kê, đối chiếu, tập hợp,

Bố cục bài khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của bài khoá luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Vài nét về vùng đất và di tích đình Đỗ Lâm Thượng

Bài viết sẽ tổng quan về điều kiện tự nhiên và sự hình thành, phát triển của xã, cũng như ảnh hưởng của nó đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân Dựa trên tài liệu thu thập, chúng tôi sẽ làm rõ niên đại khởi dựng và quá trình tồn tại của di tích, cùng với vị thần được thờ tại đình.

Chương 2: Giá trị kiến trúc - nghệ thuật và lễ hội đình Đỗ Lâm Thượng

Chương này phân tích giá trị văn hóa vật thể qua kiến trúc và nghệ thuật thẩm mỹ, đồng thời khám phá giá trị văn hóa phi vật thể thông qua lễ hội tại di tích đình làng Đỗ Lâm Thượng.

Chương 3: Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích đình Đỗ Lâm Thượng

Dựa trên hiện trạng di tích và lễ hội, bài viết đề xuất các giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa của di tích nhằm phục vụ cho sự phát triển của địa phương hiện tại và tương lai Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Bảo tàng - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, các nhà nghiên cứu và bạn bè đã hỗ trợ tôi trong quá trình hoàn thành khoá luận Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phạm Thu Hương, người đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết khoá luận.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thanh Miện, chính quyền UBND xã Phạm Kha, cùng các thành viên trong Ban quản lý di tích đình Đỗ Lâm Thượng, vì đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc tiếp cận, khảo sát và nghiên cứu di tích.

Với trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận của tôi vẫn còn thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy cô giáo và bạn bè để hoàn thiện bài khóa luận này hơn nữa.

VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG 1.1.Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thanh Miện là huyện nằm ở vùng đồng bằng chiêm trũng phía Tây - Nam tỉnh Hải Dương, giáp huyện Bình Giang ở phía Bắc, huyện Ninh Giang ở phía Đông, và dòng sông Luộc ở phía Nam, đối diện với huyện Quỳnh Phụ thuộc tỉnh Thái Bình Phía Tây huyện giáp huyện Phù Cừ thuộc tỉnh Hưng Yên.

Huyện Thanh Miện, có lịch sử lâu đời, đã trải qua nhiều biến động và đổi tên trước khi chính thức mang tên này vào năm 1902 Huyện có chiều dài 15km từ Bắc xuống Nam và rộng 7km từ Đông sang Tây, bao gồm 19 xã và thị trấn, với thị trấn Thanh Miện là trung tâm huyện lỵ Diện tích tự nhiên của huyện là 122,37 km² và dân số đạt 134.137 người theo điều tra năm 2009 Là một huyện đông dân của tỉnh Hải Dương, Thanh Miện có vị trí giao thương thuận lợi giữa các tỉnh Hải Dương, Thái Bình và Hưng Yên, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Địa bàn huyện được bao quanh bởi hệ thống sông ngòi phong phú như sông Luộc, sông Cửu An và sông Đĩnh Đào, không chỉ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp mà còn là tuyến giao thông quan trọng cho người dân.

- Sông Đoàn Lâm, từ Bình Đê đến Từ Ô dài 13km, rộng 5m

- Sông từ Kim Trang (Lam Sơn) - Bích Thuỷ - Bùi Xá dài 10km, rộng 8m (sông Đồng Cỏ)

- Sông từ Yên Nghiệp - Phú Mễ - Tào Khê - Mi Động dài 11km, rộng 8m

Trước đây, việc bồi đắp đê điều không được chú trọng, dẫn đến tình trạng ngập lụt kéo dài và sông ngòi bị cát lấp, chỉ còn lại dấu vết ở một số khu vực.

Thanh Miện có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và bão, trong khi mùa đông lại lạnh và khô hanh Cuối mùa đông, khu vực này thường xuất hiện mưa phùn Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 23 đến 24 độ C, với nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 và tháng 7, có thể vượt quá 35 độ C, thậm chí lên tới 37 độ C.

Huyện Thanh Miện có khí hậu với nhiệt độ trung bình từ 10°C vào tháng lạnh nhất (tháng 12 và tháng 1) đến 38°C, độ ẩm không khí cao, trung bình 85% mỗi năm, với tháng 2 đạt 90% và tháng 7 thấp nhất là 70% Lượng mưa hàng năm dao động từ 1600 - 1700 mm, không phân bố đều Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với nguồn nước dồi dào và đất đai màu mỡ, cho phép trồng đa dạng cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả, cũng như phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản Ngoài ra, nghề phụ truyền thống như chăn tằm dệt vải, đan thúng, gốm đất, đúc đồng, mộc, may mặc và buôn bán nhỏ cũng phát triển mạnh mẽ trong thời gian nông nhàn.

Phạm Kha là một trong 18 xã của huyện Thanh Miện, nằm ở phía đông bắc huyện với 4 thôn: Đỗ Thượng, Đỗ Hạ, Đạo Phái và Hàn Lâm Xã có tổng diện tích tự nhiên 538,6 ha, trong đó đất canh tác chiếm 375,5 ha Theo điều tra năm 2009, Phạm Kha có 1.810 hộ gia đình và 7.825 người Thôn Đỗ Thượng là thôn lớn nhất với diện tích 120 ha, trong đó 95 ha là đất nông nghiệp, tạo nên cảnh quan trù phú và đồng ruộng tốt tươi, tiếp giáp với các thôn và xã xung quanh.

- Phía Đông giáp thôn Đỗ Hạ

- Phía Tây giáp xã Đoàn Tùng

- Phía Nam giáp hai thôn Hàn Lâm và Đạo Phái

- Phía Bắc giáp xã Thanh Tùng - Thanh Miện và xã Cổ Bì - huyện Bình Giang

Thôn Đỗ Thượng có đường tỉnh lộ 393 ngang qua rất thuận tiện cho việc đi lại, lưu thông hàng hoá với các vùng lân cận.

Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất

Vào năm Hồng Phúc thứ 5 (1576), Hàn lâm viện Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính đã soạn thảo một bản thần tích ghi nhận rằng tướng quân Lý Trí Thắng, người đã giúp Đinh Tiên Hoàng, đã tự vẫn tại xứ Cầu Đá, thôn Thượng, xã Đoàn Tùng.

Nhân dân đã lập miếu và sau này xây dựng đình tại nơi an táng Ngài để thờ cúng Điều này cho thấy đây là một miền đất cổ, nơi mà từ xa xưa, người dân đã tụ họp, lập ấp và khai hoá đất đai.

Mảnh đất này, thời Lê, thuộc xã Đỗ Tùng, tổng Đoàn Tùng, huyện Gia Phúc (nay là huyện Gia Lộc) trong phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương Đến đầu thời Nguyễn, địa danh này được đổi tên thành xã Đỗ Lâm thuộc tổng Đoàn Lâm, phủ Bình Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Cuối thế kỷ XIX, do dân cư đông đúc, xã Đỗ Lâm tách thành hai thôn là: thôn Thượng và thôn Hạ

Năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, xã Đỗ Lâm được sáp nhập với một số xã lân cận, chuyển đổi thành thôn và hình thành xã mới mang tên Duy Tân, bao gồm 5 thôn: Đỗ Thượng, Đỗ Hạ, Cầu Lâm, Hàn Lâm và Đạo Phái.

Năm 1947, tại xã Duy Tân, đồng chí Phạm Kha, một thanh niên trẻ tuổi từ thôn Đỗ Thượng, đã lập nhiều chiến công trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền Sau đó, đồng chí lên đường "Nam tiến" và hy sinh anh dũng, nhưng để đảm bảo bí mật trong hoạt động cách mạng, việc báo tử đồng chí chỉ là chiến lược; sau hòa bình, đồng chí Kha vẫn sống và làm việc tại Hà Nội Để tưởng nhớ và noi gương đồng chí, Đảng, chính quyền và nhân dân đã quyết định đổi tên xã Duy Tân thành xã Phạm Kha, đồng thời cắt thôn Cầu Lâm về xã Phạm Trấn thuộc huyện Gia Lộc.

Từ đó đến nay, tên xã không đổi là xã Phạm Kha - huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương.

Dân cư

Theo các tư liệu lịch sử và lời kể từ các bậc cao niên, từ hàng ngàn năm trước, nhiều người đã đến đây khai hoang và xây dựng cộng đồng, tạo nên những thôn xóm hiện nay Vùng đất này nổi bật với nhiều di tích văn hóa lịch sử và các làng cổ, gắn liền với nhiều huyền thoại và truyền thuyết Hiện tại, trong thôn có 10 dòng họ chính, bao gồm họ Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Nguyễn Đức, Nguyễn Thế, Nguyễn Lương, Phạm Quang, Trần, Vũ và Đỗ, trong đó dòng họ Nguyễn Đình là dòng họ đầu tiên định cư tại đây.

Theo điều tra năm 2009, thôn có 3.235 nhân khẩu và 860 hộ gia đình, cho thấy sự gia tăng dân số qua hàng trăm năm Sự giao lưu văn hóa giữa cư dân địa phương và người từ nơi khác đã tạo nên một cộng đồng gắn bó, giàu bản sắc văn hóa Người dân Đỗ Thượng nổi bật với tinh thần chăm chỉ, sáng tạo và đoàn kết, cùng với truyền thống yêu quê hương, góp phần xây dựng một xã hội phát triển mạnh mẽ về kinh tế và bảo tồn những nét văn hóa độc đáo.

Đời sống kinh tế - vật chất

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, thôn Đỗ Thượng phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, trở thành nguồn sống chính của người dân Nơi đây nổi tiếng với nhiều giống lúa quý như Nếp hoa vàng, Dự thơm, Nếp tám, Di hương, và Tám xoan, mang lại giá trị kinh tế cao Ngoài ra, người dân cũng phát triển nghề trồng rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày, cung cấp sản phẩm cho thị trường rộng lớn Với diện tích 100ha chuyên trồng rau màu và thêm 100ha vào vụ đông, áp dụng khoa học - kỹ thuật và biện pháp thâm canh, giá trị kinh tế đạt tới 130 triệu/ha hàng năm Người dân Đỗ Thượng đang tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững, tập trung vào phát triển tiềm năng và thế mạnh để nâng cao hiệu quả kinh tế.

Ngành chăn nuôi tại Song song đang phát triển mạnh mẽ với hình thức chăn nuôi hộ gia đình mở rộng thành trang trại và đa dạng hóa vật nuôi như lợn, gà, ngan, mang lại thu nhập bình quân từ 50 đến 60 triệu đồng mỗi hộ mỗi năm Bên cạnh đó, chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và cây trồng đã giúp chuyển đổi diện tích cấy lúa không ổn định sang nuôi trồng thủy sản, với 30 hộ dân chuyên làm thủy sản trên 21ha mặt nước, đạt thu nhập bình quân từ 70 đến 80 triệu đồng mỗi ha mỗi năm.

Trước đây, thôn có nghề chăn tằm dệt vải, nhưng sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường đã khiến nghề này mai một Khi diện tích đất canh tác giảm, người dân không thể chỉ dựa vào cấy lúa, dẫn đến cuộc sống ngày càng khó khăn Để cải thiện điều kiện sống, người dân đã nỗ lực tìm kiếm nghề phụ như xây dựng, mộc, và cơ khí, với khoảng 400 lao động tham gia Họ không chỉ làm việc tại địa phương mà còn mở rộng ra các tỉnh như Hưng Yên, Quảng Ninh, và Bắc Giang.

Ngoài sản xuất nông nghiệp, hoạt động dịch vụ thương mại tại đây phát triển mạnh mẽ với khoảng 350 hộ kinh doanh đa dạng các mặt hàng như lương thực, thực phẩm, vật tư nông nghiệp và hàng gia dụng Các sản phẩm không chỉ phục vụ người dân trong thôn mà còn mở rộng ra các tỉnh lân cận Bên cạnh đó, nhiều người lao động làm việc ở nước ngoài, góp phần tăng thu nhập cho gia đình và quê hương Hiện nay, hầu hết các gia đình đã xây dựng nhà kiên cố, nhiều hộ sở hữu đồ gia dụng giá trị, 40% có xe máy, 20 hộ có ô tô, và 15 hộ sở hữu máy cày, máy xay sát gạo Thu nhập bình quân đầu người đạt 10,5 triệu đồng/năm.

Đời sống văn hoá - tinh thần

Người dân Đỗ Thượng sống đoàn kết, yêu thương và chia sẻ, cùng nhau xây dựng quê hương giàu đẹp và ghi nhớ công lao của các thế hệ trước Trong thôn, mỗi người đều góp sức xây dựng các công trình văn hóa - kiến trúc độc đáo như đình Đỗ Lâm Thượng, chùa Vạn Bảo, và miếu Nội Đặc biệt, công trình "Luyện" cách đình 500m về phía đông, nơi thờ vọng Thành hoàng và là nơi tập luyện của các binh sĩ, đã bị tháo dỡ để làm chợ do những tác động từ chiến tranh và điều kiện kinh tế, để lại chỉ là phế tích.

Di tích đình, chùa vẫn được nhân dân giữ gìn, tu bổ ngày một khang trang hơn tạo nên sự uy linh, nghiêm trang chốn tâm linh

Năm 1972, dưới sự quan tâm của Đảng uỷ và chính quyền xã Phạm Kha, nhân dân thôn Đỗ Thượng đã xây dựng một nhà văn hoá thôn khang trang, phục vụ cho các hoạt động hội họp và tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước Đây cũng là không gian sinh hoạt văn hoá cho các tầng lớp nhân dân với sự hình thành của đội văn nghệ và các câu lạc bộ như hội người cao tuổi, hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, và Đoàn thanh niên, thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, khoa học kỹ thuật và văn hoá Hệ thống giao thông trong thôn đã được bê tông hoá sạch sẽ, cùng với hệ thống đèn điện chiếu sáng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển của nhân dân Môi trường cảnh quan trong thôn luôn được giữ gìn sạch đẹp và thoáng đãng.

Trong thôn, hai tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Thiên Chúa, với sự hòa thuận và đoàn kết giữa mọi người Dù theo tôn giáo nào hay không, nhân dân vẫn chung tay xây dựng quê hương ngày càng khang trang và tươi đẹp.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với các thế hệ đã khai phá đất đai, đồng thời phản ánh nguyện vọng của người dân trong thôn về một cuộc sống hiện đại bình an và sung túc.

Thôn đã tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh hiện đại, loại bỏ các hủ tục như mê tín dị đoan và tư tưởng "trọng nam khinh nữ" Địa phương thực hiện bình quyền nam nữ và lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như tinh thần đoàn kết, tình yêu thương giữa đồng bào, hiếu thảo với cha mẹ, và tình làng nghĩa xóm ấm áp.

Hàng năm, vào các ngày hội làng, những dịp kỷ niệm như ngày sinh, ngày mất hoặc các sự kiện quan trọng liên quan đến công lao của các anh hùng dân tộc, quê hương được tổ chức trang trọng Những hoạt động này không chỉ thể hiện lòng biết ơn mà còn mang đến không khí vui tươi, giải trí, phù hợp với các phong tục tập quán phong phú và đa dạng của địa phương.

Nhân dân thôn Đỗ Thượng đã phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, đồng lòng xây dựng và thực hiện Quy ước thôn nhằm phát triển kinh tế, tạo môi trường văn hóa phong phú, đảm bảo an ninh chính trị vững mạnh Họ góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” cùng với việc “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.”

GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG

Giá trị kiến trúc

Theo dòng lịch sử, người Việt đã rời khỏi những hang động tự nhiên để mở rộng ra núi rừng, đồng bằng và biển cả Trong hành trình này, họ luôn chọn những vùng đất màu mỡ, giàu tiềm năng để khai phá và xây dựng cuộc sống mới.

Làng Đỗ Thượng có vị trí thuận lợi, được coi là “Tụ phúc” với các yếu tố gần chợ, bến, sông, đường cái và ruộng Đây là trung tâm giao lưu buôn bán, nhộn nhịp của vùng Theo truyền thuyết, dòng sông Đáy đã từng mang lại sự thuận lợi cho việc giao thương nông sản và hàng hóa qua các chuyến thuyền Gần đó, chợ Thông (nay là trung tâm thương mại Đoàn Tùng) là đầu mối kinh tế quan trọng cho các thương nhân Con đường tỉnh lộ kết nối làng Đỗ Thượng với các vùng quê khác, không chỉ thúc đẩy giao thương mà còn giao lưu văn hóa phong phú, giúp người dân nơi đây làm giàu cho bản sắc văn hóa địa phương.

Vị trí này thực sự là một nơi lý tưởng cho người dân an cư và lập nghiệp, góp phần xây dựng một bản ấp thịnh vượng Qua thời gian, vùng đất linh thiêng đã thu hút nhiều cư dân, phát triển thành một làng với cộng đồng ấm áp, đoàn kết và yêu thương, gắn bó chặt chẽ với nhau.

Việc lựa chọn địa điểm xây dựng một công trình tín ngưỡng uy linh là cực kỳ quan trọng và cần được xem xét một cách kỹ lưỡng Điều này xuất phát từ niềm tin rằng vị trí của công trình có ảnh hưởng lớn đến linh thiêng và sự bền vững của nó.

Con người có thể tiếp nhận "sinh lực của vũ trụ" từ những nguồn năng lượng không xác định, nhưng dòng chảy này chỉ xảy ra tại những vùng đất hội tụ đủ điều kiện Đình làng đóng vai trò như một kho tàng văn hóa, lưu giữ giá trị và niềm tự hào của cộng đồng dân cư nơi đây.

Theo quan niệm ngày xưa, thế đất đẹp phải có không gian gần và xa, hài hòa với cảnh quan thiên thiên xung quanh

Không gian kiến trúc tín ngưỡng cần quang đãng, với núi đồi chầu về thành, tạo nên sự cân bằng và nhịp nhàng Các gò bãi hay đường bờ từ phía sau bao bọc hai bên, cùng chầu vào thành tay ngai Những gò đất cao đột khởi làm án che phía trước và chuẩn đề tựa phía sau, được gọi là “tiền án hậu chẩm”, góp phần tạo nên sự hài hòa cho công trình.

Công trình đình Đỗ Lâm Thượng tuân thủ quy luật phong thủy, góp phần tạo ra không gian yên bình, nuôi dưỡng tinh thần và tâm linh trong sáng (Trần Lâm Biền, 2008)

Theo truyền thuyết và lời kể của người cao tuổi trong làng, xưa kia có một gò đất nổi lên giữa hồ trước đình, được gọi là "Án Cột cờ", và một gò đất tương tự phía sau, gọi là "Cót" Qua thời gian, gò án phía trước đã chìm xuống đáy hồ, còn gò phía sau cũng không còn Đình Đỗ Lâm Thượng có địa thế vững chắc với "tiền án hậu chẩm", nơi gò án trước như bình phong tự nhiên che chắn cho ngôi đình khỏi những cơn gió độc Đình được xây dựng trên mô đất cao ở cuối làng, hướng về phía Tây Nam, phù hợp với quan niệm triết học Âm - Dương, nơi mọi hướng đều hòa hợp, giúp Thần ngồi yên ổn và thường xuyên ban phúc lộc cho dân.

1 Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, tr.164

Di tích Song được xây dựng theo hướng Nam, phù hợp với khí hậu Việt Nam, giúp đón gió mát vào mùa Hè và tránh gió lạnh vào mùa Đông, như câu ca trong dân gian đã diễn tả.

Lấy vợ hiền hòa và xây nhà hướng Nam là một triết lý quan trọng trong đạo Phật, nơi hướng Nam tượng trưng cho Bát Nhã của trí tuệ, giúp loại bỏ những điều ngu tối và bất minh như tham, sân, si Hướng Nam, với yếu tố dương và màu đỏ, liên quan đến hạnh phúc và điều thiện, mang lại sự an lạc cho gia đình.

Ngôi đình kết hợp giữa hai hướng Tây và Nam, mang lại nhiều điều tốt lành và tụ linh, tụ phúc từ bốn phương tám hướng của trời đất Vùng đất này từng uốn lượn hình Rồng, với ngôi đình tọa lạc trên “trán Rồng” và hai hồ nước trong xanh bên cạnh được coi là mắt Rồng Trong văn hóa Việt, tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) là những sinh vật vũ trụ có ảnh hưởng đến cuộc sống trần gian Con Rồng, biểu tượng của huyền thoại, sinh ra từ sông nước, trở thành chúa tể vùng trời, mang sức mạnh của cả trời đất và uy linh ngàn năm.

Vầng trán tượng trưng cho trí tuệ và tài năng, thể hiện sự thông minh và anh tài Đình làng, nằm trên trán Rồng, gần với “long nhãn”, không chỉ chỉ đường mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển, thu hút sinh lực vũ trụ làm nguồn sống cho quê hương Với vị trí cao nhất trên dải đất, đình làng như “sợi dây nối giữa trời và đất”, truyền tải sinh khí từ trời cha vào tinh hoa của đất mẹ.

Với không gian gần, người ta thường thấy di tích ở thế cân bằng của âm

Trong kiến trúc truyền thống, yếu tố dương được thể hiện qua các công trình cao tầng, trong khi yếu tố âm được phản ánh qua nước ở tầng thấp Người xưa thường tạo ra các giếng lớn hình tròn hoặc bán nguyệt trước di tích, hoặc xây dựng dòng nước được coi là "tụ thủy" nhằm mang lại "tụ phúc" cho cộng đồng Điều này như một lời nhắc nhở thần linh về ước vọng của người dân, cầu mong mưa thuận gió hòa, giúp cho mùa màng bội thu, phản ánh tư duy nông nghiệp của những người trồng lúa nước.

Đình Đỗ Lâm Thượng từng hướng ra dòng sông nhộn nhịp với tàu bè tấp nập, nhưng do biến động địa hình, dòng sông đã biến mất, và chiếc cầu đá cũng chìm sâu dưới lòng hồ hiện tại Hồ nước rộng khoảng 9.000m², với nước xanh mát và kè vững chắc, nằm giữa cánh đồng rộng lớn, tràn ngập màu xanh của lúa và cây màu Không gian thoáng đãng và trù phú quanh đình càng làm tăng thêm sinh khí cho vùng đất thiêng này.

Không gian di tích lịch sử - văn hóa cổ truyền không thể thiếu “cây cỏ”, như một bộ áo trang điểm hòa quyện với môi trường Cây cỏ không chỉ là điểm nhấn cho di tích mà còn chứng minh sự tươi tốt, thích ứng với đất thiêng Đình làng, nơi ban bố chính lệnh của triều đình và thờ Thành hoàng làng, thể hiện sự kết hợp giữa uy quyền thế tục và nhân dân Đình thường phô bày vẻ bề thế, với khoảng cách nhất định giữa cây lớn và công trình Trước đây, hai cây đa cổ thụ ngàn năm bên hồ nước phản chiếu hình ảnh, cùng với chùa Vạn Bảo và những cây bồ đề, tạo nên không gian thanh tịnh Mặc dù cây cổ thụ đã bị tàn phá bởi thiên tai và chiến tranh, những cây non nớt đang phát triển, cùng với các loại cây như tùng, cau vua, hoa giấy được trồng trong sân đình Khi nhìn từ xa, đình ẩn mình sau tán cây, nhưng khi tiến gần, vẻ đồ sộ và nguy nga của đình Đỗ Lâm Thượng hiện ra đầy ấn tượng.

Lễ hội đình Đỗ Lâm Thượng

VÀ LỄ HỘI ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG

Theo dòng lịch sử, người Việt đã rời khỏi những hang động tự nhiên để khám phá và định cư tại các vùng đất mới, từ núi rừng trung du đến đồng bằng và ven biển Trong hành trình này, họ luôn chọn những vùng đất màu mỡ, giàu tiềm năng để khai thác và xây dựng cuộc sống mới.

Làng Đỗ Thượng nằm ở vị trí thuận lợi, được xem là "Tụ phúc" theo kinh nghiệm dân gian, với các yếu tố như gần chợ, bến, sông, đường cái và ruộng Đây là trung tâm giao lưu buôn bán sầm uất của khu vực Theo truyền thuyết, một nhánh sông Đáy uốn lượn qua làng, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy, giúp thuyền bè tấp nập trao đổi nông sản và hàng hóa Gần đó, chợ Thông (nay là trung tâm thương mại Đoàn Tùng) là điểm giao thương quan trọng của nhiều thương nhân Đường tỉnh lộ đi qua là cầu nối giữa làng Đỗ Thượng và các vùng quê khác, không chỉ thúc đẩy kinh tế thương mại mà còn giao lưu sản phẩm nông nghiệp của người dân.

BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH ĐỖ LÂM THƯỢNG 3.1 Hiện trạng di tích và di vật đình Đỗ Lâm Thượng

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Miện (1998), Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Miện, tập 1 (1930 - 1975), Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Miện
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Miện
Năm: 1998
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Miện (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Miện, tập 2 (1976 - 2000), Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Miện
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Miện
Năm: 2005
3. Ban chấp hành Đảng uỷ xã Phạm Kha (1997), Lịch sử Đảng bộ xã Phạm Kha (1947 - 1995), Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Phạm Kha (1947 - 1995)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng uỷ xã Phạm Kha
Năm: 1997
6. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2001
7. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 2003
8. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 2008
10. Uông Chính Cương, Nguyễn Văn Nam (dịch), Trần Kim Bảo (hiệu đính) (2002), Mỹ học kiến trúc, Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học kiến trúc
Tác giả: Uông Chính Cương, Nguyễn Văn Nam (dịch), Trần Kim Bảo (hiệu đính)
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2002
11. Trịnh Minh Đức, Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá
Tác giả: Trịnh Minh Đức, Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
12. Lê Văn Kỳ (2002), Lễ hội nông nghiệp Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
13. Vũ Tam Lang (1999), Kiến trúc cổ Việt Nam. Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tam Lang
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1999
14. Nguyễn Quang Lệ (2001), Khảo sát thực trạng lễ hội truyển thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng lễ hội truyển thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Lệ
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2001
16. Nguyễn Thị Minh Lý (chủ biên) (2004), Đại cương về cổ vật ở Việt Nam. Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về cổ vật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Lý (chủ biên)
Năm: 2004
17. Hoàng Nam (2005), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2005
18. Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hải Dương (1999), Hải Dương di tích và danh thắng, tập 1, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Dương di tích và danh thắng
Tác giả: Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1999
19. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự (1998), Đình Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Mình, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Mình
Năm: 1998
20. Chu Quang Trứ (2003), Kiến trúc dân gian truyền thống, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống
Tác giả: Chu Quang Trứ
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2003
4. Bảo tàng tỉnh Hải Dương, Lý lịch di tích đình Đỗ Lâm Thượng - xã Phạm Kha - huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương Khác
5. Bảo tàng tỉnh Hải Dương, Tư liệu Hán Nôm đình Đỗ Lâm Thượng - xã Phạm Kha - huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương Khác
15. Luật di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (2009), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
21. Quy ước thôn Đỗ Thượng - xã Phạm Kha - huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w