1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích đình làng chí linh (xã nhân huệ, thị xã chí linh, tỉnh hải dương)

109 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 6,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một người con của mảnh đất Chí Linh giàu truyền thống đấu tranh cách mạng mang, cùng với những nhận thức về tầm trọng đối với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc qua n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU DI TÍCH ĐÌNH LÀNG CHÍ LINH (XÃ NHÂN HUỆ, THỊ XÃ CHÍ LINH,

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Di sản văn hóa, em đã hoàn

thiện bài khóa luận này

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo đã

tận tình giảng dạy, động viên và giúp đỡ em hoàn thiện bài khóa luận này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới ThS Trần Đức Nguyên - Người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ và chỉ bảo cho em từ khi xác định đề tài, xây dựng đề cương cho tới khi hoàn thiện

bài khóa luận

Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Văn hóa thị xã Chí Linh, chính quyền xã Nhân Huệ, lãnh đạo lãng Chí Linh cùng các cụ cao niên trong làng đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để em tiếp cận, khảo

sát di tích đình làng Chí Linh

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn

thiện bài khóa luận này

Là một sinh viên năm thứ tư, chưa có thời gian được tiếp xúc nhiều với thực tế, kiến thức còn hạn chế, do vậy khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo kiến thức của các thầy cô

giáo và bạn bè để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn nữa

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2015

Tác giả khóa luận

Nguyễn Văn Quyết

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Bố cục khóa luận 3

Chương 1: ĐÌNH CHÍ LINH TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 4

1.1 Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại 4

1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 4

1.1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển làng Chí Linh 6

1.1.3 Đặc điểm dân cư 7

1.1.4 Đặc điểm kinh tế 8

1.1.5 Văn hóa truyền thống làng Chí Linh 10

1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại của di tích đình làng Chí Linh và nhân vật được phụng thờ 16

1.2.1 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại của di tích đình làng Chí Linh 16

1.2.2 Nhân vật được phụng thờ trong đình làng Chí Linh 19

Chương 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI ĐÌNH CHÍ LINH 21

2.1 Kiến trúc đình làng Chí Linh 21

2.1.1 Không gian cảnh quan 21

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 26

2.1.3 Kết cấu kiến trúc 27

2.1.4 Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc 33

2.2 Các di vật tiêu biểu trong di tích đình làng Chí Linh 41

2.2.1 Di vật bằng gỗ 41

Trang 5

2.2.2 Di vật bằng giấy 43

2.2.3 Di vật bằng vải 44

2.2.4 Di vật bằng đồng 45

2.2.5 Di vật bằng gốm sứ 45

2.2.6 Di vật bằng đá 46

2.3 Lễ hội đình làng Chí Linh 46

2.3.1 Thời gian và lịch lễ hội 47

2.3.2 Chuẩn bị lễ hội 48

2.3.3 Diễn trình lễ hội 50

Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG CHÍ LINH 56

3.1 Thực trạng di tích, di vật và lễ hội 56

3.1.1 Thực trạng di tích, di vật 56

3.1.2 Thực trạng lễ hội 59

3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Chí Linh 60

3.2.1 Giải pháp bảo tồn di tích đình làng Chí Linh 60

3.2.2 Giải pháp phát huy di tích và lễ hội đình làng Chí Linh ngày nay 69

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, mỗi khi nói về làng quê ngôi đình làng đã trở nên quen thuộc và gần gũi, bởi đó là sự kết tinh trí tuệ, công sức, sự thịnh vượng, là niềm kiêu hãnh của mỗi làng quê, nơi chứng kiến các hoạt động lớn nhỏ của cả làng

Đình làng trang trọng và thiêng liêng, đã có thời kỳ được xem là đại diện biểu tượng của quyền lực làng xã Trên thực tế đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong sinh hoạt đời sống của cộng đồng Đình làng trở thành một nơi thân quen gần gũi, là cuộc sống của những người nông dân Việt Nam Đình làng xưa - nét đặc trưng tiêu biểu nhất của làng quê Việt Nam Đình là nơi sinh hoạt của người làng quê Việt Nam, nơi "cân bằng" phép tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng, nhất là về tín ngưỡng, nơi để thờ thần Thành Hoàng làng, người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống Nhìn quanh đình làng, ta sẽ thấy lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam

Đã có một thời gian dài do khí hậu khắc nhiệt, do chiến tranh phá hoại

và những nguyên nhân khác khiến các di tích lịch sử văn hóa mà trong đó có các ngôi đình làng đã bị hư hại, vấn đề bảo tồn di tích lịch sử văn hóa chưa được đầu tư thích đáng, nhiều di tích đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, các lễ hội truyền thống đang dần bị mai một Vì vậy bảo tồn di tích lịch

sử văn hóa được coi là nhiệm vụ có tính cấp thiết và quan trọng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Đình Chí Linh là là một trong “Chí Linh Bát Cổ”, có nghệ thuật trang trí trên kiến trúc độc đáo, có nhiều đóng góp trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân địa phương Giá trị của ngôi đình là vốn quý vô giá trong việc phát huy truyền thống yêu nước, giữ gìn những tài sản do cha ông để lại và tự hào về tài năng sáng tạo của nhân dân

Trang 7

Là một người con của mảnh đất Chí Linh giàu truyền thống đấu tranh cách mạng mang, cùng với những nhận thức về tầm trọng đối với việc bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa của dân tộc qua những kiến thức đã học, em đã

chọn đề tài: “Tìm hiểu di tích đình làng Chí Linh (xã Nhân Huệ, thị xã Chí

Linh, tỉnh Hải Dương)” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Bảo tàng

học, tại Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu về vùng đất, con người nơi di tích đình Chí Linh tồn tại, làm

cơ sở cho việc nghiên cứu di tích

- Từ những nguồn tư liệu có được, tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại của đình Chí Linh từ khi xây dựng đến nay và xác định những giá trị của di tích trên hai phương diện:

+ Giá trị văn hóa vật thể: kiến trúc, di vật

+ Giá trị văn hóa phi vật thể: lễ hội đình làng

- Nghiên cứu thực trạng của di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy giá trị vốn có của di tích trong bối cảnh hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là giá trị kiến trúc, nghệ thuật

và lễ hội của đình làng Chí Linh, xã Nhân Huệ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên quan điểm Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử để nghiên cứu, xem xét đánh giá các nội dung của đề tài khóa luận

đặt ra

Trang 8

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hoá như: Bảo tàng học, Dân tộc học, Văn hoá học, Sử học, Mỹ thuật học, Văn hoá dân gian,

Xã hội học, Du lịch học

- Sử dụng phương pháp khảo sát, điền dã: Quan sát, tham dự, mô tả, đo

vẽ, chụp ảnh, điều tra, phỏng vấn, phân tích, tổng hợp, so sánh

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Đình Chí Linh trong diễn trình lịch sử

Chương 2: Giá trị kiến trúc nghệ thuật và lễ hội đình làng Chí Linh Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đình làng Chí Linh

Trang 9

Chương 1 ĐÌNH CHÍ LINH TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.1 Tổng quan về vùng đất nơi di tích tồn tại

1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Thị xã Chí Linh nằm ở phía đông bắc của tỉnh Hải Dương, cách thành phố Hải Dương khoảng 40 km, vùng đất Chí Linh có địa lý đặc biệt quan trọng, nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và nằm ở nút mạch giao thông quan trọng của tỉnh, có nhiều đường quốc lộ chạy qua như: 18, 183 và Đường 37 là đường vành đai chiến lược Quốc gia từ

trung tâm thị xã đi tỉnh Bắc Giang

Thị xã Chí Linh nằm giữa miền rừng núi phía đông bắc Bắc Bộ và miền đồng bằng châu thổ sông Hồng; phía tây và phía bắc giáp với huyện Gia Bình, Quế Võ (tỉnh Bắc Ninh), Yên Dũng, Lục Nam (tỉnh Bắc Giang); phía Đông giáp với huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh); phía Nam giáp hai huyện Nam Sách và huyện Kinh Môn (tỉnh Hải Dương)

Thị xã Chí Linh hiện nay có 20 đơn vị hành chính, gồm 17 xã và 3 thị trấn Trong đó, xã Nhân Huệ là địa phương nơi di tích đình Chí Linh tồn tại

Xã Nhân Huệ nằm ở phía Tây Nam của thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương; xã được bao bọc bởi 3 con sông: Thái Bình, Kinh Thầy và sông Đào (sông Cụt) Hiện nay xã có 3 làng: Chí Linh, Đáp Khê và Bạch Đằng được chia làm năm cụm dân cư: Chí Linh 1, Chí Linh 2, Chí Linh 3, Đáp Khê và Bạch Đằng Phía Bắc giáp với xã Cổ Thành (ranh giới là con sông Đào), phía Đông và Đông – Nam giáp xã Nam Hưng và xã Hiệp Cát (huyện Nam Sách), phía Tây và Tây – Nam giáp xã Cao Đức và xã An Thịnh (tỉnh Bắc Ninh) Chí Linh là một trong ba làng của xã Nhân Huệ, nhìn trên tổng thể làng gần như một hòn đảo nhỏ bởi ba phía đều được uốn lượn bởi những dòng sông nước chảy hiền hòa, cùng với hệ thống đê điều bao quanh ngôi làng như những bức tường thành vững chắc khi có lũ lụt xảy ra

Trang 10

Là địa phương có địa hình bằng phẳng và thấp, làng Chí Linh, xã Nhân Huệ có nhiều loại hình giao thông, thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu buôn bán Đường giao thông chính là đường liên xã qua trung tâm xã Cổ Thành và

đi thẳng theo đường này khoảng 4km sẽ tới quốc lộ 18 nối Hà Nội – Bắc Ninh – Phả Lại – Quảng Ninh đây là tuyến giao thông huyết mạch đặc biệt quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Đặc biệt xã Nhân Huệ có giao thông thủy cũng rất thuận tiện với hai con sông Thái Bình và Kinh Thầy, từ Nhân Huệ có thể xuôi theo hướng Hải Phòng ra biển, xã có bến phà Ninh Xá – Hải Phòng – Hải Dương và bến phà Nhân Huệ - Lương Tài từ đây có thể

mở ra sự giao lưu, phát triển kinh tế cho vùng với những trung tâm kinh tế, văn hóa khác

Từ Hà Nội đi theo hướng Quốc Lộ 1A về qua Bắc Ninh, đến Quốc lộ

18 đi qua cầu Phả Lại, tới nhà máy Nhiệt điện Phả Lại (Thị trấn Phả Lại - thị

xã Chí Linh) sau đó đi tiếp khoảng 3km, rẽ vào đoạn đường liên xã đi khoảng

4 km qua xã Cổ Thành tới trung tâm làng Chí Linh khách tham quan sẽ nhìn thấy một ngôi đình cổ kính với 4 mái xòe rộng và 4 đầu đao vươn lên cong vút, với hệ thống đê bao gọn lấy di tích

* Đặc điểm tự nhiên

+ Về đất đai, địa hình: Vấn đề cơ cấu cây trồng và công tác thủy lợi luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã Nhân Huệ Diện tích tự nhiên của xã là 554,22 ha, trong đó diện tích đất hành chính là 514,50 ha; 39,72 ha là diện tích đất xen canh, tổng diện tích đất nông nghiệp là 213,23 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 301,7 ha Giống như nhiều xã khác trong thị xã Chí Linh, Nhân Huệ thuộc vùng đất trung du, địa hình bằng phẳng và thấp và phân chia làm 2 khu vực rõ ràng với danh giới là một con đê chạy ngang qua UBND xã Nhân Huệ, từ làng Đáp Khê trở lên thì người dân chủ yếu trồng lúa nước Phía còn lại làng Chí Linh do lượng phù sa sông cổ bồi đắp lớn, đất đai màu

mỡ nên người dân ở đây quanh năm trồng cây hoa màu như ngô, khoai, đậu

Trang 11

đỗ và các loại rau củ ngoài ra người dân còn có thể thâm canh tăng vụ để tăng năng suất và sản lượng

+ Về hệ thống thủy văn: Hệ thống sông lớn, phía trên thượng nguồn bắt nguồn từ Sông Lục Nam, sông Cả cuộn chảy qua cầu Phả Lại, qua địa bàn xã Nhân Huệ gọi là sông Thái Bình uốn lượn vòng qua làng Chí Linh và chảy về hướng sông Kinh Thầy Khu vực sông ở đây còn gọi là Lục đầu giang với sự hội tụ của sáu con sông, Sông Thương, Sông Lục Nam, Sông Cả, Sông Đuống, Sông Thái Bình và Sông Kinh Thầy Với hệ thống sông này đã tạo điều kiện cho nhân dân làng Chí Linh nói riêng và xã Nhân Huệ nói chung đi lại bằng đường thủy một cách thuận tiện, bên cạnh đó cung cấp nguồn nước dồi dào cho tưới tiêu để phát triển nông nghiệp và đồng thời người dân có thể khai thác nguồn thủy sản tôm, cá phong phú từ hệ thống sông ngòi này

1.1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển làng Chí Linh

Theo các nguồn tư liệu còn lại đến ngày nay như các văn bia, ngọc phả, sắc phong còn lại ở các đình, chùa, tộc phả, gia phả của các dòng họ ở năm làng cho biết: cách đây hơn 1.000 năm đã có con người về đây sinh cơ lập nghiệp Trải qua bao thăng trầm, biến cố người dân ở đây bền bỉ kiên cường, dũng cảm chống thiên tai, địch họa, không ngừng xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương thành xóm làng trù phú như ngày nay Như vậy để thấy rằng

từ khi con người xuất hiện tại vùng đất này cũng chưa có một tài liệu nào ghi

rõ ràng, hơn 1.000 năm nơi đây đã ghi đậm bao dấu ấn của nếp sống, phong tục, văn hóa, tín ngưỡng của người dân xã Nhân Huệ và nhân dân làng Chí Linh cũng nằm trong dòng chảy của lịch sử hình thành lên mảnh đất truyền thống của cha ông này

Làng Chí Linh xưa có tên là Ba Gia trang thuộc đất Bàng Châu thời Trần, thời Lê Sơ thuộc huyện Phượng Nhỡn Đến thời Lê Trung Hưng là xã Chí Linh thuộc tổng Cổ Châu, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, xã Nhân Huệ thuộc tổng Cổ Châu

Cổ Châu là tổng lớn nhất huyện Chí Linh gồm 12 làng với 2.000 nhân khẩu,

Trang 12

6.000 mẫu ruộng Tháng 3/1946 tổng Cổ Châu chia thành hai xã: Nhân Huệ

và Cổ Thành (Nhân Huệ là tên của một danh tướng nhà Trần là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư hiện đang được thờ tại đền Gốm của xã Cổ Thành)

Khi mới thành lập, xã Nhân Huệ gồm 6 làng: Chí Linh, Đáp Khê, Ninh Giàng, Cổ Châu, Lý Dương, Tu Ninh Còn xã Cổ Thành cũng có 6 làng là: Nam Gián Đông, Nam Gián Đoài, Thông Lộc, Phao Tân, Phao Sơn, Thạch Thủy

Năm 1958, một bộ phận ngư dân thôn Đông Giàng, xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách đến khu vực Lục Đầu Giang để đánh bắt cá xin nhập vào xã Nhân Huệ Đến năm 1960, khu dân cư ở đây thành lập hợp tác xã ngư nghiệp Bạch Đằng (làng Bạch Đằng) Như vậy từ năm 1960 xã Nhân Huệ có 7 làng

Năm 1980, Nhà nước khởi công xây dựng Nhà máy nhiệt điện Phả Lại

vì vậy nhân dân ở thị trấn Phả Lại hầu hết chuyển về thị trấn Sao Đỏ, một số làng của xã Cổ Thành cũng được cắt về thị trấn Phả Lại Còn lại các làng: Ninh Giàng, Cổ Châu, Lý Dương, Tu Ninh thuộc xã Nhân Huệ lại nhập vào

xã Cổ Thành Từ đó xã Nhân Huệ chỉ còn 3 làng tồn tại đến ngày nay

Như vậy với quá trình hình thành và phát triển của xã Nhân Huệ mà trong đó có làng Chí Linh cũng nằm trong sự phát triển đó, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, trong những năm kháng chiến nhân dân đã phải hứng chịu những đợt truy quét, những trận đánh bom thảm khốc mà Đế quốc thực dân gây ra, cùng với đó là những lần phân chia, thay đổi về địa giới hành chính Nhưng đến nay nhân dân trong làng vẫn giữ gìn truyền thống lịch sử vẻ vang, truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông để lại, biết trân trọng những giá trị

cổ xưa Trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa người dân làng Chí Linh vươn mình trong công cuộc đổi mới và phấn đấu trở thành làng văn hóa trong thời đại mới

1.1.3 Đặc điểm dân cư

Có thể nói, đặc điểm cư dân nơi đây gắn liền với quá trình hình thành của xã Nhân Huệ Cư dân ở làng Chí Linh đã có mặt ở vùng đất này từ rất sớm hơn 1.000 năm trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, cho đến nay, toàn

Trang 13

xã Nhân Huệ có 1.178 hộ; 4.178 nhân khẩu; trong đó nam: 2.128 khẩu; nữ: 2.050 khẩu Độ tuổi trên 14 tuổi là: 3.650 khẩu, độ tuổi dưới 14 tuổi là: 528 khẩu; có 72 hộ, 278 khẩu theo đạo thiên chúa giáo Trong đó làng Chí Linh chiếm tỉ lệ dân số cao nhất trong ba làng

Làng Chí Linh có tổng số trên 10 dòng họ đó là: Nguyễn Văn, Nguyễn, Bùi, Phan, Ngô,Trần, Hoàng, Phạm, Đỗ, Lương, Trải qua quá trình lịch sử,

dù các dòng họ đến sinh sống vào những thời điểm khác nhau, nhưng các thế

hệ cư dân làng Chí Linh có truyền thống đoàn kết, thương yêu nhau “Lá lành

đùm lá rách” để sinh sống và tồn tại Họ cùng nhau làm ăn, cùng uống chung

nguồn nước, cùng thờ thành hoàng làng và cùng nhau chung vui hội hè đình đám Những nét đẹp văn hóa đó đã góp phần làm nên thuần phong mỹ tục độc đáo của cư dân làng Chí Linh

1.1.4 Đặc điểm kinh tế

1.1.4.1 Kinh tế nông nghiệp

Trước năm 1945 tổng Cổ Châu chỉ có 2.000 nhân khẩu, nhưng có tới 5.000 mẫu ruộng đất (kể cả đất đồi), tính bình quân mỗi khẩu được trên 2,5 mẫu, một diện tích không nhỏ Nhưng ruộng đất chủ yếu tập trung trong tay bọn địa chủ cường hào (chiếm ¾), có tên chiếm tới vài trăm mẫu ruộng lập ấp như: Nguyễn Văn Hùng; Nguyễn Văn Tường; cha, con Nguyễn Văn Tá Ngoài ra bọn hào lý địa phương còn đặt ra các loại ruộng đất, để chiếm đọat ruộng đất của người nghèo như: ruộng để đám, ruộng thánh đường, ruộng kèn trống v.v Do vậy, 90% nông dân không có ruộng hoặc ít có ruộng để cày cấy

Trước đây, người dân làng Chí Linh chủ yếu làm nghề nông nghiệp nên đời sống rất bấp bênh Đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đời sống nhân dân trong làng gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân là do cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Pháp, nông nghiệp mất mùa, đói kém và trong bối cảnh cả nước phải dồn sức người, lương thực cho chiến tranh với phương châm hậu phương vì tiền tuyến, nhưng nhân dân vẫn luôn đoàn kết hăng hái lao động để phục vụ kháng chiến

Trang 14

Hiện nay, nền nông nghiệp của địa phương có nhiều cải tiến tích cực hơn, với điều kiện tự nhiên ưu đãi, đất màu và lượng phù sa cổ ven sông bồi đắp lớn từ lâu đời nên người dân canh tác một năm được nhiều vụ (nơi khác thường là 02 vụ) Riêng làng Chí Linh, người dân chủ yếu trồng hoa màu là chính mà ít trồng lúa vì tuy ở gần sông nước nhưng đây là vùng đất thấp, lại bao quanh bởi các bờ đê nên khó cho việc lấy nước thủ công Loại đất ở đây rất thích hợp cho việc trồng hoa màu như ngô, khoai, các loại rau củ như: su

hào, bắp cải, đỗ, cà rốt theo Thống kê báo cáo kế hoạch phát triển Kinh tế -

Xã hội 6 tháng đầu năm 2014, phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm

2014 của xã Nhân Huệ: Diện tích lúa Chiêm xuân 79,94 Ha năng xuất đạt 50

tạ/ha ước đạt 3 tỷ 494 triệu đồng; diện tích ngô 45,35 Ha, năng xuất 48 tạ/Ha ước đạt 1 tỷ 306 triệu đồng; diện tích cây rau mầu các loại 23 Ha ước đạt 2 tỷ

227 triệu đồng Từ những báo cáo số liệu trên đây cho thấy kinh tế nông nghiệp của xã Nhân Huệ và làng Chí Linh rất phát triển, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung nền kinh tế của toàn thị xã Chí Linh

Về chăn nuôi: Nhân dân trong xã chủ yếu là chăn nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan và các loại gia súc như trâu, bò, lợn từ đó cung cấp một sản lượng thịt và con giống rất lớn, không chỉ cho nhân dân địa phương mà còn cho cư dân nhiều vùng lân cận Một số hộ trong làng xây dựng trang trại trồng cây thả cá kết hợp với chăn nuôi gia cầm, lợn lái, lợn thịt cho thu hoạch khá cao

từ mô hình VAC

1.1.4.2 Về kinh tế tiểu thủ công nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn xã có trên 11 hộ làm nghề máy tuốt lúa; khoảng

14 hộ làm xay xát; đánh bắt hải sản có trên 75 lao động, hàn xì các ngành nghề này cũng đem lại thu nhập khá cao cho người làm Cho tới thời điểm này, tình hình kinh tế xã hội ở làng Chí Linh đã ổn định trên tất cả các lĩnh vực, đời sống nhân dân được đẩy mạnh và nâng cao Nhiều gia đình trong làng đã thoát khỏi hộ nghèo; cận nghèo, mua sắm được các trang thiết bị cần thiết trong gia đình như tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy vi tính, thậm chí có những hộ đã có ô tô

Trang 15

riêng… Cơ sở hạ tầng, nhà ở đã ngày càng được nâng cấp, những ngôi nhà tầng được xây mới, khép kín bên trong có những trang thiết bị hiện đại, mặt bằng chung của làng phát triển rất đồng đều

1.1.4.3 Một số loại hình kinh tế khác

Làng Chí Linh có đội ngũ lao động dồi dào, ngoài bộ phận lao động ở lại quê hương tham gia sản xuất nông nghiệp thì trong làng còn có một đội ngũ lao động đi xuất khẩu lao động sang các nước như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan Do đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, nên nhiều gia đình ở làng Chí Linh đã chuyển sang kinh doanh bán hàng tạp hóa, vật liệu xây dựng Từ điều kiện dư giả nhiều hộ dân đã đầu tư kiến thiết

cơ sở hạ tầng cho quê hương như: đổ đường bê tông, xây trường mầm non, nhà văn hóa, cung tiến, công đức vào các đình, chùa Bằng nỗ lực của mình, những người dân xã Nhân Huệ và đặc biệt nhân dân làng Chí Linh đã xây

dựng lên bộ mặt nông thôn ngày nay thêm nhiều khởi sắc, theo Thống kê báo

cáo kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2014, phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014 chỉ tính riêng bộ phận lao động tại

nước ngoài 6 tháng đầu năm 2014 đã thu về tổng ước đạt 12 tỷ 280 triệu đồng, từ đó làm tăng kinh tế từng hộ gia đình và phát triển chung cho diện mạo nền kinh tế toàn xã

1.1.5 Văn hóa truyền thống làng Chí Linh

1.1.5.1 Phong tục tập quán

* Cưới xin

Ở làng Chí Linh cũng như phong tục một số địa phương khác trong thị

xã, hôn nhân và cưới xin là việc không chỉ của riêng cá nhân mà là của cả gia đình và dòng họ Người con trai đến tuổi lấy vợ, không chỉ nhằm duy trì nòi giống, thờ phụng tổ tiên, nuôi dưỡng cha mẹ khi già yếu, mà nhiều khi còn là tăng sức lao động để phát triển kinh tế và uy thế về sự lớn mạnh của dòng họ mình trong mối quan hệ với các dòng họ khác Hôn nhân bắt buộc không còn nữa, không còn quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, mà thanh niên trong

Trang 16

làng tự do lựa chọn tìm hiểu người bạn đời của mình Khi đôi lứa đã tìm hiểu chín muồi, người con trai thưa chuyện với cha mẹ mình để chuẩn bị lễ vật sang nhà gái xin cưới Tục lệ thách cưới, nộp cheo ngày nay không còn tồn tại

và lễ cưới được tổ chức đơn giản hơn, nhưng lễ cưới ở đây vẫn có những quy định theo phong tục truyền thống xưa như: lễ dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt Người dân nơi đây quan niệm, sau lễ cưới của đôi nam nữ, hai gia đình

từ chỗ là quan hệ xã hội đã trở nên gắn bó mật thiết với nhau, cộng thêm tính cộng đồng làng xã (thường lấy vợ - chồng trong làng) vì thế càng tăng thêm tình cảm gắn bó của những người dân làng Chí Linh

* Tang ma

Nếu cưới xin là việc vui đánh dấu sự trưởng thành của đời người, thì tang ma lại là việc buồn kết thúc chu trình của một đời người Việc tổ chức đám tang với sự chứng kiến của cộng đồng, dân làng Đám tang được tổ chức

có mặt đông đủ nội ngoại, xóm làng, khu phố, bằng các nghi thức và sự phân công chặt chẽ theo tục lệ cổ truyền của làng Tổ chức đám tang thường có các nghi thức sau: Khi người thân sắp qua đời, gia chủ gọi con cháu ruột thịt đến nhìn mặt lần cuối và nghe những lời dặn dò sau cùng (nếu có thể) của người sắp qua đời Sau đó người nhà cử một số người chăm sóc, đun nước lá thơm tắm rửa, gội đầu, chải tóc, chờ đến lúc tắt thở rồi thay quần áo mới Một số anh

em ruột thịt túc trực bên người quá cố suốt đêm Sau đó chờ con cháu, người thân ở xa về đông đủ mới tiếp tục liệm, nhập quan, phát tang Con cháu, anh

em đội khăn tang theo thứ bậc và tỏ lòng thương tiếc người mất Đồng thời, đặt

di ảnh, hương đèn, hoa quả để con cháu, họ tộc gần xa, thân bằng cố hữu phúng viếng Con trai trưởng, con dâu trưởng cùng một số anh em trong nhà đứng đáp

lễ, ghi chép phúng viếng

Lễ phúng viếng tuỳ theo mối quan hệ giữa người đi phúng viếng với người quá cố Trường hợp gia đình thông gia thường có thẻ nhang, tiền viếng; đoàn thể có vòng hoa, bức chướng, tiền viếng Đội trống, kèn thờ liên tục phát

ra những âm thanh tiếc thương người quá cố đến lúc hết người phúng viếng thì

Trang 17

nghỉ Việc đưa tang ở làng Chí Linh gọi là đưa ra đồng, mọi việc đều được tổ chức phân công chu đáo, thứ bậc rõ ràng Đưa tang bằng hình thức đi bộ, linh cữu người chết được để trong xe đẩy (trước đây phải khiêng linh cữu), trên đường đưa tang có rắc vàng thoi bằng giấy, tiền âm từ nhà gia chủ ra đến huyệt để người chết nhớ đường về nhà mình Trước khi hạ huyệt một người thân có rắc gạo và muối xuống huyệt, hành động này được lý giải là để tránh

ma đói ma khát Sau khi chôn cất xong người nhà vẫn phải thắp hương cúng cơm người đã khuất 49 ngày, sau ngày 49 thì có thể cúng cơm vào ngày rằm, mồng một Qua 3 năm (có trường hợp 5 năm) người thân đào và bốc mộ đưa cốt của người đã mất về tắm bằng nước thơm (quế, hồi ), sau đó đưa di cốt vào tiểu và xây mộ lát gạch khang trang và cố định phần mộ vĩnh viễn Ở làng Chí Linh cũng đã có gia đình đưa người mất đi hỏa thiêu, nhưng trường hợp này rất ít, chủ yếu vẫn là hình thức thổ táng

Qua nghi lễ của đám tang ở làng Chí Linh cho thấy, phong tục ở đây cũng tương đối giống với những địa phương trong vùng và một số nơi khác, với những quan niệm âm sao dương vậy, và lòng thành kính biết ơn, tôn trọng, thể hiện chữ “Hiếu” với ông bà cha mẹ, những người đã khuất đó là một truyền thống quý báu của nhân dân làng Chí Linh cũng như Dân tộc Việt Nam

1.1.5.2 Một số di tích khác trong vùng

* Chùa Quang Phúc

Công trình kiến trúc này nằm sát phía bên trái đình Chí Linh, cả hai di tích chùa và đình có chung khuôn viên Những tư liệu về thời điểm khởi dựng của ngôi chùa không được ghi rõ Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng:

từ khi sinh ra và lớn lên đã có chùa này, trước kia chùa tọa lạc bên bờ sông cách UBND xã Nhân Huệ (ngày nay) vài trăm mét Năm 1954 do nước lũ khiến con sông bị nở và làm chùa bị sụp đổ, trước tình hình đó chính quyền

và các cụ cao niên trong làng đã họp bàn, quyết định bán các tấm gỗ làm chùa cho dân làng Phù Lãng (nay là Quế Võ – Bắc Ninh) với khoảng 40 vạn tiền thời đó, còn lại tượng phật thì mang về vị trí chùa như ngày nay để thờ phụng,

Trang 18

bên trái đình Chí Linh Sau thời gian đó chùa liên tiếp được sửa sang và đưa thêm tượng vào thờ, đã có nhiều lần tượng được di chuyển lên đình (vì chùa

bị ngập nước) sau đó lại chuyển xuống chùa Hiện nay chùa Quang Phúc được làm theo kiểu hiện đại với kết cấu gạch, vữa, kết cấu mái đơn giản

* Chùa Chí Linh (Phúc Quang Tự)

Chùa hiện nay tọa lạc bên bờ sông Kinh Thầy cách đình Chí Linh khoảng 500m đi theo hướng đường đê vào làng, người dân thường gọi là chùa

cũ Chí Linh, bởi trước đây chùa là căn cứ của quân du kích cách mạng gắn với làng Chí Linh Lịch sử tồn tại của ngôi chùa cũng không còn có tài liệu nào ghi rõ và trong kháng chiến đã bị phá hủy Đến nay, theo thực tế khảo sát tại di tích chùa được tôn tạo lại khá khang trang với kết cấu một tòa nhà ba gian, bên trong chùa tại ban tam bảo bố trí hệ thống tượng thờ có các lớp tượng: hàng thứ nhất bục cao nhất của thượng điện đặt 3 pho Tam thế, hàng thứ hai đặt bộ tượng Di đà Tam tôn, hàng thứ ba là bộ tượng Thích ca thuyết pháp, hàng thứ tư là tượng Ngọc Hoàng, bên cạnh đặt Tứ vị Thiên vương, hàng thứ năm đặt tòa Thích ca Cửu long Chùa mới được khánh thành và phục vụ nhu cầu tâm linh của người dân địa phương

* Đền Gốm (Đền Trình)

Ngoài các di tích trên, cách làng Chí Linh khoảng 2km đi theo đường liên xã tới địa bàn xã Cổ Thành hiện vẫn lưu giữ được một ngôi Đền Gốm cổ kính có giá trị Đền Gốm là nơi thờ tự Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, ông

là người huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Sử sách còn ghi chép ông là vị tướng tài ba, dũng trí, mưu lược góp công lớn vào ba lần chống giặc Nguyên Mông thời Trần Cuối đời ông về sống tại Thái Ấp bên Trần Xá – nơi giao thông thủy phát triển nhân dân địa phương sản xuất và buôn bán đồ gốm Ông thường động viên nhân dân tích cực sản xuất nên kinh tế địa phương phát đạt

Do vậy tên làng Linh Giàng còn có tên gọi là làng Gốm Sau khi Nhân Huệ Vương mất, để ghi nhận công lao của ông, nhân dân địa phương đã xây dựng đền thờ tại đầu làng Gốm bên bờ sông Kinh Thầy lấy tên là “Nhân Huệ Vương Từ”

Trang 19

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, làng Gốm cũng như ngôi đền có nhiều thay đổi Tương truyền vào thời Hậu Lê (TK 17 – 18) đền Gốm được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh” với tòa tiền tế 5 gian và hậu cung Nhưng qua thời gian và chiến tranh ngôi đền đã bị sụp đổ hoàn toàn

Vào khoảng những năm 1933 – 1934, trước khung cảnh hoang tàn, tiêu điều của ngôi đền, ông Nhang Ký – một thương gia giàu có đã tâm đức trùng

tu lại toàn bộ ngôi đền theo như kiến trúc ban đầu Riêng nhà tiền tế trước 5 gian thì được mở rộng thêm 2 gian đầu hồi để làm miếu cô Đây là lần trùng

tu lớn nhất từ sau khi xây dựng

Năm 1952, quân Pháp đã giật mìn phá ngôi đền, cướp đi nhiều cổ vật quý Hiện tại ngôi đền chỉ còn lại Hậu cung là dấu tích kiến trúc cũ và 4 pho tượng thờ chính gồm: Thân mẫu Trần Khánh Dư, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư và hai công chúa thời Trần Nhân Tông bằng đồng Những phần đơn nguyên kiến trúc còn lại do nhân dân địa phương vận động, công đức, tu

bổ tôn tạo di tích từ năm 1990 đến nay

Lễ hội đền Gốm diễn ra từ ngày 13 đến ngày 21 tháng 8 âm lịch thu hút người dân địa phương và du khách từ nhiều địa phương khác tới tham quan và tham dự lễ hội Đền Gốm đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích Quốc gia ngày 5/2/1994

* Nhà thờ họ

Dòng họ là tập hợp những gia đình có chung nguồn gốc về huyết thống, là một trong những yếu tố quan trọng để cấu thành một ngôi làng Thông thường ở một ngôi làng được cấu thành bởi nhiều dòng họ khác nhau Hiện nay, làng Chí Linh có tổng số trên 10 dòng họ, tuy nhiên hệ thống nhà thờ họ còn ít, hoặc

do những dòng họ ít người nên chưa có đủ điều kiện để lập nhà thờ họ Trước đây, trong làng dòng họ Bùi cũng đã có nhà thờ họ, nhưng do trong kháng chiến đã bị phá hủy Hiện nay một chi họ Bùi đang khôi phục lại nhà thờ họ này, và trong tương lai sẽ có thêm những nhà thờ họ mới nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, sinh hoạt văn hóa của những gia đình có cùng huyết thống Là nơi để con cháu nhớ về cội nguồn, gốc rễ của tổ tiên mình

Trang 20

1.1.5.3 Lễ hội và các ngày lễ khác

* Lễ hội đình làng Chí Linh: Theo “Thần tích bi ký” vua Lý Thái Tông

đã từng xuống chiếu lệnh cho dân làng Ba Gia (làng Chí Linh ngày nay) có trách nhiệm xây miếu và phối thờ hành lễ hành năm vào những ngày giỗ hậu của tam vị thành hoàng Trải qua các triều đại sau, việc tế lễ tại đình Chí Linh vẫn được các quan địa phương lưu tâm và duy trì Theo các cụ cao niên ở địa phương cho biết những quy định về lễ nghi tiến cúng hội hè như sau: Lễ hội đình làng Chí linh diễn ra vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, lễ hội diễn ra trong 03 ngày, trong đó ngày mùng 10 là chính hội Trong lễ hội có lễ

tế thành hoàng làng được chú trọng nhất, ngoài ra trong lễ hội còn có các hình thức diễn xướng dân gian khác: hát quan họ và các trò chơi dân gian như: bơi chải, chọi gà, bóng chuyền, vật võ (Chi tiết sẽ giới thiệu ở mục 2.3 của chương 2)

Ngoài ngày lễ hội chính vào ngày 10 tháng 11 âm lịch là ngày sinh của Nhị Công (Phạm Cường, Phạm Uy) thì dân làng cũng tổ chức cúng tế, nhưng nay các cụ cao niên đã gộp vào ngày rằm (15 tháng 11) để cúng tế

1.1.5.4 Truyền thống khoa bảng

Người dân làng Chí Linh từ lâu đã có truyền thống hiếu học và truyền thống ấy vẫn luôn được tiếp bước đến ngày nay Xưa tổng Cổ Châu là một trong năm địa danh của tỉnh Hải Dương có người đỗ tiến sỹ cao qua các thời

Lê Sơ, nhà Mạc và Lê Trung Hưng có tới 14 vị đỗ tiến sỹ Trong đó làng Chí Linh cũng đóng góp những nhân tài là Phạm Khải, người làng Chí Linh,

đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Bính Thìn, niên hiệu Quang Bảo thứ 2, làm quan Hiến Sát Sử (triều nhà Mạc), ngoài ra thôn còn

có nhiều thầy đồ, thầy nho hay chữ không ra làm quan mà mở trường dạy học tại quê cho con cháu và những người dân trong làng

Trong lịch sử, tuy đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nhưng đã có một số người học hành thành đạt đem lại niềm tự hào cho vùng đất này và trở thành những tấm gương sáng về tri thức cho các thế hệ trẻ noi theo Do

Trang 21

có truyền thống hiếu học nên các thế hệ con cháu hiện nay vẫn luôn ý thức gìn giữ và phát huy tinh thần truyền thống đó Bởi lẽ việc học hành đối với mỗi người dân làng Chí Linh không chỉ là trách nhiệm với bản thân mà còn

là bổn phận làm rạng danh cho gia đình, dòng họ và cả xóm làng Hiện nay làng Chí Linh cũng đã thành lập quỹ hiếu học, hàng năm thường tổ chức gặp mặt vinh danh và trao phần thưởng cho các con em quê hương học hành đỗ đạt nhằm khích lệ, động viên, giữ gìn, phát huy truyền thống học hành của quê hương

1.2 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại của di tích đình làng Chí Linh và nhân vật được phụng thờ

1.2.1 Lịch sử hình thành, quá trình tồn tại của di tích đình làng Chí Linh

1.2.1.1 Lịch sử hình thành

Đối với lịch sử hình thành các ngôi đình ở Việt Nam nói chung, hiện nay

được giới thiệu khá đầy đủ và chi tiết trong cuốn Đình Việt Nam của tác giả

Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự và trên thực tế nước ta vẫn còn tồn tại những ngôi đình thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX

Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn các “việc làng”, để xử kiện, phạt vạ, ăn khao… theo những quy ước của làng, từ những cuộc họp của

bô lão trong làng, trong họ tộc, chuyện làm lễ lên lão, phạt vạ con gái không chồng mà chửa… cho đến những việc đại sự như đón sắc phong của vua ban, hội đình, tất cả đều được diễn ra ở sân đình và theo lệ làng Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần của làng, được gọi là “Thần Thành hoàng làng” Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo hay hát cửa đình, nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi… Các chức năng trên không bao giờ tách bạch mà luôn đan xen hòa quyện với nhau Ngôi đình là biểu tượng

cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình của văn hóa làng

Việt Nam Ở các làng xã trong xã hội cũ, việc tôn thờ thành hoàng làng là việc quan trọng của cả làng xã Chính vì vậy, ban đầu thần được thờ ở những ngôi đình nhỏ, ít được người dân chú trọng, trải qua thời gian, việc thờ thần

đã được nhân dân coi trọng và chính người dân đã tạo ra một hệ thống kiến

Trang 22

trúc, trang trí phù hợp với chức năng, đặc trưng của các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo này

Đối với trường hợp đình làng Chí Linh, đây là công trình kiến trúc tín ngưỡng và nằm trong dòng chảy lịch sử phát triển của đình làng Việt Nam

Lý lịch di tích đình Chí Linh có viết về lịch sử xây dựng đình như sau:

Nhân dân làng Chí Linh đã xây dựng từ năm Hồng Đức nguyên niên Trước đây đình làm theo kiểu chữ “Đinh” quay về hướng Tây, miếu thờ vọng lập ở bên trái hồ Đông, hồ Tây phía trước và bên phải đều thuộc đất Chí Linh Đến triều Nguyễn, đình được xây thêm 5 gian tiền tế, vì vậy kiến trúc đình kết cấu theo kiểu tiền chữ

“Nhất” hậu chữ “Đinh” [14, tr 3]

Trong cuốn sách Hải Dương di tích và danh thắng, tập 1, trong số 97 di

tích được giới thiệu, phần lịch sử đình Chí Linh được giới thiệu như sau:

Đình Chí Linh được xây dựng vào khoảng thời Hậu Lê (TK18), được trùng tu và tôn tạo vào thời Nguyễn qua các năm 1848, 1856,

1859, 1867, 1911 Kiến trúc ban đầu theo kiểu chữ “Đinh” gồm 5 gian Đại bái và 3 gian Hậu cung xây theo hướng tây Đến năm Khải Định nguyên niên (1916) nhân dân tiếp tục xây thêm 5 gian tiền tế

và hai giải vũ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong những ngày lễ hội Tấm thượng lương tại tòa tiền tế còn ghi rõ “Hoàng triều Khải Định nguyên niên quý xuân lương nguyệt nhất thần kiên trụ thượng lương đại cát hưng vượng” tức là: ngày lành tháng tốt, mùa xuân năm Khải Định nguyên niên dựng thượng lương thịnh vượng [16, tr.195]

Mặt khác, tại đình làng Chí Linh còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong do triều đình nhà Nguyễn phong tặng cho vị thần được thờ tại đây có niên đại từ thời Thành Thái đến Khải Định Đây cũng là một căn cứ quan trọng trong việc xác định niên đại tương đối của ngôi đình này

Trang 23

Qua khảo sát thực tế tại di tích, do trải qua thời gian do tác động của thiên nhiên và chiến tranh tàn phá, cùng với nhiều lần tu sửa lớn, hiện nay dấu vết kiến trúc của đình Chí Linh mang đậm phong cách thời Nguyễn thế kỷ XIX

1.2.1.2 Quá trình tồn tại và phát triển

Tồn tại cho đến ngày nay, đình Chí Linh đã trải qua nhiều biến động của lịch sử như chiến tranh, sự tác động vô thức của người dân và sự khắc nghiệt của thời tiết, tự nhiên Trong quá trình tồn tại và phát triển đó, đình Chí Linh đã được trùng tu, sửa chữa mở rộng về mặt quy mô Căn cứ vào hệ thống bia ký, sắc phong, các triều đại còn lại di tích thì ngôi đình đã trải qua nhiều lần tu sửa tôn tạo:

Từ năm 1990 đến nay, việc tu sửa nhỏ trong di tích được chính quyền

và nhân dân địa phương tiến hành khi xảy ra dấu hiệu xuống cấp, như hệ thống cửa ở tòa tiền tế và một số đồ thờ

Như vậy, đình làng Chí Linh còn lưu giữ được nhiều dấu khá nhiều giá trị về mặt kiến trúc cổ và nghệ thuật điêu khắc của cư dân Trong suốt quá trình tồn tại, đình Chí Linh luôn là một trung tâm văn hoá, hành chính, tín ngưỡng của cả làng, là nơi người dân hội họp bàn việc làng, việc nước, đồng thời là nơi diễn ra sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người dân với các hoạt động văn hóa như múa, hát, tổ chức các buổi giao lưu văn hoá văn nghệ giữa các đơn vị trong và ngoài làng/xã với nhau Đồng thời, ngôi đình còn là nơi thờ cúng thành hoàng, nơi diễn ra các lễ hội (với nghi thức, nghi lễ nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn của các vị thần) đối với dân làng Chí Linh

Trang 24

1.2.2 Nhân vật được phụng thờ trong đình làng Chí Linh

Xét về chức năng tôn giáo, ngôi đình là nơi thờ thần của cả làng, thường

là một vị nhưng cũng có khi là nhiều vị được gọi là Thành hoàng làng

Theo GS Đào Duy Anh: “Thành hoàng là một biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là thứ quyền uy siêu việt, một mặt liên lạc siêu hình, khiến cho làng xã thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống” [1, tr 207]

Hay theo tác giả Nguyễn Duy Hinh: “Thành hoàng làng người Việt là một vị thần được dân thờ, sau đó mới được vua phong chức tước với chức danh thành hoàng” [17, tr 61]

Căn cứ vào sắc phong, thần phả lưu giữ tại đình làng và câu chuyện truyền thuyết lưu truyền ở làng cho biết, đình Chí Linh thờ ba vị thần, có công đánh giặc giữ nước Qua tấm bia “Thần tích bi ký” được soạn năm Tự Đức thứ 20 (1867) thì nhân vật được thờ là:

- Cao Sơn Quốc Trạng Đại Vương (thường gọi là thánh Cả)

- Đương Cảnh Thành Hoàng Quảng Bác Đại Vương (tức Phạm Cường)

- Đương Cảnh Thành Hoàng Hùng Duệ Đại Vương (tức Phạm Uy) Thần tích cho biết: Vào thời Hùng Vương thứ 18 có người họ Cao tên Hiển thuộc dòng họ của Tản Viên quốc vương thứ hai Vị thần này gốc gác Sơn Thần, tinh thông văn võ thường gọi là Cao Sơn đại vương Thần Cao Sơn cùng với người em họ là Quý Minh, đã từng có công giúp vua Hùng đánh thắng quân Thục tại Sóc Sơn Sau khi đánh thắng giặc hai anh, em tự hóa và ngự ở hai bên của dãy núi Ba Vì

Sau đó, nhiều lần hai vị đã hiển linh và giúp nhân dân đánh giặc Tới thời Lý thần Cao Sơn từng có công “âm phù” cho vua Lý Thái Tông đánh giặc, giữ nước, mở mang bờ cõi Thuở ấy có lũ giặc Chiêm Thành khởi loạn biên thùy phía Nam Vua Lý Thái Tông xuống chiếu truyền lệnh kêu gọi người tài đức giúp nước Cao Hiển hóa thân là là một tướng tài của triều đình cầm quân đi đến địa phận làng Ba Gia (làng Chí Linh) phủ Nam Sách, trấn

Trang 25

Hải Dương Tại làng có hai anh, em sinh đôi có tên là Phạm Cường, Phạm Uy

là con trai ruột của vợ chồng Phạm Chân và Đào Thị Quý Đến năm 15 tuổi, hai anh em đã có tài năng xuất chúng, văn võ kiện toàn

Được biết hai anh em họ Phạm là người tài đức, Cao Hiển liền chiêu

mộ và cho xung vào bộ tướng cùng binh phù đánh trận bến Động (Bình Than, Lục Đầu) Khi Cao Hiển và hai anh, em họ Phạm dàn trận, cờ rợp đất, chiêng trống vang trời, giặc dã đại bại và tháo chạy

Thắng trận, Cao Hiển cùng Phạm Cường và Phạm Uy hồi cung tại Ba Gia trang, mở tiệc khao quân sĩ, sau khi yến tiệc no say Cao Hiển về cung Đệ nhất tự “hóa”, hai anh em họ Phạm “hóa” tại bản địa Ba Gia trang ngày 10/2

âm lịch Để ghi nhận công lao của các vị thần, vua Lý Thái Tông xuống chiếu chúc hành tang lễ và truyền cho dân lập miếu riêng để phụng thờ

Nhìn chung, với sự phụng thờ ba vị thành hoàng của làng Chí Linh gắn liền với lớp tín ngưỡng thờ nhân vật đã được lịch sử hóa là có công với dân với nước, bởi vùng đất này trong lịch sử đã từng là nơi diễn ra nhiều trận chiến quyết liệt của dân tộc ta chống lại kẻ thù xâm lược phương Bắc Gạt bỏ

đi những yếu tố dân gian đó có thể thấy được mong ước, của con người nói chung và cư dân nông nghiệp làng Chí Linh nói riêng, họ luôn mong muốn được hòa bình, ấm no trong cuộc sống và lao động

Chí Linh là một ngôi làng cổ được hình thành từ sớm, trải qua thời gian làng có sự biến đổi về mặt hành chính và diện mạo, song trong quá trình sinh sống người dân nơi đây đã sáng tạo ra các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống, mà đặc trưng nhất đó chính là ngôi đình của làng Chí Linh gắn liền với

sự tích về Tam vị Thành hoàng Ngôi đình và ba vị Thành hoàng làng đã cố kết cộng đồng của cư dân nơi đây thành một đơn vị “làng” trong xã hội Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay

Trang 26

Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI

ĐÌNH CHÍ LINH 2.1 Kiến trúc đình làng Chí Linh

2.1.1 Không gian cảnh quan

Các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng được coi là nơi bảo tồn giá trị văn hoá ở mỗi làng xã Đình làng là nơi gửi gắm niềm tin, niềm tự hào của cả cộng đồng làng xã Vì vậy, trước khi xây dựng công trình, người ta rất chú trọng tới việc chọn đất và hướng Các bậc tiền nhân rất coi trọng việc chọn lựa thế đất và cảnh quan để xây cất công trình: Với thế đất thường là nơi cao ráo, sáng sủa, phía trước rộng rãi, thoáng đãng, xa có núi làm tiền án, phía sau phải có thế tựa, hai bên tả hữu có tay ngai thế vịn, phía trước cửa đình thường có hồ nước rộng - đó là yếu tố tụ thuỷ có nghĩa là tụ phúc cho cả cộng

đồng và cho từng thành viên trong cộng đồng Đặc biệt là yếu tố “thiêng”, đó

là điểm hội tụ sinh khí của bốn phương tám hướng trong trời đất Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự hưng thịnh, phát đạt hay nghèo khó của cộng đồng làng xã nơi di tích tồn tại

Đình làng không chỉ là một công trình kiến trúc công cộng có quy mô

to lớn nhất của làng, mà còn là một công trình kiến trúc mang trong mình các chức năng như: Hành chính, tôn giáo và văn hóa Những chức năng này trải qua các thời kỳ lịch sử đã có biến đổi rõ rệt và ngày nay đình làng không còn chức năng là trụ sở của hành chính làng xã như xưa, mà thay vào đó là chức năng mới phục vụ cho du lịch văn hóa, tâm linh

Trong cuốn Đình Việt Nam phần kiến trúc đình qua thời gian và không

gian có nói đến việc chọn nơi để làm đình:

Đình không nhất thiết phải dựng trên đồi gò, nhưng phía sau hoặc hai bên thường cần có những chỗ đất cao để làm tay ngai, và mặt trước đình cần có nước Đó là thế đất tụ thủy - nước tụ hội, mà tụ thủy thì cũng có nghĩa là tụ linh, tụ phúc, tụ hội tất cả những điều may

Trang 27

mắn Vì thế ta thường thấy nhiều đình làng hướng mặt ra sông, nhất là chỗ dòng sông uốn khúc [20, tr 23]

Hay như trong cuốn Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu

thổ sông Hồng có viết:

Đối với một di tích kiến trúc, thường được quan tâm tới không gian

xa và không gian gần Với không gian xa, người ta chú ý tới thế đất, mặt trước phải quang đãng, càng đẹp hơn khi có núi đồi chầu về, có

gò đồi tạo nên một tiền án và nhiều khi có tả Thanh Long hữu Bạch

Hổ, gồm hai gò đống ở hai bên Các di tích thường được chú ý nhiều nhất là quay hướng Nam, lưng có thể tựa, hai bên có thể tì, rồi dòng chảy trước mặt…người xưa nghĩ bên phải là dương, bên trái là âm, nên tốt nhất là dòng nước chảy thuận từ phải qua trái của kiến trúc Dòng lưu thủy thuận chiều sẽ tạo cho mọi nguồn hạnh phúc được phát sinh phát triển mạnh mẽ hơn các chiều khác Với không gian gần, người ta thường bố cục di tích trong một thế cân bằng của âm - dương đối đãi, cụ thể là kiến trúc (cao) mang yếu tố dương, nước thấp mang yếu tố âm Quan niệm xưa thường tạo các giếng lớn tròn hay bán nguyệt ở gần hoặc trước mặt di tích, đôi khi cũng tạo nên một đường nước ngoằn ngoèo, đó là những điểm tụ phúc, lưu phúc, một lời nhắc nhở với thần linh và cũng là ước vọng xuất phát từ tư duy nông nghiệp [2, tr 164 – 165]

Về không gian cảnh quan của đình Chí Linh: đây là công trình kiến trúc được làm với quy mô to lớn và trang trọng, ngôi đình tọa lạc ở vị trí trung tâm của làng trên một khu bằng phẳng, không gian thoáng đãng Về cơ bản đình Chí Linh vẫn có thế tựa lưng vào núi hướng mặt ra sông nước như những di tích khác, đình tựa lưng vào dãy núi Phả Lại làm hậu trẩm, phía trước cửa đình hướng ra hệ thống sông Thái Bình Tuy nhiên do đặc điểm địa hình của địa phương là đồng bằng thấp, ba phía của đình Chí Linh giáp hệ thống sông Thái Bình và sông Kinh Thầy nên vào mùa mưa bão di tích thường bị ngập

Trang 28

lụt, từ lý do trên người dân ở làng Chí Linh đã đào đất từ khu đất phía sau đình để đắp đê chắn nước, quá trình này hình thành hệ thống đê bao quanh di tích, và phía sau những khu đất đã đào lại hình thành lên hệ thống ao hồ dày đặc, và phía ngay bên cạnh tay trái đình cũng có một hồ nước lớn

Từ đây di tích lại trở thành thế đất đắc địa theo thuyết phong thủy là

“Quy Xà hợp thành” với 3 mặt đều hướng ra những con sông lớn, những con

sông này uốn lượn, hiền hòa bao bọc quanh di tích, chảy từ bên phải vòng qua bên trái và cuộn về xuôi, cộng thêm hệ thống ao hồ phía sau và bên cạnh, theo thế đất này ta nhận thấy những dòng nước như những con xà lớn chầu về phía

di tích Những con xà đó như làm tăng sự thâm nghiêm, uy nghi của ngôi đình Còn ngôi Đình là nơi tụ phúc, ban phúc, ban lành cho bốn bề nhân dân của Làng

Ngày nay, do quá trình đổi mới nông thôn của làng, cho nên không gian cảnh quan của di tích cũng có ít nhiều đổi thay Như đã nói ở trên, do đặc điểm địa hình của toàn xã Nhân Huệ nói chung và làng Chí Linh nói riêng là khu vực có địa hình bằng phẳng, nhưng tương đối thấp Trải qua thời gian dài

từ khi xây dựng đến nay, vào những mùa mưa lũ nhiều lần làng Chí Linh đã

bị ngập lụt và đình cũng bị nước tràn vào Từ đó người dân đắp đê bao quanh đình, khiến cho mặt bằng của đình Chí Linh bị hạ thấp xuống rất nhiều so với đường đi lại là con đê bao quanh làng Mặt khác do sự phát triển nhanh của dân cư và cơ sở hạ tầng nên những ao, hồ phía sau của đình cũng dần bị san lấp để lấy đất mặt bằng

Theo cuốn Hải dương di tích và danh thắng, tập 1 có viết rằng phía

trước đình có hai bên giải vũ được xây dựng vào năm 1916 Nhưng trải qua thời gian, và thực tế khảo sát di tích hiện nay đã không còn nữa Mà thay vào

đó là hai tòa nhà mầm non của xã Nhân Huệ, nhưng hiện tại hai nhà này đã không còn sử dụng làm nơi học tập của các cháu, vì gần UBND xã Nhân Huệ

đã xây dựng một trường mầm non mới, khang trang nên các cháu đã chuyển

về đây học tập Từ đó hai nhà mầm non trong khuôn viên đình dành làm nơi hội họp các công việc của đình

Trang 29

Với sự biến đổi trên, phần nào đã làm cho không gian cảnh quan trước đây của di tích đình Chí Linh có sự thay đổi Song, nhìn vào mặt bằng tổng thể của ngôi đình hiện nay, các yếu tố về địa thế, không gian và cảnh quan của di tích vẫn được đảm bảo

Về hướng của di tích, đây là vấn đề được cộng đồng cư dân coi trọng, bởi lẽ hướng của đình làng sẽ quyết định đến sự may mắn hay rủi ro cho cộng đồng cư dân sống tại nơi đó như dân gian có câu:

“Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng toét mắt riêng mình em đâu”

Tuân theo quan niệm đó, đình Chí Linh nhìn về hướng Tây Nam Theo quan điểm của tác giả/nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền cho rằng:

Hướng Tây là hướng khá phù hợp với nhận thức của cư dân đương thời, bởi vì đây là những hướng thích hợp với tâm linh: thần nhìn về hướng Tây là hướng âm, mặt thần là hướng dương, nên đã tạo cho thần và phương hướng vũ trụ thành một cặp âm dương đối đãi; lưng thần là dương nhìn về hướng Đông tạo thành một cặp âm dương đối đãi khác; tay trái thần là âm đặt về hướng Nam - dương, tay phải là dương đặt về hướng Bắc - âm Như vậy, nó thích hợp với thế của vị thần và thiên nhiên vũ trụ trong tư duy của người dân nông nghiệp

cổ truyền Thần đã được đồng nhất với vũ trụ và thiên nhiên, đó là

tư tưởng hoà nhập vào thế giới thần linh của người Việt được thể rất rõ rệt, bởi có như vậy thì thần mới yên vị và mới đem lại sinh lực vô biên của tầng trên với thế gian, tạo cho muôn loài sinh sôi Đối với nhận thức thường nhật thì sự yên vị của thần đã đảm bảo cho vị thần luôn luôn có mặt ở đình để bảo vệ cho dân làng Hướng Nam là hướng của trí tuệ (theo Phật giáo đó là hướng của Bát Nhã) nhờ có trí tuệ mới diệt được vô minh tức và ngu tối, mà ngu tối là mầm mống của tội ác Do đó, với hướng Nam thì người xưa mong muốn rằng, tuy làng được lập bởi những người dân nghèo nhưng

Trang 30

phải lấy thiện tâm trên nền tảng trí tuệ làm trọng để xây dựng làng

xã Đồng thời, hướng Nam là hướng của màu đỏ, hướng của nguồn sinh lực vô biên Cho nên, điều đó cũng phản ánh ước vọng của người xưa là cầu mong cho sự sinh sôi, phát triển Vì thế trong tín ngưỡng cổ của người Việt có khá nhiều các công trình kiến trúc được xây dựng theo hướng Nam [4, tr 37]

Do vậy, hướng và kết cấu của đình Chí Linh đã như chứa một ý nghĩa sâu xa về tâm linh gắn với bản sắc lịch sử, văn hóa của cộng đồng cư dân vùng đất Chí Linh từ lâu đời

Bên cạnh việc quan tâm đến thế đất và hướng, người xưa còn rất cẩn trọng trong việc bài trí và sắp đặt thiên nhiên cây cỏ với ý nghĩa trong lành, thanh tịnh làm đẹp cho di tích và cũng tạo ra sự gắn bó hòa quyện khó có thể tách rời với thiên nhiên cây cỏ Hơn thế nữa, cây cối còn là nơi trú ngụ của các thần linh, nơi neo đậu của những linh hồn tìm đến sự chở che của các vị thần, thánh Cây cỏ được ví như một bộ quần áo đẹp để trang hoàng cho di tích nhằm làm cho kiến trúc được hòa quyện với môi trường và không cách biệt Mặt khác, cây cỏ còn như nhấn mạnh một điểm cơ bản xác nhận mảnh đất có di tích là tươi tốt thích ứng với đất thiêng, đất lành của muôn loài

Đối với đình Chí Linh, theo cụ thủ nhang Nguyễn Văn Bạn kể lại rằng: trước đây trong khuôn viên đình có hai cây gạo cổ thụ đã ghi dấu biết bao thăng trầm lịch sử của địa phương, nhưng do trong chiến tranh chống Mỹ cây đã bị bom địch tàn phá và chết đi, hiện nay hai cây gạo đã được thay thế bằng hai cây bàng cũng khá lớn, vào mùa xuân cây lá xanh tươi, mùa hè thì

ra quả chín vàng chim đua nhau về làm tổ, vào mùa thu – đông lá bàng trút xuống nhuộm một màu đỏ cho sân đình, còn những cành cây khẳng khiu lại tạo ra vẻ cổ kính cho ngôi đình, hai cây bàng này có thể nói về lịch sử không được lâu đời như hai cây gạo xưa kia, nhưng xét về tổng quan nó như đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tô điểm cho ngôi đình vào từng khoảng thời gian trong năm và trải qua thời gian, tồn tại với không gian thiêng tại di tích

Trang 31

Ngoài ra trong khuôn viên và trước cửa đình còn có một số loại cây

cảnh thế như sanh, si, lộc vừng Đó là những loại cây được coi như nơi

thường ngự của các thần linh dân dã Cũng có khi là nơi nương tựa của các linh hồn bơ vơ, nhờ gần với đình đền miếu các vong linh được nương dựa vào thần mà hưởng chút ít lộc hương của chúng sinh

Như vậy, các thế hệ người xưa đã lựa chọn được thế đất đẹp cho đình làng Chí Linh, đó là sự hội tụ các yếu tố vừa hợp địa thế phong thuỷ, vừa hợp với quy luật âm dương ngũ hành Với thế đất này, ngôi đình - trung tâm văn hóa của cộng đồng làng Chí Linh đã được các thế hệ con cháu nối tiếp giữ gìn, phát huy để tạo nên một không gian văn hoá đặc sắc vừa mang tinh thần truyền thống lại vừa mang tính đương đại

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể

Những nhận xét về bố cục kiến trúc đình làng của các nhà nghiên cứu cho biết bố cục kiến trúc đình làng qua không gian và thời gian đã có thể thấy được sự chuyển biến: “Kiểu đình cũng thật đa dạng Xét theo mặt bằng của các đơn nguyên kiến trúc, ngày nay chúng ta có nhiều kiểu đình có bố cục khác nhau như:bố cục chữ nhất (一), chữ tam (三), chữ đinh (丁), chữ công (工), thậm chí có cả kiểu chữ khẩu (口)…Với cái nhìn đồng đại, ta đã nhận ra sự

phong phú của kiểu đình” [20, tr 23] Theo thời gian, bố cục mặt bằng của đình

làng đã có nhiều thay đổi Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Từ thế kỷ XVII, kiến trúc đình làng có sự thay đổi Có người cho rằng, cuối thế kỷ này, đã gặp những ngôi đình có hậu cung dựng liền sau đại đình, làm cho mặt bằng hình chuôi vồ hay chữ đinh (丁) Hậu cung là nơi thờ thần” [20, tr 25]

Đình Chí Linh cũng nằm trong xu thế phát triển chung của đình làng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, hiện nay tổng diện tích đất của di tích là: 6.050m2, đình có bố cục kiểu “Tiền chữ Nhất, hậu chữ Đinh” bao gồm: Tiền

tế, Đại đình, Hậu cung, ngoài ra còn có các đơn nguyên khác như: Sân, Nghi môn đình tạo nên bố cục hoàn chỉnh cho công trình kiến trúc Khu kiến trúc

Trang 32

chính được đặt ở vị trí trung tâm, phía trước là tường bao và Nghi môn, còn phía sau đình giáp với nhà dân không có tường bao Bên phải là hồ nước và ngôi chùa Quang Phúc có cùng khuôn viên

Căn cứ vào mặt bằng tổng thể của đình Chí Linh có thể nhận thấy Đình là một thể thống nhất thể hiện ước vọng cầu được mùa, cầu mong an lành với nhân dân làng và điều này đã được một số nhà nghiên cứu dân tộc học kiến trúc và nghệ thuật cho rằng: với bố cục này đã biểu hiện ước vọng truyền đời của người Việt

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

* Tòa Tiền tế

Tòa Tiền tế có hình chữ nhất, đặt trước và tách biệt với tòa Đại đình với chức năng thu ánh sáng và tránh ẩm cho công trình kiến trúc Mặt trước là hệ thống cửa bức bàn, hai bên gian bên là hệ thống cửa sổ với những chấn song

có hình thoi cao 1,6m, giúp cho toà tiền tế luôn thoáng mát

+ Kết cấu nền: Toà Tiền tế được xây dựng trên một nền cao 65cm so với mặt sân, từ sân đình bước qua 3 bậc thềm cao khoảng hơn 20cm là vào tới tiền

tế Bậc thềm này được xây bằng gạch và trát vữa chạy dọc theo dải hiên của toà Tiền tế Nền của tòa Tiền tế được lát gạch hoa hiện đại kích thước 20cm x 20cm (gian chính giữa), ở hai gian bên là 30cm x 30 cm

+ Kết cấu khung: “Là phần kết cấu cơ bản nhất hình thành quy mô, vóc dáng của kiến trúc Đồng thời cũng thể hiện rõ nét nhất bản sắc của kiến

trúc gỗ truyền thống Việt” [2, tr.180] Đối với toà Tiền tế, đỡ lấy hệ thống cột

là các chân tảng được làm bằng đá xanh kích thước chân tảng (phần tiếp đất, bình đồ vuông) là 60cm x 60cm, mặt trên phần trụ tròn được đặt tiếp xúc khít với hệ thống chân cột, riêng hai hàng chân cột tại gian giữa (cạnh nhang án) các chân tảng đã bị thay bằng chân tảng mới bằng xi măng Các chân tảng kê cột có chức năng tôn cao kiến trúc, tránh được lún nền và không cho gỗ tiếp xúc trực tiếp xuống đất, chống mối mọt và ẩm thấp của khí hậu nhằm bảo quản tốt cho kết cấu gỗ được bền vững

Trang 33

Tiền tế có 04 hàng cột gồm 02 cột cái và 02 cột quân Các cột cái của toà Tiền tế có độ cao 4.25m, chu vi cột là 1.15m, cột quân có độ cao 3.0m, chu vi cột là 0.9m, khoảng cách giữa cột cái với cột cái là 3.5m, giữa cột cái với cột con là 2.5m, rộng lòng là 9,25m Hai cột cái được nối với nhau bằng câu đầu, câu đầu đặt thẳng lên đầu hai cột cái thông qua hai mộng vuông, ngoài cùng là bẩy hiên có chức năng đỡ hệ mái trước và sau, trên các bảy này

có trang trí hoa văn lá lật, hình rồng Khoảng hiên đua ra 90cm nhằm mở rộng diện tích bên trong nhà Tiền tế và tránh nước mưa cho công trình

+ Kết cấu bộ vì: Thực tế đã chứng minh, kiến trúc cổ của Việt Nam đa phần là sử dụng kết cấu khung gỗ, không có sự phân biệt rạch ròi về kết cấu của từng thể loại công trình khác nhau, vì thế nước ta không tồn tại các công trình có kích thước lớn như các quốc gia khác Hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo, xà đều tương quan về tỉ lệ, được quy định bởi thước tầm và chủ yếu liên kết bằng hệ thống mộng

Tiền tế của đình Chí Linh có kết cấu kiến trúc gồm 3 gian 2 chái, các

bộ vì ở gian giữa được làm theo kiểu “Thượng giá chiêng, hạ chồng rường bẩy hiên” Các hàng chân cột được liên kết với nhau bởi các bộ phận khác nhau như: Thượng lương, cột chốn, câu đầu Trên cùng bộ vì nóc là thượng lương được đỡ bởi đấu kê có triện chữ thọ, phía dưới là một đấu hình thuyền, đấu này được đặt trên giá chiêng được đỡ bởi hai cột chốn ngắn phía dưới có đấu vuông kê Đỡ lấy giá chiêng là một câu đầu (quá giang) chắc khỏe Riêng

bộ vì nóc ở gian hai bên theo kiểu “chồng rường, giá chiêng” gồm các con rường chồng lên nhau trạm hình rồng hàm thọ, sau đó tì lực lên một thân giá chiêng, sau đó tì trực tiếp lên câu đầu Các bộ vì kèo cũng được các thanh xà thượng và xà trung liên kết với nhau thông qua các gian, điều này khiến cho các bộ vì tăng thêm khả năng chịu lực, và chia sẻ lực để đỡ toàn bộ hệ mái Phía trên các bộ vì là những con hoành gỗ dài tròn và các thanh rui,

mè đỡ ngói Hai vì hồi dùng cột góc và kẻ góc Hệ thống bẩy được gối lên

Trang 34

tường gạch Sức nặng của toàn bộ tòa tiền tế được tỳ lực lên hệ thống cột và chân tảng kê Hai đầu hồi được xây bằng tường gạch để bao che cho công trình

+ Kết cấu mái: Mái của tòa tiền tế được lợp bằng hai lớp ngói, ngói lót

và ngói lợp Ngói lót hình chữ nhật có tác dụng tạo mặt phẳng cho mái trước khi lợp ngói lên trên, tạo độ dày và tránh thời tiết nắng, mưa thất thường cho công trình Ngói lợp của công trình này là ngói vảy cá Bốn góc mái đình Chí Linh các đao cong vút, đầu đao tạo hình dải mây hình mác, hình lá lật, hình xoắn ốc Bờ nóc được xây gạch, trát vữa tạo thành đường thẳng Ở hai đầu có hai con kìm hướng mặt vào nhau, đuôi cuộn xoắn, miệng ngậm lá lật cách điệu dải mây, ở chính giữa là hổ phù miệng ngậm chữ thọ đầu đội mặt trời đang bốc lửa đắp bằng vôi vữa có gắn sành sứ, từ đầu bờ nóc, kéo thẳng xuống lưng chừng mái, đến khúc nguỷnh có hai con nghê đối diện nhau, hướng chéo xuống về phía cửa đình, nghê được đắp bằng vữa, mây mác bay ngược về phía sau Với những hình tượng con kìm, con lân, mặt hổ phù tạo cho ngôi đình một vẻ uy nghiêm, thể hiện cho tính thiêng của đình làng, nơi trấn át mọi tà khí và mong muốn ngôi đình sẽ trường tồn cùng thời gian

Nhìn tổng thể mái của tiền tế giống như một con thuyền thoi có mũi lái cong đang bập bềnh trên sông nước Nếu như ở các công trình kiến trúc có niên đại sớm (từ thế kỷ XVI trở về trước), bộ mái đình như đè nặng xuống cả công trình, thì ở thế kỷ sau này (từ thế kỷ XVII đến nay) nhờ có hiện tượng góc đao cong thuộc lĩnh vực kiến trúc đã như giải toả sự nặng nề của mái đình, làm cho công trình kiến trúc đình nhẹ nhàng hơn, uyển chuyển và gần gũi với đời sống thường nhật hơn

* Toà Đại đình

Về toà Đại đình: đây là tòa có diện tích và không gian lớn, tạo ra sự bề thế cho công trình “Đại đình là ngôi nhà rộng dàn ngang, kéo dài sang hai bên, bao giờ cũng là số gian lẻ: 1, 3, 5, 7, 9 và thêm hai chái ở hai đầu hồi” [23]

Tòa Đại đình của đình Chí Linh gồm 03 gian 02 chái nằm tách ra một khoảng so với Tiền tế

Trang 35

+ Kết cấu nền

Đại đình được xây dựng trên một nền cao 40cm so với nền của tòa Tiền

tế, từ sân đình bước qua gian Tiền tế, qua ba bậc thềm cao khoảng 15cm là vào tới đại đình Điều đó cho thấy hai đơn nguyên kiến trúc này không có cùng niên đại khởi dựng

Hiện nay, nền nhà phần chính giữa của đại đình được lát gạch đỏ kích thước 25 cm x 25 cm, còn hai gian chái không lát gạch, hai gian chái này dài 3,4 m cao hơn gian giữa là 15cm

+ Kết cấu khung

Đối với toà Đại đình, hệ thống đỡ cột là chân tảng với chất liệu không đồng đều, xuất hiện một vài chân tảng bằng đá xanh, còn lại chất liệu bằng xi măng Trong tòa Đại đình của đình Chí Linh gồm 02 hàng cột cái, 02 hàng cột quân, liên kết với nhau qua các câu đầu và xà thượng xà trung Kích thước của các cột như sau: cột cái cao 4,25m, chu vi là 90cm, cột quân có chiều cao 3m chu vi là 80cm Chiều dài đại đình là 10,65m, rộng là 5,85m, chiều cao 6,5m Hai cột cái được nối với nhau bằng câu đầu, câu đầu đặt thẳng lên đầu hai cột cái thông qua hai mộng vuông có chân kê

Những tảng khối kê chân cột phần tiếp xúc đất có bình đồ hình vuông, mặt trên tiếp xúc với chân cột có hình tròn, kích thước không đồng đều Các tảng kê chân cột nhằm mục đích tôn cao hệ thống kiến trúc, tránh bị lún nền

và không cho chân các cột gỗ tiếp xúc trực tiếp xuống mặt đất Đồng thời, phòng ngừa mối mọt và ẩm thấp của khí hậu nhằm bảo quản tốt cho kết cấu

gỗ cũng như toàn bộ kết cấu ngôi đình được bền vững Khoảng hiên đua mái rộng 1,1m, chúng được tỳ lực lên hệ thống hoành được đỡ bởi bẩy hiên ăn mộng vào hệ thống cột quân Hiện nay cửa ra vào Đại đình là hệ thống cửa

“bức bàn” với mục đích tránh bão gió và ngăn nắng mưa để tránh ảnh hưởng như nấm mốc, hiện tượng cong vênh các cấu kiện và di vật trong công trình

Trang 36

+ Kết cấu bộ vì

Kết cấu vì kèo của đơn nguyên này được làm theo kiểu “chồng rường,

giá chiêng” Trên cùng bộ vì nóc là thượng lương được đỡ bởi đấu kê, phía

dưới là đấu hình thuyền đỡ thượng lương, đỡ đấu hình thuyền là một thân rường được đặt lên hai cột giá chiêng nằm dọc, hay còn được gọi là cột chốn Hai cột chốn được đỡ bởi hai chân đấu kê vuông Phía ngoài của giá chiêng là những con rường cụt được chạm hình hoa văn vân mây, tác dụng chính của những con rường này nhằm mục đích đỡ hoành mái Toàn bộ các chi tiết gỗ trên đều được đỡ bởi câu đầu, câu đầu này tì lực trực tiếp lên hệ thống cột Ngoài ra, các cột cái, cột quân còn được liên kết với nhau bởi các xà thượng, xà trung Hai vì kèo đầu hồi có dùng cột góc và kẻ góc Các đầu kẻ ở hai phía đầu hồi được gối lên tường gạch Bên cạnh đó, các đầu dư gắn dưới bụng câu đầu

và đầu cột cái đều được chạm khắc hình rồng mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, mục đích tạo sự kiên cố cho bộ vì nóc và tăng tính thẩm mỹ, uy

nghiêm cho di tích

Về phương diện trang trí và bố cục trang trí có thể nhận thấy, các con rường và kẻ không có nhiều họa tiết, hoạ tiết hoa văn chỉ điểm các hoa lá một cách thưa thớt Đầu dư là một đầu rồng chạm nổi tinh tế, trên thân các rường cụt và đầu kẻ có trang trí chủ yếu là đề tài về rồng Phần trang trí kiến trúc tập trung chính vào các bức cốn, xà nách trên các bộ bì kiến trúc, ở đây cũng chủ yếu tập trung vào các đề tài rồng phượng

* Kết cấu mái

Kết cấu mái cân đối thể hiện đặc trưng từ cuối thế XVII về sau, điều này tạo cho công trình cao và thoáng mát, các đường bờ nóc, bờ dải được đắp cao chắc chắn làm cho hệ mái bền vững Bốn góc mái đao cong vút, đầu đao tạo hình lá lật cách điệu dải mây, hình xoắn ốc Bờ nóc được xây gạch, trát vữa tạo thành đường thẳng Ở hai đầu có 2 con kìm hướng mặt vào nhau, đuôi cuộn xoắn, miệng ngậm lá lật, sở dĩ hai con kìm tại bờ nóc ngoài ý nghĩa tránh nước mưa dột xuống tại điểm giao của các mặt mái, tăng tính thẩm mỹ

Trang 37

cho nóc đình thì hai con kìm còn có ý nghĩa, tăng tính thâm nghiêm cho ngôi đình, thể hiện không gian thiêng nơi mà ngôi đình ngự trị Mái tòa đại đình được lợp bằng ngói ta, dưới có một lớp ngói lót Tại bốn góc uốn cong theo chiều hướng vút lên tạo thành các đao đình, tàu mái

Như vậy, có thể nói hệ mái và trang trí trên hệ mái chính là một tác phẩm nghệ thuật đương thời mà những nghệ nhân dân gian cố gắng truyền tải những nội dung tư tưởng, tình cảm cùng những ước vọng của cộng đồng

cư dân nơi đây muốn gửi lại cho các thế hệ sau này

* Tòa Hậu cung

Hậu cung không phải là một đơn nguyên kiến trúc có không gian lớn, nhưng bao giờ đơn nguyên này cũng giữ vị thế trung tâm, vì đó là nơi đặt ngai/ tượng thờ thành hoàng làng Hậu cung khép kín, tạo nên một không gian linh thiêng, là nơi thâm nghiêm của toàn bộ ngôi đình Hậu cung đình Chí Linh có 3 gian, phía trước là nhang án và các đồ thờ, bên trong, ở gian chính giữa có một bàn kê tượng tam vị thành hoàng Theo quy định của làng từ xưa truyền lại, người ở nơi khác đến thì không được tự ý ra vào Hậu cung, và chỉ

có những việc quan trọng được sự đồng ý của làng thì mới mở cửa Hậu cung

+ Kết cấu nền: Đây là tòa nhà xây theo kiểu tường đầu hồi bít đốc, là đơn nguyên xuất hiện muộn, mang phong cách nghệ thuật kiến trúc đặc trưng thời Nguyễn Nền Hậu cung thấp hơn so với Đại đình 15cm Nền đơn nguyên này được lát bằng gạch khổ 25cm x 25cm, gian giữa có bàn kê ngai là nơi thờ các vị thành hoàng làng

+ Kết cấu khung: Hậu cung nối liền với đại đình bằng hệ thống kèo góc Kết cấu bộ vì kèo ở hậu cung theo kiểu “kẻ truyền” Hệ thống cột cái của mái và tường hồi là phần chịu lực chính, gánh toàn bộ sức nặng của công trình Hậu cung có bốn hàng chân cột gồm 02 cột cái và 02 cột quân hàng trụ bao quanh công trình là hệ thống tường gạch đã tạo nên không gian thâm nghiêm của công trình

Vì nóc của hậu cung được làm thành hình chữ V ngược, có các khoảng mộng và đặt trực tiếp các hoành lên, phía dưới chịu lực đỡ bộ vì này là hai xà

Trang 38

thượng và xà trung một đầu ăn mộng trực tiếp vào vì nóc, một đầu ăn mộng vào 2 cột cái và 2 cột quân ở đầu hậu cung 2 đầu còn lại tì lực lên tường thông qua bẩy được đặt tì lên tường gạch Tác dụng chính của vì kèo kẻ truyền là làm tăng diện tích không gian hậu cung, nơi thờ tự các vị thành hoàng

+ Kết cấu mái: Trên bờ nóc Hậu cung đắp một dải vữa lớn chạy dọc về hai phía, phía cuối có đắp đôi nghê đối mặt vào nhau Ngói của tòa Hậu cung cũng được lợp bằng ngói ta đã có sự bao phủ của những đám rêu theo thời gian, phía dưới cũng có một lớp ngói lót được dải để tránh bụi bẩn và mát mẻ ở bên trong công trình Với kết cấu tường hồi bít đốc cùng với tường hậu có chức năng che mưa nắng cho công trình Nhìn chung, kết cấu mái của toà Hậu cung được làm khá đơn giản Song các kết cấu kiến trúc của đơn nguyên này được phối hợp một cách hài hoà, chặt chẽ, tạo thành một tổng thể thống nhất khó tách rời, vừa đẹp về thẩm mỹ vừa tiện về công năng và đảm bảo về chức năng sử dụng, cũng đồng thời thể hiện được tính thiêng của tòa Hậu cung nơi thờ tự các vị thành hoàng

2.1.4 Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc

Có thể nói, trang trí là một loại hình của nghệ thuật tạo hình, có khả năng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của cả một cộng đồng, dân tộc Bằng nghệ thuật cách điệu, tượng trưng hóa các đối tượng tự nhiên, cây cỏ, động vật… tạo thành các mô típ trang trí trên kiến trúc, trong đó có kiến trúc đình làng Di tích đình làng ở miền Bắc nước ta là kho tàng di sản phong phú về trang trí, điêu khắc truyền thống Điêu khắc đình làng không những

là nguồn tư liệu để nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn

tư liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam Trên các thành phần của kiến trúc đình làng, các nghệ nhân xưa với bàn tay điêu luyện của mình đã chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi người khi đến tham quan di tích Những khối gỗ vừa thô và nặng đã được các nghệ nhân xưa chạm khắc thành những đầu rồng ngậm ngọc với những bờm lửa dài và sắc sảo, đó là các đầu dư, đầu bẩy, kẻ, trên các bức cốn…

Trang 39

Nếu kiến trúc chỉ phản ánh một giai đoạn phát triển của kỹ thuật xây dựng thì trang trí kiến trúc còn phản ánh tư tưởng xã hội và trình độ thẩm mỹ của thời đại đó Tuy nhiên những đặc trưng thời đại không phải là sự tách biệt độc lập mà có sự kế thừa nguồn mạch của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử Sự phát triển của điêu khắc kiến trúc đình làng là do nhu cầu phát triển hoàn thiện của đời sống văn hoá làng xã Việt Nam Hình thái kiến trúc đình làng, đời sống của ngôi đình là miếng đất làm nảy sinh nền điêu khắc đình làng với một tính chất riêng biệt trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam [36, tr 190] Sáng tạo nghệ thuật, những người thợ thủ công Việt Nam đã biết biến những đề tài phổ biến và quen thuộc trong trang trí kiến trúc như: Long, Ly, Quy, Phượng; hoặc là đề tài có sự kết hợp rồng mây, cá với nước, sen với rùa sử dụng hoa văn trang trí, hoặc chúng ta còn gặp hàng loạt đề tài về con người lao động với những sinh hoạt hội hè, đình đám của cuộc sống đời thường Đó là những cảnh đi cày, chặt củi, gánh con, bơi thuyền, làm xiếc, đuổi hổ, đấu vật, trai gái tự tình chúng được chạm trên kiến trúc để ca ngợi cộng đồng, cộng cảm mà các thành viên chủ nhân của ngôi đình đang mong muốn Chúng còn phản ánh những tư tưởng nhân ái, những ước mơ lành mạnh đầy tính lạc quan được thể hiện dưới các bố cục sinh động, những đường nét tươi mát và những khối hình chắc nịch khoẻ khoắn, đầy gợi cảm Chúng ca ngợi cái Chân, Thiện, Mỹ, nói lên những khát vọng của con người

về hạnh phúc lứa đôi, về tự do, bình đẳng, bác ái, làm thức dậy trong lòng người xem về những tình cảm tốt đẹp về con người, về cuộc sống ngày mai thanh bình và tự do lao động sáng tạo Hàng ngày, hàng giờ nó vẫn âm thầm giáo dục cho con em chúng ta những năng khiếu thẩm mỹ lành mạnh

Đối với đình Chí Linh, các mảng chạm trên kiến trúc với nội dung phong phú, sinh động và thông qua nghệ thuật điêu khắc ở mỗi cấu kiện không giống nhau, cho thấy rằng ngôi đình có nhiều hiệp thợ cùng tham gia vào việc xây dựng và trang trí, điều đó thể hiện đình là nơi kết tinh tài năng trí tuệ, nhân lực vật lực của nhân dân

Trang 40

2.1.4.1 Trang trí ở tòa Tiền tế

Trang trí kiến trúc ở đình Chí Linh tập trung chủ yếu ở gian Tiền tế, trong đó đề tài trang trí được thể hiện trên các bức cốn và trên các đầu dư, còn các đơn nguyên khác như Đại đình và Hậu cung các đề tài trang trí có rất ít Các đề tài trang trí ở Tiền tế được tạo tác với những đường nét hiện thực, và sắc sảo và thể hiện rất đa dạng với nhiều mảng chạm khác nhau, mang đặc điểm của phong cách tạo hình thời Nguyễn Dưới đây là phần mô tả một số đề tài trang trí tiêu biểu được lưu giữ trên các bộ vì kiến trúc của đình làng Chí Linh:

- Chạm khắc, trang trí trên các bộ vì nách

+ Bức cốn thứ nhất [xem ảnh 7, Phụ lục 2] : Bức cốn thể hiện đề tài

“Long quần”, đây là đề tài điêu khắc rất sinh động thể hiện được tài năng của người thợ làm ra tác phẩm này Trên cùng của bộ vì là hình ảnh chim phượng hoàng, mào dựng râu duỗi thẳng đang hướng bay về phía trung tâm Trung tâm của đề tài là hình ảnh hai con rồng uốn lượn trong mây với đặc điểm trán

dô, mũi sư tử, miệng rộng, mắt lồi to và tròn, răng nhe để lộ nanh vuốt Đao mác rồng với đặc điểm dày, nhọn và thẳng bay ngược ra phía sau Thân rồng dài và nhỏ, có nhiều đường cong uốn lượn vừa phải Phần chân rồng mang đặc điểm của chân cá sấu, có năm móng chim ưng sắc nhọn bám chặt vào các dải mây, phần đuôi rồng cuộn xoắn Bên cạnh đó chú Long Mã (đầu rồng thân ngựa) đôi chân duỗi căng thể hiện sự mạnh mẽ chạy lại cùng tụ đầu cùng với rồng cuộn Hình ảnh Long Mã là sự kết hợp độc đáo, ngựa là con vật quen thuộc với con người trong cuộc sống cũng như trong trận mạc Ngựa còn mang biểu tượng cho tính trung thành, sự dũng mãnh đồng thời là loài ăn cỏ, sống trên núi và uống nước suối thể hiện sự tinh khiết Còn rồng biểu trưng cho quyền lực và mang tính dương Long Mã là một con vật trong truyền thuyết tối cổ của nền văn minh Hoa Hạ - Trung Quốc, nhưng trên mảng chạm, người nghệ nhân đã khéo léo đưa hình tượng này vào kiến trúc đình làng và mang đậm tính dân gian Việt Nam

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1993), Việt Nam văn hóa sử cương, Nhà xuất bản T.p Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản T.p Hồ Chí Minh
Năm: 1993
2. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Năm: 2008
3. Trần Lâm Biền (2008), Đồ thờ trong di tích người Việt, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Năm: 2008
4. Trần Lâm Biền (2003), Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 2003
5. Trần Lâm Biền (1983), Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam vài vấn đề, 20 năm công tác nghiên cứu mỹ thuật (kỷ yếu hội nghị), Viện nghiên cứu mỹ thuật – Viện bảo tàng mỹ thuật xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam vài vấn đề
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Viện nghiên cứu mỹ thuật – Viện bảo tàng mỹ thuật
Năm: 1983
6. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Năm: 2005
7. Nguyễn Văn Cương (2000), “Về yếu tố đặc sắc của Đình làng Bắc Bộ”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về yếu tố đặc sắc của Đình làng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2000
8. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ Làng phép nước, Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ Làng phép nước
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nhà xuất bản Pháp lý
Năm: 1985
9. Trịnh Thị Minh Đức - Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức - Phạm Thu Hương
Năm: 2007
10. Luật di sản văn hóa (2001), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa
Tác giả: Luật di sản văn hóa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (2009), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa
Tác giả: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
12. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nhân Huệ (2000), Ban chấp hành Đảng bộ xã Nhân Huệ chủ biên và xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nhân Huệ (2000)
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nhân Huệ
Năm: 2000
13. Lịch sử Đảng bộ thị xã Chí Linh (2013), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xã Chí Linh
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ thị xã Chí Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
14. Lý lịch di tích đình Chí Linh (2008), Bảo tàng tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đình Chí Linh
Tác giả: Lý lịch di tích đình Chí Linh
Năm: 2008
15. Tài liệu Hán Nôm đình Chí Linh (2008), Bảo tàng tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hán Nôm đình Chí Linh
Tác giả: Tài liệu Hán Nôm đình Chí Linh
Năm: 2008
16. Hải Dương di tích và danh thắng tập I (1999), Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Dương di tích và danh thắng tập I
Tác giả: Hải Dương di tích và danh thắng tập I
Năm: 1999
17. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1996
18. Nguyễn Thị Huệ (2005), Lược sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam từ 1945 đến nay, Đại học văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2005
19. Nguyễn Hồng Kiên (1996), “Kiến trúc gỗ cổ truyền Việt Nam”, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc gỗ cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Kiên
Năm: 1996
20. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự (1998), Đình Việt Nam, Nhà xuất bản T.p Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự
Nhà XB: Nhà xuất bản T.p Hồ Chí Minh
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm