Theo Nguyễn Minh Châu thì Nguyên Hồng “Không nghiêng xuống những người nghèo khổ mà thương hại hoặc tô vẽ cho cuộc sống lao động cực nhọc một vẻ dịu dàng nên thơ, mà ông mô tả cho đến m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC…… ……….1
MỞ ĐẦU……….3
1 Lí do chọn đề tài……… 3
2 Lịch sử vấn đề……… 4
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu……… 9
4 Đóng góp của luận văn……… .10
5 Kết cấu của luận văn……… …11
Chương 1: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG – NHÌN TỪ NHÂN VẬT VÀ TƯ TƯỞNG 1.1 Từ quan điểm nghệ thuật đến thế giới nhân vật ……….……….12
1.1.1 Quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng……… …12
1.1.2 Nhìn chung về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng…… 15
1.2 Những nhân vật bị vùi dập “dưới đáy” của xã hội vẫn tỏa sáng sức sống tinh thần… 27
1.2.1 Những người lao động cùng khốn, lưu lạc với khát vọng hạnh phúc, lương thiện ……… 30
1.2.2 Những người trí thức bần cùng với vẻ đẹp của lương tri, nhân cách…… ….38
Chương 2: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG – NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC VÀ KĨ THUẬT TỰ SỰ 2.1 Tình huống thử thách nghiệt ngã……… ……… 47
2.1.1 Tình huống éo le, bi đát ……… ………….………48
2.1.2 Tình huống bất hạnh chồng chất ……….……….49
2.2 Câu chuyện, tình tiết cảm động……… ……….51
2.3 Kết cấu, chi tiết giàu sức khắc họa……… ………53
2.3.1 Kết cấu……….………… 53
2.3.2 Chi tiết……… ………….59
2.4 Điểm nhìn, ngôi kể, cách kể giàu tính nghệ thuật……… ….69
Trang 42.4.1 Điểm nhìn trần thuật khách quan………70
2.4.2 Điểm nhìn trần thuật chủ quan……… ……… 73
2.5 Không gian và thời gian nghệ thuật……….84
2.5.1 Không gian “dưới đáy” ……… … 84
2.5.2 Khoảnh khắc tâm tưởng……….………90
Chương 3: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG – NHÌN TỪ GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ 3.1 Giọng nồng nhiệt……… 96
3.1.1 Giọng điệu cảm thương thống thiết……… ……….97
3.1.2 Giọng điệu chiêm nghiệm xót xa……… … 103
3.1.3 Giọng điệu tự nhiên, hồn hậu……… 106
3.2 Ngôn ngữ “bình dân”……….109
3.2.1 Ngôn ngữ tả và kể bình dị, gợi cảm và giàu chất khẩu ngữ………….………110
3.2.2 Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại kịch tính theo lối “bình dân”……… ….118
3.2.3 Ngôn ngữ bộn bề chi tiết, ngồn ngộn chất sống……… 124
KẾT LUẬN……… ………132
PHỤ LỤC………… ……… 135
THƯ MỤC THAM KHẢO……… …… 137
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyên Hồng là một trong những nhà văn xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam Ông gặt hái được nhiều thành công không chỉ trong lĩnh vực tiểu thuyết mà còn ghi lại dấu ấn của mình ở thể loại hồi kí và truyện ngắn Đặc biệt, truyện ngắn của Nguyên Hồng tạo nên những ấn tượng sâu sắc với người đọc yêu mến nhà văn “mau nước mắt” này Tuy nhiên phải thừa nhận một điều, truyện ngắn của Nguyên Hồng còn là mảnh đất trống chưa được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học chú ý đến nhiều Vì vậy, thông qua luận văn này, tác giả thực hiện muốn cung cấp một cái nhìn tổng quát về đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng trên cơ sở phân tích, khảo sát các bình diện biểu hiện phong cách nghệ thuật của truyện ngắn Nguyên Hồng, từ đặc điểm nội dung đến hình thức
1.2 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn đã ghi dấu những điểm son chói lọi trong lịch sử văn học dân tộc Đây cũng là thời kì truyện ngắn phát triển đến độ rực
rỡ với khá nhiều tên tuổi trong làng hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,…Sự có mặt của Nguyên Hồng trong giai đoạn này góp thêm một âm sắc và thanh điệu rất riêng cho chốn văn đàn vốn đã nhộn nhịp màu sắc này Mỗi người một vẻ, nhưng có lẽ ít ai hồn nhiên được như Nguyên Hồng Ông sống hồn nhiên
và viết cũng thật hồn nhiên Văn ông là tinh tuý chắt lọc từ ngòi bút sắt chấm vào máu, mồ hôi và nước mắt của cuộc đời Đứng trước khối lượng tác phẩm đồ sộ của ông, đặc biệt là truyện ngắn tác giả luận văn không khỏi đặt ra cho mình nhiều suy nghĩ, bên cạnh sự thành công của thể loại tiểu thuyết, Nguyên Hồng đã ghi lại dấu ấn gì trong các tác phẩm truyện ngắn của mình Đâu là đặc trưng truyện ngắn của Nguyên Hồng; so với truyện ngắn của các cây bút cùng thời nó có những đóng góp nào đáng ghi nhận trong tiến trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam Những điều đó tạo nên hấp lực khoa học giúp người viết mạnh dạn thực hiện đề tài này
1.3 Trong nhà trường phổ thông, Nguyên Hồng cũng có tác phẩm được đưa vào chương trình dạy Ngữ Văn Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho tác giả luận văn có điều kiện để giảng dạy tốt hơn tác phẩm của ông
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Nguyên Hồng là một tác gia lớn của nền Văn học Việt Nam hiện đại Ông sáng tác trên nhiều lĩnh vực: tiểu thuyết, truyện ngắn, hồi kí và thơ, nhưng chủ yếu là tiểu thuyết và truyện ngắn Tính đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn này ở những phương diện khác nhau như: Cuộc đời, tác phẩm, thế giới quan, phương pháp sáng tác, thể loại, phong cách, những kỉ niệm riêng của người viết đối với nhà văn
Trước Cách Mạng tháng Tám, có nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan Từ sau năm
1954 và nhất là sau ngày Nguyên Hồng qua đời cho đến nay (02/5/1982), xuất hiện một loạt bài của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học, nhà văn, nhà thơ viết về Nguyên Hồng như Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đức Đàn, Chu Nga, Nguyễn Tuân, Kim Lân, Như Phong, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Huy Cận, Vũ Tú Nam, Linh Thi…
Những bài nghiên cứu có giá trị và gây tiếng vang là bài của các nhà nghiên cứu Phan
Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàn, Nguyễn Đăng Mạnh, Chu Nga, Nguyễn Minh Châu, Như Phong…Và gần đây nhất là Nguyễn Thành Thi với những bài viết của tác giả về Nguyên
Hồng và tác phẩm của ông in chung trong cuốn “Nguyên Hồng - Khổ đau và sáng tạo” Đây
được xem là một trong những cuốn sách hay trong nhà trường dành cho đối tượng là những người yêu thích văn Nguyên Hồng
Trong khuôn khổ của đề tài, người viết chỉ xin đề cập đến những ý kiến có liên quan đến nội dung và nghệ thuật truyện ngắn của Nguyên Hồng
1 Một số ý kiến nhận xét về nội dung truyện ngắn Nguyên Hồng
1.1 Một số ý kiến bàn về cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyên Hồng Cảm hứng là thái độ tình cảm nồng nhiệt, say đắm của nhà văn khi thể hiện tư tưởng của mình trong tác phẩm Ở những mức độ và hình thức khác nhau, đã có khá nhiều ý kiến bàn về cảm hứng chủ đạo của Nguyên Hồng
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “Nếu cần nói thật khái quát một cái gì chung nhất cho
mọi chủ đề tác phẩm của Nguyên Hồng thì đó là lòng nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo bao giờ cũng thống thiết mãnh liệt” [98,221]
Trang 7Phan Cự Đệ cũng nêu một nhận định tương tự “cảm hứng của nhà văn dường như bắt
nguồn từ một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc đối với lớp người cùng khổ Anh là một cây bút đôn hậu, luôn luôn hướng đến cái cao đẹp, trong sáng, niềm tin yêu thắm thiết” [25,22]
Phan Diễm Phương nói đến cảm hứng trong sáng tác của Nguyên Hồng là cảm hứng cần lao Bởi lẽ nhà văn bước vào con đường văn nghiệp của mình với ước nguyện cao quý:
“Tôi sẽ viết về những cảnh đời đau khổ, về sự áp bức, về những nỗi trái ngược bất công Tôi
sẽ đứng về những con người bị lầm than, đày đọa, bị lăng nhục Tôi sẽ vạch trần ra những vết thương xã hội , những việc làm bạo ngược lộng hành của xã hội bấy giờ Tôi sẽ chỉ biết
có ánh sáng” [116,222]
Như vậy, theo ý kiến của những nhà nghiên cứu thì cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyên Hồng đều xuất phát từ tư tưởng nhân đạo của nhà văn Đó là lòng yêu thương,
biết cảm thông, chia sẻ và rung động trước nỗi đau của con người bởi lẽ “Lòng yêu thương,
ưu ái đối với con người và thân phận của nó từ trước đến nay vẫn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà văn , nhà nghệ sĩ trong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật” [46,61] Năm 1942, Vũ
Ngọc Phan xuất bản cuốn Nhà văn hiện đại, giới thiệu 78 nhà văn Việt Nam Về Nguyên
Hồng, nhà phê bình họ Vũ đã đưa ra một nhận định khái quát: “Ở tập văn nào của Nguyên
Hồng cũng vậy, tư tưởng nhân từ, bác ái của tác giả bao giờ cũng tràn lan và chính đó là cái phần cốt yếu của nhà văn xã hội cầu mong ánh sáng” [122,1147]
Phan Cự Đệ trong giáo trình Văn học Việt Nam 1900 – 1945 (Nxb GD, Hà Nội 1998)
và lời giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983 đã cho rằng chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác của Nguyên Hồng kết hợp được truyền thống dân tộc và
hiện đại Đó là “chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc” “chủ nghĩa nhân đạo thức tỉnh” “chủ nghĩa
nhân đạo lạc quan”
Nói chung, những ý kiến về cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyên Hồng đều rất chính xác, thể hiện sự tận tâm và nghiêm túc của các nhà phê bình trong việc nghiên cứu
Trang 8Nguyễn Đức Đàn trong “Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam” đã nhận
xét “Nguyên Hồng có cái nhìn đồng cảm của các nhân vật bị tha hoá Sáng tác của Nguyên
Hồng thể hiện lý tưởng cách mạng và tinh thần lạc quan cách mạng, nhà văn gần gũi với cách mạng và đó chính là đóng góp lớn nhất của ông cho dòng văn học hiện thực phê phán”
[20, 64]
Nguyễn Minh Châu trong bài viết “Vô cùng thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng” đã
có những nhận xét đánh giá sâu sắc rõ ràng hơn khi ông so sánh quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng với quan điểm của Tự lực văn đoàn và một số nhà văn thuộc tầng lớp trí thức
tiểu tư sản cùng thời Theo Nguyễn Minh Châu thì Nguyên Hồng “Không nghiêng xuống
những người nghèo khổ mà thương hại hoặc tô vẽ cho cuộc sống lao động cực nhọc một vẻ dịu dàng nên thơ, mà ông mô tả cho đến mức đã đời, cho đến mức thỏa thê những nỗi cực khổ vô cùng, vô tận của những tầng lớp người “dưới đáy” đặc biệt là kiếp người bị xã hội thực dân phong kiến giày đạp tàn nhẫn và đẩy đến bức đường cùng” [98, 192].Chính vì vậy
mà “trong toàn bộ tác phẩm của đời văn Nguyên Hồng chúng ta bỗng thấy “ngổn ngang gò
đống kéo lên” biết bao nhiêu là hạng người là mẫu người của xã hội cũ” [98,194]
Nguyễn Đăng Mạnh là nhà nghiên cứu có nhiều đánh giá xác đáng: “Nhiều nhân vật
của Nguyên Hồng in đậm vào cảm quan người đọc như những con người có tầm vóc thật lớn không phải lớn về trí tuệ, tư tưởng về hành động cải tạo thế giới mà lớn về trái tim sục sôi mãnh liệt niềm tin yêu vô cùng đối với sự sống và lớn về sức gánh chịu phi thường những khổ đau oan trái ở đời” [98, 42]
Trong bài viết Nguyên Hồng – con người và sự nghiệp, Nguyễn Đăng Mạnh đã có sự
phân loại nhân vật có mặt trong tác phẩm của Nguyên Hồng và dành một số trang viết về
một số truyện ngắn đặc sắc của Nguyên Hồng như Người con gái, Những giọt sữa, …
Nguyễn Thành Thi trong bài viết Cốt cách Nguyên Hồng cũng đã đưa ra một nhận định về nhân vật trong tác phẩm của Nguyên Hồng “Chiếm quá nửa thế giới nhân vật trong
văn Nguyên Hồng là hình ảnh của những người “gánh chịu khổ nạn” này Họ là những nhân vật không những phải gánh chịu đủ thứ tai ách, khổ nạn đè nặng lên số phận của mình,
mà còn phải hứng chịu thay cho người khác”[150,17] và “các “nạn hữu” thân tình của những người “gánh khổ chịu nạn””[150,18]
Trang 9Những nhận định trên chủ yếu là những ý kiến về nhân vật trong tác phẩm của Nguyên Hồng nói chung, chưa phải là những nhận định riêng về nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng Tuy vậy, đây vẫn là những ý kiến có giá trị và đáng được tác giả luận văn lưu
ý đến trong quá trình làm việc của mình
2 Một số ý kiến nhận xét về đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyên Hồng
Sau 1954 và đặc biệt là sau khi Nguyên Hồng qua đời, xuất hiện thêm nhiều bài viết
về ông và tác phẩm của ông với nhiều nhận định về đặc điểm nghệ thuật trong tác phẩm nói chung và truyện ngắn của Nguyên Hồng nói riêng
Nguyễn Hoành Khung trong “Từ điển văn học” tập II đặc biệt lưu ý đến phong cách
và bút pháp “chân thực giản dị và thấm đượm trữ tình” của Nguyên Hồng
Nguyễn Minh Châu cũng đã nhận xét sinh động về phong cách nghệ thuật của
Nguyên Hồng “Nguyên Hồng viết văn như một ông lão thợ đấu cứ lễ mễ vác từng mảng thực
tế sự đời mà huỳnh huỵnh đắp lên mặt giấy” [98, 193]
Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài điếu văn “Nguyên Hồng sống mãi” đọc trong lễ an táng nhà văn đã khẳng định vị trí không thể thay thế của ông trong nền văn học nước nhà
Đồng thời, bài viết cũng đề cập đến văn phong của Nguyên Hồng: “Văn của Nguyên Hồng
là lối văn cuốn lòng người, giục con người đi tới, kéo người ta đi tới” [98, 128]
Với tác giả Linh Thi trong bài “Giọt lệ lớn và đoàn tàu chợ” đã có những nhận xét hết
sức tinh tế, chính xác và sinh động về cú pháp trong câu văn của Nguyên Hồng: “Đúng là
câu văn Nguyên Hồng lúc nào cũng như con cá đang thở gấp, lúc nào cũng quẫy cựa, phập phồng sự sống, lấp lánh sự sống” (…) “Câu văn Nguyên Hồng như một cái cây sum suê, lúc lỉu những thành phần như một đoàn tàu chợ” [115,97]
Bài viết của Phong Lê với tựa “Người và văn Nguyên Hồng” cũng có nhận xét rất
chính xác về văn phong của Nguyên Hồng: “Một phong cách giàu cảm xúc, một tình thương
vừa mênh mông vừa thấm thía đói với nhiều lớp người lao khổ, một bức tranh đời trước Cách mạng tháng Tám với bao nỗi xót xa cay đắng của con người, những tính cách nhân vật như muốn cưỡng lại số phận, một khát vọng hướng về cái thiện và do vậy mà hướng về cách mạng như một lẽ phải tự nhiên” [86,376]
Những ý kiến trên thường là nhận xét chung, mang tính khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, chứ chưa đi vào xem xét cụ thể về những sáng tác truyện ngắn của ông
Trang 10Trong số những nhà nghiên cứu quan tâm đến truyện ngắn Nguyên Hồng thì trước Cách mạng tháng Tám có Vũ Ngọc Phan, sau đó có Phan Cự Đệ và Nguyễn Đăng Mạnh được xem là những nhà phê bình có những đánh giá sâu sắc về văn phong truyện ngắn của Nguyên Hồng và đóng góp của ông trong nền văn học hiện đại
Từ trước Cách mạng tháng Tám, đáng lưu ý nhất là những nhận xét của nhà phê bình
văn học Vũ Ngọc Phan: “Ông tả những cảnh nghèo, cảnh khổ của mấy hạng người sống
ngoài rìa xã hội một cách bình tĩnh, không chen lấn lấy một lời bình phẩm, để mặc những việc ông tả tự gây lấy cho người đọc những cảnh tượng vui buồn, vì riêng những việc ấy cũng đã hùng hồn rồi” [115,63] Và “Những truyện ngắn của Nguyên Hồng phần nhiều pha một giọng phóng sự chua cay, kín đáo, phần nhiều dùng việc thay lời, nên nghệ thuật của ông thật là sâu sắc” [115,69] và đi từ nhận xét đó mà Vũ Ngọc Phan cho rằng “Nguyên Hồng đã không thành công trong khi viết những truyện tâm tình…Những truyện có tính cách tâm tình như Tội ác, Lớp học lẩn lút là những truyện nhạt nhẽo, kém xa những truyện khác”
[75, 44] Ông cho rằng trong những tập truyện ngắn của Nguyên Hồng thì có “hai truyện hay
tuyệt: Trong cảnh khốn cùng và Đây, bóng tối Hai truyện tả cái tình cảm của hạng nghèo mới đậm đà, sâu sắc và thiết tha làm sao” [75, 44]
Sau Cách mạng tháng Tám, Phan Cự Đệ trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983 cho rằng truyện ngắn có một vị trí quan trọng không kém gì tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng và hoàn toàn có thể nói
đến “Nguyên Hồng như một phong cách truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại” [48, 16], tuyển tập truyện ngắn của Nguyên Hồng “có giá trị với nhiều màu sắc độc đáo” Lời
giới thiệu của Phan Cự Đệ đã chỉ ra được những cái nổi bật đáng chú ý nhất trong nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà văn này
Trong lời giới thiệu của mình, Phan Cự Đệ có đề cập đến một vài khía cạnh trong
nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của Nguyên Hồng Về bút pháp: “Khá nhiều truyện ngắn
của Nguyên Hồng được viết với một bút pháp hiện thực tỉnh táo” [48, 16] nhưng “cũng có truyện tràn đầy một âm hưởng trữ tình lãng mạn…bắt nguồn từ cuộc sống cần lao của người dân Hải Phòng” [48, 17] Về kết cấu: Nguyên Hồng sử dụng “những thủ pháp nghệ thuật tương phản trong việc xây dựng kết cấu và hệ thống hình tượng” [48, 17] Bên cạnh
đó, Phan Cự Đệ còn so sánh giữa truyện ngắn Nguyên Hồng và truyện ngắn Thạch Lam và
Trang 11đưa ra một nhận xét rất xác đáng đối với tác phẩm của hai nhà văn này là “Nguyên Hồng
chưa có được cái tinh tế lắng sâu vào bên trong đó của bút pháp Thạch Lam Tuy nhiên truyện ngắn của anh lại có những âm thanh và màu sắc riêng…” [48, 29]
Trong giáo trình Văn học Việt Nam 1900 – 1945 (Nxb GD, Hà Nội 1998) ông cũng
đã nhận xét nhà văn Nguyên Hồng có phong cách “trữ tình lãng mạn”, “trữ tình sôi nổi”,
“Nguyên Hồng từ nhiều góc độ khác nhau soi sáng diện mạo nhân vật và phát hiện ra những
nét phong phú trong tâm hồn người dân nghèo thành thị” [30, 31]
Nói chung, những nhận xét của Phan Cự Đệ rất đáng lưu ý Đó là những cơ sở đầu tiên giúp tác giả luận văn có cái nhìn cơ bản, sơ lược về truyện ngắn Nguyên Hồng
Nguyễn Đăng Mạnh cũng khá chú ý đến truyện ngắn của Nguyên Hồng khi ông dành một số bài viết phân tích về nghệ thuật truyện ngắn Về cách xây dựng tình huống, tình tiết
trong các tác phẩm của Nguyên Hồng, Nguyễn Đăng Mạnh đánh giá: “Nguyên Hồng có
thiên hướng xây dựng (…) những tình huống dữ dội (…) phù hợp với giọng văn thống thiết của tâm hồn nồng nhiệt giải bày trực tiếp trên trang sách” [98,40]
Nguyễn Thành Thi trong bài viết Cốt cách Nguyên Hồng cũng đã chỉ ra những đặc điểm tạo nên lối văn “chân thực và rung cảm” của nhà văn này là “Phần lời dẫn (kể và miêu
tả) tiết tấu chậm vì thường đậm đặc, ngổn ngang chi tiết, yếu tố dư thừa…Phần lời thoại thường thiên về biểu cảm Trùng điệp, dày đặc các yếu tố, thủ pháp biểu cảm, cũng bằng độ
dư của ngôn ngữ”
Lịch sử vấn đề cho thấy, tất cả những nhận định đã kể trên tuy có những bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau về nội dung và hình thức của truyện ngắn Nguyên Hồng nhưng chỉ rải rác, tản mạn, chưa tập trung Về cơ bản vẫn chưa có một bài viết nào hay một công trình nghiên cứu nào coi truyện ngắn Nguyên Hồng là đối tượng chính để nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống Mặc dù vậy, các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu cũng đã gợi mở và là những ý kiến quý báu soi sáng cho tác giả luận văn trong quá trình thực hiện đề tài “Đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng”
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng mà luận văn hướng đến là đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng Luận văn khảo sát, xem xét một cách tương đối đầy đủ những biểu hiện nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyên Hồng, chủ yếu làm rõ chỗ đặc sắc, độc đáo trong phong cách sáng tác cũng như những đóng góp cụ thể của ông trên các bình diện này
Phạm vi khảo sát giới hạn cho luận văn là những sáng tác truyện ngắn in trong
“Tuyển tập Nguyên Hồng” tập 1, của NXB Văn học 8/1985 do GS Phan Cự Đề sưu tầm tuyển chọn và giới thiệu Và một số truyện ngắn khác in trong “Nguyên Hồng- những tác
phẩm tiêu biểu trước 1945” gồm một tập của NXB Giáo dục 2000, do TS Bạch Văn Hợp
sưu tầm tuyển chọn và giới thiệu (Danh mục các truyện ngắn này tác giả luận văn để ở phần phụ lục)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích ý nghĩa và đối tượng nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp khác nhau Trong đó, tác giả luận văn lấy phương pháp hệ thống làm cơ sở cho việc nghiên cứu
- Phương pháp loại hình: được sử dụng để phân loại đối tượng nghiên cứu (các nhân
tố làm nên đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng) một cách hệ thống
- Phương pháp hệ thống: Sự vật, hiện tượng bao giờ cũng tồn tại trong một hệ thống nhất định Các yếu tố chỉ có giá trị khi nằm trong hệ thống; không thể xem xét đánh giá tách rời, biệt lập các yếu tố khỏi hệ thống của nó Các nhân tố làm nên đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng cũng phải được nghiên cứu trong tính hệ thống như vậy
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để đặt truyện ngắn Nguyên Hồng trong hệ thống sáng tác chung của nhà văn Đồng thời, đặt nó bên cạnh truyện ngắn của một số tác giả khác cùng thời để khẳng định nét độc đáo, riêng biệt trong truyện ngắn Nguyên Hồng
Tất nhiên, các phương pháp nghiên cứu trên đây không phải được thực hiện riêng rẽ, biệt lập mà có sự phối hợp với nhau Để vận dụng các phương pháp trên tác giả luận văn cũng thường xuyên sử dụng các thao tác phân tích, so sánh tổng hợp, cũng như sử dụng thủ pháp thống kê khi cần
4 Đóng góp của luận văn
Trang 13Luận văn tập trung nghiên cứu truyện ngắn Nguyên Hồng nhằm:
- Phát hiện đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng
- Xem xét những đóng góp của nhà văn Nguyên Hồng trong quá trình phát triển văn học, đặc biệt là trong thể loại truyện ngắn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương như sau:
Chương 1: Đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng – nhìn từ nhân vật và tư tưởng tập
trung tìm hiểu đặc điểm nhân vật và tư tưởng trong truyện ngắn Nguyên Hồng
Chương 2: Đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng – nhìn từ phương thức và kĩ thuật tự
sự tập trung tìn hiểu đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyên Hồng như cách tạo tình
huống, chọn điểm nhìn vai kể, sử dụng chi tiết v.v
Chương 3: Đặc trưng truyện ngắn Nguyên Hồng – nhìn từ giọng điệu và ngôn ngữ tập trung tìm hiểu đặc điểm giọng điệu, ngôn ngữ trong truyện ngắn của nhà văn
Trang 14Chương 1 ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN NGUYÊN HỒNG
– NHÌN TỪ NHÂN VẬT VÀ TƯ TƯỞNG
1.1 Từ quan điểm nghệ thuật đến thế giới nhân vật
1.1.1 Quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng
Sinh ra trong nhung lụa nhưng lại lớn lên trong cảnh bần cùng, túng thiếu, cha nghiện ngập rồi mất sớm, mẹ phải xa nhà kiếm sống rồi đi bước nữa, cậu bé Hồng sống cùng bà và
em gái trong căn bếp bé xíu, chật chội của người cô giàu có nhưng độc ác, nanh nọc Ngay
từ tuổi còn cắp sách đến trường, Nguyên Hồng đã phải lặn lộn tự kiếm ăn bằng những “nghề nhỏ mọn”, phải trải nghiệm những ngày đói rét, lang thang, bị khinh miệt, dằn hắt bởi chính những người thân của mình Phải va chạm, tiếp xúc với đủ loại người, đã sớm hình thành nên trong tâm hồn cậu bé Hồng những ấn tượng khó phai về một lớp người trong xã hội Đó
là lớp người nhỏ bé, cùng cực, với những kiếp người lưu lạc, tha hương, lắng xuống “dưới đáy” xã hội bùn lầy Càng về sau Nguyên Hồng càng có cơ hội hiểu thêm về họ Năm mười sáu tuổi, rời bỏ quê hương Nam Định để đến thành phố Hải Phòng tìm đường sinh sống Tại đây, ông nhập hẳn vào cuộc sống của những người lao động nghèo khổ - những người “dưới đáy” của xã hội thị thành Thất nghiệp, phải lang thang khắp nơi cùng đói rét và cơ cực không làm nhà văn tuyệt vọng, chùn bước hay chúi gục xuống cái “vực thẳm” của xã hội bấy giờ Chính những lúc như vậy, tự trong tâm hồn và suy nghĩ của con người mạnh mẽ ấy
đã xác định: “Tôi phải có một công việc để những năng lực quý báu nhất của tôi được sử
dụng và nẩy nở, một công việc để tôi thể hiện những tình thương yêu tươi đẹp nhất của tâm hồn tôi Một công việc để tôi sống với cái lý tưởng mà tôi thấy rằng cao quý Một công việc
để tôi chống lại những điều bất công, xấu xa và độc ác Một công việc để tôi được gần gũi hơn, được nhập vào những con người, những lớp người đông đảo lao động, chịu thương chịu khó ở chung quanh tôi.” [59,13] Công việc ấy là viết Và Nguyên Hồng đã viết bằng tất
cả sức mạnh tiềm tàng ẩn sâu trong trái tim của một nhà văn hiện thực nhân đạo Những năm tháng Nguyên Hồng sống lẫn vào bùn đất lấm lem, cùng những con người nhỏ bé tưởng như
Trang 15rất tầm thường ấy đã vun đắp cho tâm hồn và ngòi bút sáng tạo của ông những trang văn thấm đẫm hiện thực và tinh thần nhân đạo, những trang văn không thể lẫn vào trang văn của bất kì một nhà văn hiện thực nào cùng giai đoạn với ông Và ông viết về họ với tất cả niềm tin yêu của một con người đối với đồng loại của mình
Nếu những tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng là kết quả của sự căm ghét, phẫn
nộ đến tột cùng cái xã hội “chó đểu”, thì ngược lại, nhà văn Nguyên Hồng lại đến với văn
chương bằng sự đôn hậu, hướng đến cái nhìn cao đẹp, trong sáng và tin yêu con người “Tôi
sẽ viết về những cảnh đói khổ, về những sự áp bức, về những nỗi trái ngược bất công Tôi sẽ đứng về những con người lầm than bị đọa đày, bị lăng nhục Tôi sẽ vạch trần những vết thương xã hội, những việc làm bạo ngược, lộng hành của xã hội bấy giờ Tôi sẽ gánh nhận trách nhiệm, chống đối cũng như bào chữa, bảo vệ Tôi chỉ có tiến bước, chỉ có đi thẳng Tôi chỉ có biết có ánh sáng và chính tôi là ánh sáng” [71,14] Viết “về những cảnh đói khổ,…”
là ý thức viết về cái gì? Còn “sẽ đứng về những con người lầm than bị đọa đày ” là viết
bằng thái độ nào? Đây chính là điểm cốt lõi để tạo nên nguồn cảm hứng nhân đạo “thống thiết” của nhà văn trong sự nghiệp viết văn của mình Và Nguyên Hồng đã hoàn toàn tin
tưởng vào sự lựa chọn của mình ngay từ những bước đi đầu tiên: “…ngay từ khi tôi mới viết
những truyện ngắn đầu tiên và chỉ là những truyện còn nằm trong bản thảo, tôi đã tin với một sức mạnh thật lạ lùng…Vì những cái tôi viết là những yêu thương nhất của tôi Vì những cái tôi viết đều cố gắng hết sức bắt nguồn từ những cảnh sống của con người, hướng
về con người, những cảnh sống và những con người lao khổ…” [71,14] Như vậy, bằng
chính những trải nghiệm của cuộc đời mình, nhà văn đã lựa chọn cho mình một mục đích sáng tác, một đối tượng sáng tác và khẳng định giữ vững con đường nghệ thuật ấy, đó là trở thành nhà văn của “những người cùng khổ”
Chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi nhà văn phải có một cái nhìn hiện thực Cái nhìn ấy phải luôn thâu tóm những gì thuộc về bản chất, quy luật của đời sống hiện thực Đồng thời phải
lý giải, cắt nghĩa các hiện tượng, các vấn đề của đời sống trên cơ sở hoàn cảnh, tính cách và
số phận con người Có thể nói, ngay từ buổi đầu sáng tác những vầng sáng lung linh, choáng ngợp của Thế Lữ, Lư Trọng Lư, V.Hugo, A Musset…cộng với cảm hứng thiết tha và hưng phấn mãnh liệt của mình, Nguyên Hồng có thể để ngòi bút của ông nghiêng về chủ nghĩa lãng mạn Nhưng cuộc đời vất vả, cực nhọc và tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con
Trang 16người cùng nhu cầu nói lên thật sâu sắc những nỗi thống khổ của loài người đã giúp ngòi bút của ông ngày càng cắm sâu vào mảnh đất của chủ nghĩa hiện thực
“Trước hết tôi không được viết về những truyện tình yêu phù phiếm bợm bãi, những
truyện mơn trớn khêu gợi những tình cảm thấp hèn, những truyện để mua vui, để chiều ý, để cấu lấy chút khen ngợi hay sự nhắc nhở của bọn vô công rỗi nghề phè phởn, khô khan, trơ trẽn – cái bọn nhà giàu có sang trọng gọi là thượng lưu xã hội lúc bấy giờ
…
Như vậy thì trên cái võ đài văn chương nghệ thuật kia, tôi không thể chỉ nên bắt chước những ngòi bút mẫu mực có tiếng tăm của thứ văn chương thời thượng , mà ngay cả những ngòi bút cùng một khuynh hướng với tôi đã đi trước tôi, mớ đường cho tôi, kích động tôi, tôi cũng không phải là nô lệ, không là một cái bóng của sự phỏng cóp ” [71,10]
Như vậy, con đường được ngòi bút Nguyên Hồng hướng đến là con đường đầy chông gai, vất vả của chủ nghĩa hiện thực phê phán Từ con đường đó, đối tượng cho ngòi bút của ông chính là hiện thực cuộc sống, là con người từ trong cuộc đời bước vào trang văn ông với đầy đủ đặc điểm tính cách, số phận của mình
Cũng giống như những nhà văn hiện thực khác, đối tượng mà trang văn Nguyên
Hồng hướng tới là “những cảnh đói khổ”, “những sự áp bức”, “những nỗi trái ngược bất
công”, “những con người lầm than bị đày đọa, lăng nhục”,…nhưng không hoàn toàn giống
những nhà văn hiện thực bấy giờ, Nguyên Hồng ý thức được rằng ông không là nô lệ, phỏng cóp của các nhà văn trước đó mà ông phải có một hướng đi riêng Do vậy, nếu ở các nhà văn cùng khuynh hướng với ông trước đó như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, hầu như chủ yếu họ xuất phát từ sự phẫn nộ, muốn lên án quyết liệt bọn địa chủ, tư sản, quan lại cùng những tệ nạn trong xã hội thực dân phong kiến đương thời thì Nguyên Hồng, bằng tấm lòng nhân đạo tha thiết, bằng rung động sâu sắc và mãnh liệt của trái tim yêu đời, ông đã viết những trang văn, những tác phẩm cất lên những tiếng kêu thương về cuộc đời, về số phận, nỗi bất hạnh chất chồng của những con người cùng khổ Điều đặc biệt là ông viết về họ với một niềm tin mãnh liệt vào sức sống tiềm tàng, dù bị vùi dập “dưới đáy” xã hội vẫn tỏa sáng sức sống tinh thần, dù nghèo đói, cùng khốn, lưu lạc tha hương vẫn chung thuỷ với khát vọng hạnh phúc, lương thiện và đâu đó có hình bóng của những người trí thức bần cùng vẫn toát lên vẻ đẹp của lương tri, nhân cách
Trang 17Trong các nhà văn hiện thực ở nước ta thì Nguyên Hồng là người hết sức nâng niu, trân trọng những người lao động nghèo khổ và có một niềm tin mãnh liệt vào họ Theo quan niệm của giai cấp bóc lột thì những con người nghèo khổ ấy thuộc tầng lớp hạ lưu và đáng khinh miệt Nhưng Nguyên Hồng kế thừa được tiếng nói lành mạnh của văn học dân gian, phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp ở những người lao động nghèo khổ, tạo nên đối tượng thẫm mỹ thật sự Đó là kết quả của một xu hướng tiếp cận, khám phá hiện thực đồng thời cũng là biểu hiện của một cách nhìn xuất phát từ chỗ đứng của người trong cuộc và một quan niệm mỹ học tiến bộ của Nguyên Hồng Trong truyện ngắn “Lớp học lẩn lút” Nguyên Hồng đã từ
nhân vật của mình để thể hiện suy nghĩ của ông “Cái thế giới dưới mái lá đen cặn này! Cái
thế giới bé nhỏ quá, hèn mọn quá nhưng ngày càng chồi thêm những tình cảm đẹp đẽ”
[63,149] Hay trong truyện ngắn “Hai dòng sữa”, Nguyên Hồng đã thông qua suy nghĩ của
nhân vật Huyên khi chứng kiến cảnh sống nghèo nàn nhưng vui vẻ, đầm ấm của những con
người cần lao để nói lên quan điểm của mình về nghệ thuật và con người “những con người
kia, Huyên phải mãi mãi đứng bên tay trái họ, cảm thông tận tâm hồn với họ mọi sự khổ đau vui tươi; mong ước và tin tưởng Đời Huyên bắt vào đời họ như rễ cây tơ bám riết lấy lòng đất, càng sâu bao nhiêu càng vững chắc bấy nhiêu, nảy nở bấy nhiêu với những mỡ màu không bao giờ cạn Một phần ý nghĩa gần nhất của sự sống là ở đó.”[63,341]
Xuất phát từ trải nghiệm hoàn cảnh cá nhân, từ tấm lòng nhân đạo sâu sắc, từ hiện thực cuộc sống bao trùm bởi cái đói, cái nghèo, cái bất công trong xã hội Nguyên Hồng đã lựa chọn cho mình một quan điểm nghệ thuật tiến bộ và dành trọn đời văn của mình để thực hiện tuyên ngôn nghệ thuật ấy Với 64 tuổi đời và ngót 50 năm cầm bút, với sức lao động miệt mài, bền bỉ ông đã để lại cho nền văn xuôi Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị, đặc biệt trong những thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và hồi kí
1.1.2 Nhìn chung về thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng
Nhân vật là hình thức cơ bản để nhà văn miêu tả thế giới một cách hình tượng Nhân vật được xây dựng nhằm thể hiện quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống Qua hệ thống nhân vật và những biến cố mà nhân vật đang trải nghiệm người đọc cũng sẽ nhận ra bóng dáng của một thời kì lịch sử nhất định nào đó
Nhân vật có chức năng khái quát những quy luật cuộc sống tác động đến con người
và là sự thể hiện những hiểu biết, mong ước về con người, nên mọi nhà văn đều sáng tạo
Trang 18nhân vật theo cách thức của riêng mình Như vậy, mỗi nhà văn có một hệ thống nhân vật khác nhau
Đến với truyện ngắn Nguyên Hồng, hệ thống nhân vật góp mặt trong đó hầu hết là những con người có vị trí “dưới đáy” cùng xã hội Không khoa trương, không tô điểm, Nguyên Hồng để cho nhân vật của mình hồn nhiên sống, hồn nhiên bày tỏ để người đọc tự cảm nhận một cách thấm thía nỗi khổ đau, tủi cực của thân phận làm người trong xã hội thực dân phong kiến “thối nát, bùn lầy”
Truyện ngắn của Nguyên Hồng dù là sáng tác trước hay sau Cách mạng tháng Tám đều có sự thống nhất về nội dung và hình thức Một số truyện viết sau cách mạng mang tính chất luận đề, thể hiện niềm tin vào ánh sáng của đấu tranh cách mạng Nhân vật của ông trước cách mạng thường là tầng lớp lao động nghèo “dưới đáy” của xã hội thành thị, chủ yếu
là thành phố Hải Phòng Đó là những kẻ lưu manh, trộm cướp, sống ngoài vòng pháp luật; là ông lão ăn mày mù loà sống vất vưởng nơi vườn hoa cổng chợ; là những dân nghèo thành thị kiếm ăn bằng nghề buôn bán vặt; là những phu phen thợ thuyền của các nhà máy phải bán sức lao động làm những công việc nặng nhọc nhưng suốt đời vẫn đói nghèo; là những người trí thức tiểu tư sản nghèo,…Sau cách mạng, hệ thống nhân vật được mở rộng thêm những tầng lớp ông chủ, bà chủ của chế độ thực dân tư sản với cả một bộ máy cai trị và hệ thống tay sai của chúng, những nhân vật thuộc tầng lớp trung gian: viên chức, trí thức, văn nghệ sĩ, nhân vật chiến sĩ cộng sản ,…Nhưng nhìn chung, dù trước hay sau cách mạng, những nhân vật thuộc lớp người khốn khổ, mạt hạng nhất của xã hội, đặc biệt là nhân vật phụ nữ và trẻ em, những người phải chịu nhiều tầng áp bức, bóc lột nhất trong xã hội cũ vẫn
là đối tượng chính được tác giả dành cho những trang viết thấm đẫm tinh thần yêu thương và
sự cảm thông sâu sắc
Nếu như trong thể loại tiểu thuyết, nhân vật chủ yếu được chia làm hai loại: thứ nhất
đó là những người lao động cùng khổ của thành phố cảng và loại còn lại là những ông chủ,
bà chủ của xã hội và bọn tay sai của chúng thì trong truyện ngắn người đọc sẽ không thấy rõ nét bóng dáng của loại nhân vật thứ hai này Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng chủ yếu là những con người nhỏ bé, những kiếp sống lưu lạc, bất hạnh nhưng giàu sức sống tinh thần Lớp nhân vật ấy tạo thành điểm sáng rõ nét trong nhiều truyện ngắn
Trang 19của ông Và chính đặc điểm này làm nên sự riêng biệt đặc sắc của truyện ngắn Nguyên Hồng
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng có thể chia làm ba loại:
Một là đám người lưu manh thành thị sống ngoài vòng luật pháp
Hai là cái đám người nghèo khổ trong cái thế giới cần lao đang thoi thóp những hơi thở tàn dưới đáy sâu của xã hội thị thành
Ba là tầng lớp trí thức nghèo luôn ý thức về cuộc sống và giá trị nhân cách của bản thân
1.1.2.1 Đối với loại nhân vật thứ nhất, nhân vật lưu manh, xuất hiện tập trung ở các
tập truyện ngắn như Bảy Hựu, Chín Huyền Viết về những tay anh chị, kiếm miếng ăn ngoài vòng pháp luật, Nguyên Hồng tỏ ra am tường về họ Điều này còn thể hiện rất rõ trong “Bỉ
vỏ”- tiểu thuyết đầu tay của ông Nếu như ở tiểu thuyết, ông đi sâu vào lí giải nguyên nhân
đã đẩy họ đi vào con đường trộm cắp, bất lương và sẵn sàng mở rộng trái tim mình cảm thông cho họ, thì trong truyện ngắn ông thường chỉ miêu tả, phản ảnh một mặt, một khía cạnh nào đó về những con người này Xã hội nhìn họ với ánh mắt khinh bỉ và e sợ, trong tác phẩm của mình, Nguyên Hồng lại nhìn họ, mô tả họ rất say sưa và nhận ra vẫn còn có những con người, dẫu phải sống trong môi trường vô giáo dục, phi nhân tính nhưng ở đáy sâu tâm
hồn nhân vật vẫn giữ lại được một cái gì đó rất người Như cậu bé Điều (Con chó vàng),
trước cái cảnh ông lão ăn xin khóc lóc, vật vã bên xác con chó vàng đã bị thuốc chết, Điều quăng trả lại cái bị cho ông lão và ôm mặt khóc Hoặc đó có thể là những nhân vật mang một tính cách của những con người nghĩa khí, làm những việc nghĩa hiệp trong những tình huống trớ trêu Như nhân vật Bảy Hựu, theo anh là Hai răng vàng tham gia vào thế giới của “yêu” của “bỉ” từ nhỏ, lớn lên vẫn cái nghề trộm cướp mà nuôi sống và kiếm thuốc cho anh mình Sau bữa tiệc ăn thề của các “anh hùng hảo hớn”, họ chạm trán bọn Hiển độc long, yếu thế Hai răng vàng bỏ chạy, nhớ tới đĩa máu ăn thề Bảy Hựu đã lao đến dùng dao đâm Hiển độc long, không đâm được mà ngược lại con dao trong tay cô đã đâm ngược vào ngực Bảy Hựu,
cái nhìn cuối cùng của Bảy là cái nhìn “chua chát theo bóng Hai và các bạn đồng nghệ lẩn
lút, chạy trốn trong đám đông người” [70,162] Hay hành động vị tha của Chín Huyền (Chín Huyền) cắt dây trói giải thoát cho Sáu lẹm cằm, bạn thân của chồng mình, một kẻ trộm cướp
lưu manh vừa sa lưới pháp luật mà không nghĩ đến hậu quả ghê gớm của việc mình làm
Trang 20Viết về nhân vật lưu manh và cho họ một vị trí trong tác phẩm của mình, đây chính là tinh thần nhân đạo to lớn của Nguyên Hồng Qua cách nhìn của nhà văn thì họ là vừa là nạn nhân đáng thương của cái xã hội thực dân phong kiến thối nát, chỉ chuyên đào tạo ra quỷ dữ, vừa
là những con người đáng giận Bởi lẽ bên cạnh những người vì hoàn cảnh, vì số phận xô đẩy khiến họ phải rơi vào con đường lưu manh hoá thì vẫn còn những kẻ chỉ quen ăn chơi truỵ lạc, sống phóng đãng, lười biếng, thích chém giết để chứng tỏ khí phách “anh hùng”của
mình Truyện ngắn Bảy Hựu tề tựu khá nhiều tay anh chị trong giới giang hồ Nào là Hai
răng vàng, Ba đen, Tư chơi, Hai béo, Hàn dám má, Sửu nháy,…Mỗi kẻ một lý lịch, một danh xưng, một bảng thành tích bất hảo tương xứng và đều có chung một tính cách ngông cuồng “ăn to nói lớn” để chứng tỏ mình
Nói chung, loại nhân vật này chỉ xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyên Hồng giai đoạn đầu Có lẽ lớp nhân vật này như chút dư âm về những ngày thơ ấu lang thang, vất vưởng, đã in sâu vào trí óc của Nguyên Hồng khiến ông khi đặt bút là muốn viết ngay về họ Lớp nhân vật này xuất hiện trong một vài truyện ngắn của Nguyên Hồng và sau này tề tựu
đủ mặt trong Bỉ vỏ Điều làm chúng ta suy nghĩ không phải ở chỗ nhà văn đã miêu tả như thế
nào về cái thế giới của những nhân vật lưu manh mà là nhà văn với tấm lòng nhân đạo của mình đã nhận ra ngay ở trong tầng lớp cặn bã nhất, chỉ biết có chém giết, lừa bịp vẫn ánh lên những tia sáng tâm hồn, vẫn còn lòng yêu thương chung thuỷ, lòng hy sinh dám xả thân vì một nghĩa cử, dám sống chết để bảo vệ đồng đội và nhất là đâu đó trong một vài truyện ngắn
và tiểu thuyết “Bỉ vỏ” vẫn thấp thoáng khát vọng muốn thoát khỏi cuộc đời tội lỗi của mình
và ước mơ về một hạnh phúc gia đình dựa trên cuộc đời lương thiện Đọc những truyện ngắn viết về những nhân vật lưu manh, người đọc thấy được tội ác của họ, thấy được sự tha hoá đến tột cùng của họ nhưng cũng không khỏi mủi lòng thương xót cho những kiếp người bị
xã hội tăm tối, độc ác nhấn chìm vào vũng bùn tội lỗi và ngụp lặn trong đấy cơ hồ không thể ngoi lên được
Những truyện ngắn viết về đối tượng này không nhiều, chỉ có 3 trong số hơn 33 truyện ngắn được khảo sát, chiếm tỉ lệ 8,8%, một con số rất nhỏ và ít ỏi Hơn nữa, những truyện này lại nằm trong giai đoạn sáng tác đầu tay của tác giả, đôi khi không tránh được cái nhìn còn chưa sâu sắc Tuy vậy, nó cũng cho người đọc thấy được phần nào bộ mặt thật cái thế giới trộm cắp, lưu manh khuất lấp trong bóng tối bao trùm của xã hội thực dân phong
Trang 21kiến và cho thấy được niềm tin của nhà văn vào lương tri con người dù họ đang sống trong hoàn cảnh như thế nào Xuất hiện dù rải rác trong truyện ngắn nhưng đây được xem như cơ
sở để những nhân vật này “tề tựu đông đủ” và rõ nét hơn trong những trang tiểu thuyết sau này của Nguyên Hồng
1.1.2.2 Ở những giai đoạn sáng tác sau, xuất hiện một lớp nhân vật khác đông hơn,
phổ biến hơn Họ mới chính là đối tượng được nói đến, có mặt nhiều nhất trong truyện ngắn của Nguyên Hồng nói riêng và toàn bộ tác phẩm của Nguyên Hồng nói chung Xét riêng về truyện ngắn, trong 33 truyện tác giả luận văn lựa chọn khảo sát thì có đến 23 tác phẩm xem lớp nhân vật này là đối tượng chính, chiếm 67,6 %
Họ có mặt trong truyện ngắn của ông tạo nên một thế giới nhân vật rất riêng của Nguyên Hồng và ông luôn nói đến họ với lòng biết ơn tình nghĩa, với sự gắn bó trọn đời thuỷ chung nên những trang văn dành cho họ thật thống thiết, cảm thương Họ là lớp dân nghèo thành thị - những con người cùng đinh trong xã hội thiếu tình người
Đó là những thợ thuyền, những người làm các nghề phu phen, tạp dịch nặng nề như
vợ chồng lão Đen (Bố con lão Đen), Nhân (Đây bóng tối), Mão chột, mụ Mão (Người mẹ
không con), vợ chồng người phu làm đường (Hai dòng sữa), những người công nhân tham
gia đình công (Người đàn bà Tàu), và những nhân vật không tên (Một trưa nắng) Những
con người đầu tắt mặt tối kiếm cơm ăn áo mặc dựa trên vốn tự có là đôi vai sương tấy vì mang vác nặng nề và hai bàn tay chai sần bưng bê, nhặt nhạnh đủ thứ trên đời
Vợ chồng lão Đen (Cha con lão Đen) là những con người chăm chỉ, đặc biệt là mụ vợ
“tay mụ làm, hàm mụ nhai…Hết bến tàu xi măng, cốt phát lại Sáu kho máy tơ …Trừ những khi sinh nở phải nghỉ dăm bữa nửa tháng, còn quanh năm suốt tháng đều có mặt mụ ở những nơi đó Đun goòng, cầm bò, khuân vác, mưa, nắng, giời rét chết cò, mụ chẳng từ một buổi nào hay một việc gì tuy nhiều người đàn ông đã đã phải chùn lại” [63,200] Mụ và lão
Đen lấy nhau chẳng cưới xin gì, cũng sống với nhau như vợ chồng, cũng có mấy mặt con ra
đó, lắm phen mụ cũng dắt con bỏ đi vì cái tính vũ phu của chồng nhưng rồi dăm bữa nửa tháng người ta lại thấy mụ đưa con về, lại sống, lại đẻ, lại cãi nhau, lại chịu những trận đòn thừa sống thiếu chết của lão chồng nghiện ngập Thật ra lão Đen cũng không phải là người xấu xa gì, chỉ tại lão phẫn chí, làm mãi mà vẫn chẳng thoát được cái nghèo cứ đeo bám vợ chồng lão, rồi chán, rồi sinh tật đánh vợ cho đỡ cái nhục ăn bám vào công sức tiền nong của
Trang 22vợ mình Nhân (Đây bóng tối) cũng làm cái công việc của một người phu khuân vác trước khi gặp lại Mũn Cuộc đời của một người làm phu “trong tám năm lầm than lam lũ, tay làm
chẳng đủ hàm nhai, Nhân sống khổ sở vì cô độc, vì thiếu thốn quá”, cơ cực “là bao phen không có tiền thuê một chỗ nằm, Nhân đành ngả lưng vạ vật ở những bờ hè, xó cửa hay ở dưới gầm cầu, hay ở bãi sông”[63,193] Cho đến khi gặp lại Mũn, xây dựng gia đình cùng
Mũn, dù chẳng giàu sang nhưng cũng đã biết được cái cảm giác ấm áp của ngọn lửa gia đình, có vợ có con Sau cái chết đột ngột của Mũn, cuộc đời Nhân thật sự chìm hẳn vào bóng tối, cũng chẳng còn đôi mắt, chẳng còn đủ sức để làm cái nghề khuân vác nữa, cha con Nhân đành lê la trên mặt đất, ăn mày tình thương của mọi người Cuộc sống của vợ chồng Mão
chột cũng chẳng hơn gì Nhân, “…cả hai đều có mặt trong cái đám phu phen thợ thuyền ấy
Chồng thì khuân sắt, hay vác các hòm đinh thiếc cho sở, vợ thì đẩy xe chuyển các thứ ấy đến kho”[48, 245] Cuộc đời cứ thế xoay vòng, công việc thì vất vả, cực nhọc mà lúc có lúc
không “Liên miên như thế hàng bao nhiêu năm, dù mưa nắng, bão rét, mụ Mão cũng chẳng
dám ngại ngùng chán nản, mà chỉ những lúc nghỉ lâu không có việc làm phải ở nhà là đáng
sợ, buồn bã đứng ngồi không yên”[63,245]
Cuộc sống của vợ chồng lão Đen, của Nhân, của vợ chồng Mão Chột hay vợ chồng người phu làm đường là điển hình cho cuộc sống của những con người lam lũ, bần hàn đang hằng ngày quẩn quanh các nhà máy, xí nghiệp với bộ dạng lấm lem, “cóc cáy” Cơ cực đấy, vất vả đấy những cũng không làm sao thoát khỏi cái nghèo cứ đeo đẳng mãi, nhấn chìm con người ta vào bóng tối, đẩy người ta đến chỗ phẫn uất, rồi sinh ra lắm thứ tệ nạn như rượu chè, cờ bạc, hất hủi những thứ tình cảm đáng quý xung quanh mình Tối tăm và đau khổ là cái mà họ nhận được từ cuộc sống Những nhân vật này xuất hiện hầu hết trong những truyện ngắn của Nguyên Hồng, lúc là nhân vật chính, có khi chỉ là những kẻ qua đường, nhưng dù được phản ảnh, miêu tả ở góc cạnh nào đi nữa cuộc đời của họ vẫn cho người đọc thấy được cái hiện thực xã hội độc ác với bóng dáng vô hình của những kẻ “uống máu người không gớm”, bóc lột tàn ác đày con người đi đến tột cùng của bất hạnh và đói nghèo Có mặt trong truyện ngắn và đến tiểu thuyết, họ trở thành một tầng lớp nhân vật đông đúc nhất và có
ý nghĩa to lớn trong việc trở thành những người đi đầu trong hoạt động cách mạng, giải phóng con người
Trang 23Bên cạnh những người dân phu phen lấm lem bùn đất, xỉ than, dầu máy là những người đàn bà nghèo khổ, kiếm ăn bằng buôn bán, từ buôn lậu đầy bất trắc nguy hiểm như chị
Cu Năng (Sông máu) đến buôn thúng bán bưng nơi đầu đường xó chợ hay hàng cơm hàng
nước, suốt đời tần tảo nuôi chồng – con – em bằng sức lao động của mình như bác Nấu gái
(Nhà bố Nấu), Vịnh (Hàng cơm đêm), Mợ Du (Mợ Du), Mũn (Đây bóng tối), Lệ Hà, người thím (Người con gái)
Đọc “Sông máu” người đọc không khỏi rùng mình trước cái cảnh một người đàn bà yếu đuối vật lộn cùng sóng to gió cả trên một cái đò con cũ kĩ “Cái đò mảnh dẻ của chị trên
lớp sóng cuồn cuộn trắng xoá chồm lên chồm xuống, thi chạy với hết luồng gió này tới luồng gió khác Chị phải hết sức giữ chặt bánh lái Vì hễ để nhích quá về bên trái hay bên phải vài gang tay thì đó sẽ đâm ngang dòng nước Cánh buồm không kịp xoay chiều, tức khắc vặn mình đi.” [70,539] Truyện kể về cái gia đình nhỏ sống dựa vào nghề đưa đò chở hàng lậu,
kiếm sống bằng cái nghề nguy hiểm đánh đổi bằng tính mạng con người, hậu quả là trong một lần chở hàng bị nhà Đoan truy đuổi anh Năng đã chết Chị Năng còn biết làm gì hơn khi cuộc đời chị chỉ còn lại vỏn vẹn bốn đứa con thơ dại, quấn trong mớ quần áo rách bươm và căn lều cũ nát không trụ cột gia đình Anh Năng chết, nguồn động viên khích lệ tinh thần chị, chỗ dựa vững vàng cho chị và những đứa con đã mất, chị Năng buộc phải tiếp tục cái công việc đáng sợ, sẵn sàng cướp đi sinh mạng của chị để kiếm những đồng tiềm còm cỏi trang trải nợ nần và nuôi sống con Cuối cùng, chị cũng quyết tâm bỏ hẳn cái nghề bạc bẽo này, để tránh cho những đứa con chị cái bất hạnh mất mẹ, mất cha Không làm công việc
nguy hiểm như vợ chồng chị Năng, nhà bác Nấu làm đủ thứ nghề Bác Nấu trai thì biết “làm
phở, kem, bánh cuốn, đổ bún, bánh bao, lục tàu xá, cháo gà, kẹo kéo Có ai thuê bác còn làm cả thợ nề, xe, vườn Sẵn có sức khoẻ và chẳng bao giờ dám ngại ngùng việc gì, bác làm cho ai mướn bác cũng vừa lòng, cũng tin cậy.”[70,215] Bác Nấu gái thì khác hẳn những
người đàn bà trong xóm, “ít điều, ít lời, lúc nào cũng tươi cười Không bao giờ bác chịu bỏ
một buổi chợ Từ rá xôi, nồi ngô bung đến mẹt bún, bác Nấu gái biết ế cũng cứ làm Bác say
mê buôn bán đến nỗi quên cả ăn cả ngủ Và bác còn bỏ cả ăn, ngủ vì nợ”[70,215] Những
món nợ cứ quẩn quanh, giằng xé cuộc đời của những con người lao khổ khiến cho họ dù có làm cả đời cũng không lúc nào có thể ngóc đầu lên được Cứ trông cái cảnh nhà bác Nấu thì người đọc cũng hiểu, chỉ với bốn hào nữa là nhà bác cũng có một chỗ ở đường hoàng như
Trang 24bao nhà khác, bốn hào giá trị chỉ “mua một thỏi son bằng đầu ngón tay, hay một điếu thuốc
hút vài phút đã hết, hay một ly rượu thơm không đủ súc miệng mà bao kẻ không hề nghĩ tới”
[70,214] nhưng số tiền đó đối với gia đình bác lại có “một giá trị sinh mệnh một con người
sống trong cảnh sống suốt đời đầy những khó khăn thiếu thốn với hai bàn tay trắng”
Vịnh cũng “đều ở nhà, làm lụng quần quật chờ một ngày kia về làm dâu con một gia đình
mà cha mẹ kén chọn để rồi cũng lại đầu tắt mặt tối.” [70,207] Hoàn cảnh của Vịnh vẫn còn
hơn Lệ Hà (Người con gái), sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, cùng em trai sống nhờ vào gia đình
người chú ruột Cúi mặt làm đủ mọi công việc lớn nhỏ trong nhà Người chú lầm lì thương cháu nhưng đành bất lực, người thím cay nghiệt, mỉa mai, dằn hắt khiến người con gái ấy trở nên rụt rè, nhút nhát, sợ sệt Hình ảnh của người thím cũng là cuộc đời chung của những người đàn bà tần tảo, một nắng hai sương, làm lụng cả đời cũng không khá lên được, dù hết việc này đến việc kia, lâu dần trở nên bẳn gắt, nói nhiều
Nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng ngoài gánh nặng gia đình đè xuống đôi vai nhỏ bé thì những hủ tục, lễ giáo phong kiến cũng chất thêm cho họ những nỗi đau tinh thần, ràng buộc họ trong những đạo lí tầm thường, đày ải họ đến những bước đường
cùng, phải xa con, dứt tình mẫu tử thiêng liêng Đó là những người đàn bà như mợ Du (Mợ
Du), chót “vi phạm” vào cái gọi là “tam tòng tứ đức” của lễ giáo phong kiến phi nhân để
chạy theo tiếng gọi của con tim Họ phải bỏ quê đi tha phương cầu thực, chịu sự rẻ rúng, khinh miệt của người đời và cả những người thân trong gia đình Đến cả tình mẫu tử thiêng liêng họ cũng phải lén lút, vụng trộm, không được tự do yêu thương chăm sóc cái hình hài máu mủ mà mình rứt ruột đẻ ra, cuối cùng là chết trong cô đơn, nghèo khó, không một người
thân bên cạnh Hay như mụ Mão trong truyện Người mẹ không con lại gặp bất hạnh không
có khả năng sinh nở Hai đời chồng thì cả hai đều đánh đập, hành hạ, xua đuổi chỉ vì tội “vô sinh”, khiến cho mụ phải dằn vặt, đau đớn trước cảnh ngộ đời mình Không có khả năng làm
mẹ nhưng không vì thế mà mụ Mão không có những thiên tính cần có của một người mẹ
Trang 25Mụ yêu tha thiết những đứa con của Ký Phát, và đổi lại chúng cũng xem mụ như mẹ ruột của mình Mất chồng mụ không tiếc, chỉ tiếc không được tiếp tục làm mẹ của những đứa trẻ
mồ côi ấy Mãi đến ngày Ký Phát chết, Mão chột bỏ đi, mụ mới thỏa cái ao ước “Bốn đứa
con mồ côi bố mẹ của Ký Phát, nguồn hy vọng và niềm vui độc nhất của mụ Mão trong cuộc đời cô độc chỉ còn hai bàn tay trắng” [70,254]
Phụ nữ và trẻ em là hai đối tượng được đề cập nhiều nhất trong truyện ngắn của Nguyên Hồng, bởi lẽ trong cái xã hội ô tạp ấy họ là những người phải chịu nhiều đau khổ, chịu nhiều thiệt thòi và không có khả năng tự bảo vệ mình Chính vì thế số phận của họ là niềm quan tâm sâu sắc của nhà văn Truyện ngắn Nguyên Hồng xuất hiện những em bé nhà nghèo, sống vất vưởng nơi vườn hoa, cổng chợ, không chỉ đói ăn, thiếu mặc mà còn thiếu cả
tình thương như: Thạo bé (Giọt máu), Tý, Sáu Điều (Con chó vàng), những em bé sống bằng nghề lang thang, làm xiếc rong như Nhân, thằng bé người Trung Quốc (Hai nhà nghề)
Thạo bé là một đứa trẻ đáng thương “Trước ánh lửa bếp lom nhom và ánh đèn tù mù,
sắc mặt Thạo bé càng xạm thêm, ngây dại và cô độc hơn Con bé ấy gắp rau, húp nước dưa
và nhất là xới cơm đều rón rén như sợ rằng nó không được phép ăn những thứ quý báu lắm ấy.” [63,349] Nó có một mái nhà che nắng che mưa, có cha có mẹ, nhưng điều đó chưa đủ
để bồi đắp nên cái thế giới tâm hồn ngây thơ của nó, nó khổ sở vì không đủ lớn như đứa chị
để theo mẹ đi chợ, không còn nhỏ như đứa em để có thể ăn no nê mà không phải làm gì cả Cái biến cố lớn xảy đến làm rung động lòng người đọc chính là cái ngày mụ chủ nhà bẻ
nghiến những cái bắp “Cả buổi chiều hôm ấy, chẳng nón áo gì, Thạo bé cứ luẩn quẩn hết
gốc ngô này sang gốc ngô khác, chắp chắp nối nối và khóc Nó khóc chỉ có tiếng nức nở chứ không thấy nước mắt Nước mắt của nó bị nhoà hẳn dưới những trận mưa đổ rào rào xuống người nó run cầm cập và xám ngắt.” [63,360] Câu chuyện khiến người đọc không khỏi xót
xa và căm phẫn cái kẻ đã gây tổn thương cho một đứa bé không có khả năng chống đỡ Dẫu xót xa là vậy nhưng cuộc đời của Thạo bé vẫn còn niềm hy vọng, không phải cô độc, ngơ ngác trong xã hội chật vật, bon chen tìm miếng ăn qua ngày như một số đứa trẻ có mặt trong những truyện ngắn khác của Nguyên Hồng Không có được một mái nhà, không có cha có
mẹ, cuộc đời là một con số không tròn trĩnh, chúng sống dật dờ nơi vườn hoa, cổng chợ,
nhiễm những thói xấu xa của bọn người lưu manh thành thị Tý và Sáu Điều (Con chó vàng)
là hai trong số những đứa trẻ đó Chúng rình mò, phát hiện ra số tiền dành dụm của ông lão
Trang 26ăn mày Không làm sao lại gần được ông lão bởi bên cạnh ông là con chó vàng rất dữ tợn Chúng bày mưu đánh bả con chó để dễ bề hành động, vậy mà đến lúc lấy được cái bị đựng tiền, chứng kiến cảnh ông lão khóc ngất vì mất con vật thân yêu của mình, chúng lại động lòng thương, ném trả ông cái bị tiền và ôm mặt khóc
Nhỏ nhoi hơn trong cái thế giới bộn bề những con người cùng khổ ấy còn phải kể đến
nhân vật ăn mày như ông lão (Con chó Vàng), cha con Nhân (Đây bóng tối) và cả những người tù đàn bà, trẻ con (Tết của tù đàn bà) Nguyên Hồng viết hai truyện ngắn đầu tiên thì
cả hai đều viết về số phận bi thảm của tù đàn bà Một già, một trẻ, kết thúc đều là cái chết Làm một người bình thường với chút “tự do” trong cái xã hội “chó đẻ” đã khổ cực lắm rồi, huống gì là những con người không có được tự do, phải chịu sự kìm kẹp, đe nẹt, cưỡng ép, tra xét, bóc lột bởi những “con chó dữ” của nhà tù thực dân Cái chết là một tất yếu và xem như đó là sự giải thoát cho họ khỏi cái địa ngục trần gian ấy Làm đàn bà thôi đã khổ, lại là
tù nhân còn khổ gấp mười lần, trăm lần, mà cái tội họ mang nào phải do họ gây ra “những
tội mà họ nhận thấy chính là của các kẻ ăn sung mặc sướng bằng mồ hôi, nước mắt của họ suốt một đời” [63,139] Đáng thương nhất là những người có con nhỏ, họ phải mang theo
chúng vào tù, chăm sóc chúng trong cảnh eo hẹp và khốn khó, cơm tù làm sao đủ tạo ra sữa cho những đứa trẻ ấy, mớ quần áo rách rưới làm sao ủ ấm chúng qua những đợt rét ghê người khiến cho tiếng khóc của chúng cứ vang lên, nhức buốt cả lòng người, xoáy vào tâm can, làm thổn thức những trái tim biết rung cảm yêu thương Ngòi bút Nguyên Hồng cứ thế phơi bày ra cho người đọc thấy hết cái khốn khổ, khốn cùng nhất của lớp người “dưới đáy”
xã hội, đồng thời thông qua số phận của những con người đó mà phản ảnh hiện thực cuộc sống cũng như lên tiếng tố cáo cái bộ mặt thật tàn ác của những kẻ cầm quyền, những kẻ thượng lưu, những kẻ luôn mồm ra rả “luân thường đạo lí” ở đời
1.1.2.3 Ngòi bút nhân đạo của nhà văn không dừng lại ở đó, với sự quan sát tỉ mỉ và
trung thực, Nguyên Hồng nhận ra không chỉ có những con người ít học hành, không chữ nghĩa làm vốn liếng bước vào đời mới cơ cực như đám dân nghèo, phu phen thợ thuyền kia,
mà cả những người trí thức nghèo cũng nằm trong cái đám người bần cùng, khốn khổ nọ Vì thế trong truyện ngắn Nguyên Hồng, có thêm loại nhân vật thứ ba, họ là những nghệ sĩ, trí thức thuộc tầng lớp tiểu tư sản nghèo Ở mức độ khác nhau, loại nhân vật này đều mang bóng dáng của bản thân tác giả Tuy nhiên, lớp người trí thức nghèo xuất hiện không nhiều
Trang 27trong truyện ngắn của Nguyên Hồng, chỉ có 5/33 truyện, chiếm 14,7% Dường như họ không hẳn là đối tượng chính nằm trong sự quan tâm của ông mà thường thông qua những nhân vật
đó Nguyên Hồng muốn nêu lên một vấn đề hay thể hiện một luận đề nào đó
Huyên trong Hai dòng sữa lớn lên không mục đích, không chí hướng phấn đấu “Cuộc
đời lúc đó dễ dàng quá trước mắt Huyên, Huyên muốn làm đâu chả được Huyên đang trai tráng lo gì không bay nhẩy xa Và đàn giỏi, bạn nhiều…Huyên thiếu gì sự giúp đỡ…”
[63,337] Nhưng rồi cái gì đến cũng đã đến “Cuộc làm ăn mỗi ngày một gay go, người ta
phải trầy trật mới kiếm được đồng tiền, sự dễ dãi và lòng tin cậy hẹp lại, Huyên đã phải nhiều lúc bàng hoàng rồi cau trán lại, rùng rợn những cảnh khổ lăm le lôi cuốn Huyên”
Huyên bắt đầu nhận ra cái thứ âm nhạc của mình chỉ là thứ âm nhạc “phóng đãng, truỵ lạc
những thứ linh hồn ốm yếu, sống những cuộc đời chết mà vẫn tưởng là cao trọng, vẫn ca tụng thêu dệt bằng chữ vàng”[63,338] Lần trú mưa trong cái lán nhỏ của những người phu
làm đường đã giúp Huyên nhận ra nhiều thứ Sự gần gụi, chân thành của những con người cần lao đã sưởi ấm trái tim Huyên, khiến cho nó đập những nhịp đập tin tưởng về một ngày mai anh sẽ sống làm người có ích, trước hết là cho cuộc đời anh và sau là cho cái thế giới đầy đau khổ này Thông qua nhân vật Huyên, tác giả cũng lên tiếng phê phán gay gắt thứ văn chương và âm nhạc phóng đãng truỵ lạc của những linh hồn ốm yếu và khẳng định một nền âm nhạc chân chính phải là thấm đẫm mồ hôi nước mắt của quần chúng lao động Nhân
vật nhà văn trong Một trưa nắng cũng thể hiện một luận đề của tác giả về văn học: văn học phải có trách nhiệm viết về những con người lam lũ thất nghiệp, phải nói lên được “những
đau buồn, thương xót, mừng vui, khao khát, mong ước và tin tưởng” của đại chúng, phải
“tìm thấy một con đường, một chân trời êm mát tươi tốt qua những ngày mưa dầu nắng lửa”
[63,286] Đồng thời qua đó cũng cho người đọc thấy được cái hiện thực xã hội trần trụi bóp nghẹt cuộc sống con người, khiến con người đi từ chỗ bần cùng, thiếu đói đến chỗ có những
cử chỉ, hành vi tha hoá và điều quan trọng là họ lại ý thức được sự xuống dốc của mình
Nhân vật Hưng trong truyện “Miếng bánh” đã phải trải qua những ăn năn, day dứt đến đau
đớn của thân phận người trí thức tiểu tư sản nghèo khi ý thức được sự tha hoá của bản thân Hưng là một viên chức nghèo, thất nghiệp, đi kiếm việc làm Nhà hết tiền, người vợ phải ra tiệm cần đồ vay lãi một đồng bạc lấy tiền cho anh ra tỉnh Vì nghĩ đến trách nhiệm làm chồng, làm cha trong cái gia đình đang bị cái đói hành hạ, Hưng phải đắn đo, tính toán đi
Trang 28bằng xe ca hay xe buýt để đỡ tốn tiền Nhưng rồi anh đã bị cái đói khuất phục và quên mất trách nhiệm ấy Hưng lấy hai hào mua bánh rồi vòng ra sau chợ ăn một cách lén lút, vụng
trộm để rồi “miệng Hưng tan hết những vị ngọt, bùi, chỉ thấy tức và đắng ở góc hai hàm
răng xuống suốt tới cuống họng…Qua những cái nghẹn cuồn cuộn trong người Hưng có một thứ gì mặn chát và tanh như máu giàn ra Cổ họng và ruột gan Hưng bị xoắn lại…Tâm trí Hưng nức nở…” Cũng là mang thân phận người trí thức trong cảnh cùng đường xuống dốc,
nhưng sự bệ rạc của Lưu (Lúc chiều xuống) lại cho người đọc thấy một mặt khác của vấn đề
con người tha hoá Lưu cũng là một viên chức nghèo, vừa xin vào làm thư kí cho một nhà máy sợi đã gặp và yêu ngay người con gái đứng ở máy guồng Vốn xuất thân trong một gia đình mấy đời giàu sang, hiển hách, anh em lại làm ăn gặp thời nên nhà Lưu chỉ muốn chọn cho Lưu một chỗ khá giả để gây dựng vợ chồng, thế nhưng Lưu cãi lại lời bố mẹ, lấy vợ Lưu bây giờ Vốn chỉ có trong tay cái bằng sơ học, lại luôn ôm ấp trong mình cái mộng ảo rằng
“Một sự tình cờ của số Lưu sẽ đưa đến cho Lưu tiền tiêu thừa mứa mà chẳng phải tí lấm láp,
khó nhọc …”[63,315] Khi có tiền thì sắm sửa, ăn chơi, không chấp nhận cho vợ mình đi
làm hay buôn bán, hết tiền lại tìm về xin xỏ mẹ Lần này cùng đường, Lưu phải đem bán dần những quyển sách học, tiểu thuyết để ăn qua ngày Nhưng sự xấu hổ, ngượng ngùng khiến Lưu đã bỏ về mà không cần biết những ngày tiếp theo vợ chồng sẽ sống bằng cái gì Chỉ có
vợ Lưu là quyết tâm dứt bỏ cái yêu cầu vô lý của chồng để tìm cho mình một công việc nuôi sống mình và không phải hổ thẹn trước sự khinh bỉ của nhà chồng Qua nhân vật Huyên, Lưu, nhà văn muốn cho người đọc thấy được luôn tồn tại trong xã hội một số người mang tâm lí tiểu tư sản, sống không mục đích, không lý tưởng, chỉ quen dựa dẫm, ỷ lại vào người khác và cũng có người sớm thức tỉnh như Huyên hoặc cũng có thể lún chìm, xuống hẳn như Lưu
Ngược lại với lớp thanh niên có tri thức nhưng không xác định được đường đi cũng
như mục đích đời mình thì hình ảnh của nhân vật Tâm trong truyện ngắn Lớp học lẩn lút lại
mang đến cho người đọc một niềm tin vào những con người dù phải đối diện với hoàn cảnh khó khăn, vất vả như thế nào đi nữa cũng không mất đi niềm tin vào cuộc sống, dưới cái mái
lá đen cặn ấy vẫn có những tình cảm tốt đẹp chồi lên từng ngày Tâm sống cùng mẹ và hai người em trong một căn nhà tồi tàn chật hẹp Cái lớp học nhỏ bé của anh chỉ có mười sáu đứa trẻ, lén lút tồn tại trong căn hẻm nơi nhà anh ở Có thêm học trò, Tâm phải đi mượn
Trang 29thêm bàn, sắp xếp lại chỗ ngồi cho chúng Vừa sắp đặt Tâm vừa nhen nhóm trong đầu những
ý nghĩ tươi sáng, có thêm tiền sẽ mua thêm sách, mua chiếc đồng báo thức và cân vài ấm thuốc để bồi dưỡng Bao nhiêu là ý tưởng tốt đẹp dâng trong lòng anh, vậy mà một thoáng
nghĩ đến sự “lẩn lút”, dạy học không giấy phép của mình đã khiến “ý nghĩ tăm tối ấy lại
quắp chặt lấy trí não Tâm”, “sự hứng khởi ban nãy đến giờ thật tắt hẳn, sự tê tái ran hơn mãi lên khắp trong lòng Tâm Cái lớp học lẩn lút lại đầy những vẻ thảm hại trước mắt Tâm thẫn thờ…” [63,151] Tâm sống có lí tưởng, có khát khao được cống hiến nhưng hiện thực
bày ra trước mắt lại bóp nghẹt ước mơ đó của Tâm Tâm còn quá trẻ, lại không có đủ tiền để
mở trường dạy học, cái lớp học trốn thuế diễn ra trong sự phập phồng của Tâm và mẹ anh khiến anh không sao vui sướng được nữa Cảnh ngộ của Tâm cũng là cảnh chung của rất nhiều trí thức lúc bấy giờ Những quy tắc pháp lí hà khắc cùng cái nghèo, cái khó đeo đẳng chôn vùi quyền sống, quyền tự do thực hiện ước mơ của con người
Việc phân chia thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng cũng chỉ mang tính chất tương đối, bởi lẽ luôn có sự đan xen giữa các lớp nhân vật trong cùng một tác phẩm
Chẳng hạn, trong truyện ngắn Con chó vàng, Tý và Sáu Điều vừa thuộc lớp người lưu manh,
trộm cắp, vừa thuộc lớp nhân vật cùng đinh, khốn khổ, những em bé phải kiếm ăn bằng
những nghề vặt vãnh Hay Hai dòng sữa vừa có nhân vật người trí thức nghèo vừa có những
người dân nghèo thành thị Số lượng những truyện ngắn viết về cả hai, ba loại nhân vật có khoảng 13 truyện, chiếm 38,2% Nói chung, thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng là cái thế giới đầy ắp những con người đang sống trong cảnh tù túng, khốn cùng Đói nghèo như cái lưới sắt bao vây lấy cuộc đời họ không cho họ có thể ngóc đầu dậy mà vẫy vùng, đẩy họ rơi vào những hoàn cảnh ngặt nghèo để họ dần đi vào con đường bần cùng, lưu manh hoá Mặc dù thế, sức sống tinh thần của họ là cái mà nhà văn cảm nhận, nó vẫn tồn tại một cách mãnh liệt, dai dẳng, toả sáng cho dù hiện thực có cố gắng vùi dập, bôi đen
1.2 Nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng – Thế giới của những con người
bị vùi dập “dưới đáy” của xã hội vẫn tỏa sáng sức sống tinh thần
Tình trạng tha hoá nơi con người là một hiện tượng có thật trong hiện thực xã hội thực dân phong kiến và nó là một hệ quả tất yếu của chính sách bần cùng hoá của thực dân Pháp cùng những thủ đoạn áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị đối với nhân dân Dưới ngòi bút của các nhà văn hiện thực, hiện tượng này trở thành một đề tài lớn trong nhiều sáng tác
Trang 30có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật với sự góp mặt của nhiều nhà văn nổi tiếng như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng…
Trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng có cả một hệ thống tổ chức và một quần thể nhân vật rơi vào tình trạng tha hoá Họ bị tước đoạt cái bản chất người vốn có và sống với bản năng thấp hèn Có những kẻ bị mất hết nhân cách, bị biến dạng trước sự quyến rũ ghê người
của đồng tiền như cô Mịch, như vợ chồng Đồ Uẩn (Giông Tố) Có những kẻ bị bào mòn, phá huỷ nhân cách bởi nạn cờ bạc, bịp bợm (Cạm bẫy người), bởi nghèo đói, cùng đường (Cơm
thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây) Nói chung, nhân vật của Vũ Trọng Phụng một khi đã rơi vào
tha hoá là không còn điểm dừng nào để quay đầu trở lại Đối với ông cái nguyên nhân khiến cho con người trở nên tha hoá không phải là do xã hội mà xuất phát từ bản chất của con
người “loài người chỉ là một lũ ăn cắp, hiếp dâm” (Giông Tố) Điều này thể hiện phần nào
hạn chế của Vũ Trọng Phụng trong việc nhìn nhận thực tế xã hội
Một nhà văn nữa có nhiều tác phẩm nói đến tình trạng tha hoá của con người phải kể đến là Nam Cao Con người tha hoá được phản ảnh trong sáng tác của ông dưới nhiều góc cạnh và nhiều tuyến nhân vật Có những kẻ đã thật sự đi vào con đường tha hoá như Chí
Phèo, Năm Thọ, Binh Chức (Chí Phèo) Lại có những kẻ đang trên quá trình tha hóa mà không tự ý thức được mình như anh cu Lộ (Tư cách mõ), gã đàn ông (Trẻ con không được
ăn thịt chó), bà cái Tý (Một bữa no) Và trong tác phẩm của Nam Cao có thêm một loại nhân
vật mới, đó là những người ý thức được sự tha hóa của mình nhưng không có cách nào thoát
ra khỏi tình trạng tha hoá như Điền (Trăng sáng), Hộ (Đời thừa), Thứ (Sống mòn) Cái nhìn
của Nam Cao về nhân vật của mình cũng như cách ông lí giải về nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa của con người có phần tiến bộ hơn so với Vũ Trọng Phụng Theo Nam Cao, sở dĩ con người không giữ được cái tính “người” của mình mà rơi vào tình trạng tha hóa là do bị hoàn cảnh không cho con người quyền lựa chọn, cái đói, cái nghèo, cái nợ áo cơm ghì sát con người xuống mặt đất, mỗi lần muốn ngóc đầu lên lại bị vùi xuống sâu hơn Điều quan trọng
là những nhân vật tha hoá của Nam Cao lại thể hiện rõ niềm tin của nhà văn về con người ngay cả khi họ bị hoàn cảnh làm cho méo mó, dị dạng cả về thể xác và linh hồn Tuy nhiên, cái nhìn đó của nhà văn theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu thì nó vẫn còn điểm hạn chế, đó là sự bi quan Nhân vật trong tác phẩm của ông dù có trăn trở, suy tư, gắng gượng
Trang 31vẫy vùng đến thế nào đi chăng nữa rồi cũng không thoát ra được sự vây bủa của cái hoàn cảnh trớ trêu
Hoàn toàn khác với quan niệm của Vũ Trọng Phụng, không thật giống với cái nhìn của Nam Cao, những nhân vật của Nguyên Hồng có khả năng tự vệ và sức đề kháng mạnh
mẽ để chống trả lại tình trạng tha hoá nhằm khẳng định bản chất người của mình và luôn khao khát vươn lên một cuộc sống tốt đẹp hơn Cái ánh sáng của niềm tin về một ngày mai không bao giờ lụi tắt trong tâm hồn nhân vật Phải chăng ánh sáng ấy được thắp lên từ chính trái tim nồng nhiệt yêu thương con người và cuộc sống của nhà văn, đã chắp cánh cho nhân vật của mình để họ dẫu có đang chập chựng đi vào con đường tha hóa cũng sớm ý thức được
mà quẫy đạp trở về giữ cái thiên lương trong sáng và nhân cách cao đẹp của chức phận làm người
Từ một vị trí tầm thường nhất trong xã hội, “con người nhỏ bé” bước chân vào từng trang truyện ngắn của Nguyên Hồng Những ngày lang thang kiếm việc nơi chợ người đã
giúp Nguyên Hồng thu vào tầm mắt mình cái thế giới nhân vật tưởng như chỉ là “vũng nước
đen sì, ngập ngụa phân tro” ấy và tinh tế để nhận ra đằng sau cái vẻ bề ngoài sần sùi, thô
nháp là ẩn hiện những khoảng sáng tâm hồn người Cái tâm và ngòi bút của một nhà văn hiện thực như ông không thể nào làm ngơ được, bằng rung cảm mãnh liệt của một trái tim con người nhân hậu, dào dạt yêu thương, sục sôi niềm sống, ông nhận ra rằng cái thế giới cùng khốn với những con người cùng khổ ấy chưa bao giờ mất đi niềm tin vào cuộc sống Niềm tin của họ là niềm tin được thắp sáng trong trái tim của nhà văn Họ là những con người không chịu khuất phục trước thực tại cuộc sống, không vì thế mà đánh mất nhân phẩm của mình Bên trong những con người có cái vẻ cộc cằn, thô lỗ, với hình thức “xù xì, lem luốc” là những tâm hồn cao đẹp, đáng quý, là những niềm khao khát vươn tới ánh sáng, những mong muốn có một sự đổi thay, một sự chuyển biến mạnh mẽ nhằm tạo ra một cuộc sống công bằng hơn, tốt đẹp hơn, là tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những người cùng khổ, là lòng chung thuỷ và lòng hy sinh cho hạnh phúc của người khác,… Nhưng điều đáng làm người đọc suy nghĩ trân trọng nhà văn là một thái độ tin yêu, cảm thông với kiếp sống nghèo của “những người khốn khổ”, là sự xót thương cho những kiếp người bị xã hội độc ác nhấn chìm vào vũng bùn tội lỗi, không thể nào ngoi lên được, là sự khám phá nâng niu “từng tia sáng nhân đạo, phần lương tâm còn lại dưới đáy sâu tâm hồn họ” Chính vì cảm
Trang 32hứng đó mà ngòi bút Nguyên Hồng vừa mang tính hiện thực vừa thấm đượm chất trữ tình Đôi lúc không chiến thắng được tình cảm đang trào dâng mãnh liệt, nhà văn đã thiếu tỉnh táo
để những dòng cảm xúc của mình bộc lộ trên trang viết - người đọc dễ dàng bắt gặp những dòng trữ tình ngoại đề đan xen dày đặc mạch kể của nhà văn Dẫu biết Nguyên Hồng không phải lúc nào cũng có được cái tỉnh táo sắc sảo như một số nhà văn của trào lưu hiện thực khi
phản ảnh xã hội, “nhưng đối với một nhà văn hiện thực lớn không phải chỉ cần một trí tuệ
sắc sảo mà còn phải có một trái tim lớn, một lòng yêu thương vô hạn đối với con người Đấy
là mặt mạnh của Nguyên Hồng và Ngô Tất Tố so với các nhà văn khác cùng thời” [116,
115] Khẳng định con người không bị tha hoá về bản chất và có khả năng vươn lên ánh sáng của cuộc đời mới trong hoàn cảnh đen tối, chứng tỏ Nguyên Hồng đã có một cái nhìn lãng mạn, trong sáng, tích cực về con người Cơ sở của cái nhìn ấy chính là tấm lòng tin yêu mãnh liệt của nhà văn đối với con người mà trước hết là những người cùng khổ
Nổi lên trong truyện ngắn Nguyên Hồng là hai nhóm nhân vật Một là những người người lao động cùng khốn, lưu lạc với khát vọng hạnh phúc, lương thiện Hai là những người trí thức bần cùng hiện lên với vẻ đẹp của lương tri, nhân cách
1.2.1 Những người lao động cùng khốn, lưu lạc với khát vọng hạnh phúc, lương thiện
Nhà văn Nam Cao đã từng nói đại ý: “Hạnh phúc như một cái chăn hẹp, người này
kéo thì người kia phải hở” Nếu như hạnh phúc đúng chỉ là cái chăn hẹp thì những nhân vật
trong truyện ngắn Nguyên Hồng phải co kéo rất nhiều để có thể ghé một chút người vào tấm chăn cỏn con, bé nhỏ ấy Và có rất nhiều người suốt cả cuộc đời mình, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi cũng chưa biết đến cái cảm giác được hạnh phúc như thế nào Vì thế, xét cho cùng thì mọi sự cố gắng, đấu tranh của nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng đều hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn với khát vọng về một hạnh phúc có thực trong cuộc đời Và hạnh phúc ấy phải được xây đắp nên từ sự lương thiện, chân chính, từ mồ hôi, nước mắt và máu thịt
Một mái ấm gia đình là ước mơ về một hạnh phúc bình thường, giản dị nhất của những con người lao động trong cảnh khốn cùng Lưu lạc, tha hương, dắt díu, nhau qua những miền quê cỗi cằn, trở thành dân nghèo thành thị, họ chỉ muốn đắp xây cái gia đình nhỏ của mình một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc Khát vọng ấy được Nguyên Hồng thể hiện
Trang 33rất rõ qua hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của ông Họ là hiện thân của sự yên
ấm, vững bền, của sự sống còn, thành bại Họ là điểm tựa, là chỗ dựa vật chất lẫn tinh thần nâng đỡ những nóc nhà xiêu vẹo trụ lại với những “cơn bão cuộc đời” Nói đến họ là nói đến sức gánh chịu phi thường, đức hy sinh xả kỷ kỳ lạ Sức mạnh tinh thần ấy có lẽ bắt nguồn từ trái tim rộng lớn bao la của họ Truyện ngắn Nguyên Hồng nói riêng và tác phẩm của ông nói chung đều là những bài ca về trái tim lớn của người phụ nữ lao động, của những bà mẹ, những người vợ nghèo khổ mà đầy nội lực tinh thần Họ không có những chiến công hiển hách, vĩ đại Họ chỉ âm thầm làm những công việc nhỏ mọn hằng ngày mà không ai biết đến
nó đòi hỏi ở họ biết bao sự hy sinh bền bỉ, biết bao đau đớn về thể xác và tinh thần Đáng thương nhất là gần như những trụ cột gia đình lại rơi hoàn toàn vào tay người đàn bà, để cho
họ mặc sức xoay sở, chạy vạy, đầu tắt mặt tối để lo cho chu toàn cuộc sống vốn dĩ đã cùng cực của mình
Nhân vật Mũn (Đây bóng tối) là hình ảnh của một người vợ, người mẹ hết lòng vì
chồng vì con, nàng đã có thể chọn cho mình một cuộc đời khác nếu như không gắn đời nàng vào đời Nhân, nàng cũng có thể trở nên cáu gắt, dằn hắt bởi có những ngày bán buôn bị bắt nạt, bị o ép Nhưng không, Mũn vẫn hiền hoà với cái vẻ chịu thương chịu khó, nhẫn nhục, cam chịu chỉ miễn sao cho Nhân và lũ con được vui vẻ, no đủ mà thôi Mũn đã phải chịu
nhiều ức hiếp, vẫn không một tiếng kêu ca, phàn nàn, “nàng như một tấm lá chắn đỡ lấy
trăm nghìn mũi tên sắc nhọn để che chở cho chồng con được vẹn toàn” [63,73] “Từ ngày Nhân mù, gia đình Nhân không kém vẻ hòa thuận ấm cúng mà còn vui vẻ êm đềm hơn”
[48,72] Vượt qua khó khăn này, khó khăn khác lại đến Hạnh phúc chỉ còn là trong quá khứ,
trong trí nhớ của Nhân về những ngày được “quây quần trên chiếc phản gỗ rộng mà vui
cười bên tiếng quấy bột rì rì lẫn tiếng than củi nổ lép bép và tiếng nói nựng con ngộ nghĩnh của một người đàn bà” Mũn chết, cả cuộc đời làm vợ, làm mẹ chưa lúc nào được vui chơi,
được hưởng cái nhàn tản, yên ấm Cuộc đời của Mũn là cuộc đời lặng lẽ của biết bao người phụ nữ hết lòng vì chồng, vì con, vì miếng cơm manh áo của gia đình mà phải cực nhục trăm
bề Trái tim nhà văn cũng như tan chảy ra hoà vào dòng nước mắt nghẹn ngào của Nhân và đàn con thơ dại
Sự tảo tần, lo lắng cho gia đình của Mũn cũng là nỗi lo chung của bao nhiêu người đàn bà khác để giữ cho cái gia đình nhỏ của mình không sụp đổ trong nanh vuốt của đói
Trang 34nghèo Vợ Hưng (Miếng bánh) được tác giả gọi bằng một đại từ trung tính, vô cảm là y,
nhưng thật ra có bao xót thương, trân trọng đã đặt cả vào nhân vật này Dường như đó trở
thành hình mẫu chung của những người phụ nữ giai đoạn này “Cuộc đời, thân thể, sự sống
của y như không có đối với y Trong sự hiểu biết, suy nghĩ và mong mỏi của y, chỉ bàng bạc một hình ảnh: đó là gia đình …Ngoài những con người ấy, chồng con và cháu ấy, bất cứ cái
gì xảy ra lôi cuốn hay chồng lên đời y cũng được, đói rét, ốm đau, chợ xa, đường vắng, ngày mưa ngày nắng dầu dãi khác, gánh rau gánh đất…y cũng cúi đầu chịu lấy hết nếu những người kia sống và y sống.” [63,252] Vì gia đình, người đàn bà này cam chịu nhận tất cả
những cái không may về mình
Hạnh phúc gia đình còn là niềm khao khát của những người đàn bà thô lậu như mụ vợ lão Đen Cái khao khát ấy thể hiện qua những lần bỏ đi tận Cẩm Phả, Vàng Danh, Uông Bí,
đã thuê cả nhà, đóng cả giường, rồi cứ chiều về thấy mọi người xung quanh trở về nhà, quầy quần bên mâm cơm gia đình mụ lại mủi lòng, nhớ đến những ngày sống với lão Đen Thế là
mụ lại trở về, lại đẻ con, lại chịu những trận đòn thừa sống thiếu chết của lão chồng vũ phu Cái gia đình mà mụ đang quần quật vì nó gồm một lão chồng nát rượu và những đứa con hư Người đọc không khỏi xót thương cho mụ và lũ trẻ Những bước chân non nớt của chúng chẳng biết sẽ đi về đâu, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời đang giơ nanh vuốt
Ngòi bút nhân đạo của nhà văn không chỉ dừng lại đó, ông còn thấy được có khi chính cái khao khát mái ấm gia đình, một chỗ để tựa nương lại trở thành nguyên nhân khiến
họ gặp nhiều khổ đau và bất hạnh Hai lần kết hôn là hai lần mụ Mão trắng tay Đến với hôn
nhân chỉ vì “thấy mình không còn cha mẹ anh em gì, lại cứ sống trơ trọi cô độc rồi chết già,
chẳng được ai người máu mủ để nương tựa” [63,233] Thế nên mụ đã yêu thương chồng,
chăm sóc cho những đứa con riêng của chồng và cả cha mẹ chồng bằng cả tấm lòng Lẽ ra
mụ đã có thể hạnh phúc trước tình cảm mà những đứa con mồ côi của Ký Phát dành cho mụ, nhưng chỉ tại mụ nghèo nên hắn đuổi mụ đi Lấy chồng rồi mụ vẫn không thôi hướng về lũ trẻ Người đọc không khỏi khâm phục trước tấm lòng hy sinh cao cả và trái tim rộng mở của người đàn bà không con khi mụ Mão xem việc nuôi dưỡng cha mẹ chồng và những đứa con riêng của Ký Phát là niềm vui, nguồn an ủi đời mình Thấu hiểu và cảm thông vô tận trước mất mát lớn lao của người phụ nữ ấy, Nguyên Hồng đã viết về y với niềm trân trọng và yêu thương sâu sắc Người đọc có cảm giác nước mắt ông đang nhỏ xuống đầu ngọn bút mà biết
Trang 35nên những trang văn rơi lệ, đau thương Dù vậy, câu chuyện kết thúc vẫn để lại cho đời một niềm tin, một niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn sẽ đến với những người biết yêu thương
Không chỉ thấy được khát vọng mái ấm gia đình của tầng lớp dân nghèo thành thị mà Nguyên Hồng còn thấy được cả ở những con người phải sống kiếp lưu manh, trộm cướp, giết người Đâu đó trong tấm lòng tận tụy và bàn tay chăm sóc của Bảy Hựu dành cho Hai răng vàng cũng thấp thoáng một ước mơ về một gia đình, mọi người chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, hết lòng vì nhau dù trong bất kì hoàn cảnh nào
Có thể nói, có được một gia đình, sống trong no đủ, hạnh phúc trở thành niềm khát khao hướng đến của những người lao động trong cảnh khốn cùng Để có được hạnh phúc họ
đã phải hy sinh rất nhiều, và có khi cái giá phải trả là bằng cả tính mạng của mình: Mũn chết, mụ vợ lão Đen vào tù, vợ Hưng héo hắt dần trong cảnh khốn cùng, mụ Mão chật vật, tảo tần nuôi hai ông bà già và bốn đứa trẻ nheo nhóc bằng đôi bàn tay trắng của mình, cũng chưa biết sẽ đi về đâu Dù vậy, họ vẫn không nguôi mơ ước Chính cái khát vọng hạnh phúc kia là ngọn lửa thắp sáng cuộc đời tối tăm của họ, là sự quẫy đạp phi thường để thoát ra, vươn đến những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống Nó tượng trưng cho sự tồn tại bất diệt của niềm tin con người dù trong bất kì hoàn cảnh nào Hiện thực tàn ác có thể vùi dập thân xác
họ nhưng sẽ không bao giờ làm chết đi trong họ cái khát vọng làm người, cái khát vọng có được hạnh phúc cho mình và cho mỗi người xung quanh mình Đây là một điểm sáng không
gì lí giải nổi của nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng Có lẽ, sự đồng cảm lớn lao trong trái tim rộng mở, nhân hậu đã giúp nhà văn nhận ra điều đó và hơn ai hết ông là người cảm nhận được nó một cách sâu sắc nhất
Thân phận đầy khổ đau của họ trở thành một nỗi ám ảnh trong tâm trí nhà văn, nó bám riết vào trái tim tràn đầy tinh thần nhân đạo của ông và buộc ông phải thay họ nói lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền bình đẳng của con người trong xã hội Mỗi tác phẩm của ông vừa là một bài ca về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ vừa là một bản án tố cáo những bất công của xã hội thực dân phong kiến đối với họ
Quan tâm, yêu thương nhiều nhất đến phụ nữ, trẻ em, Nguyên Hồng nhận ra họ không chỉ biết ước mơ mà còn hành động để có được hạnh phúc của mình Họ có thể là những con người hết lòng, hết sức lo cho cuộc sống gia đình, sẵn sàng hy sinh bản thân để
Trang 36đổi lấy niềm vui, miếng cơm manh áo cho chồng cho con họ Nhưng cũng có thể họ là những người phụ nữ dám dứt bỏ những sợi dây trói vô hình của hủ tục phong kiến để ra đi, tìm kiếm hạnh phúc cho mình Đó là những cuộc bứt phá của những người phụ nữ phải sống trong hôn nhân gượng ép, hay những người con gái nghe theo tiếng gọi của trái tim Thể
hiện rất rõ điều này trong tác phẩm của mình mà trước hết là trong tập hồi kí “Những ngày
thơ ấu” cho đến những truyện ngắn sau này, dường như nhà văn muốn giải phóng người
phụ nữ khỏi ràng buộc của lễ giáo phong kiến, tán thành tình yêu và hôn nhân phải xuất phát
từ tiếng nói của con tim chân chính Hết lòng yêu mẹ, cảm thông với nỗi đau của mẹ, Nguyên Hồng lên tiếng bênh vực những người phụ nữ, lên án những hủ tục, tập tục hà khắc
đã trói buộc tình cảm, chà đạp nhân phẩm và hạnh phúc của người phụ nữ Chính chế độ phong kiến lạc hậu lỗi thời cùng những tàn dư của nó đã ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống con người, đặc biệt là ở vùng nông thôn nước ta Giọng văn của Nguyên Hồng trở nên hồ hởi, sôi nổi khi ông viết về những người phụ nữ đi theo tiếng gọi của trái tim, tìm hạnh phúc mới như mợ Du, Lệ Hà, người mẹ trẻ…
Người mẹ trẻ trong Những ngày thơ ấu những tưởng đã cam chịu sống một cuộc sống
hôn nhân gượng ép, không hạnh phúc với người chồng già nghiện ngập, lầm lũi, nhịn nhục cho đến hết cuộc đời Nào ngờ, sau bao ngày chịu đựng với bổn phận làm vợ, làm dâu, trong lồng ngực trẻ ấy, trái tim nàng vẫn đập những nhịp đập khao khát yêu đương theo tiếng kèn
nao nức nhộn nhịp của tốp lính khố xanh, hai gò má của nàng trở nên ửng hồng khi “ánh mắt
long lanh của người đàn ông nọ chiếu tới”, đó là anh cai H Không thể nén chặt những khao
khát của lòng mình, người vợ ấy đã không ngần ngại rời bỏ kiếp sống cam phận, nhẫn nhục
để đến với hạnh phúc một cách tự nguyện
Mợ Du trong truyện ngắn cùng tên cũng đã hành động để chống trả lại sự khắc nghiệt của tập tục phong kiến Mợ Du là người đàn bà có nhan sắc, mợ đã mạnh dạn chạy theo
tiếng gọi của tình yêu đích thực cùng “anh thợ may trai trẻ, có duyên” Còn Lệ Hà (Người
con gái) đã chủ động đến với tình yêu, không ngần ngại bộc lộ tình cảm của mình bằng tất
cả sự khao khát chân chính của tuổi trẻ Bất chấp tất cả, Lệ Hà quyết ra đi sống trọn với
người yêu vì “không thể chịu đựng sự đau khổ nhục nhã hơn nữa” [63,276] Ngay cả một người con gái nông thôn như Láng (Láng) mà cũng nghĩ được sâu sắc như vậy: “Trong cuộc
lấy nhau phải có tình yêu dấu, thương xót, phải có sự hết lòng và đã phải khó nhọc , đã cùng
Trang 37đổ mồ hôi nước mắt với nhau thì phải cùng hưởng với nhau những hạnh phúc làm ra với những con cái rạng rỡ do khí huyết tươi tốt của mình”[63,302] Từ đó, thể hiện quan niệm
đúng đắn của tác giả về hôn nhân: hôn nhân muốn có hạnh phúc không thể đến bằng sự gượng ép Nếu hôn nhân không được xây đắp bằng tình yêu chân chính thì việc đến với nhau chỉ là tạm bợ, chịu đựng, hoặc sống không có hạnh phúc, hoặc sẽ nhanh chóng đổ vỡ mà
thôi Sự quyết liệt trong thái độ và hành động của nhà sư nữ trong truyện ngắn “Nhà sư nữ
chùa Âm Hồn” càng khẳng định hơn sự mạnh mẽ của con người, đặc biệt là người phụ nữ
trong việc bảo vệ cái mà người ta cho rằng đó mới chính là hạnh phúc đích thực của đời mình Cô đã phải chịu đựng và vượt qua những thử thách khắc nghiệt về thể xác (bị cha đẻ chặt tay, phải trốn chạy, chăm sóc người chồng hủi…) đến tinh thần (không có một ngày yên
ổn, bị mọi người xua đuổi, nơm nớp lo sợ bị phát hiện…) Tấm lòng chung thuỷ của nhà sư
nữ thật thánh thiện biết bao Khi người chồng hủi chết, xem như cuộc sống của cô cũng không còn ý nghĩa gì nữa, cô cũng chết theo chồng vừa để che giấu cái bí mật của họ, vừa để kết thúc những tháng ngày đau khổ, hai người có thể bên nhau trọn đời
Ước mơ hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ấy được xây đắp dựa trên nền tảng như thế nào mới là quan trọng Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, những con người cùng khốn, lưu lạc ấy
dù ở trong hoàn cảnh cùng cực, tăm tối, thê thảm như thế nào đi chăng nữa, họ vẫn giữ cho mình cái khát vọng hạnh phúc dựa trên sự lương thiện, trong sáng, lòng tự trọng và niềm hy vọng mãnh liệt một cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn
Có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc dựa trên đôi bàn tay và sức lao động của chính mình là mong ước của những người phu phen, thợ thuyền như lão Đen, như Mão chột, như Thưởng, như rất nhiều những con người khác Có thể thấy được điều này qua lời nói của
lão Đen với vợ của mình trong dằn vặt: “Lo! Ai khiến mày lo? Mày lo để làm gì? Đời ông
đây đã khổ nhiều rồi, ông chẳng cần gì hết Chẳng giàu có gì mà mày phải bắt ông chắt bóp Còn sống ngày nào, còn lê ra được cái đất Sáu Kho, còn cầm nổi cái ngoáo sắt, còn đi được một buổi tầm, thì ông chẳng sợ gì chết đói Con nhớn, con bé ông kia, nhớn lên thì lại Sáu Kho, lại Xi măng, chúng nó lập thân, khổ sở hay sung sướng mở mặt mở mày là do ở tay chúng nó Bây giờ cốt sao ông nuôi nổi chúng nó ngày hai bữa, không để chúng nó phải ăn mày, ăn nhặt là được rồi”, “Ông còn sống đây chứ đã chết đâu mà mày sợ”[63,201] Những
hành động san sẻ của Mão Chột với vợ mình “Không bữa nào ngồi ăn với mụ mà hắn ta
Trang 38không gắt gỏng vì mụ cứ nhất định nhường cho chồng những thứ ngon lành Hắn phải ép, phải san sẻ cho vợ như một người khách lạ Thịt cá xào, nấu sao cứ nghèo là không được
mơ tưởng đến? Và người vợ trong nhà làm sao cứ phải chấm mút quá mà để phần cả cho chồng Mão Chột uất ức thấy vợ cứ đọa đầy cho hắn độc hưởng sự sung sướng ấy Không, hắn đã khổ sở, hắn đã cơ cực, thì những lúc làm được đồng tiền hay cờ bạc gỡ gạc được chút ít, hắn cũng muốn cho vợ hắn cũng như hắn, ăn uống tiêu pha thật thỏa thê để quên mọi sự đi” [63,229] Họ vốn dĩ là những người tốt tính, hiền lành, biết suy nghĩ cho gia đình
nhưng cuộc sống ngày càng túng thiếu, bần cùng, càng làm càng không đủ ăn, chán nản, mệt mỏi lại bị xã hội cũ đầu độc nên họ sinh ra những hành động cực đoan, rượu chè, cờ bạc, đánh chửi vợ con, ngày càng chìm sâu vào vũng bùn tội lỗi, từ chỗ biết vun xới cho hạnh phúc của gia đình đến chỗ đẩy gia đình mình vào những bi kịch không lối thoát, bản thân mình vào cảnh phạm pháp, cùng đường Với những câu chuyện của mình, Nguyên Hồng trở thành nhân chứng cho bao câu chuyện đau khổ, uất ức, tan nát chia lìa của những gia đình lương thiện Mỗi cuộc đời là một bản án tố cáo xã hội áp bức, bất công, “người ăn thịt người”
Trong cái cuộc sống bần cùng nghèo khó, lúc nào cũng chờ chực đẩy con người ta xuống vực thẳm của đói nghèo, cơ cực thì vẫn còn có những còn người biết giữ lòng tự trọng, bằng lòng với những gì mình đang có, từ bàn tay mình làm ra chứ không chịu khuất phục trước sự quyến rũ mạnh mẽ của đồng tiền Bên cạnh hình ảnh của cô Tý đổi chút nhan sắc, lấy chồng Tây, để sung sướng cho bản thân thì hình ảnh người mẹ già của cô lại ngời sáng với tấm lòng trong sạch Bà cụ không ngại ngần trước cảnh nghèo khó của gia đình người con trai, dù phải vất vả, đói rách, cơ cảnh vẫn không quên lòng tự trọng, quyết không bán rẻ nhân phẩm và danh dự chạy theo đồng tiền Người mẹ ấy đã bật lên tiếng khóc đau đớn khi phải từ bỏ đứa con gái của mình, bất lực trước sự thay đổi chóng vánh của nó Chấp nhận sống khổ trong cảnh nghèo để giữ mình trong sạch, để trên khuôn mặt phủ đầy nắng gió, người mẹ ấy vẫn giữ những nụ cười thắm thiết, hiền từ Hay ở những trang viết rất ngắn
của truyện Cô gái quê, người đọc không khỏi khâm phục trước hành động quyết liệt của Lựu
– cô hàng nước nghèo nhưng rất giàu lòng tự trọng Lòng tự trọng đã giúp cô trở nên mạnh
mẽ, chống trả quyết liệt để giữ gìn và bảo vệ phẩm giá của mình “Lựu rít lên một tiếng, rồi
năm đầu ngón tay nàng, như năm móc sắt bổ mạnh vào mặt Hộ” Cô khinh bỉ nhổ thẳng vào
Trang 39mặt anh ta: “Tôi không ngờ người tỉnh thành các bác lại như thế ! Sang trọng, lắm tiền, có
học mà làm gì !” [63,168]
Trong hoàn cảnh bấy giờ, nếu như lòng tự trọng giúp họ đứng vững trước sức quyến
rũ của đồng tiền thì niềm tin vào tương trở thành sức mạnh giúp họ vượt qua những thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến
Vịnh (Hàng cơm đêm) là một cô gái nghèo, suốt ngày đầu tắt mặt tối vì đủ thứ công
việc buôn bán, mưu sinh của gia đình Thế nhưng, trong cô đôi khi cũng loé lên ao ước cháy bỏng về một cuộc đời tươi hồng phía trước Ý nghĩ ấy luôn trở đi trở lại trong tâm hồn Vịnh, khiến người đọc không khỏi xót xa, xúc động trước sự nhạy cảm, dễ tổn thương của cô gái nhỏ Vững tin vào điều đó, Vịnh sống với tấm lòng nhân hậu và thánh thiện của mình Vịnh
vẫn tin với sự làm lụng của mình, cuộc đời rồi sẽ sáng sủa hơn, sẽ được hít thở “trong một
bầu không khí trong lành, một nguồn sáng rực rỡ bên một cuộc đời mới”
Niềm tin ấy có khi được thể hiện ở ánh sáng tâm hồn trong trẻo của những em bé nhà nghèo như Thạo bé, trẻ lang thang làm đủ mọi nghề để kiếm sống như Nhân
Trước hành động quá quắt và tàn bạo của mụ chủ nhà, Thạo bé vẫn không bỏ cuộc
Cô bé trồng lại những luống ngô, nuôi lại hy vọng về một manh áo Tết, một đàn gà con và
sự sum vầy, êm ấm bên gia đình Niềm tin nhỏ bé xuất phát từ tâm hồn ngây thơ của em làm rung động lòng người đọc Đề cập đến nhân vật này, nhà văn như muốn nói chia sẻ với người đọc nỗi xót thương cho những đứa trẻ ngây thơ, khao khát có được sự chăm sóc, tình yêu thương của mọi người Những đứa trẻ như em rất cần có được sự chở che, bảo bọc của gia đình, những người xung quanh Nỗi bận tâm của nhà văn chính là ở đấy
Không cha, không mẹ, lại nghèo đói, bệnh tật, Nhân (Hai nhà nghề) vẫn tự động viên phải luôn luôn hoạt động và “hớn hở như ánh nắng tưng bừng nô giỡn trên cỏ cây đầy nhựa
của trời xuân”, không được gục ngã, mất niềm tin vào cuộc sống
Đặc biệt, niềm tin này còn thể hiện rất rõ nét trong truyện ngắn Đi, một thiên truyện mang đậm chất “Gorki” Trong sự tuyệt vọng của một gia đình đói khát, tương lai mù mịt,
bà mẹ vẫn nói những lời tin tưởng “Thì mình phải cứ như ở mình chứ Có người chết cũng
còn có người sống Còn người thì phải có ta”… [63, 383], “Làm người thì không được ngã lòng”
Trang 40Đây có lẽ là chỗ cảm động nhất của nhân vật trong truyện ngắn Nguyên Hồng Một đức tin thật kỳ diệu Đó là niềm tin của những con người do hằng ngày vật lộn với cuộc sống, nên gắn bó máu thịt với cuộc sống, do đó luôn yêu đời, ham sống và tin ở tương lai Những con người bị chìm sâu trong vực thẳm của đói nghèo, tiền đồ mù mịt, thậm chí kề bên cái chết Vậy mà họ vẫn tin rằng ngày mai đời sẽ tốt đẹp hơn Một niềm tin mãnh liệt và
vô cùng bền vững Có lẽ Nguyên Hồng phát hiện ra ở đó bản chất của nhân dân lao động, những người luôn có cái nhìn lạc quan về cuộc sống và tin tưởng vào bản thân mình
Niềm tin trở thành một ngọn lửa trái tim chàng Đan kô trên thảo nguyên rực rỡ, soi đường cho những nhân vật của Nguyên Hồng đi tiếp cuộc đời, vực họ đứng dậy sau những vấp ngã và khơi dậy những tình cảm tươi mới nảy sinh trong lòng họ Đây chính là dấu ấn đặc sắc nhất ở lại trong lòng người đọc khi mỗi trang sách Nguyên Hồng được gấp lại Người đọc sẽ không thể nào quên được nhân vật của ông cũng như không thể nào quên được tinh thần nhân đạo bao la, rộng lớn của nhà văn Bằng cảm hứng nhân đạo của mình, ông đã khiến cho họ trở thành những con người bất tử với vẻ đẹp rạng rỡ của chính mình: khát vọng
về một cuộc sống hạnh phúc, lương thiện
1.2.2 Những người trí thức bần cùng với vẻ đẹp của lương tri, nhân cách
Nếu như đối với những con người đầu tắt mặt tối, không chữ nghĩa, bán mồ hôi và công sức của mình để kiếm miếng ăn qua ngày mà việc giữ gìn sự lương thiện, giữ gìn vẻ đẹp của tâm hồn còn quan trọng như thế, thì đối với những người trí thức việc giữ gìn nhân cách của mình lại càng quan trọng gấp bội Nhân cách thanh cao làm nên khí tiết của một con người Nếu như người trí thức nghèo trong truyện ngắn của Nam Cao phải gánh chịu cái
bi kịch do sự mâu thuẫn giữa ý thức sâu sắc về giá trị của sự sống và nhân phẩm, những khát vọng về một sự nghiệp tinh thần với gánh nặng cơm áo gạo tiền, những lo toan tẹp nhẹp đời thường và xã hội đầy rẫy bất công vô lý để rồi cuối cùng họ trở thành những đời thừa, những kiếp sống mòn về mặt tâm hồn, nhân phẩm bị sa sút thì ngược lại, nhân vật người trí thức trong truyện ngắn của Nguyên Hồng không bao giờ gục ngã về tinh thần, không bao giờ chịu chết hẳn phần người, cho dù có bị đặt vào hoàn cảnh tối tăm, thê thảm, họ luôn khao khát vươn về ánh sáng, về phía “thánh thiện”, cố gắng dựng dậy, đánh thức cái lương tri, nhân cách của mình