2.4. Điểm nhìn, ngôi kể, cách kể giàu tính nghệ thuật
2.4.1 Điểm nhìn trần thuật khách quan
Phương thức trần thuật không tham dự (khách quan hoá) là trần thuật ở ngôi thứ ba, không nhân vật hoá mà đằng sau là tác giả. Với điểm nhìn trần thuật này, người trần thuật thường kể về người khác ở vị trí khách quan, hay nói cụ thể hơn là người kể luôn có ý thức giữ một khoảng cách nhất định đối với sự kiện, nhân vật. Người kể là người biết hết mọi sự
việc nhưng là người đứng ngoài nhìn vào. Bằng thái độ điềm đạm, dửng dưng và sử dụng ngôn ngữ ở dạng trung tính, cách kể này đem lại hiệu quả cao trong việc thuyết phục người đọc tính xác thực của sự kiện, tình tiết, chi tiết và đem đến cho tác phẩm màu sắc khách quan tối đa. Có lẽ vì thế đây là cách trần thuật được nhiều nhà văn sử dụng trong sáng tác văn học. Tuy nhiên, cùng một cách thức nhưng ở mỗi nhà văn khác nhau lại tạo ra sắc thái riêng cũng như phong cách trần thuật khác nhau.
Cũng là trần thuật khách quan nhưng lối trần thuật của Nguyễn Công Hoan thì hóm hỉnh, tinh quái; của Ngô Tất Tố thì nghiêm túc, tỉnh táo; của nhà văn họ Vũ thì tỉnh bơ, mỉa mai, cay độc; còn Nam Cao thì dửng dưng, lạnh lùng, chua chát đến tàn nhẫn…Nguyên Hồng lại khác, cũng chọn lối trần thuật này để tạo độ chân thật khi phản ánh cuộc sống nhưng theo một lối riêng: bình tĩnh, lạnh lùng kể và tả như một người vô tình được chứng kiến và ghi nhận lại. Trong toàn bộ các sáng tác của Nguyên Hồng, số tác phẩm được kể tuyệt đối với điểm nhìn khách quan này không nhiều, chỉ có hai truyện ngắn được kể thật sự với giọng lạnh lùng, trần thuật không tham dự là Tết của tù đàn bà và Lưỡi dao. Có lẽ, phải đứng bên ngoài làm người chứng kiến những nỗi bi thảm của nhân vật thật sự là một điều quá khó đối với Nguyên Hồng. Thương cảm cùng nỗi đau và bất hạnh chất chồng với kiếp người vùi trong tủi cực của những con người cùng khổ khiến trái tim ông nhức nhối, ngòi bút ông đôi khi mất đi sự tỉnh táo vốn phải có của một nhà văn hiện thực. Dẫu vậy, ở những truyện ngắn này người đọc như thấy một Nguyên Hồng khác, mạnh mẽ và quyết liệt, bình thản và lạnh lùng. Cái gì đến nhà văn cho nó đến, cái gì cần phô bày nhà văn cho nó trưng ra trước ánh sáng cuộc đời, để cho người đọc tự mình nhìn thấu được cái cốt lõi của vấn đề mà nêu ra cảm nhận của riêng mình.
Đọc Tết của tù đàn bà, người đọc nhận thấy rõ cuộc sống chốn lao tù của những người đàn bà nghèo khổ, quê mùa. Truyện như một phóng sự ghi lại cuộc sống của những người đàn bà trong những ngày Tết đến. Từng ngày trôi qua, từng sự kiện cứ thản nhiên diễn ra theo dòng “kí sự ”: 27 tháng chạp, 28, 29, giao thừa, rồi mồng một Tết. Ống kính lạnh lùng của nhà văn chụp ngay lấy rồi bày ra cho người đọc thấy bức ảnh những con người đang lao động khổ sai trong nhà tù: “Bốn người đàn bà rách rưới, nối tiếp nhau thẳng một hàng, trườn người ra, đẩy những bao gai cuộn tròn để dồn nước rãnh vào cống cái. Thỉnh thoảng, gió lật tung váy, bày ra những bắp đùi trắng từ bụng chân trở lên đầy bùn rác. Các
chị vẫn chúi mũi làm, làm như máy, có khi húc đầu vào người chổng mông đùn bao ở đằng trước” [63,128] Không chỉ có thế, còn rất nhiều bức ảnh khác lần lượt trình diễn. Đó là cảnh khám của bọn cai tù, cảnh đón giao thừa đặc biệt của họ…Bao nhiêu con người bấy nhiêu cảnh ngộ thương tâm, tất cả vỡ oà trong cái đêm đất trời chuyển đổi. Đọc những trang văn của Nguyên Hồng không khỏi khiến người đọc lặng mình, xót xa. Tất cả các chi tiết, sự kiện được nhà văn như vô tình ghi lại càng làm tăng thêm sức tố cáo và mang lại giá trị hiện thực cao cho tác phẩm.
Ngoài việc tái hiện lại cuộc sống trong tù, Nguyên Hồng còn phản ảnh lại cuộc sống tối tăm của những người dân nghèo sống chen chúc ở các vùng ngoại ô đô thị. Nguyên Hồng tường thuật lại cuộc sống hằng ngày của gia đình lão Đen, cảnh đánh vợ diễn ra như cơm bữa của người chồng thô bạo, vũ phu: “Mặc mụ vợ kêu, lão Đen không thèm đáp một tiếng , lão cứ nghiến răng và hự! hự! hự! …hắn cứ giáng liên tiếp cái dùi đục xuống lưng vợ ” [63, 198]. Rồi đến cảnh hỗn loạn của đám người lớn khi thấy trẻ con đánh nhau trong xóm, cảnh thằng Bùng bị đánh chảy máu mũi… để rồi kết quả là thế này: “Nửa tháng sau, mụ Đen đứng trước bàn giấy rộng. Dưới mắt mụ, để ở rìa bàn, cái lưỡi dao dài mõng, mũi nhọn, phớt vài ngấn máu thâm sịt. Đầu mụ cúi thấp, tâm trí mụ hoang mang” [63,209]. Bi kịch một gia đình nghèo được tái hiện, Nguyên Hồng dường như cứ thản nhiên, bình tĩnh phản ánh mà sao nó lại “xoáy sâu mãi vào chỗ tột cùng bi thảm khiến người đọc bỗng cảm thấy đau xót, nhức nhối vô hạn cho những kiếp người thống khổ” (Phan Cự Đệ).
Ngoài ra, ở một số truyện ngắn khác Nguyên Hồng cũng viết với một bút pháp hiện thực. Chọn cách kể ở ngôi thứ ba, nhà văn nhằm tái hiện lại cảnh sống cơ cực, nghèo khổ của những con người ngoài rìa xã hội (Bảy Hựu, Linh hồn), của những hạng người khốn cùng (Trong cảnh khốn cùng, Đây, bóng tối, Cách xích cũ, Nhà bố Nấu, Cô gái quê…).
Trong những truyện ngắn này này ngòi bút nhà văn đôi khi không còn giữ được cái tỉnh táo khách quan của người chứng kiến nữa mà đôi lúc tham dự vào câu chuyện, thâm nhập vào nhân vật, hay trút bỏ những tiếng thở dài. Chúng ta đều biết Nguyên Hồng vốn là người dạt dào tình cảm, ngòi bút của ông thiên về duy cảm hơn là duy lí nên tác phẩm của nhà văn được trần thuật ở điểm nhìn khách quan chiếm số lượng rất ít cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, ở cách trần thuật không tham dự này, với bút pháp hiện thực tỉnh táo, ngòi bút lạnh lùng đôi lúc cũng đến mức chua cay, Nguyên Hồng đã đưa những số phận, những mảnh đời cùng
quẫn và trang viết khiến người đọc cứ bị cuốn vào những chỗ tột cùng bi thảm của nhân vật mà xót xa, cay đắng cho kiếp người của họ. Vì vậy, chọn điểm nhìn trần thuật không tham dự này, Nguyên Hồng cũng đã để lại những tác phẩm có giá trị hiện thực cao, cô đọng nhưng đầy sức ám ảnh người đọc.