Ngôn ngữ bộn bề chi tiết, ngồn ngộn chất sống

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 126 - 134)

3.2. Ngôn ngữ “bình dân”

3.2.3. Ngôn ngữ bộn bề chi tiết, ngồn ngộn chất sống

Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng bộn bề chi tiết, ngồn ngộn chất sống. Điều này thể hiện rõ qua những câu văn trong tác phẩm của ông. Như tác giả Linh Thi – người đã từng tìm hiểu khá kỹ về câu văn Nguyên Hồng, đã so sánh cô đọng: Hình ảnh câu văn Nguyên Hồng là “một cái cây sum suê, lúc lỉu nhiều thành phần”, là “đoàn tàu chợ”. Cách so sánh hình ảnh này diễn tả thật trọn vẹn đặc điểm câu văn trần thuật của Nguyên Hồng “ vì câu văn Nguyên Hồng cứ ngồn ngộn, ngồn ngộ chi tiết, đôi khi được chất lên, được tấp lên, được “chằng buộc” đến ngốt mắt” [140,239]. Xét về chức năng thông tin, câu văn Nguyên Hồng thường bị rối, bởi dài dòng, rườm ý, thiếu sự rạch ròi của tư duy, ý tưởng.

Những xét về chức năng biểu cảm, câu văn ông để lại nhiều dư vị dư âm và nó trở nên mạch lạc vì nó diễn tả đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc.

Đặc điểm nổi bật câu văn Nguyên Hồng là mở rộng nhiều thành phần câu theo kiểu liệt kê dồn dập, tăng cấp, dùng một dãy thành phần đồng chức năng…khiến câu văn dài như

Một đoàn tàu chợ”. Để tái hiện tất cả những diễn biến sinh động của đường phố vào giờ tan tầm, một câu văn dài liệt kê như để thu gom hết những hình ảnh: “Những tiếng guốc khua, tiếng xe bò ầm ầm vì đường ghồ ghề, những tiếng xẻng tiếng cuốc và ván gỗ trong thùng xe xô đẩy nhau nhẩy lên nhẩy xuống. những tiếng ấy là của những người thợ in, thợ nhà máy gạch, phu hồ, phu than ở những xóm trong cùng , họ đi làm lúc còn tối đất, nên càng mải miết hơn” [63,98]. Không chỉ dùng câu dài để miêu tả mà nhà văn còn dùng nó để khắc họa

tâm trạng: “Tôi đã nhiều lúc tự hỏi nhưng chỉ thấy thêm rằng chắc chắn mợ Du đã chết và những cảm tưởng về mợ chỉ càng thấm thía, tê tái trong tâm hồn tôi, thằng bé An xưa kia không còn những dòng nước mắt tràn trề để khóc nữa” [63,184].

Một đặc điểm khác của câu văn Nguyên Hồng là hiện tượng lặp cấu trúc câu trong cả một đoạn văn. Có khi là liệt kê hàng loạt những cảnh vật: “Những ống khói đen sạm. Những nóc sưởng máy san sát rất rộng. Những lớp cửa to như những cổng chào mở toang ra …

[63,266]. Để thể hiện nồng độ cảm xúc tuôn trào nhà văn dùng đến những dãy câu cảm thán liên tiếp kiểu như “Mũn chết ! Thế là hết !” hay “Trời ơi ! Nhân sướng quá !”, “Nhưng !...

Nhưng !...Nhân mù rồi ! Nhân mù rồi !” [63,74]. Đôi lúc nhà văn không thể dưng dửng với lời trần thuật, các câu cảm thán tung ra bộc lộ cảm xúc trực tiếp: “Nhưng, những sự sắp định ấy mất hết rồi ! Tan tành hết rồi ! Giờ mụ Mão không còn trông mong gì nữa ! Giờ mụ đã lấy Mão Chột ngót ba năm rồi ! Mụ phải sống một cuộc đời khác, cách xa hẳn lũ trẻ kia !...”

[63,238]. Hoặc sự xuất hiện của một dãy câu hỏi tu từ cũng đủ nói lên tâm trạng thảng thốt và thương xót: “Sao lại có thể như thế được ? Sao lại có thể khốn nạn đau đớn cho hai người như thế được ? Sao người ấy đã cùng khổ mà lại còn phải chịu đựng nhiều cay đắng vậy? Sao chỉ trút lên đầu những kẻ hiền lành chịu khó như vợ chồng Nhân những đày đoạ, khổ ải ? Mà sao cái hạnh phúc nhỏ gây dựng trên từng vũng mồ hôi, vũng nước mắt, vũng máu của vợ chồng Nhân lại nhanh chóng bị phá tan đi ?”…[63,72]. Sự xuất hiện của những kiểu câu như thế là khi cảm xúc mãnh liệt của Nguyên Hồng tuôn trào, nhà văn bị sự quá đà của cảm xúc chi phối.

Không ít trường hợp, nếu xét câu văn Nguyên Hồng với tư cách là một đơn vị độc lập, tách khỏi văn cảnh, ta sẽ thấy đôi khi chúng không chuẩn về ngữ pháp, song đặt trong những đoạn văn cụ thể ta lại thấy chấp nhận được thậm chí còn tạo ra sự thích thú cho người đọc bởi lẽ giữa những câu văn đó dường như có một sự hỗ trợ, nâng đỡ cho nhau và thống nhất trong mạch cảm xúc của nhà văn. Tiêu biểu có thể kể đến câu văn sau trong truyện ngắn Người đàn bà Tầu:

Không phải những “sếnh sáng” lụng thụng những áo lụa nhiễu, không phải những cái bụng khệ nệ trong những quần áo rất đắt tiền những để trễ cả thắt lưng và lòi cả sơ mi ra; không phải những cái đầu tóc xù lên những đường sóng uốn điện và chải dầu thơm nhẩy, ngông ngênh đú đởn như đi dự những cuộc chợ phiên; không phải những thân thể gần như

loã lồ, đầy vàng, kim cương, ngọc thạch; không phải những xe ô tô, xe cao su chất ngất những va li, hòm da, chăm đệm và trên cùng nghênh ngang những cây đàn, những mặt bàn để đánh bài sừng và những con chó bông Nhật Bản đeo cả vòng xích bạc ” [70,226]. Câu văn trên rất dài, bộn bề chi tiết, vậy mà chỉ mới có thành phần vị ngữ gồm năm nhóm từ cùng một kiểu cấu trúc bắt đầu bằng tử phủ định “không phải”. Nhưng đọc cả đoạn, người đọc vẫn thấy nó hoàn chỉnh, trơn tru với hình thức biểu đạt tăng cấp dồn dập và nội dung ngồn ngộn chất sống của nó.

Bạch Văn Hợp đã nhận xét: “Sức hấp dẫn của văn Nguyên Hồng không phải ở những câu văn tinh lọc, cô đặc biểu hiện của một cái nhìn hiện thực sắc sảo cũng như một trí tuệ tỉnh táo, mà ở cảm xúc dào dạt của một con tim tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người”. [72,172].

Điều đặc biệt và độc đáo nhất tạo cho ngôn ngữ của Nguyên Hồng bộn bề chi tiết và ngồn ngộn chất sống là hiện tượng xuất hiện tính từ dày đặc trong câu văn của ông. Có lẽ,

Trái với cây bút nghiêng về duy lý - đủ bản lĩnh và thản nhiên để dồn , cán ép câu chữ, những người viết bằng tình cảm và cảm xúc thường là người bị kích động và “chúa tham lam”. Cái khuôn khổ chật chội của sự cô đúc không làm họ thoả, đã và hả được. Họ cứ phải dốc ra, trút ra, tuôn ra cho bằng cạn kiệt” [116,239]. Sự dốc tuôn đến mức cạn kiệt chính là nguyên nhân của tần số tính từ xuất hiện đậm dặc trong những câu văn của Nguyên Hồng.

Cùng phản ảnh hiện thực xã hội nhưng văn của Nguyên Hồng và Vũ Trọng Phụng khác xa nhau. Câu văn của nhà văn họ Vũ lạnh lùng, sắc bén, cô đọng và rất ít tính từ. Ngược lại câu văn của Nguyên Hồng thì đầy ắp tính từ, dồn dập tính từ. Bảng thống kê (so sánh 10 truyện ngắn của hai nhà văn) sau đây cho thấy tỉ lệ tính từ xuất hiện như sau:

Bảng thống kê tỉ lệ tính từ xuất hiện trong 10 truyện ngắn của hai nhà văn Nguyên Hồng và Vũ Trọng Phụng.

NGUYÊN HỒNG VŨ TRỌNG PHỤNG

S T T

Tên truyện

Số tính từ / số

trang

Trung bình/

một trang

Tên truyện

Số tính từ / số

trang

Trung bình/

một trang

1 Đây, bóng tối 210/13 16,2 Một cái chết 61/9 6,8

2 Trong cảnh khốn cùng 178/9 19,8 Bà lão loà 86/10 8,6

3 Con chó vàng 74/8 9,3 Cô Mai thưởng xuân 36/6 6,0 4 Hàng cơm đêm 168/13 12,9 Phép ông láng giềng 41/8 5,1

5 Những mầm sống 51/3 17 Cuộc vui ít có 31/6 5,2

6 Mợ Du 181/12 15,1 Tình là dây oan 40/5 8,0

7 Nhà bố Nấu 117/15 7,8 Bộ răng vàng 29/5 5,8

8 Miếng bánh 129/13 9,9 Hồ sê líu hồ lí sàng 40/7 5,7

9 Một trưa nắng 87/7 12,4 Một đồng bạc 137/16 8,5

10 Hai nhà nghề 159/7 22,7 Đoạn tuyệt 36/4 9,0

Tổng 1354/100 13,54 537/76 7,1

Như vậy, cùng số lượng truyện và tương ứng với số trang nhất định, số lượng tính từ xuất hiện trong câu văn của Nguyên Hồng gần gấp đôi số lượng tính từ trong câu văn của Vũ Trọng Phụng. Điều này cho thấy, không phải ngẫu nhiên mà văn Nguyên Hồng thống thiết đến như vậy. Đấy chính là do tính từ trong đó có sức “nóng” của nó. Phan Cự Đệ đã nhận xét văn Nguyên Hồng như sau: “Trong các tác phẩm của Nguyên Hồng thời kì đầu, những tình cảm không những tưoi mới trẻ trung mà lúc nào cũng được biểu hiện ở cường độ cao:

nó phải ngùn ngụt nóng hổi, nó phải đằm thắm thiết tha, nó phải trong ngần tươi mát,…Còn những cảnh sắc thì bao giờ cũng phải lao xao, phấp phới, chói lòa, rực rỡ hoặc rùng rùng âm vang…” [47,127]. Có được những sắc thái tình cảm ấy phần nào là do hệ quả của các tính từ. Như vậy, có thể thấy tính từ trong câu văn của Nguyên Hồng thường xuất hiện khi hướng vào hai đối tượng: cảnh vật và tâm trạng.

Nguyên Hồng sống giữa mọi người và lắng nghe bao nhiêu những màu sắc, âm thanh vang động giữa cuộc đời, văn chương của ông như tiếp nhận nhựa sống của cây đời mà đơm hoa kết trái, nảy nở sinh sôi, ẩn chứa một sức sống cao trào và mãnh liệt, rung động lòng người. Chính vì vậy mà cảnh vật trong câu văn Nguyên Hồng tươi rói sự sống và đầy sức ám gợi. Hàng loạt tính từ chỉ tính chất của sự việc, hiện tượng được nhà văn đưa ra thật đúng lúc, đúng chỗ và đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Có lúc Nguyên Hồng dùng một dãy tính từ để tả cái không khí lạnh lẽo, u ám của nhà tù nơi những người đàn bà gầy gò, yếu đuối đang phải hứng chịu những thống khổ nhất trên đời trong cái tiết trời ảm đạm của những ngày cuối năm: “Một buổi chiều cuối đông lạnh lẽo. Mây trời xanh biếc. Không khí như có mạt thuỷ tinh, thở buốt mũi. Gió rét thổi dài, sắc như những lưỡi dao. Các chòm xoan lá ngọn

trên bờ tường thỉnh thoảng lại rùng lên trút xuống sân một ít lá vàng. Nắng chiều hồng nhạt rắc phấn trên những mái ngói xanh mốc rồi dần tan trong màu tàn hương của chiều tàn

[63,135].

Không chỉ dùng tính từ để miêu tả thiên nhiên, cảnh vật mà tần số của tính từ cũng dày đặc không kém khi nhà văn muốn miêu tả con người. Bà cụ Nấu hiện lên với dáng vẻ của một người bà, người mẹ hiền từ, chịu thương chịu khó, vì con vì cháu: “Nhiều nếp nhăn chất thêm lên cái trán lặng lẽ dưới những sợi tóc cứng, bạc lam nham. Hai gò má bà cụ trũng thêm làm chìa hàm răng móm mém. Trên cái thân hình còm cõi ấy, vẫn cái áo nâu mỏng tứ thời, lúc nào cũng nhớp nháp dãi của con bé cháu” [63,115]. Sự có mặt của hàng loạt các tính từ càng tô đậm dáng vẻ cơ cực và chịu đựng vì con cháu của bà cụ nghèo. Ở truyện ngắn khác, hình dáng của người đàn bà không có khả năng sinh nở được phô diễn ra hết mức dưới sức mạnh của những tính từ được nhà văn lựa chọn: “Sao lại có người đàn bà khẳng khiu như thế được. Chân tay mình mẩy cứ đét lại, chẳng có cái vẻ gì sinh nở cả. Nhất là khổ mặt. Trán thì , gò má cao, răng , da nhăn nheo, vành khăn trên đầu chẳng bao giờ gọn gàng, mà tóc thì ngắn, nhiều đám soăn như sợi móc. Nếu mụ Mão đứng yên cho người ta ngắm, mụ sẽ trở nên một pho tượng gỗ đẽo gọt nham nh dưới đất móc lên hay hun khói. Người mụ còm cõi gày rạc…” [63,229]. Những tính từ ở đây giúp cho nhà văn tạo ra sự đối lập giữa ngoại hình với bản chất thật sự tồn tại trong cái chân dung xù xì, nham nhở đó, ít ai ngờ lại ẩn chứa một tâm hồn người cao đẹp, một trái tim nhân hậu, dịu dàng và một tình mẫu tử luôn tuôn chảy, dạt dào.

Con người Nguyên Hồng là vậy. Yêu thương, cảm thông, san sẻ nên văn Nguyên Hồng đậm chất trữ tình, nên ngôn ngữ của ông giàu sức sống, dễ đi vào lòng bằng những rung cảm chân thật, nồng nhiệt, hồn nhiên. Điều này có phần khác biệt với nhà văn họ Vũ.

Cùng là nhà văn của trào lưu hiện thực phê phán, cùng đưa hiện thực xã hội vào những trang viết của mình nhưng văn của Vũ Trọng Phụng không bộn bề chi tiết, không ngồn ngộn chất sống, không giàu mạch cảm xúc như kiểu của Nguyên Hồng. Vũ Trọng Phụng cũng dùng tính từ để miêu tả sự vật, cảnh vật nhưng ngắn gọn, khách quan, lạnh lùng với tần số rất ít:

Mặt trời sắp lặn, còn xiên qua luỹ tre xanh, tầu lá chuối mà rọi ánh sáng đỏ ối vào gian nhà. Dưới những đám mây thiên hình vạn trạng màu cá vàng chăng dọc chăng ngang phủ kín một bầu trời, một đàn sếu xếp hình chữ nhân bay từ Bắc về Nam, vươn cổ kêu oang oác.

Trên mấy ngọn tre thổi ngả nghiêng, dăm ba con chèo bẻo tung tăng chuyền cành này sang cành khác” [126,22]. Còn khi miêu tả người, Vũ Trọng Phụng như phác hoạ một bức chân dung, như chụp lại một hình ảnh mà nhà văn trông thấy, không bình phẩm gì thêm: “Cái nón lá rơi ra một bên, bộ tóc lơ thơ, mấy chòm râu lốm đốm phất phơ bay theo ngọn gió, cái thân da bọc ngoài xương nằm đó cho ruồi bâu nhặng bám…”. Đấy là hình ảnh của một ông lão ăn mày, những tính từ xuất hiện chỉ để làm nhiệm vụ tái hiện chính xác dáng vẻ chân dung đó mà thôi.

Để diễn tả chính xác và đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc của nhân vật hay của người kể chuyện, nhà văn thường tuôn ra một chuỗi tính từ. Khi tái hiện tâm trạng nhân vật, có lúc nhà văn nhập nhoà ranh giới của hai điềm nhìn trần thuật chủ quan và khách quan. Suy nghĩ của Nhân (Đây, bóng tối): “Và bây giờ trong tâm trí ngây thơ của Nhân như có một sự mong ước Mũn cứ mãi mãi là một người bạn không lúc nào dời bỏ Nhân để sau những lúc cơ cực nhục nhã hai kẻ yếu đuối trơ trọi ấy lại yên lặng an ủi nhau bằng những bữa ngon lành như thế” [63,66] khiến người đọc khó phân biệt đó là cảm xúc tủi cực, xót xa của hai đứa trẻ nghèo mồ côi hay là nỗi xót xa thương cảm của nhà văn trước cái cơ cực, nhục nhã của hai kẻ yếu đuối trơ trọi. Có lúc nhà văn thông qua cái nhìn của nhân vật về đối tượng nào đó để gián tiếp bộc lộ tâm trạng nhân vật: “Vịnh thấy lạnh thấm vào người và mọi vật chung quanh. Những bàn ghế, giường, phản, chõng hàng đã ọp ẹp, những bức vách nứt nẻ, loang l, những kèo cột xộc xệch, chằng chịt mạng nhện…dưới ánh đèn treo vàng cặn, tất cả những vật ấy úp súp, tồi tàn hơn” [63,106]. Ở đây, dãy tính từ ngoài việc gợi lên cái vẻ cũ kỹ, tồi tàn của cảnh vật còn mang một thông điệp khác: sự cảm nhận về hiện tại và tương lai của cô gái nghèo đang khao khát được thoát ra để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhân vật của Nguyên Hồng phần nhiều mang cho mình những nỗi đau riêng. Vì thế, ở những tâm trạng khác nhau mức độ nhà văn sử dụng tính từ cũng khác nhau. Cái đói, miếng ăn đã trở thành một nỗi ám ảnh ghê gớm, một ma lực đáng sợ của con người. Ranh giới giữa cao cả và thấp hèn, yêu thương và tàn nhẫn, no và đói…đôi khi đánh gục con người để rồi khi đã bước chân qua làn ranh giới mỏng manh đó, họ phải ân hận trong muộn màng. Đó là tâm trạng của nhân vật Hưng trong truyện ngắn Miếng bánh: “Hưng mê man thêm, lặng nhìn khía bánh. Hưng gai người tưởng đến nếu Hưng ăn chiếc bánh này, vợ y đang lúi húi thổi cơm ở cái bếp chật chội khói mù trong cái xóm nhà lá lụp xụp kín mít

người kia, đâu có biết? Nhưng không, mãi mãi mỗi khi nhớ tới miếng ăn này, Hưng sẽ bị nhục nhã như chàm, như lửa táp vào mặt. Hưng sẽ đau đớn còn hơn bị xác thịt kìm cặp”

[63,252-253]. Giá trị thể hiện của những tính từ lúc này thật là đắc địa trong việc tái hiện tâm trạng đó. Cũng chính nhờ biết phát huy tác dụng của tính từ mà mang lại cho câu văn của Nguyên Hồng dồi dào một sức sống. Nó không nằm yên mà quẫy đạp, có khi thốc thẳng vào lòng người đọc, đòi hòi người đọc phải hoà mình vào dòng cảm xúc của nhân vật, đau cùng nỗi đau của nhân vật và lắng nghe nhịp đập trái tim đang thổn thức của nhà văn. Ngược lại với Nguyên Hồng, trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng, nhân vật ít được khắc họa nội tâm hơn. Dù số lượng tính từ có tăng một chút so với tả cảnh nhưng những tính từ ấy cũng chỉ góp phần tái hiện đúng tâm trạng của nhân vật mà thôi: “Bao nhiêu là ích k, là đê hèn, là chó má, là nhẫn tâm, lúc ấy đều thức dậy cả trong cái tấm lòng khốn nạn của tôi. Cúi đầu xuống tôi bĩu môi nghĩ về vợ chồng Ký Bích…” [136,368]. Đọc đoạn văn này, người đọc không cảm thấy có sức ám ảnh của tính từ truyền sang như trong văn Nguyên Hồng. Bởi có lẽ, ở một mức độ nào đấy, ngôn ngữ của Nguyên Hồng đã kích thích cảm giác của người đọc, nó không chỉ là tái hiện chân thật mà còn ẩn chứa những gam màu cảm xúc tinh tế của lòng người, dẫn dắt người đọc đi theo những luồng giao cảm này một cách hết sức tự nhiên.

Về vấn đề này có lẽ Nguyên Hồng gần với Nam Cao. Những tính từ đôi khi cũng trở nên đắt dụng trong những sáng tác của nhà văn này. Ở truyện ngắn Đời thừa, để miêu tả sự ân hận, xót xa của Hộ khi đã đối xử tàn nhẫn với vợ con, Nam Cao đã để cho nhân vật của mình quan sát và cảm nhận: “Hắn dịu dàng nắm lấy bàn tay sã xuống của Từ. Cái bàn tay lủng củng rặt những xương ! Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra làn da mỏng xanh trong, xanh lọc. Cái cổ tay mỏng manh. Tất cả lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, cần được hắn che chở và bênh vực …một vẻ bạc mệnh …Và hắn khóc…Ôi chao! hắn khóc. Hắn khóc nức nở, khóc như không thể ra tiếng khóc…”. người đọc không chỉ thấy được tâm trạng đau đớn, dằn vặt của Hộ mà còn cảm nhận được cái êm đềm, sâu lắng hiếm hoi của cái thế giới đang bao bọc quanh hai người và cảm thương cho nhân vật Từ, người đàn khốn khổ, bất hạnh đã ghé xuống cuộc đời của Hộ.

Nếu như trong thơ, tính từ là gam màu giúp người đọc có cơ sở giải mã được chất thơ và tâm hồn nhà thơ thì cũng có thế nói, trong văn xuôi, dùng tính từ như Nguyên Hồng cũng sẽ giúp chúng ta thấy được tâm hồn nhà văn. “Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 126 - 134)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)