Giọng điệu chiêm nghiệm xót xa

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 105 - 134)

Nguyên Hồng đã đến với văn chương bằng con đường riêng khá đặc biệt. Trải nghiệm nhiều đau đớn, tủi cực đã tạo nên cho tác phẩm của ông, đặc biệt là truyện ngắn của nhà văn cái chất giọng chiêm nghiệm, xót xa. Xót xa cho mình và cho mọi người, những con người nhỏ bé, khốn cùng nhất trong xã hội. Giọng điệu này thể hiện rất rõ trong những trang hồi kí của ông – Những ngày thơ ấu. Chuỗi ngày cay đắng cơ cực đó được hồi tưởng lại ẩn trong những lời trần thuật một sự chiêm nghiệm của bản thân. Hiểu được cuộc hôn nhân gượng ép của cha mẹ, nhà văn xót xa kể về sự tồn tại của mình trên đời: “Thầy mẹ tôi lấy nhau không phải vì yêu thương nhau, trái ngược cay đắng đó tôi đã hiểu biết rõ rệt và thấm thía ngay từ năm tôi lên bảy lên tám” [70,293]. Tâm hồn thơ dại sớm nhận ra những lẽ cay đắng cuộc đời khiến Nguyên Hồng càng gần gũi với mẹ hơn. Và tình yêu thương nồng nàn, mãnh liệt của ông không chỉ dành cho mẹ mà còn dành cho cả những người phụ nữ phải cam chịu, nhẫn nhịn vì gia đình, vì bất công, vì hủ tục phong kiến…Giọng điệu chua chát, xót xa càng tăng dần và hàng loạt những truyện ngắn của ông có cùng một kiểu giọng điệu như vậy.

Nguyên Hồng bắt đầu những chiêm nghiệm của mình từ cái nhìn về cuộc đời của mẹ và bà nội. Hai người phụ nữ với hai cuộc đời chẳng biết có một ngày vui, cứ lúi cúi, lẳng lặng và âm thầm. Nguyên Hồng khái quát và chiêm nghiệm cả hành trình cuộc đời của bà:

Ngay từ lọt lòng mẹ, người đàn bà ấy đã phải chịu ngay cái bất công trong sự chăm nuôi cùng các anh trai, em trai, lớn lên một chút choáng váng u mê vì sự dạy bảo sai khiến của ông bà, cha mẹ, họ hàng…Mười bảy, mười tám tuổi đã thành người con gái cằn cỗi, lúc nào cũng khép nép, lo sợ, rồi thì về nhà chồng với một lòng nhẫn nhục ngày càng dạn dầy, một tính khiếp phục ngày càng mạnh mẽ…Hàng ba bốn mươi năm sau thời kì làm dâu con, bước lên địa vị làm mẹ rồi làm bà, tuổi già sút kém đến…Người đàn bà ấy chết…chết bên một cỗ áo quan tài thật tốt đóng sẵn từ mươi năm trước để một góc buồng, bên một đống quần áo lành lạnh, thơm tho giữ y nguyên những nếp là từ thuở mới bước chân về nhà chồng…

[70,301]. Cả một đoạn với những câu văn tuôn trào nức nở, xót xa trong nỗi uất giận nghẹn ngào khi nhà văn nhận ra được kiếp sống u tối của những người đàn bà phải chịu đựng bao

sự ràng buộc của hủ tục trong xã hội xưa. Hơn ai hết, Nguyên Hồng rất thấu hiểu và đồng cảm với những nỗi tủi nhục của người phụ nữ bởi nó thấp thoáng hình ảnh của người bà, người mẹ của nhà văn trong đó. Nhân vật Láng trong truyện ngắn cùng tên cũng cảm thấy xót xa cho mẹ của mình “…suốt đời chẳng được một chút sung sướng. Mẹ Láng cũng như hầu hết những người đàn bà trong làng, về đến nhà chồng là phải chúi mắt, chúi mũi làm để giả cái nợ cưới xin của mình. Rồi từ năm có con, chưa dứt đứa lớn đã tiếp đứa bé, mẹ Láng chỉ còn là một hình nhân có cử động mà không cười nói…” [63,298]. Sự sống của họ triền miên trong nỗi cam chịu, quên mất bản thân mình. Láng ý thức và ghê sợ rằng một ngày nào đó mình sẽ dẫm lên dấu chân muôn đời khổ ải, sẽ phải “vâng theo cái bổn phận không cần ai kiểm soát và không có tên tuổi của đời đời kiếp kiếp những người đàn bà” [63,303]. Và theo Nguyên Hồng thì “cái dòng đời ấy như một dòng suối nhỏ chảy trong rừng cây um tùm bị khuất hẳn và không có tiếng róc rách vẳng lên”.

Bao cuộc đời con gái cứ âm thầm lặng lẽ chấp nhận cái “quy luật” nghiệt ngã ấy.

Vịnh (Hàng cơm đêm) quần quật, không chút nào ngơi tay, những công việc cứ lặp lại ngày này qua ngày kia, Vịnh “lờ mờ nhận thấy những năm tháng sống bên mẹ, bận rộn mua bán, đun nấu từ tang tảng sáng đến nửa đêm, thật là dài dằng dặc”. Cô nhận thấy cuộc đời mình

rồi sẽ như chị Mán, vợ nhà Nhân, cái Sửu sống trong cảnh cùng khổ, bị hắt hủi, bị khinh bỉ” [63,107] … Càng thấu hiểu thương xót cuộc đời họ bao nhiêu thì nỗi căm phẫn sự bất công ngày càng tăng lên bấy nhiêu. Nguyên Hồng nhìn thấy cái nguyên nhân đem đến cho họ bao nỗi cay đắng, đó chính là những hủ tục phong kiến đã đè nén hạnh phúc người phụ nữ. Cuộc đời của những người phụ nữ trong truyện ngắn của ông gồng gánh trên đôi vai gầy của mình quá nhiều gánh nặng. Những áp chế đầy bất công của xã hội cũ đè nặng một bên, còn một bên là cái khó khăn, cùng túng của cảnh nghèo.

Lòng yêu thương, sự rung cảm của Nguyên Hồng còn đọng lại ở những trang viết về cuộc sống đói khổ của những người dân nghèo thành thị. Qua cách ông miêu tả một bữa ăn của gia đình khốn khó “Nhà Bố Nấu”, giọng kể nhà văn vừa lạnh lùng vừa ẩn chứa nỗi xót xa: “Năm cái miệng sì sụp húp những bát cháo lõng bõng chia nhau những ngày mưa dầm, gió lạnh. Một thằng nhỏ cởi trần mồ hôi nhễ nhại, tóc trùm xuống quá gáy, cắm đầu cắm cổ đi bốn năm cây số dưới trời nắng để đưa cho mẹ thêm vài lạng đường bán cháo. Một người đàn ông thần mặt ra trước những bàn tay xỉa xói vì thiếu mấy buổi góp tiền...Những hình

ảnh này thường nhắc đi nhắc lại trong cái dòng đời khổ sở ê chề nọ” [63,110]. 40 xu, với một người khác nó chỉ là một số tiền đủ mua một thứ quà xa xỉ nhưng với gia đình đông con này “nó đã có giá trị sinh mệnh của một con người sống trong những cảnh sống cuộc đời đầy những khó khắn thiếu thốn với hai bàn tay trắng.”. Đói nghèo, khổ sở, cay đắng khiến người ta phải trăn trở vì nó, ngay trong lời trần thuật cũng vang lên sự chua xót: “Nhưng trong thâm tâm bà không thể không khóc được và thấy nào mình có lười biếng đần độn mà sao càng đầu tắt mặt tôi thì lại càng công nợ thiếu thốn. Hay bà gian ác nên bị giời đày đoạ?..Nếu có trời thì nào lại cay nghiệt đến thế! thấm thía bà nhận thấy rằng càng cố công cùng sức bao nhiêu bà chỉ làm giàu cho những người giàu sẵn ăn sẵn mặc thừa mứa, tiêu pha phung phí” [63,121]. Ý nghĩ của bà mẹ Thưởng (Hai mẹ con) cũng là nỗi đắng cay của bao người dân nghèo khốn khổ khác.

Trong truyện ngắn của mình, Nguyên Hồng còn chú ý đến sự tha hoá của con người chỉ vì miếng ăn. Cũng nói đến cái ăn, cái đói nhưng giọng điệu của Nam Cao dường như có vẻ lạnh lùng, khách quan, mỉa mai, châm biếm. Còn giọng điệu của Nguyên Hồng trong những truyện ngắn này đượm đầy vẻ chua xót, đớn đau. Giấu đằng sau những lời kể là một tấm lòng con người đối với con người, đau đớn bởi nhân cách của họ đang dần dần bị tha hoá, huỷ hoại. Tác giả đã để nhân vật Hưng trong “Miếng bánh” tự nhận thức về mình.

Mãi mãi mỗi khi nhớ tới miếng ăn này, Hưng sẽ bị một nhục nhã như kim châm, như lửa táp vào mặt. Hưng sẽ đau đớn còn hơn xác thịt kìm cặp” và “trước mắt Hưng bỗng tối sầm, cả người Hưng run lên như một cơn sốt. Miếng Hưng tan hết những sự ngọt, bùi, chỉ thấy tức và đắng…Qua những cái nghẹn cuồn cuộn trong người Hưng bị xoắn lại…” [63,252- 253]. Câu chuyện kết thúc lạnh lùng, buồn tủi. Nó làm xúc động đến những phần sâu kín nhất của tâm hồn. Hưng đang vật vã, ngao ngán, tuyệt vọng trên mảnh đất tư tưởng chật hẹp của mình.

Suy cho cùng, nỗi đau đớn, xót xa dồn dập trong những trang viết của Nguyên Hồng cũng xuất phát từ lòng yêu thương chân thành và sự cảm thông, chia sẻ của nhà văn đối với những số phận người bất hạnh trong xã hội. Mắt thấy, tai nghe và trải nghiệm từ chính nỗi cơ cực của bản thân mình, tất cả dồn tụ trở thành nỗi uất nghẹn trong lòng tác giả, khiến cho giọng điệu của nhà văn dường như không thể nào giữ được vẻ khách quan được mà mang đậm màu sắc chủ quan. Nguyên Hồng viết bằng cái tâm, bằng trái tim và khối óc của một

con người hết lòng vì kẻ khác, vì vậy những cung bậc cảm xúc cứ lên bổng xuống trầm khiến cho giọng điệu của những tác phẩm truyện ngắn của ông giữ được màu sắc riêng không lẫn với một tác giả nào khác trong dòng văn học hiện thực.

3.1.3 Giọng điệu tự nhiên, bình dị

Truyện ngắn của Nguyên Hồng không chỉ được viết bằng giọng điệu cảm thương thống thiết hay chiêm nghiệm, đau đớn, xót xa mà còn được viết bằng một giọng điệu tự nhiên bình dị với sắc thái ấm áp, chân thành. Đây cũng chính là luồng khí nóng chạy dọc hầu hết các tác phẩm của Nguyên Hồng, đem lại tác phẩm nói chung và truyện ngắn nói riêng một sức sống trường tồn. Đó là những trang viết được trải ra bằng chính tâm hồn, tính cách của nhà văn: chân thật, trong sáng, hồn nhiên.

Giọng điệu này không chỉ thấy trong truyện ngắn của Nguyên Hồng mà còn thấy rất rõ trong thể loại hồi kí. “Những ngày thơ ấu” là những thổn thức, cô đơn của cậu bé Hồng ghi lại câu chuyện về gia đình mình. Cảm động nhất là những trang viết khi được gặp lại mẹ, đứa trẻ thiếu tình thương như được chở che trong vòng tay ôm ấp của tình thiêng liêng mẫu tử “Tôi ngồi trên đệm xe, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy Nguyên Hồng cảm giác ấm áp như đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi t hở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phát ra lúc đó thơm tho lạ thường…Phải bé lại và lăn vào lòng mẹ tôi, áp mặt vào bầu sữa nóng người mẹ để bàn tay mẹ vuốt ve từ trán xuống cặm và gãi rôm ở sống lưng cho mới thấy mẹ có một thứ êm dịu vô cùng” [70,314]. Nguyên Hồng đã lắng nghe những âm vang sâu lắng của tâm hồn, ghi nhận được những cảm giác tự nhiên, tinh tế và diễn tả qua cái nhìn đầy trong sáng của tuổi thơ khiến người đọc như được quay về thời thơ ấu của mình

Nguyên Hồng viết “Hàng cơm đêm” với giọng điệu gần như “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam. Thạch Lam viết về bức tranh phố huyện nghèo gần ga xếp lúc hoàng hôn. Đêm xuống rồi. Chỉ còn vài chấm sáng lù mù quen thuộc của ngọn đèn ở chõng hàng nước của hai chị em An và Liên, cái bếp lửa chập chờn nơi gánh phở của bác Siêu. Trong không gian nhàn nhạt, vắng lặng đó đêm nào đoàn tàu cũng đi qua mang theo luồng ánh sáng mạnh quét vào hai bên và tiếng ồn ào làm xao động cả phố huyện yên tĩnh. Giọng văn nhẹ nhẹ, dịu dàng mà tinh tế của Thạch Lam đưa đến cho người đọc cái dư vị đằm thắm của quê hương và sự cảm thương man mác những cuộc đời thầm lặng ở một vùng quê tù đọng. Có thể nói, truyện ngắn

của Nguyên Hồng không đạt đến cái tinh tế, sâu sắc như Thạch Lam nhưng bút pháp và giọng điệu của ông mang màu sắc và âm thanh riêng, không lẫn vào cái phong điệu trữ tình chung của các nhà văn Tự Lực Văn đoàn bấy giờ. Truyện ngắn “Hàng cơm đêm” của Nguyên Hồng cũng viết về phố huyện nhỏ gần chợ. Tác phẩm cũng thoảng mùi ẩm mốc của rác rưởi, cũng leo lét ánh đèn của hàng cơm đêm, hàng phở, tạp hoá ở các mái lá tồi tàn. Cái ồn ào của chiều đã tắt dần. Nhưng ít phút trước đó, ta còn nghe đủ mọi tiếng ồn ào, huyên náo, tiếng chuông xe đạp bấm liên thanh của học sinh, công chức, tiếng khua guốc, tiếng xe bò chuyển ầm ầm, tiếng chào mời mặc cả cãi ầm ĩ. Và trong quán hàng của Vịnh “mấy ông khách già lè nhè, quần áo rách rưới và lấm láp của họ thở ra những mùi khét lẹt của dầu mỡ, cát bụi và bùn lầy mà họ đầm đìa ở những xưởng máy, những kho hàng, những hầm tàu, những lán gỗ”, tiếng đùa nghịch chọc ghẹo nhau của “những chị phu hồ, phu than ríu rít như bầy chim sẻ” [70,201] đã bắt đầu đông đúc. Trong đó, Vịnh, cô gái bán cơm hàng đêm đã hiện lên với bao lam lũ, vật vả của cuộc sống. Nhưng có cái gì đó soi chiếu trong tâm trí cô, một cái gì đó gợi lên trong tâm hồn nhạy cảm những rung động nhẹ nhàng. Từng âm vang sâu lắng của cảnh vật và của con người cứ lắng đọng. Bằng lời kể với giọng điệu hết sức tự nhiên, tác giả đem đến cho người đọc những cảm nhận rõ rệt hơn bao giờ hết về cuộc sống, về những thanh âm vang vọng và sức sống của con người. Phố nghèo, cái gì cũng heo hắt, mờ nhạt, hôi hám mùi rác rưởi nhưng hiện lên có chút gì ấm áp và vô cùng chân thật. Chính cái ấm áp và chân thật đó đã xua đi phần nào cái vắng lặng, lạnh lẽo tàn ngày sang đêm của góc phố, thắp sáng những khát khao, mơ ước giản dị và trong sáng của Vịnh.

Qua đó, người đọc nhận ra nhà văn dường như trong bất kì một truyện ngắn nào của mình cũng phả hơi ấm của một trái tim nhân hậu bằng một giọng điệu đặc trưng. “Sự sung sướng, rạo rực đã lắng lại. Trong lòng Tâm còn man mác một tin tưởng tha thiết, một yêu thương đắm đuối ” [70,222]. Tác giả như đang hoà theo nỗi rạo rực, hạnh phúc của nhân vật.

Một niềm vui man mác mở rộng trong lòng Tâm, Tâm thẫn thờ nhìn gian nhà lá lụp xụp lúc này đối với Tâm, thân mật và ấm cúng biết bao”. Dưới mái lá đen cặn này đã mở ra một thế giới chứa bao dự cảm. “Cái thế giới nhỏ bé, hèn mọn quá nhưng càng ngày càng chồi lên những tình cảm đẹp đẽ” [70,221].

Trẻ con và phụ nữ là hai đối tượng được Nguyên Hồng quan tâm nhiều nhất. Song song với tình cảm yêu mến, xót thương họ, nhà văn còn đưa vào sáng tác của mình những

khoảnh khắc sinh hoạt rất đời thường, rất thô sơ như bản chất cốn có của họ. Đó là cảnh mẹ cho con bú. Hình tượng “bầu sữa nóng” không còn xa lạ trong văn Nguyên Hồng. Nó là biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng, chân chất và những đứa trẻ thơ hồn nhiên, dễ thương:

Dứt lời người mẹ cúi xuống lấy vạt áo chùi chùi vào mắt và hai má hồng hào của đứa bé. Y ấp mặt nó sát vào ngực. Vừa vỗ nhẹ vào lưng nó, vừa cho nó bú”, “Y vẫn cho nó bú, đứa bé vẫn thoảng vào tai Huyên những tiếng ụt ịt do cặp môi mỏng và tươi nún nún lấy vú sữa nở”

[63,334].

Nguyên Hồng rất ý thức tôn trọng hiện thực đời sống khi sáng tác. Bằng chính ngôn ngữ đời thường, nhà văn đã phả hơi thở nóng hổi của cuộc sống vào thứ văn chương bám riết lấy sự sống. Với ngôn ngữ giản dị, bình dân, Nguyên Hồng tự nhiên phác hoạ vài nét cuộc sống người dân nghèo: “Người đàn ông mắt to và cao lớn ấy, vẫn cúi xuống cái rá, bên cạnh y một đứa con gái tóc loà xoà, quần áo ngắn ngủn, cũng một vẻ cặm cụi như thế. Gần đấy một đứa khóc nheo nheo thì trần truồng ngồi xệp trên một bãi nước đái” [63,344].

Không khí sinh hoạt trong gia đình bà Phó (Cái xích cũ): “Khi bà xin con vện về, tất cả con gái con dâu đều nhao nhao phản đối nào tốn cơm, nào ỉa bậy, nào hay chạy rông ngoài đường phố bị phạt tù thì lấy tiền đâu mà nộp, nào nhỡ hoá điên cắn phải người ta thì rũ tù”.

[63,218]. Giọng kể của Nguyên Hồng thoải mái và chân tình khi khắc họa những khoảnh khắc thường ngày trong cuộc sống người cần lao. Tác giả miêu tả một bữa ăn của người và chó thân thiện thế này: “Ông lão ăn mày hễ ăn xong vài miếng cơm lại xúc một thìa canh đổ vào bát của con chó ngồi chồm hổm đối diện chủ, ông nhóm nhém nhai, con chó cũng nhóm nhém nhai. Chủ và tớ ăn rất ngon lành. miếng xuương nào có thịt nhằn ra là âu yếm đưa vào miệng chó. Nó nhanh nhẹn đớp lấy nhai ngấu ngấu, đoạn ve vẩy đuôi, thè lè cái lưỡi đỏ nhăm nhe liếm tay chủ”(63,92).

Bằng lối kể tự nhiên, dân dã lại mang sắc thái chân thành, ấm áp, bên cạnh hai giọng điệu chủ đạo, Nguyên Hồng đã đưa vào tác phẩm của mình một giọng điệu mang sắc thái mới: cuộc sống với bao nhiêu cái chân chất, thô ráp, xù xì, không cần chau chuốt bằng mỹ từ, tự nó hiện ra sinh động và đúng với bản chất vốn có của nó. Nhìn chung, trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyên Hồng lúc nào cũng tìm đến những gì thiết tha, dịu dàng và chân thành nhất. Trong tác phẩm ông có sự kết hợp hài hoà giữa giọng điệu cảm thương thống thiết, giọng điệu chiêm nghiệm, xót xa và giọng điệu tự nhiên, bình dị. Giọng văn của

Một phần của tài liệu Đặc trưng truyện ngắn nguyên hồng (Trang 105 - 134)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(148 trang)