2.4. Điểm nhìn, ngôi kể, cách kể giàu tính nghệ thuật
2.4.2 Điểm nhìn trần thuật chủ quan
Với quan điểm trần thuật tham dự, người kể chuyện thường ở điểm nhìn trần thuật chủ quan mà kể chuyện. Khoảng cách giữa người kể và truyện rất nhỏ, trong đó người kể từng sống, từng chứng kiến sự việc diễn ra trong tác phẩm. Bằng phương thức trần thuật này, dù là kể chuyện mình hay kể chuyện người, tác giả đều có điều kiện bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của mình, đem đến cho tác phẩm một màu sắc trữ tình đậm đà. Khác với vị trí làm người kể chuyện khách quan, phương thức trần thuật chủ quan với sự linh động trong ngôi kể và điểm nhìn trần thuật giúp còn cho nhà văn thể hiện tài năng trong việc khai thác tâm lí, đi sâu vào những trăn trở, đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn nhân vật, giúp cho người đọc có được một cái nhìn cảm thông đối với hành động của nhân vật và từ đó khoảng cách giữa người đọc và nhân vật thu hẹp nhiều hơn. Nguyên Hồng là một trong số ít nhà văn làm được điều này dựa trên phương thức trần thuật chủ quan của mình. Trong truyện ngắn Nguyên Hồng, phương thức này chiếm một số lượng rất lớn và đây là điểm thành công nổi bật nhất của Nguyên Hồng.
Bảng thống kê điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyên Hồng Tổ chức điểm nhìn
Chủ quan Di chuyển điểm nhìn STT
Tên tác phẩm Khách quan
Từ nhân
vật
“Tôi”
Từ nhân vật trong trong truyện
Vị trí di chuyển Số điểm nhìn dịch
chuyển
1 2 3 4 5 6
Linh hồn Đây, bóng tối
Trong cảnh khốn cùng Bảy Hựu
Hai nhà nghề
Nhà sư nữ chùa Âm hồn
x x
Bên ngoài bên trong Bên ngoài bên trong Bên ngoài bên trong Bên ngoài bên trong
3 2 2 3
7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25
Con chó vàng Nhà bố Nấu Tết của tù đàn bà Mợ Du
Lớp học lẩn lút Hàng cơm đêm Hai mẹ con Lưỡi dao Cái xích cũ
Người mẹ không con Người đàn bà Tàu Miếng bánh Người con gái Một trưa nắng Láng
Cô gái quê Lúc chiều xuống Hai dòng sữa Giọt máu Ngòi lửa
x
x
x
x
x x
x
x
x
x
x x x
Bên ngoài bên trong Bên ngoài bên trong
Bên ngoài bên trong Bên ngoài bên trong
Bên ngoài bên trong Bên ngoài bên trong
Bên ngoài bên trong
Bên ngoài bên trong
Bên ngoài bên trong
Bên ngoài bên trong 3 3
2 2
2 2
6
3
3
3
Nhìn vào bảng thống kê này, chúng ta nhận thấy Nguyên Hồng chọn điểm nhìn khách quan tuyệt đối để trần thuật chỉ chiếm 2/25 (8%). Điểm nhìn chủ quan là 13/25 (52%) và di chuyển điểm nhìn từ vị trí trần thuật khách quan sang trần thuật tham dự (nhập thân vào điểm nhìn nhân vật ) là 14/25 (56%). Như vậy, hầu hết truyện ngắn Nguyên Hồng đều được chọn điểm nhìn chủ quan để trần thuật. Ở điểm nhìn trần thuật tham dự này, Nguyên Hồng chọn hai lối trần thuật là trần thuật từ ngôi thứ nhất xưng “tôi” và trần thuật nhập thân vào nhân vật.
2.4.2.1. Trần thuật từ ngôi thứ nhất xưng “tôi”
Đây là một phương thức trần thuật với cái “tôi” tự thuật. Người trần thuật chính là người chủ xướng đồng thời cũng là người tham dự vào mọi biến cố câu chuyện. Người trần thuật là người kể chuyện nhưng đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của chính câu chuyện
mà anh ta kể lại. Tức là sự trần thuật được tiến hành từ điểm nhìn của một nhân vật “tôi” – người quan sát và có khả năng nhìn thấy mọi diễn biến câu chuyện, có khả năng đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, đây là điểm nhìn bên trong.
Thế mạnh của Nguyên Hồng bộc lộ ở dạng trần thuật này.
Nguyên Hồng đạt được thành công trước hết là ở tác phẩm mang tính chất tự truyện hay còn gọi là hồi ký về “Những ngày thơ ấu”. Với cái tôi tự thuật, Nguyên Hồng đã làm sống dậy những ngày thơ ấu, tái hiện một cách trọn vẹn, chân thành, xúc động tuổi thơ cay đắng của bản thân mình. Chỉ ở điểm nhìn trần thuật tham dự này, Nguyên Hồng mới có thể phô bày cảm xúc vui sướng tột cùng của một đứa con bơ vơ, côi cút lâu ngày được gặp lại mẹ, được ở trong vòng tay mẹ “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt.
Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó cũng thơm tho lạ lùng” [70,314]. Dưới điểm nhìn này, “Những ngày thơ ấu là những lời tâm sự thiết tha, thầm kín, những hồi ức của một cái tôi đau khổ nhưng hồn nhiên, trong sáng, tự bộc bạch cuộc đời riêng tư của mình trên trang giấy một cách chân thành, tin cậy” (Phan Cự Đệ) [25,66].
Không chỉ viết về mình, viết cho mình, Nguyên Hồng mới chọn điểm nhìn này. Mà ở một số truyện ngắn, Nguyên Hồng cũng tổ chức điểm nhìn trần thuật ở vị trí đó và đều rất thành công (Mợ Du, Người đàn bà Tàu, Một trưa nắng, Giọt máu, ...)
Truyện Mợ Du được kể từ điểm nhìn bên trong thông qua cách cảm, cách nghĩ của nhân vật “tôi” khi chứng kiến cuộc đời mợ Du – người phụ nữ bất hạnh. Ở vị trí này, người trần thuật “tôi” mới có thể bộc bạch, giải bày sự xúc động của tâm hồn mình. Trước hết là sự cảm thông khi hiểu ra cảnh ngộ của mợ Du: “Nhưng sau một đêm kia, đối với mợ Du tôi bỗng đổi thành lòng thương mến” [63,174]. Khi chứng kiến mợ Du gặp lại con, xúc động trước tình mẫu tử thiêng liêng, người trần thuật không kìm nén xúc động. Cứ thế nhân vật
“tôi” tâm tình, bày tỏ những xúc cảm của mình: “ Đứng ở trong này, tôi đã thấy lòng run run …Tâm trí tôi lắng sâu hơn nữa. Tôi nghĩ đến cả cái kiếp người kia chắc chỉ toàn những sự đoạ đày… ” [63,182-183]. Và khi nhận ra xác chết ấy chính là mợ Du, nhân vật tôi lại thêm xót xa: “Tôi đã nhiều lúc tự hỏi nhưng chỉ thấy thêm rằng chắc chắn mợ Du đã chết và những cảm tưởng về mợ Du chỉ càng thấm thía, tê tái trong tâm hồn tôi…” [63,184]. Câu
chuyện được kể vừa phản ảnh được bi kịch của người phụ nữ vừa thể hiện được thái độ yêu thương, đồng cảm lẫn xót xa của người kể chuyện. Nếu như từ điểm nhìn này, truyện ngắn Mợ Du đem đến cho người đọc sự cảm thông sâu sắc đối với số phận những người phụ nữ trong xã hội cũ thì ở truyện ngắn Người đàn bà Tàu lại bày tỏ một thái độ ngợi ca. Nhân vật
“tôi” trong truyện ngắn này kể lại thái độ và cảm xúc của mình khi được hai lần gặp người mẹ Trung Quốc nọ: “Nhưng không! Tôi đã được gặp người mẹ ấy lần nữa và lần này đem lại cho tôi những cảm xúc và ý nghĩ sâu mạnh hơn, rung chuyển cả tâm não tôi và in vào trí nhớ tôi những nét sắc và chói loà như thép, như lửa” [63,188]. Thông qua nhân vật “tôi”, nhà văn đã phát hiện sức sống tiềm tàng của người đàn bà Tàu đã chịu nhiều đau khổ kia:
“Chỉ có hai lần thoáng qua thôi nhưng hình ảnh ấy, cái sống lưng còng còng, bộ quần áo xanh chàm rách và, đôi gò má cao hốc hác và đôi mắt to một mí kia nói lên bao nhiêu đau khổ của những người mẹ Trung Quốc lao động nghèo đói càng thấm thía trong tâm tưởng tôi” [63, 196]. Qua điểm nhìn của người trần thuật trong cuộc, “tôi” có điều kiện thể hiện thái độ tình cảm của mình một cách trực tiếp. Với ý đồ nghệ thuật này, Nguyên Hồng tiếp tục bộc lộ thái độ tình cảm đối với những người lao động nghèo. Trong truyện ngắn Một trưa nắng, nhân vật “tôi” không do dự giãi bày những trăn trở và ám ảnh của mình về cuộc sống nhọc nhằn của những người lao động nghèo mà mình đã chứng kiến: “…Tôi sẽ viết dài về buổi trưa nắng ấy …Tôi sẽ đưa các người như thế nào trên mặt giấy? sẽ viết thế nào để thoát khỏi những ám ảnh dứt không được, dập không tắt trong tưởng tượng của tôi” [63, 285-286].
Có thể nói, với những truyện ngắn trên, nếu người trần thuật trong tác phẩm không phải là nhân vật “tôi” tự nói về mình thì nhân vật hẳn sẽ không có sức sống nội tại như vậy.
Với cái “tôi” đó, nhân vật không ngần ngại bộc lộ những ước mơ thầm kín, những nỗi đau riêng tư, những ước mơ hy vọng …Và khi Nguyên Hồng để cho nhân vật tự cất tiếng nói của mình, nó sẽ giúp người đọc khám phá ra chiều sâu con người một bản ngã đích thực.
Mặt khác, ở vị trí trần thuật này, nhà văn dễ dàng tái hiện các quá trình tâm trạng nhân vật, đưa được quan điểm riêng, các trạng thái tâm lý cá tính phong phú của con người. Vì vậy tạo cho người đọc được cảm giác chân thật, độ tin cậy cao và thái độ đồng cảm cùng với những lời tâm sự được giãi bày của nhân vật. Những truyện ngắn được kể từ nhân vật “tôi” như thế
dễ “mê hoặc ” người đọc, khiến người đọc có cảm giác mọi chuyện được kể ra tự đáy lòng nhân vật, chân thành và đáng nhớ.
2.4.2.2. Trần thuật nhập thân vào nhân vật
Điểm nhìn trần thuật này cũng xuất phát từ điểm nhìn chủ quan nhưng người kể chuyện không xưng “tôi” cũng không phải là nhân vật trong truyện tự kể lại. Ở đây, người kể chuyện đã ẩn đi, đứng đằng sau nhân vật, sự kiện để kể và đẩy nhân vật ra trước độc giả.
Vì thế trước mắt độc giả, không thấy người nói, chỉ thấy hiện thực được trình bày trong câu chuyện. Người kể chuyện “tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể” (Trần Đình Sử), thường mượn điểm nhìn của nhân vật, giọng nhân vật để kể chuyện và “anh ta đã hoà vào nhân vật tới mức ta khó phân biệt được giọng kể của anh ta với giọng kể của nhân vật” [127, 140]. Có như vậy, người kể chuyện (tác giả) mới dễ dàng thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật với tất cả mọi cung bậc tình cảm, mọi rung động của tâm hồn nhân vật. Chọn kiểu trần thuật nhập thân vào tâm hồn nhân vật, Nguyên Hồng đã phát huy lợi thế đó. Những truyện ngắn như Hai nhà nghề, Nhà sư nữ chùa Âm hồn, Lớp học lẩn lút, Miếng bánh, Hai dòng sữa, Cô gái quê, Buổi chiều xám, …thế giới tâm hồn của nhân vật chính được tái hiện một cách sinh động. Tâm trạng nhân vật được thổ lộ một cách tự nhiên, dù nhân vật không phải là “tôi” trong truyện đang kể lại chính cuộc đời mình.
Nhân (Hai nhà nghề) “hồi hộp náo nức” khi nghe thấy cái không khí gợi nhớ nghề xiếc nhào lộn của mình, rồi nhận ra sự thật “một sự chua xót làm tê dại cả lòng Nhân” và nhớ lại cảm giác hân hoan, sung sướng “lòng nhẹ lâng và êm ấm” khi lúc mới đến Hải Phòng. Trở lại thực tại chứng kiến một thằng bé cùng nghề kiếm ăn như mình cũng bị phũ phàng, tâm trạng xót xa đồng cảm với đứa bé làm xiếc múa dao kia lại nhói lên: “những cảm giác chua cay và đau đớn ran lên khắp người Nhân. Nhân không thể cầm lòng nhìn thằng bé dạn dày ở đất khách quê người lang thang bơ vơ kia quỳ lâu thêm chút nữa …Chỉ thêm một phút nữa, con tim trơ trọi của Nhân sẽ vỡ tan…” [70, 213]. Một sự thấu hiểu, chia sẻ với tâm trạng bị hẫng hụt trước thái độ người xem lạnh nhạt hờ hững của hai nghề chung số phận.
Nhập thân vào vị trí điểm nhìn của nhân vật, Nguyên Hồng mới có điều kiện miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật. Đó là trường hợp của Huyến (Nhà sư nữ chùa Âm hồn), khi theo dõi và chứng kiến chuyện tình bi thảm của đôi vợ chồng người hủi và nhà sư nữ. Từ
thái độ ngạc nhiên, nghi ngờ đến nỗi lo sợ, ngờ vực, ghê rợn khi phát hiện ra người hủi – bí mật chùa Âm hồn – sau một quá trình theo dõi, để rồi hối hận khi hiểu ra sự tình “Huyến hổ thẹn cho mình đã để cho sự kinh hãi quá đàn áp lương tri mà làm theo cái bản năng yếu đuối. Huyến ái ngại nhìn cái đầu nhà sư trọc lốc đè nặng lên chân mình. Huyến cảm thấy nhà sư không gian ác, dâm đãng như lúc nãy anh vội tưởng, trái lại một nhân vật đáng thương xót” [70,179]. Cũng có lúc ở điểm nhìn đó, nhà văn mới có thể cho người đọc nhận thấy được mọi cung bậc cảm xúc của nhân vật. Ở truyện ngắn Lớp học lẩn lút, Tâm - thầy giáo trẻ trường tư - với lòng yêu nghề của mình, đang sung sướng nhận ra vẻ đẹp đáng yêu của đám trẻ học trò: “Một nỗi vui man mác mở rộng trong lòng Tâm…. Tâm mơ hồ thấy tiếng ngòi bút chạy loạt xoạt dưới những búp tay đỏ mọng. Tâm nghĩ đến cái đầu hơi nghiêng nghiêng nói rằng thứ não cân ngây thơ tươi sáng lên, đương nẩy nở những cái gì tốt đẹp…” [63,144]. Người trần thuật nhập thân vào nhân vật Tâm mới có thể hiểu được Tâm “sợ sự vỡ lỡ”, “lắng hết tinh thần để nâng niu”, lại có lúc “rạo rực cực điểm” và “man mác một tin tưởng tha thiết, một thương yêu đắm đuối”, có lúc lại tuyệt vọng “sự tê tái ran hơn mãi lên khắp trong lòng Tâm. Cái lớp học lẩn lút lại đầy những vẻ thảm hại trước mắt Tâm thẩn thờ…”. Và sau đó lại hy vọng vào tương lai: “thâm tâm vang lên những tiếng kêu và giây phút, Tâm cảm thấy phải đi suốt đến sự phá bỏ tan tành những cái khắt khe trói buộc Tâm và bao nhiêu người khác ”. [63,151].
Hầu như tất cả mọi biến chuyển tinh vi trong tâm hồn nhân vật đều được phát hiện, mọi ngõ nghách tâm hồn đều được khám phá ở vị trí trần thuật này. Mọi điểm nhìn (cả bên trong và bên ngoài) đều được thông qua lăng kính của nhân vật chính (mang một cái tên cụ thể trong truyện). Nhân vật Hưng (Miếng bánh) là một minh chứng tiêu biểu cho sự vận động nội tâm của nhân vật được khám phá phanh phui triệt để. Toàn bộ truyện được người kể chuyện tựa vào điểm nhìn nhân vật, thâm nhập vào đời sống nội tâm của nhân vật. Nhờ vậy, người kể chuyện tái hiện sinh động quá trình diễn biến tâm trạng nhân vật Hưng trước và sau khi ăn bánh. Sức hấp dẫn của bánh đã “quyến rũ” Hưng: “Mùi nước hoa bưởi trộn với bột gạo trắng tinh, ngào ngạt lừng sâu nữa vào mũi Hưng lại nhấp nháy dựm dựt” [63,248].
Không chiến thắng được nỗi thèm thuồng, Hưng đã ăn bánh và cảm nhận “vị ngọt sắc của đường hoa mai đào nhào với thịt mỡ, đỗ lạc vỏ quýt bùi bùi, tê tê dần dần tan ra, chiếc bánh bỗng khác hẳn đi, ngọt lịm hơn…”. Nhưng ngay lập tức, sau khi ăn bánh, tất cả cung bậc
cảm xúc của sự ăn năn bừng lên “một sự rùng rợn liền chuyển mạnh trong tâm trí Hưng”.
Anh giật mình vì hình ảnh người vợ vất vả, ốm đói hiện ra trong mắt mình, một cuộc tự vấn lương tâm, tự sỉ vả hành động của mình trỗi dậy. Cảm thấy mình là trở nên hèn hạ, ích kỉ, khốn nạn, vị đắng cay đã thay vào cái cảm giác ngon ngọt ban đầu, Hưng đau đớn. Nỗi ân hận giày vò và cảm giác nhục nhã bám lấy Hưng, dằn vặt Hưng: “Nhưng không, mãi mãi khi nhớ tới miếng ăn này, Hưng sẽ bị nhục nhã như chàm, như lửa táp vào mặt, Hưng sẽ đau đớn còn hơn bị xác thịt kìm cặp”… “miệng Hưng tan hết những vị ngọt, bùi, chỉ thấy tức và đắng ở góc hai hàm răng xuống suốt tới cổ họng …qua những cái nghẹn cuồn cuộn trong người Hưng có thứ gì mặn chát và tanh như máu giàn ra cổ họng và ruột gan Hưng bị xoắn lại…Tâm trí Hưng nức nở” [63, 252-253]. Người kể chuyện đã thực sự hoà nhập vào nhân vật, đem đến cho người đọc những cảm giác rất thật mà nhân vật đang phải trải qua, là một thành công của thủ pháp trần thuật nhập thân. Bằng cách này, Nguyên Hồng vẫn giữ được sự khách quan của người kể chuyện giấu mặt mà vẫn diễn tả được thế giới nội tâm ngổn ngang, giằng xé của nhân vật Hưng.
Nguyên Hồng còn chọn vị trí trần thuật này để tái hiện quá trình tự nhận thức của nhân vật trí thức nghèo, đang lạc đường đi, nay tìm ra ý nghĩa cuộc sống của mình bên cạnh những con người nghèo khổ, cần lao. Đó là Huyên trong truyện ngắn Hai dòng sữa. Huyên đang thất nghiệp, thấm thía sự cô đơn một đêm trú mưa ở cái lán của những người phu nọ, chứng kiến cảnh sống nghèo khó nhưng êm ấm, hạnh phúc của đôi vợ chồng người phu, cảnh người vợ bác phu cho con bú bỗng khiến bao kí ức hiện về, lần lượt sống lại trong tâm trí Huyên. Đó là hình ảnh của người mẹ cam chịu, tảo tần mất sớm của anh, là hình ảnh làng quê quắt quay, xác xơ vì cái đói, một tuổi thơ côi cút, hiền lành…Những kí ức ấy chưa bao giờ hiện lên trong tâm trí Huyên sau những cuộc vui chơi, đàn hát đến rã rời. Vậy mà nay, có dịp bên cạnh, quan sát, chứng kiến cuộc sống của những người lao động nghèo, Huyên chợt nhận ra giá trị cuộc sống: “Huyên thấm thía sau cái lần chua xót tê dại này, bắt đầu từ phút sôi nổi sung sướng này, Huyên không thể nào xa những con người kia, Huyên phải mãi mãi đứng bên tay trái họ, cảm thông tận tâm hồn họ mọi sự đau khổ, vui tươi; mong ước và tin tưởng” [63, 341].
Thủ pháp trần thuật nhập thân không chỉ thấy rất rõ truyện truyện ngắn của Nguyên Hồng mà trong một số truyện dài và tiểu thuyết Nguyên Hồng cũng sử dụng nó khá thành